Nó cũng bao gồm giá trị của tài sản phi tài chính và phi sản xuất được chuyển qua biên giới quốc gia như bằng sáng chế, nhãn hiệu hàng hóa… Các thành phần chính của tài khoản tài chính l
Trang 11 Nguyễn Minh Châu K094040657
GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN: Ths Đặng Lan Anh
Trang 2MỤC LỤC
Đề tài 8:
VAI TRÒ CỦA CÁC THIẾT CHẾ TÀI CHÍNH QUỐC TẾ TRONG CHU CHUYỂN VỐN VÀ CÁN CÂN THANH TOÁN
I. Tóm tắt về chu chuyển vốn và cán cân thanh toán
1 Khái niệm:
Cán cân thanh toán là một bảng tóm tắt các giao dịch của một quốc gia cụ thể giữa người cư trú trong nước và người cư trú nước ngoài qua một thời kì nhất định Nó biểu thị một bảng kế toán giao dịch quốc tế của một quốc gia qua một thời kì, thường là một quý hoặc một năm Nó bao gồm các giao dịch được thực hiên bởi các công ty, các cá nhân và chính phủ
Kinh doanh quốc tế được thúc đẩy bởi các thị trường cho phép dòng vốn luân chuyển giữa các quốc gia Các giao dịch phát sinh từ việc kinh doanh quốc tế tạo ra các dòng chảy tiền tệ từ quốc gia này sang quốc gia khác, đó gọi là dòng chu chuyển vốn Cán cân thanh toán là một thước đo của các dòng chảy tiền tệ quốc tế
2 Các thành phần của cán cân thanh toán:
Cán cân thanh toán có thể được chia ra chi tiết nhiều thành phần khác nhau Trong
đó, được lưu ý nhiều nhất là các thành phần sau:
a Tài khoản vãng lai (Current account)
Tài khoản vãng lai biểu thị một bảng tóm tắt của các dòng chảy tiền giữa một quốc gia cụ thể với tất cả các quốc gia còn lại phát sinh từ mua hàng hóa, dịch vụ hoặc khoản thu nhập trên các tài sản tài chính
Các thành phần chính của tài khoản vãng lai là các khoản phải trả cho:
- Thanh toán cho các hàng hóa, dịch vụ: hàng hóa xuất nhập khẩu biểu thị các sản phẩm hữu hình như máy tính, quần áo…, dịch vụ như du lịch, bảo hiểm, tư vấn…
Trang 3- Các khoản thanh toán thu nhập: biểu thị thu nhập (lãi vay, và các khoản thanh toán
cổ tức) các nhà đầu tư nhận được từ các khoản đầu tư vào tài khoản tài chính nước ngoài
- Các khoản thanh toán chuyển giao: biểu thị các khoản viện trợ, tài trợ và quà tặng
từ một quốc gia này đến một quốc gia khác
b Tài khoản vốn (Capital account)
Tài khoản vốn bao gồm giá trị của các tài sản tài chính được chuyển qua biên giới quốc gia bởi những người di chuyển sang một nước khác Nó cũng bao gồm giá trị của tài sản phi tài chính và phi sản xuất được chuyển qua biên giới quốc gia như bằng sáng chế, nhãn hiệu hàng hóa…
Các thành phần chính của tài khoản tài chính là các khoản mục thanh toán cho:
- Đầu tư trực tiếp nước ngoài: biểu thị khoản đầu tư vào tài sản cố định ở nước ngoài mà có thể được sử dụng để tiến hành thực hiện các hoạt động kinh doanh
- Đầu tư gián tiếp nước ngoài: biểu thị các giao dịch liên quan đến tài sản tài chính dài hạn như cổ phiếu, trái phiếu giữa các quốc gia mà không làm ảnh hưởng đến
sự chuyển giao toàn bộ quyền kiểm soát
- Hình thức đầu tư vốn khác: biểu thị các giao dịch liên quan đến tài sản tài chính ngắn hạn như các chứng khoán trên thị trường tiền tệ giữa các quốc gia
Ngoài ra, cán cân thanh toán cần có khoản mục sai số, bỏ sót và dự trữ để bù đắp các sai số có thể xảy ra
