Chuyên đề các định chế tài chính quốc tế
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
CHUYÊN ĐỀ
GVHD: Trần Thị Hạnh Phúc Nhóm Thực Hiện: Nhóm 12
Nguyễn Thị Cẩm Hà 4084581
Dương Mỷ Hạnh 4084582
Huỳnh Minh Thông 4084621
Đào Thị Bích Thủy 4084624
Nguyễn Văn Tuấn 4084635
Trang 2NỘI DUNG
I/ Định nghĩa Định Chế Tài Chính.
II/ Các định chế tài chính quốc tế tiêu biểu:
1 Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF)
2 Nhóm Ngân hàng Thế giới (WB)
3 Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB)
4 Các định chế tài chính khác
Trang 3I ĐỊNH CHẾ TÀI CHÍNH LÀ GÌ ?
• Định chế tài chính là các tổ chức thương mại và
công cộng hoạt động trong lĩnh vực tài chính, tham gia vào việc trao đổi, cho vay, đi mượn và đầu tư tiền tệ
• Thuật ngữ này thường được sử dụng để thay thế cho thuật ngữ các trung gian tài chính.
• Theo quy ước, các định chế tài chính gồm có các Tổ chức tín dụng, Công ty bảo hiểm, Công ty Quản lý quỹ, Quỹ đầu tư và những người môi giới đầu tư.
Trang 4II CÁC ĐỊNH CHẾ TÀI CHÍNH TIÊU BIỂU
1 Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF)
2 Nhóm Ngân hàng Thế giới (WB)
3 Ngân hàng phát triển châu á (ADB) 4.Các định chế tài chính khác
Trang 51 QUỸ TIỀN TỆ QUỐC TẾ (IMF)
Quá trình hình thành IMF 1
Cơ chế hoạt động của IMF 2
Quyền rút vốn đặc biệt (SDR) 3
Quan hệ Việt Nam và IMF 4
Trang 6Quá trình hình thành IMF
- Sau chiến tranh thế giới thứ
2, các nước tư bản đều thống
nhất ý kiến cho rằng, để giữ
Trang 7Quá trình hình thành IMF
- Quỹ tiền tệ quốc tế bắt đầu hoạt động từ ngày
17/12/1945, trụ sở chính đóng tại Washington Điều
lệ thành lập IMF đã được 29 nước ký kết Ngày 1/3/1947 IMF bắt đầu hoạt động và tiến hành cho vay khoản đầu tiên ngày 8/5/1947.
- Tổng số nước hội viên của IMF cho tới nay là 186 nước (số liệu cuối 2009).
Trang 8Cơ chế hoạt động của IMF
A Mục đích:
- Thúc đẩy sự hợp tác tiền tệ quốc tế
- Tăng cường ổn định tỷ giá để tránh sự phá giá cạnh tranh giữa các quốc gia
- Tạo lập một hệ thống thanh toán đa phương và cung ứng cho các quốc gia hội viên những ngoại tệ cần thiết
để cân bằng cán cân thanh toán quốc tế hoặc giảm bớt
sự thiếu hụt trong cán cân thanh toán quốc tế
Trang 9Cơ chế hoạt động của IMF
B Nguồn vốn của IMF:
- Do các thành viên đóng góp dưới dạng mua cổ phần
Số cổ phần được mua phụ thuộc vào sức mạnh và tầm quan trọng của quốc gia đó đối với nền kinh tế thế giới quốc gia nào có cổ phần càng nhiều thì càng được phép vay tiền của IMF nhiều hơn mỗi khi gạp khó khăn về tài chính.
- Ngoài ra, trong trường hợp cần thiết, IMF cũng có thể vay vốn trên thị trường tài chính quốc tế để phục
vụ cho các hoạt động của mình Đến ngày 31/8/2004 tổng vốn cổ phần của IMF là 311tỷ USD
- Về cổ phần:Các nước thành viên có cổ phần lớn trong IMF là Mỹ (17,46%), Đức (6,11%), Nhật bản (6,26%), Anh (5,05%) và Pháp (5,05%).
