1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

báo cáo bài thuyết trình định chế tài chính quốc tế

27 1,5K 6
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 797,37 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

QUỸ TIỀN TỆ QUỐC TẾ International Monetary Fund, IMF Quỹ tiền tệ quốc tế IMF là một tổ chức quốc tế về tài chính và tiền tệ mà thành viên là chính phủ các nước.. Buổi đầu thành lập, IMF

Trang 1

Page 1

Bài thuyết trình

ĐỊNH CHẾ TÀI CHÍNH QUỐC TẾ

Trang 2

Page 2

Trong thời kỳ nền kinh tế Việt Nam hội nhập sâu rộng với nền kinh tế thế giới trong xu toàn cầu hóa, chúng ta được biết về thuật ngữ “Định chế tài chính quốc tế” Việt Nam là thành viên của các định chế tài chính quốc tế: Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), ngân hang thế giới (WB), ngân hàng phát triển Châu Á (ADB)

A QUỸ TIỀN TỆ QUỐC TẾ (International Monetary Fund, IMF)

Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) là một tổ chức quốc tế về tài chính và tiền tệ mà thành viên là chính phủ các nước Buổi đầu thành lập, IMF chỉ là một tổ chức hợp tác để giám sát hoạt động của hệ thống tiền tệ quốc tế, tuy nhiên nó cũng đồng thời hỗ trợ hệ thống này bằng những khoản tiền đôi khi với số lượng lớn dưới hình thức cho các nước thành viên vay

Nguồn vốn của IMF: chủ yếu là vốn cổ phần của các nước thành viên và tích luỹ của IMF Ban đầu, mức cổ phần đóng góp phụ thuộc vào tỷ trọng kim ngạch xuất nhập khẩu của nước đó so với kim ngạch xuất nhập khẩu của thế giới Ngoài ra, trong trường hợp cần thiết, IMF cũng có thể vay vốn trên thị trường tài chính quốc tế để phục vụ cho các hoạt động của mình Đến ngày 31/8/2004, tổng vốn cổ phần của IMF là 311 tỷ USD

Cổ phần: Các nước thành viên có cổ phần lớn trong IMF là Mỹ (17,46%), Đức (6,11%), Nhật bản (6,26%), Anh (5,05%) và Pháp (5,05%)

Trụ sở chính của IMF đặt tại số 700 đường 19 tại Washington D.C

Trang 3

Page 3

Logo của IMF Trụ sở chính của IMF Văn phòng đại diện thường trú của IMF tại Việt Nam đặt tại số 63 Lý Thái Tổ Suite 601 Hà Nội, Việt Nam

(http://translate.googleusercontent.com/translate_c?hl=vi&langpair=en%7Cvi&u=http://www.imf.org/external/country/VNM/rr/index.htm&prev=/translate_s%3Fhl%3Dvi%26q

%3Ddieu%2Ble%2BIMF%26tq%3DIMF%2Bcharter%26sl%3Dvi%26tl%3Den&rurl=translate.google.com.vn&usg=ALkJrhiqIPqxJY1VePQQixElLBDSpw9ToA)

2 Chức năng, Nhiệm vụ và mục tiêu hoạt động:

1.Chức năng: Có ba chức năng chính là giám sát, hỗ trợ kỹ thuật và cho vay (tài trợ)

(http://mfo.mquiz.net/wto/?Function=NEF&file=1107)

Giám sát là hình thức cố vấn chính sách thường xuyên của IMF đối với các nước thành viên Mỗi năm, IMF đưa ra đánh giá chi tiết về tình hình kinh tế mỗi nước Quỹ sau

đó bàn luận với chính phủ các nước về các chính sách có lợi nhất trong việc duy trì tỷ giá

ổn định và một nền kinh tế tăng trưởng và thịnh vượng IMF cũng kết hợp thông tin từ các cuộc hội đàm đơn lẻ để đưa ra đánh giá chung về sự phát triển và triển vọng của từng khu vực cũng như của thế giới Các báo cáo của IMF được xuất bản 2 năm một làn trong

2 tài liệu Tổng quan kinh tế thế giới (World Economic Outlook) và Báo cáo ổn định tài chính toàn cầu (Global Financial Stability Report)