II. Nguyên nhân và quá trình hình thành của các thiết chế tài chính.
Chiến tranh thế giới lần thứ hai kết thúc với kết quả là phe trục phát xít Đức- Ý- Nhật tất yếu bại trận và phe đồng minh chống phát xít với trụ cột là Liên Xô - Mỹ - Anh tất yếu thắng lợi, thế giới đang đứng trước yêu cầu tổ chức lại trật tự chính trị, kinh tế và tài chính
Việc tổ chức lập lại trật tự tài chính quốc tế đã được khởi đầu bằng việc lập ra hai
tổ chức tài chính toàn cầu: Quỹ tiền tệ quốc tế và Ngân hàng quốc tế tái thiết và phát triển theo quyết định của Hội nghị tài chính quốc tế Bretton Woods từ 1 - 22 tháng 7 năm 1944
để soạn thảo Điều lệ Quỹ Tiền tệ quốc tế
Sự hình thành hai tổ chức tài chính quốc tế toàn cầu này phản ánh xu thế tăng cường ý muốn hợp tác quốc tế vì sự phồn vinh lâu dài của thế giới Nó cũng bắt nguồn từ tình trạng tồi tệ của hệ thống tài chính – tiền tệ thời đó đang trên bờ sụp đổ cần được cải
Trang 4Quỹ tiền tệ quốc tế và Ngân hàng tái thiết và phát triển lần được đi vào hoạt động sau chiến tranh thế giới li kết thúc Đến nay, hai định chế này vẫn là hai trụ cột của hệ thống tài chính quốc tế
Thực tiễn phát triển kinh tế-xã hội của thế giới sau chiến tranh thế giới lần thứ hai đòi hỏi phải hình thành các định chế tài chính quốc tế, khu vực với nhiệm vụ là giải quyết các vấn đề tài chính – tiền tệ của khu vực Nhằm đáp ứng yêu cầu thực tiễn đó, vào những năm cuối thập niên 50 và những năm thập kỷ 60 đã lần lượt xuất hiện các ngân hàng phát triển của các châu lục như: Ngân hàng phát triển liên Mỹ, Ngân hàng phát triển Châu Phi và Ngân hàng phát triển Châu Á
Ở Châu Âu, với việc hình thành thị trường chung Châu Âu lúc đầu và sau đó là Liên minh kinh tế Châu Âu đòi hỏi sự xuất hiện các tổ chức tài chính quốc tế của khu vực Châu Âu
III. Phân loại các tổ chức tài chính quốc tế
1 Căn cứ vào phạm vi hoạt động:
Các tổ chức tài chính quốc tế được phân chia thành tổ chức tài chính toàn cầu và
tổ chức tài chính khu vực
- Tổ chức tài chính quốc tế toàn cầu bao gồm: Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng thế giới (World Bank - WB) và Ngân hàng thanh toán quốc tế (BIS)
- Tổ chức tài chính quốc tế khu vực: Bao gồm các quỹ tiền tệ, các ngân hàng, các quỹ phát triển khu vực như: Quỹ tiền tệ Ả Rập ( 1979 gồm 10 nước Ả Rập thành viên)
2 Căn cứ vào mục tiêu tài trợ:
- Tổ chức tài chính tài trợ cán cân thanh toán có: Quỹ tiền tệ quốc tế, Quỹ tiền tệ Ả Rập, Ngân hàng trung ương Châu Âu
- Tổ chức tài chính quốc tế tài trợ đầu tư phát triển: Ngân hàng thế giới (WB), Ngân hàng phát triển các châu lục
IV. Vai trò chung của các thiết chế tài chính
Vai trò của các tổ chức tài chính quốc tế thể hiện trên một số mặt sau:
Trang 51 Phối hợp chính sách tiền tệ của các nước thành viên nhằm tạo ra
sự ổn định của hệ thống tiền tệ quốc gia và hệ thống tiền tệ quốc tế.