Trang 10Cơ chế hoạt động của IMF
C Cơ cấu tổ chức:
- Cơ quan cao nhất là Hội đồng thống đốc Mỗi thành viên của IMF tiến cử 1 người chánh và 1 người phụ tá vào hội đồng, thông thường la Bộ trưởng bộ tài chính hay Thống đốc Ngân hàng quốc gia Hội đồng nay họp mỗi năm 1 lần và nhiệm kỳ 5 năm
- Dưới Hội đồng Thống đốc là Hội đồng giám đốc điều hành, gồm tối thiểu 12 người, trong đó 5 người là do các quốc gia hội viên quan trọng nhất đề cử là Mỹ, Anh , Pháp, Đức, Nhật Năm
1978 con số này tăng lên 6 người, người thứ 6 là đại diện các nước thành viên khối OPEC Số giám đốc còn lại là do các nước còn lại đề cử
- Ngoài ra còn có Tổng giám đốc, các phó tổng giám đốc và các
Trang 11Cơ chế hoạt động của IMF
5 Vay bù đắp thất thu xuất khẩu
6 Vay chuyển tiếp nền kinh tếNgoài ra, còn có các thể thức cho vay ưu đãi và các thể thức đặc biệt như: thể thức tăng trưởng và xoá đói giảm nghèo, trợ giúp khẩn cấp, thể thức giảm nợ theo Sáng kiến dành cho các nước nghèo mắc nợ nặng nề
Trang 12Cơ chế hoạt động của IMF
* Mỗi khi quyết định cho vay một dự án nào đó, IMF căn cứ vào 3 yếu tố:
- Nước muốn vay phải là thành viên của IMF
- Có toàn bộ hồ sơ thuyết trình về tính hiệu quả của dự
án và khả năng trả nợ
- Được 85% tổng số cổ đông bỏ phiếu tán thành
Ngoài ra còn đòi hỏi 1 số điều kiện ràng buộc khác
nữa.
* Hầu hết các khoản vay của IMF đều ở dưới dạng
SDR (Special drawing rights), tức là quyền rút vốn
đặc biệt
Trang 13Quyền rút vốn đặc biệt (SDR)
1 Nguyên nhân ra đời của SDR
Sau chiến tranh thế giới thứ 2, Anh, Mĩ và các đồng minh đã cùng nhau xây dựng hệ thống TGHĐ
cố định Bretton woods (1944-1973), trong đó các quốc gia thành viên phải cố định tiền tệ của họ với đồng USD theo TGHĐ chính thức và Ngân hàng TW Mĩ phải đảm bảo có thể chuyển đổi USD thành vàng với giá 35USD/ounce vàng Tuy nhiên, với sự phát triển của thương mại và TCQT, nguồn lực dự trữ chủ yếu bằng vàng và USD của các quốc gia trở nên không đủ đáp ứng.
Trang 14Quyền rút vốn đặc biệt (SDR)
2 Khái niệm
SDR (Special Drawing Right) hay quyền rút đặc biệt là 1 tài sản dự trữ quốc tế nhằm bố sung cho tài sản dự trữ của các quốc gia thành viên, góp phần duy trì TGHĐ của đồng nội tệ.
Trang 15Quyền rút vốn đặc biệt (SDR)
3 Chức năng
SDR như một tài khoản tại IMF của các nước thành viên và một số tổ chức quốc tế khác Nó được sử dụng để tính toán các khoản vay mượn của các nước thành viên IMF thông qua tổ chức này
* Quốc gia nắm giữ SDR có thể đổi ra các đồng tiền khác theo 2 cách:
- Thông qua thỏa thuận trao đổi tiền với các nước thành viên khác;
- Thông qua một thành viên được chỉ định có địa vị ngoại hối cao để trao đổi với một thành viên khác có vị thế yếu hơn.
Trang 16Quan hệ Việt Nam và IMF
A Cổ phần và quyền bỏ phiếu của Việt nam tại IMF
Hiện nay cổ phần của Việt nam tại Quỹ bằng 329,1 triệu SDR, chiếm 0,15% tổng khối lượng cổ phần và
có tỷ lệ phiếu bầu là 0,16% tổng số quyền bỏ phiếu.