Việc giám sát bao quát một phạm vi chính sách kinh tế rộng lớn, tuy nhiên mỗi nước có một trọng tâm riêng tuỳ vào hoàn cảnh hiện tại.- Tỷ giá hối đoái, tiền tệ và chính sách tài khoá luôn là trọng tâm chính của hoạt động giám sát Các nhà nghiên cứu kinh tế của IMF đưa ra lời khuyên từ việc lựa chọn chế độ điều hành tỷ giá cho đến việc đảm bảo tính tương hợp giữa chế độ điều hành tỷ giá và lập trường đối với chính sách tài khoá và tiền tệ

Các hỗ trợ và đào tạo kỹ thuật cho các nước thành viên thường được IMF cung cấp miễn phí nhằm giúp những nước này củng cố khả năng thiết lập và thực hiện các chính sách hiệu quả Hỗ trợ kỹ thuật được cung cấp trong một số lĩnh vực bao gồm: chính sách tài khoá, chính sách tiền tệ và tỷ giá hối đoái, giám sát và điều hành hệ thống tài chính ngân hàng và cuối cùng là số liệu thống kê

Các hỗ trợ này được thực hiện bằng nhiều cách: có thể thông qua các nhân viên dưới hình thức công tác kỳ hạn hoặc bổ nhiệm chuyên gia từ vài tuần tới vài năm (nếu việc sử dụng chuyên gia kéo dài, các nước có thể được yêu cầu đóng góp tài chính) IMF cũng cung cấp các hỗ trợ dưới hình thức báo cáo chẩn đoán kỹ thuật (diagnostic), các khoá đào tạo, hội thảo, thảo luận chuyên đề, tư vấn trực tuyến từ trụ sở của Quỹ

Các hỗ trợ và đào tạo kỹ thuật được IMF triển khai theo vùng với hai trung tâm hỗ trợ kỹ thuật đã được thiết lập ở Thái Bình Dương và Caribbe Trung tâm thứ 3 được mở tại Đông Phi vào năm 2002 với mục tiêu có 4 trung tâm khác tại vùng Hạ Sahara châu Phi Bên cạnh việc cung cấp các khoá đào tạo tại trụ sở, IMF cũng tổ chức các khoá học

Trang 4

Page 4

và hội thảo tại các học viện hoặc chương trình của từng nước hoặc từng khu vực Hiện nay IMF có 4 trung tâm đào tạo tại các khu vực Châu Mỹ La tinh (Brazil), Châu Phi (Tunisia), Singapore và Áo IMF còn tổ chức các chương trình đào tạo song phương, đặc biệt là với Trung Quốc và Quỹ tiền tệ Arab (Arab Monetary Fund)

Trong trường hợp nước thành viên gặp khó khăn với cán cân thanh toán, IMF thực hiện chức năng của một Quỹ có thể rót vốn ưu đãi giúp hồi phục kinh tế (cho vay)

Các hỗ trợ tài chính nhằm tạo ra cho các nước thành viên một khoảng an toàn cần thiết để tái ổn định cán cân thanh toán Một chương trình thực hiện chính sách do IMF tài trợ được chính phủ nước thành viên thiết lập với sự hợp tác chặt chẽ của Quỹ Các quyết định tài trợ tiếp theo được đưa ra với điều kiện chương trình được thực hiện hiệu quả Một nước thành viên có thể đề nghị hỗ trợ tài chính nếu không đủ khả năng tự tài trợ cho cán cân thanh toán quốc tế Khoản vay của IMF tạo điều kiện cho việc điều chỉnh các chính sách và cải cách mà quốc gia đó cần phải làm để lành mạnh hoá cán cân thanh toán và hồi phục nền kinh tế

Khoản vay của IMF được thực hiện dưới hình thức dàn xếp (arrangement) nhằm kiểm soát các chính sách và phương tiện mà nước đi vay đồng ý thực hiện để giải quyết khó khăn trong cán cân thanh toán Chương trình kinh tế theo sau sự dàn xếp đó được nước sở tại xây dựng với sự tư vấn của IMF và trình cho Hội đồng thường trực của Quỹ dưới dạng thư đề nghị (Letter of Intent) Khoản vay sẽ được giải ngân cho chương trình nếu thư được Hội đồng điều hành thông qua