- Tạo dựng một hệ thống tỷ giá hối đoái hợp lý, thể hiện tính công bằng và tính hợp tác giữa các nước
- Kiên định chế độ tỷ giá hối đoái thả nổi có điều tiết
- Các tổ chức tài chính quốc tế phải góp phần tích cực vào việc tài trợ cần thiết cho các nước hội viên phát triển kinh tế
2 Tài trợ cho các nước thành viên đang phát triển
- Cung cấp các khoản cho vay cho các nước đang phát triển để phát triển kinh tế-xã hội ở các nước này
- Cung cấp trợ giúp kỹ thuật
- Các tổ chức tài chính quốc tế khích lệ sự đầu tư phát triển kinh tế công, kinh tế tư ở các nước đang phát triển từ các nguồn vốn công cộng, tư nhân
3 Hỗ trợ các nước thành viên đang phát triển bồi dưỡng và nâng cao kiến thức và kỹ năng quản lý kinh tế - tài chính tầm vi mô và vĩ mô.
- Giúp các nước nâng cao năng lực xây dựng và thực thi các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội
- Giúp hoàn thiện công tác thống kê, kế toán, kiểm toán phục vụ tốt việc theo dõi, phản ánh đúng đắn tình hình phát triển kinh tế-xã hội
- Giúp bồi dưỡng và nâng cao trình độ kiến thức, năng lực quản lý kế toán tài chính đối với cán bộ
V. Các thiết chế tài chính tại Việt Nam và tác động của nó đối với cán cân thanh toán và quá trình chu chuyển vốn
1 Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF)
Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) là một tổ chức quốc tế về tài chính và tiền tệ mà thành viên là chính phủ các nước
Buổi đầu thành lập, IMF chỉ là một tổ chức hợp tác để giám sát hoạt động của hệ thống tiền tệ quốc tế, tuy nhiên nó cũng đồng thời hỗ trợ hệ thống này bằng những khoản tiền đôi khi với số lượng lớn dưới hình thức cho các nước thành viên vay
a Các mục tiêu của IMF:
- Thúc đẩy hợp tác quốc tế thông qua một thiết chế thường trực có trách nhiệm cung cấp một bộ máy tư vấn và cộng tác nhằm giải quyết các vấn đề tiền tệ quốc tế
Trang 6- Tạo điều kiện mở rộng và tăng trưởng cân đối hoạt động mậu dịch quốc tế
và nhờ đó góp phần vào việc tăng cường và duy trì ở mức cao việc làm, thu nhập thực tế và việc phát triển nguồn lực sản xuất của tất cả các thành viên, coi đó là mục tiêu quan trọng nhất của chính sách kinh tế
- Tăng cường ổn định ngoại hối nhằm duy trì một cách có trật tự hoạt động giao dịch ngoại hối giữa các thành viên và tránh việc phá giá tiền tệ để cạnh tranh
- Hỗ trợ việc thành lập một hệ thống thanh toán đa phương giữa các nước thành viên và xoá bỏ các hạn chế về ngoại hối gây phương hại tới sự tăng trưởng của mậu dịch quốc tế
- Tạo niềm tin cho các nước thành viên bằng cách cung cấp cho họ nguồn lực
dự trữ của quỹ được đảm bảo an toàn và tạo cơ hội cho họ sửa chữa mất cân đối trong cán cân thanh toán quốc tế
- Rút ngắn thời gian và giảm bớt mức độ cân bằng trong cán cân thanh toán của các nước thành viên
- Trong hơn 50 năm qua IMF đã khẳng định được vai trò cũng như thực hiện mục tiêu của mình trong việc duy trì sự ổn định và thúc đẩy phát triển kinh
tế thế giới trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế diễn ra trên quy mô ngày càng rộng với tốc độ ngày càng nhanh
b Vai trò của IMF trong quá trình chu chuyển vốn và cán cân thanh toán
Xác định hệ thống ngang giá tiền tệ và tỷ giá hối đoái của các thành viên