B Nhóm nước tham gia tại IMF:
Tại IMF, Việt Nam thuộc nhóm Đông Nam Á gồm các nước sau đây: Brunây, Campuchia, Fiji, Indonesia, Lào, Malaysia, Myanmar, Nepal, Singapore, Thái Lan, Tonga, và Việt Nam
Trang 17Quan hệ Việt Nam và IMF
C Hoạt động cho vay của IMF đối với Việt nam
- Chính quyền Sài gòn gia nhập IMF ngày 18/8/1956 Từ đó đến trước ngày Miền Nam hoàn toàn giải phóng, IMF chưa cho Chính quyền Sài gòn vay một khoản nào
- Ngày 21/9/1976, Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt nam chính thức kế tục chân hội viên của Việt nam tại IMF
- Ngày 15/1/1985, IMF quyết định đình chỉ quyền vay vốn của Việt nam với lý do không trả được nợ quá hạn
- Tháng 10/1993, sau khi thanh toán nợ quá hạn, Việt nam đã nối lại quan hệ tài chính với IMF Ngay trong tháng 10/1993, IMF đã cho Việt Nam vay hai khoản theo lãi suất thị trường: (i) theo thể thức dự phòng (SBA) với số tiền tương đương
157 triệu USD và (ii) theo thể thức chuyển đổi hệ thống (STF) trị giá khoảng 34 triệu USD để trả nợ cho khoản vay bắc cầu
Trang 18Quan hệ Việt Nam và IMF
Ngày nay, Các chuyên gia của IMF đã giúp tư vấn về cách thức, phương pháp hoạch định và điều hành chính sách tiền tệ
Ngoài ra, gần đây hàng năm IMF còn phối hợp với chính phủ Nhật Bản tổ chức hội thảo cho các cán bộ cao cấp của các nước đang trong quá trình chuyển đổi, trong đó có Việt Nam, về quản lý kinh tế vĩ mô và kinh nghiệm của Nhật Bản
Trang 192 NHÓM NGÂN HÀNG THẾ GIỚI (WB)
Quá trình hình thành WB
Cơ chế hoạt động WB Mối quan hệ giửa Việt Nam và
WB
Trang 20Quá trình hình thành WB
A Nguồn gốc ra đời của WB:
Ngân hàng thế giới được thành lập năm
1944 tại Hội nghị các nhà lãnh đạo thế giới
ở Bretton Woods, New Hampsphire với
mục đích khôi phục nền kinh tế sau Chiến
tranh thế giới lần thứ II
Trụ sở chính của Nhóm Ngân hàng thế giới: 1818 H street,
NW, Wasington, DC 20433,
USA
Trang 21Quá trình hình thành WB
B Khái niệm
Nhóm Ngân hàng Thế giới (tiếng Anh: World Bank Group, thường được gọi tắt là Ngân hàng Thế giới và được viết tắt là WB) là một tổ chức tài chính đa phương có mục đích trung tâm là thúc đẩy phát triển kinh tế và xã hội ở các nước đang phát triển bằng cách nâng cao năng suất lao động ở các nước này
Nhóm Ngân hàng Thế giới (WB) là tổ chức thuộc hệ thống Liên Hợp quốc được thành lập với cơ cấu gồm 5
tổ chức thành viên
Trang 22Quá trình hình thành WB
(1) Ngân hàng Quốc tế cho Tái thiết và Phát triển (IBRD) cung cấp vốn vay cho các quốc gia có thu nhập trung bình và thu nhập thấp nhưng có uy tín tín dụng
- Thành lập năm 1945
- Số nước hội viên: 186
(2) Hiệp hội Phát triển Quốc tế (IDA) cung cấp những khoản vay không lãi, các khoản tín dụng cho các chính phủ của các quốc gia nghèo
- Thành lập năm 1960
- Số nước hội viên: 169
Trang 23- Thành lập năm 1988
- Số nước hội viên: 175(5) Trung tâm Quốc tế Giải quyết những Tranh chấp Đầu tư (ICSID) cung cấp phương tiện quốc tế để hòa giải và xét xử những tranh chấp đầu tư
- Thành lập năm 1966
- Số nước hội viên: 144