Trong những năm qua, IMF đã phát triển được nhiều công cụ cho vay (facility) phù hợp với từng tình trạng của mỗi quốc gia thành viên Các nước nghèo có thể vay với

lãi suất ưu đãi hỗ trợ phát triển và xoá đói nghèo PRGF (Poverty Reduction and Growth

Facility) Trong những năm gần đây, các khoản vay lớn nhất của IMF được thực hiện qua PRGF với lãi suất chỉ 0,5% và thời hạn từ 5,5 đến 10 năm

Các khoản cho vay không ưu đãi được cung cấp thông qua 4 công cụ: Stand-By Arrangements (SBA), Extended Fund Facility (EFF), Supplemental Reserve Facility (SRF) và Compensatory Financing Facility (CFF)

- SBA được thiết lập để giúp giải quyết khó khăn về cán cân thanh toán trong ngắn hạn

và cung cấp nguồn lực lớn nhất của IMF Độ dài của SBA thường từ 12 đến 18 tháng với thời hạn hoàn trả từ 2 năm 3 tháng đến 4 năm

- EFF ra đời năm 1974 nhằm giúp đỡ các kho khăn kéo dài về cán cân thanh toán đòi hỏi cải cách cơ bản cơ cấu nền kinh tế Các khoản dàn xếp thông qua EFF vì vậy kéo dài từ 3 năm trở lên với thời hạn hoàn trả từ 4 năm rưỡi đến 7 năm

- SRF ra đời năm 1997 nhằm tài trợ ngắn hạn với quy mô lớn, xuất phát từ sự mất lòng tin thị trường đột ngột do các nền kinh tế mới nổi những năm 90 làm các luồng vốn đầu

tư bị rút về hàng loạt, đòi hỏi sự hỗ trợ tài chính lớn hơn bất cứ hoạt động nào của IMF trước đó Thời hạn hoàn trả vốn từ 1 năm rưỡi đến 2 năm, có thể yêu cầu gia hạn 6 tháng

Trang 5

Page 5

- CFF được thiết lập năm 1963 nhằm hỗ trợ các nước có giá trị xuất khẩu giảm tạm thời hoặc chi phí nhập khẩu ngũ cốc tăng lên do giá hàng hoá thế giới biến động Các điều kiện khác gần giống như công cụ SBA

2/Nhiệm vụ:

- Xúc tiến hoạt động hợp tác tiền tệ quốc tế;

- Tạo điều kiện cho việc mở rộng và phát triển cân đối thương mại quốc tế;

- Duy trì ổn định hối đoái;

- Hỗ trợ thiết lập hệ thống thanh toán đa phương;

- Cung cấp nguồn lực (với độ an toàn cần thiết) cho các thành viên gặp khó khăn trong cán cân thanh toán

Như vậy, IMF chịu trách nhiệm đảm bảo ổn định cho hệ thống tài chính và tiền tệ quốc tế, hệ thống thanh toán quốc tế và tỷ giá hối đoái giữa các đồng tiền tạo điều kiện giao thương giữa các nước IMF tìm cách duy trì ổn định và phòng ngừa khủng hoảng kinh tế; hỗ trợ giải quyết khủng hoảng một khi xảy ra (Ví dụ: viện trợ cho Indonesia 43 tỷ USD để hỗ trợ giải quyết tác động của cuộc khủng hoảng Châu Á 1997); thúc đẩy phát triển và giảm đói nghèo

3/ Mục tiêu hoạt động:

- Khuyến khích hợp tác giữa các quốc gia về các vấn đề tiền tệ quốc tế

- Khuyến khích ổn định tỷ giá hối đoái

- Cung cấp ngân quỹ tạm thời cho các nước thành viên nhằm cải thiện các mất cân đối trong thanh toán quốc tế

- Khuyến khích sự chu chuyển tự do của nguồn vốn qua các quốc gia

- Khuyến khích tự do mậu dịch

3 Cơ cấu tổ chức, các quốc gia thành viên:

IMF mô tả chính bản thân nó như "Một tổ chức của 184 quốc gia", làm việc nuôi dưỡng tập đoàn tiền tệ toàn cầu, thiết lập tài chính an toàn, tạo điều kiện thuận lợi cho thương mại quốc tế, đẩy mạnh việc làm và tăng trưởng kinh tế cao và giảm bớt đói