Theo quy định của văn bản hiệp định đầu, các nước thành viên đều áp dụng hệ thống ngang giá tiền tệ và TGHÐ cố định Do sức ép của Mỹ, Hội nghị Bretton Woods phải chấp nhận 1 tỷ lệ vàng USD là 35 USD – 1 ounce vàng Ðiều này biến hệ thống Bretton Woods thành một hệ thống bản vị USD
Tháng 6-1967 Hội đồng Thống đốc IMF đã nhóm họp ở Rio de Janeiro, thủ đô Brazil và đã chấp nhận nguyên tắc tạo ra một loại dự trữ quốc tế mới là SDR (Special drawing right) Dự trữ SDR được thể hiện dưới hình thức bút tệ, được ghi trong tài khoản đặc biệt của mỗi nước thành viên và có thể sử dụng qua chuyển khoản Giá trị của mỗi đơn vị SDR lúc ban đầu được ấn định là 0,888671 gram vàng, tương đương với hàm lượng vàng của 1 USD Ðến năm 1973 vì có sự thả nổi hối suất của USD, giá trị của SDR được quy định căn cứ vào giá trị tổng hợp của 16 loại tiền tệ có cân nhắc tỷ trọng theo tầm quan trọng của mỗi đơn vị tiền tệ thể hiện qua phần giá trị xuất khẩu của mỗi quốc gia trong tổng giá trị xuất khẩu của thế giới Năm 1981, giá trị tổng hợp đó chỉ còn căn cứ vào 5 đồng tiền của 5 nước có khối lượng xuất khẩu lớn nhất thế giới từ 1975-1979 là
Trang 7USD 40; FRF 11%; GDB 11%; JPY 17%; DEM 21%; Cứ 5 năm duyệt lại một lần: một lần vào đầu năm 1986, một lần vào đầu năm 1991
Tuy nhiên sau hơn hai thập kỷ, hệ thống này đã bộc lộ nhiều yếu kém Hệ thống Bretton Woods sụp đổ hoàn toàn vào năm 1973 khi Tổng thống Mỹ Nixon tuyên bố ngừng chuyển đổi USD ra vàng
Lý do: Mỹ không còn đủ khả năng về dự trữ vàng để tiếp tục quy đổi với USD theo tỷ giá 35 USD/ounce vàng Ðể đáp ứng được yêu cầu dự trữ ổn định quỹ tiền tệ quốc
tế trong hoàn cảnh mới của nền kinh tế quốc dân, IMF yêu cầu các nước thành viên thực hiện 7 nghĩa vụ cũ là:
- Thi hành chính sách tự do mua bán vàng trên thị trường
- Tạo điều kiện cho đồng tiền của các nước được chuyển đổi tự do
- Loại bỏ dần các hành chế về hối đoái
- Tôn trọng quy định của các thành viên khác về hối đoái phù hợp với quy định của IMF
- Cung cấp thông tin tài chính cho IMF
- Hợp tác với các nước khác việc ký kết và thực hiện các thỏa thuận quốc tế
về tiền tệ
- Duy trì 1 tỷ giá hối đoái cố định
Hệ thống tiền tệ mà IMF quản lý từ 1978 đến nay được gọi là hệ thống tỷ giá thả nổi có quản lý (hệ thống Jamaica) Nhiều cường quốc ấn định tỷ giá của mình theo cơ chế thả nổi có quản lý Theo cơ chế này IMF có vai trò lớn và thường kiến nghị, tác động đến chính sách quản lý tỷ giá của các nước thông qua các điều kiện tín dụng Tuy tác động, quản lý hệ thống tiền tệ quốc tế theo nhiều cách gián tiếp nhưng IMF đã thực hiện chức năng duy trì ổn định hệ thống tỷ giá hối đoái cố định tương đối l cách có hiệu quả Bên cạnh đó, việc thực hiện chức năng này còn được hỗ trợ bởi các hoạt động thực hiện các chức năng khác
Cấp tín dụng cho các nước thành viên có khó khăn tạm thời về cán cân thanh toán
Ðể thực hiện mục tiêu trọng tâm là duy trì sự ổn định của hệ thống tiền tệ quốc tế IMF đã cung cấp cho các nước thành viên các khoản tín dụng cho các nước có khó khăn tạm thời về cán cân thanh toán Khi một nước rơi vào tình trạng này thì buộc họ phải giảm dự trữ ngoại hối hoặc đi vay để tài trợ cho các hoạt động này Hậu quả là các nước