Trang 24Cơ cấu hiện hành của Nhóm Ngân hàng Thế giới gồm
có Hội đồng Thống đốc, Ủy ban Phát triển, Ban Giám đốc Điều hành, Chủ tịch, 5 Tổng giám đốc và các cán
bộ của WB
Trang 25Quan hệ Việt Nam - WB
1 Vị thế của Việt nam tại WB
- Gia nhập WB: Ngày 18/8/1956, chính quyền Sài gòn Nam Việt Nam gia nhập WB Ngày 21/9/1976, nước CHXHCN Việt Nam tiếp quản tư cách hội viên tại WB của Chính quyền Sài gòn cũ
- Hiện nay, cổ phần của Việt nam tại:
+ IBRD là 968 cổ phần Tổng số phiếu bầu là 1218, chiếm 0,08%
+ IDA là 14.778 cổ phần Tổng số phiếu bầu là 19.203, chiếm 0,14%
+ IFC là 446 cổ phần Tổng số phiếu bầu là 696, chiếm 0,03%+ MIGA là 388 cổ phần Tổng số phiếu bầu là 565, chiếm 0,29%
Trang 26Quan hệ Việt Nam - WB
2 Tài trợ của WB đối với Việt Nam
Trang 27Quan hệ Việt Nam - WB
3 Vai trò của WB đối với sự phát triển kinh tế của Việt Nam và xu hướng ODA của WB cho Việt Nam
Kể từ khi nối lại quan hệ tín dụng với WB vào 10/1993, WB cung cấp 3 loại dịch vụ chủ yếu là:
(1) thiết kế và tài trợ cho các dự án phát triển;
(2) hỗ trợ kỹ thuật (TA), tư vấn về chính sách
và các báo cáo phân tích;
(3) điều phối viện trợ
Trang 283 NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN CHÂU Á
(ADB)
Quá trình hình thành và cơ chế hoạt động của ADB
Sản phẩm tài chính của ADB Quan hệ Việt Nam và ADB
Trang 29Quá trình hình thành và cơ chế hoạt động
của ADB
1 Quá trình hình thành
Với tôn chỉ hoạt động là giúp
các nước đang phát triển
giảm đói nghèo và tăng
cường hợp tác trong khu
Trang 30Quá trình hình thành và cơ chế hoạt động
của ADB
Ban đầu ADB chỉ có 31 quốc
gia hội viên, đa dạng về tầm
cỡ, đặc điểm, nhu cầu và tiềm
năng, trong đó có 19 nước
trong khu vực châu Á – Thái
Bình Dương và 12 nước ngoài
khu vực
Cho đến nay, sau 38 năm hình thành và phát triển, ADB đã trở thành một tổ chức gồm 63 nước hội viên bao gồm 45 nước trong khu vực và 18 nước ngoài khu vực châu Á – Thái Bình
Trang 31Quá trình hình thành và cơ chế hoạt động
của ADB
2 Chiến lược và mục tiêu hoạt động
Khuôn khổ chiến lược trung và dài hạn của ADB trong giai đoạn
2001 – 2015 đã xác định các lĩnh vực cần chú trọng và chỉ ra phương hướng hoạt động của ADB trong giai đoạn này Khuôn khổ chiến lược đó đã đưa ra 6 mục tiêu phát triển dài hạn:
(i) Tăng trưởng kinh tế bền vững;
(ii) Phát triển toàn diện về xã hội;
(iii) Quản lý thể chế và chính sách có hiệu quả;
(iv) Nâng cao vai trò của khu vực tư nhân trong phát triển;
(v) Hợp tác và hội nhập vùng
(vi) Bền vững về môi trường
Như vậy, ngoài vai trò truyền thống là người cung cấp tài chính cho các dự án phát triển ở các nước đang phát triển (DMC), ADB đã đảm nhận nhiệm vụ mới đó là tham gia vào các vấn đề mang tính chính sách, tạo sự phát triển bền vững và những vấn đề liên quan
đến hợp tác khu vực
Trang 32CÁC SẢN PHẨM TÀI CHÍNH CỦA ADB
I Sản phẩm cho vay theo lãi suất LIBOR
(LBL)
II Sản phẩm cho vay bằng đồng nội tệ
(LCL)
III Các sản phẩm quản lý nợ
Trang 33I SẢN PHẨM CHO VAY THEO LÃI SUẤT
LIBOR
Được đưa ra lần đầu tiên vào 07/2001.