- Ủy ban Tài chính Tiền tệ Quốc tế: Trước đây gọi là Ủy ban Lâm thời, do Hội đồng Thống đốc IMF thành lập vào tháng 10/1974 với chức năng là để tư vấn cho các Thống

Trang 6

- Tổng Giám đốc: do Ban Giám đốc Điều hành lựa chọn, với nhiệm kỳ đầu tiên là 5 năm Tổng Giám đốc tham gia vào các buổi họp của Hội đồng Thống đốc, Ủy ban Tài chính Tiền tệ Quốc tế và Ủy ban Phát triển Ngoài ra, Tổng Giám đốc còn phụ trách các cán bộ IMF Mỗi Phó Tổng Giám đốc, phụ trách một bộ phận dưới sự chỉ đạo của Tổng Giám đốc, có nhiệm vụ chủ trì các buổi họp của Ban Giám đốc Điều hành và duy trì các mối liên hệ với các quan chức chính phủ của nước hội viên, với các Giám đốc Điều hành, với các cơ quan thông tin và các tổ chức khác

- Cán bộ Quỹ: có khoảng 2600 cán bộ từ hơn 100 nước, được tổ chức thành 5 Vụ khu vực (Vụ Châu Phi, Vụ Châu Âu, Vụ Trung đông và Trung Á, Vụ Châu Á Thái Bình Dương và Vụ Tây Bán cầu); 9 Vụ chức năng và nghiệp vụ đặc biệt (Vụ Tài chính, Vụ Các vấn đề ngân sách, Học viện IMF (bao gồm các học viện tại Washington D.C, học viện Viên, học viện Châu Phi và học viện Singapore), Vụ Thị trường vốn quốc tế, Vụ Pháp luật, Vụ các Hệ thống Tài chính Tiền tệ, Vụ Kiểm điểm và Xây dựng Chính sách,

Vụ Nghiên cứu, Vụ Thống kê); 3 Vụ về thông tin liên lạc (Vụ Đối ngoại, Văn phòng thông tin liên lạc khu vực Châu Á Thái Bình Dương, Văn phòng Quỹ tại Liên Hợp Quốc); 3 Bộ phận giúp việc (Vụ thư ký, Vụ Nguồn nhân lực, và Vụ Dịch vụ Tổng hợp và Công nghệ) Ngoài ra, IMF có hơn 60 Văn phòng đại diện tại nhiều nước thế giới có trách nhiệm báo cáo cho các Vụ khu vực tương ứng

Ảnh hưởng của IMF trong kinh tế toàn cầu được gia tăng nhờ sự tham gia đông hơn của các quốc gia thành viên Hiện IMF có 184 thành viên, nhiều hơn bốn lần so với con số 44 thành viên khi nó được thành lập

Sự phát triển về số lượng thành viên của IMF 1945-2002

Trang 7

Page 7

4 Hoạt động của IMF:

Các hoạt động của IMF gồm: giám sát các chính sách kinh tế vĩ mô của các nước hội viên; cung cấp những hỗ trợ về tài chính ngắn và trung hạn cho các nước hội viên hiện đang gặp phải những khó khăn tạm thời về cán cân thanh toán và trợ giúp kỹ thuật Ngoài ra, IMF cũng hoạt động tích cực trong việc giảm đói nghèo cho các quốc gia trên thế giới một cách độc lập hoặc trong sự hợp tác với Ngân hàng thế giới WB (World Bank) và các tổ chức khác

+ Thứ nhất, nó tạo thành một khoản vốn IMF có thể trích ra cho các thành viên vay mỗi khi họ gặp khó khăn về tài chính

+ Thứ hai, nó là căn cứ để quyết định số lượng tiền mà nước thành viên được vay

và là cơ sở để phân bổ rút vốn lớn đặc biệt (SDR) theo từng thời kỳ cho các nước thành viên Dĩ nhiên, nước thành viên nào càng đóng góp nhiều thì khi cần nó càng được vay nhiều

+ Thứ ba, số tiền ký quỹ này còn có vai trò quyết định quyền bỏ phiếu của nước thành viên