đó phải đối mặt với sức ép ngày càng tăng về tỷ giá hối đoái Ðây chính là lúc IMF thực hiện chức năng của mình Nếu gặp khó khăn về cán cân thanh toán, một nước thành viên
có thể rút lại ngay lập tức 25% quota đã góp bằng vàng hoặc ngoại tệ có thể chuyển đổi
Trang 8Trước 1980, IMF quy định thành viên hàng năm chỉ được vay tối đa 25% và tổng các khoản vay không được quá 125% quota
Theo dõi tình hình của hệ thống tiền tệ quốc tế và chính sách kinh tế của các nước thành viên
Theo Hiệp định thành lập thì mục tiêu và hoạt động trọng tâm của IMF là “thực hiện sự giám sát chặt chẽ tỷ giá hối đoái của các nước thành viên” Ðồng thời IMF có quyền áp dụng các nguyên tắc cụ thể để hướng dẫn các thành viên trên cơ sở tôn trọng chính sách của họ Ðể thực hiện nhiệm vụ này IMF kiểm tra các vấn đề tiền tệ quốc tế và phân tích các khía cạnh của chính sách đó có thể tạo ra tác động đến hệ thống TGHÐ
Theo Ðiều 4 về quan hệ hợp tác giữa IMF và thành viên, IMF được phép xem xét một cách có hệ thống sự phát triển kinh tế và chính sách kinh tế của thành viên, đánh giá tác động của các chính sách đối với tỷ giá hối đoái và cán cân thanh toán
c Hoạt động của IMF
Bất kỳ một nước thành viên nào, khi gia nhập IMF đều phải cho các thành viên khác trong quỹ biết dự định về chuẩn giá trị đồng tiền của nước mình so với đồng tiền của các nước khác để tự kiềm chế và hạn chế việc đổi đồng tiền của họ lấy ngoại tệ, và để theo đuổi những cơ sở kinh tế sẽ làm tăng của cải của nước thành viên đó và của cả cộng đồng các nước thành viên bằng con đường hòa hợp và có lợi Các nước thành viên có trách nhiệm phải tuân theo điều luật này
IMF thực hiện các nghiêp vụ tài trợ cho các nước nhằm mục đích ổn định tiền tệ
và cán cân thanh toán quốc tế
Vốn hoạt động của quỹ và quyền rút vốn đặc biệt (SDR)
Khi gia nhập IMF, mỗi nước thành viên đều phải đóng một khoản tiền nhất định được coi là một khoản lệ phí hội viên Tuy nhiên khoản đóng này chỉ thực hiện khi quỹ
có nhu cầu: khi có ai cần vay tiền của quốc gia đó thì quốc gia đó mới phải đóng Chẳng hạn, nếu một nước muốn vay Bảng Anh thì khi đó IMF mới yêu cầu Anh phải đóng Số tiền này được sử dụng với nhiều mục đích khác nhau:
- Thứ nhất, nó tạo thành một khoản vốn IMF có thể trích ra cho các thành viên vay mỗi khi họ gặp khó khăn về tài chính
- Thứ hai, nó là căn cứ để quyết định số lượng tiền mà nước thành viên được vay và là cơ sở để phân bổ rút vốn lớn đặc biệt (SDR) theo từng thời kỳ cho các nước thành viên Dĩ nhiên, nước thành viên nào càng đóng góp nhiều thì khi cần nó càng được vay nhiều
Trang 9- Thứ ba, số tiền ký quỹ này còn có vai trò quyết định quyền bỏ phiếu của nước thành viên
Bản thân IMF là người quyết định số tiền mỗi nước thành viên phải nộp vào quỹ sau khi phân tích đánh giá mức độ giàu có và tình hình kinh tế của nước đó Nước càng giàu, lệ phí càng cao Khoản tiền đóng góp của các nước thành viên tạo nên nguồn tài chính cho IMF sử dụng Tổng số tiền đóng góp các nước thành viên cho đến nay khoảng
210 tỷ USD, mặc dù trên thực tế số tiền sử dụng được không thể coi là lớn bởi vì các nước thành viên nộp 75% số lệ phí của họ bằng tiền nội địa và bởi vì hầu hết đồng tiền quốc gia của nhiều nước không phổ biến trong thanh toán quốc tế