Cung cấp cho bên vay thuộc khu vực nhà nước
và bên vay trái quyền (ngoài khu vực nhà nước) các khoản vay theo lãi suất thả nổi dựa trên lãi suất LIBOR 6 tháng và chênh lệch thực tế theo thỏa thuận
Trang 34I SẢN PHẨM CHO VAY THEO LÃI SUẤT
Trang 35I SẢN PHẨM CHO VAY THEO LÃI SUẤT
LIBOR
1 Đồng tiền cho vay
Bên vay có thể lựa chọn vay LBL bằng đồng euro, đồng yên Nhật, đồng đô-la Mỹ hoặc bằng một đồng tiền
mà ADB có thể làm trung gian cho vay một cách có hiệu quả.
Đồng tiền được lựa chọn cũng
sẽ là đồng tiền mà Bên vay sử dụng để trả
nợ sau này
Trang 36I SẢN PHẨM CHO VAY THEO LÃI SUẤT
Lãi suất thả nổi:
• Được điều chỉnh sau mỗi 6 tháng vào ngày trả lãi.
• Được tính bằng lãi suất chi phí cơ sở cộng với chênh lệch thực tế theo thỏa thuận hiện hành tại
Trang 37I SẢN PHẨM CHO VAY THEO LÃI SUẤT
LIBOR
3 Các lựa chọn chuyển đổi lãi suất
• Bất cứ lúc nào bên vay cũng có thể yêu cầu thay đổi một phần hoặc toàn bộ một khoản vay theo lãi suất thả nổi thành khoản vay theo lãi suất cố định và ngược lại.
• Khi tiến hành chuyển đổi, lãi suất sẽ được xác định trên cơ sở chi phí của giao dịch tự bảo hiểm trên thị trường hoán đổi.
Trang 38II SẢN PHẨM CHO VAY BẰNG ĐỒNG NỘI
Trang 39II SẢN PHẨM CHO VAY BẰNG ĐỒNG NỘI
nhất định.
Trang 40II SẢN PHẨM CHO VAY BẰNG ĐỒNG NỘI
TỆ
Thông qua các khoản vay này ADB muốn hướng đến mục tiêu giảm bớt sự mất cân đối tiền tệ tại các nước đang phát triển ( thành viên).
Đồng thời ADB có thể đem lại lợi ích quan trọng cho các thị trường vốn trong nước của các nước đang phát triển Trên thị trường vốn quốc tế, ADB là một tổ chức cho vay sáng tạo
đã mở ra những thị trường mới, đưa ra những công cụ tài chính mới để lấp khoảng trống quan trọng giữa khu vực cho vay với khu vực
Trang 41II SẢN PHẨM CHO VAY BẰNG ĐỒNG NỘI
TỆ
a) Phương thức huy động vốn của ADB
Hai phương thức tiếp cận:
Huy động vốn giáp lưng: nghĩa là
huy động các nguồn tài chính bằng đồng nội tệ để tài trợ toàn bộ cho một dự án cụ thể
Gây quỹ: nghĩa là ADB duy trì một
quỹ thanh khoản bằng một đồng nội tệ nhất định
Trang 42II SẢN PHẨM CHO VAY BẰNG ĐỒNG NỘI
TỆ
a) Phương thức huy động vốn của ADB
Hai cách huy động nguồn vốn bằng đồng nội tệ:
Phát hành trái phiếu bằng đồng nội tệ;
Tham gia một giao dịch hoán đối tiền tệ chéo (CCS) với một đối tác thương mại trên thị trường có hoạt động giao dịch hoán đổi tiền tệ
chéo
Trang 43II SẢN PHẨM CHO VAY BẰNG ĐỒNG NỘI
Các điều khoản và điều kiện mà ADB có thể đạt được thông qua thực hiện các giao dịch tái bảo hiểm sẽ được chuyển qua cho Bên vay, cộng thêm với một mức phí giao dịch bằng 0,0625% (lần chuyển đổi lãi suất đầu tiên sẽ không tính phí).
Trang 44III CÁC SẢN PHẨM QUẢN LÍ NỢ
Được đưa ra lần đầu tiên vào tháng 11/2006 ADB cung cấp cho các khách hàng nhà nước (gồm cả khách hàng được nhà nước bảo lãnh) các sản phẩm quản lý nợ cho các nghĩa vụ nợ đối với bên thứ ba của họ (dùng để chỉ các khoản vay của các khách hàng nhà nước từ các tổ chức và đơn vị tài chính khác không phải là ADB tổ chức tài chính thương mại, trái phiếu phát hành chưa trả nợ, hoặc