Bản thân IMF là người quyết định số tiền mỗi nước thành viên phải nộp vào quỹ sau khi phân tích đánh giá mức độ giàu có và tình hình kinh tế của nước đó Nước càng giàu, lệ phí càng cao (xem phụ lục 3) Mức đóng góp của mỗi nước thành viên vào IMF rất khác nhau Năm 1985, Mỹ đóng 20,l%, khối EEC đóng 27,9%, còn các nước đang phát triển đóng 32,4% Mức lệ phí này cứ 5 năm lại được xem xét lại, có thể tăng lên hoặc giảm đi tùy theo nhu cầu của IMF và mức độ phát đạt của nước thành viên Tuy nhiên từ l/4/1978, với sự sửa đổi điều lệ lần thứ hai, việc xem xét và điều chỉnh phần đóng góp của mỗi nước thành viên được quy định 3 năm một lần Năm 1945, 35 thành viên khi đó đóng góp vào IMF 7,6 tỷ USD, năm 1977 con số đó khoảng 200 tỷ USD Ngày 6/2/1998 Hội đồng quản trị của IMF đã phê chuẩn kế hoạch tăng 45% ngân quỹ của

tổ chức này, từ 199 tỷ USD lên 288 tỷ USD Cho đến nay, Mỹ là nước có nền kinh tế lớn nhất thế giới, đóng góp nhiều nhất cho IMF, chiếm khoảng 19% tổng số (40 tỷ USD); Marshall Island, một nước cộng hoà đảo ở Thái Bình Dương đóng ít nhất khoảng 3,6 triệu USD (xem biểu đồ 2)

Biểu đồ 2:

Những thành viên lớn nhất của IMF tính theo cổ phần, 1997 (tính theo triệu

SDR và % tổng số cổ phần)

Trang 8

Page 8

Nguồn: Quỹ tiền tệ quốc tế là gì, Viện nghiên cứu IMF, Trang 6

Khoản tiền đóng góp của các nước thành viên tạo nên nguồn tài chính cho IMF sử dụng Tổng số tiền đóng góp các nước thành viên cho đến nay khoảng 210 tỷ USD Bảng 1:

10 nước góp vốn nhiều nhất từ cuối 1991 đến cuối 1992

Nguồn : Kinh tế đốí ngoại, Võ Thanh Thu, tr 289

Các nước thành lập IMF hồi 1944 lập luận rằng Quỹ sẽ hoạt động hiệu quả nhất và các quyết định sẽ được đề ra một cách trách nhiệm nhất nếu gắn liền trực tiếp quyền bỏ phiếu của các thành viên với số lượng tiền đóng vào Quỹ của họ (xem bảng l) Nước nào đóng góp nhiều nhất đương nhiên tiếng nói sẽ có trọng lượng nhất khi quyết định chính sách của Quỹ Mỹ, Anh, Pháp là những nước khi mới thành lập đóng nhiều hơn hết và cũng là những nước có ảnh hưởng nhiều hơn hết đối với các quyết định của IMF Mỗi nước có 250 phiếu và cộng thêm l phiếu cho mỗi 100.000 SDR của phần đóng góp Bởi vậy Mỹ hiện nay có 265.000 phiếu, hay 18% tổng số phiếu, Marshall Islands có 275 phiếu

Trang 9

Page 9

 Quyền rút vốn đặc biệt (SDR):

- Ðó là loại tiền đặc biệt (SDR không phải là một loại tiền mà chỉ là một đơn vị hạch toán) và IMF tạo ra để bổ sung vào tài sản dự trữ mà hầu hết các nước thành viên dùng để đảm bảo nhu cầu thanh toán ngoại tệ và giao dịch với nước ngoài Việc này đã giải quyết được nguy cơ khan hiếm những phương tiện thanh toán quốc tế

- Lịch sử hình thành SDR:

Do sức ép của Mỹ, Hội nghị Bretton Woods phải chấp nhận 1 tỷ lệ vàng USD là

35 USD – 1 ounce vàng Cuối 1947 Bộ Trưởng Tài chính Mỹ, ông Johw Suyder đã tuyên

bố với Tổng giám đốc của IMF là Mỹ bán và mua vàng bằng USD với giá 35 USD/ ounce cho tất cả các NHTW nào có yêu cầu Ðiều này biến hệ thống Bretton Woods thành một hệ thống bản vị USD