Rút vốn dự trữ: Các nước thành viên có quyền tự động rút vốn đối với 25% số vốn góp bằng ngoại tệ tự do chuyển đổi của mình để bù đắp thiếu hụt cán cân thanh toán Rút vốn
dự trữ không mang tính chất vay mượn nên không phải chịu lãi suất mà chỉ thu lệ phí
Tín dụng thông thường theo đợt
Hình thức này giúp các nước hội viên có nhu cầu bù đắp thiếu hụt trên cán cân thanh toán có thêm nguồn tài chính, nhưng không tài tr ợ ngay một lần mà phân làm bốn lần với những điều kiện giải ngân khác nhau
Tài trợ bù đắp bất ngờ
Hình thức này giúp các nước hội viên khắc phục sự thiếu hụt trên cán cân thanh toán do sự giảm mức xuất khẩu có tính chất tạm thời và mang tính khách quan
Dự trữ điều hoà
Hình thức này giúp một số nước hội viên gặp khó khăn về cán cân thanh toán do phải đóng góp phí tổn xây dựng các kho dự trữ về nông sản cơ bản Hình thức này đã không còn tồn tại cách đây 15 năm
Điều chỉnh cơ cấu
Tài trợ điều chỉnh cơ cấu dựa vào nguồn tín thác dành cho các nước đang phát triển có thu nhập thấp theo những điều kiện ưu đãi với mức cao nhất về thời hạn và lãi suất
Tài trợ giảm nghèo và tăng trưởng
Phục vụ chi chiến lược đấu tranh chống đói nghèo trên toàn thế giới
Trang 10 Tài trợ dự trữ bổ sung: Đáp ứng nhu cầu tài chính ngắn hạn do thiệt hại đột xuất
và do sự bất ổn của thị trường
Tài trợ phòng ngừa: Hỗ trợ những nước bị ảnh hưởng của khủng hoảng.
Tài trợ chuyển đổi hệ thống: Đáp ứng yêu cầu tài chính của một số nước thành
viên chuyển đổi hệ thống kinh tế
2 Ngân hàng thế giới (WB)
Cho đến nay, ngân hàng thế giới vẫn là tổ chức ngân hàng quốc tế duy nhất, lớn nhất, có quy mô và quan hệ toàn cầu một cách thực sự
Là tổ chức thuộc hệ thống Liên Hợp quốc được thành lập với cơ cấu gồm 5 cơ quan:
- Ngân hàng Tái thiết và Phát triển Quốc tế (IBRD)
- Hiệp hội Phát triển Quốc tế (IDA)
- Công ty Tài chính Quốc tế (IFC)
- Cơ quan Bảo lãnh Đầu tư Đa biên (MIGA)
- Trung tâm Quốc tế Giải quyết Tranh chấp Đầu tư (ICSID)
Tuy nhiên, nói đến WB là nói đến hai tổ chức IBRD và IDA Mỗi tổ chức đều có vai trò riêng biệt trong cuộc đấu tranh xóa đói giảm nghèo và nâng cao mức sống của người dân các nước đang phát triển
a Mục đích và nguyên tắc hoạt động
Hiệp hội Phát triển Quốc tế (IDA) là tổ chức trực thuộc nhóm WB, được thành lập năm 1960 IDA chuyên cung cấp các khoản hỗ trợ tài chính cho các quốc gia nghèo nhất thế giới với mục tiêu nhằm xóa đói giảm nghèo thông qua việc cung cấp các khoản cho vay không có lãi suất (còn gọi là khoản tín dụng) cũng như các khoản viện trợ không hoàn lại cho các chương trình/dự án để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, xóa bỏ bất bình đẳng cũng như cải thiện đời sống
IDA được tài trợ từ nguồn đóng góp của các quốc gia giàu có trên thế giới và nguồn IBRD và IFC Ba năm một lần, WB, các nhà tài trợ và một số các quốc gia đi vay
sẽ nhóm họp để quyết định bổ sung nguồn vốn cho IDA Kể từ khi thành lập tới nay, IDA
đã tổ chức 16 phiên họp để kêu gọi các nhà tài trợ góp vốn bổ sung cho hoạt động của IDA
Tiêu chuẩn để được vay IDA tùy thuộc vào mức độ đói nghèo tương đối của quốc gia đó, được xác định theo tỷ lệ Tổng thu nhập Quốc dân (GNI) theo đầu người dưới ngưỡng quy định của WB và được cập nhật hàng năm (hiện nay ngưỡng này là 1.135