Để giải quyết vấn đề dự trữ của quỹ tháng 6-1967 Hội đồng Thống đốc IMF đã nhóm họp ở Rio de Janeiro, thủ đô Brazil và đã chấp nhận nguyên tắc tạo ra một loại dự trữ quốc tế mới là SDR (Special drawing right) Dự trữ SDR được thể hiện dưới hình thức bút tệ, được ghi trong tài khoản đặc biệt của mỗi nước thành viên và có thể sử đụng qua chuyển khoản Giá trị của mỗi đơn vị SDR lúc ban đầu được ấn định là 0,888671 gram vàng, tương đương với hàm lượng vàng của 1 USD Ðến năm 1973 vì có sự thả nổi hối suất của USD, giá trị của SDR được quy định căn cứ vào giá trị tổng hợp của 16 loại tiền tệ có cân nhắc tỷ trọng theo tầm quan trọng của mỗi đơn vị tiền tệ thể hiện qua phần giá trị xuất khẩu của mỗi quốc gia trong tổng giá trị xuất khẩu của thế giới Năm 1981, giá trị tổng hợp đó chỉ còn căn cứ vào 5 đồng tiền của 5 nước có khối lượng xuất khẩu lớn nhất thế giới từ 1975-1979 là USD 40%; FRF 11%; GDB 11%; JPY 17%; DEM 21%; Cứ 5 năm duyệt lại một lần: một lần vào đầu năm 1986, một lần vào đầu năm 1991

5 Quan hệ với Việt Nam:

1 Cổ phần và quyền bỏ phiếu của Việt Nam tại IMF:

Hiện nay cổ phần của Việt Nam tại Quỹ bằng 329,1 triệu SDR, chiếm 0,155% tổng khối lượng cổ phần và có tỷ lệ phiếu bầu là 0,17% tổng số quyền bỏ phiếu

2 Hoạt động của IMF tại Việt Nam

2.1.Hoạt động cho vay của IMF đối với Việt Nam

Chính quyền Sài Gòn gia nhập IMF ngày 18/8/1956 Từ đó đến trước ngày Miền Nam hoàn toàn giải phóng, IMF chưa cho Chính quyền Sài gòn vay một khoản nào Ngày 21/9/1976, Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam chính thức kế tục chân hội viên của Việt Nam tại IMF và được quyền hưởng các khoản vay từ IMF Trong giai đoạn 1976-1981, IMF đã cho Việt Nam vay khoảng 200 triệu USD nhằm giải quyết những khó khăn trong cán cân thanh toán Từ tháng 2/1984 Việt Nam bắt đầu phát sinh nợ quá hạn với IMF

Ngày 15/1/1985, IMF quyết định đình chỉ quyền vay vốn của Việt Nam với lý do không trả được nợ quá hạn Trong suốt giai đoạn từ 1/85 đến 10/93, quan hệ giữa Việt Nam và IMF được duy trì thông qua đối thoại thường xuyên trên lĩnh vực chính sách chủ yếu

Trang 10

Page 10

dưới hình thức tham khảo thường niên trên lĩnh vực kinh tế vĩ mô

Tính đến ngày 03/10/1993, tổng số nợ quá hạn của Việt Nam với IMF lên tới

100.179.340 SDR Việt Nam đã huy động vốn dưới hình thức vay bắc cầu để trả nợ quá hạn IMF Tháng 10/1993, một khoản vay bắc cầu đã được ký kết với các ngân hàng nước ngoài (16 ngân hàng) do ngân hàng BFCE (Pháp) và JEXIM (Nhật) đứng ra huy động với tổng số 85 triệu USD, cộng thêm với viện trợ không hoàn lại của 9 nước bao gồm Nhật, Pháp, Thuỵ điển, Thuỵ sỹ, úc, Bỉ, Canada, Phần Lan, Áo để trả hết nợ quá hạn cho IMF Tháng 10/1993, sau khi thanh toán nợ quá hạn, Việt Nam đã nối lại quan hệ tài chính với IMF Ngay trong tháng 10/1993, IMF đã cho Việt Nam vay hai khoản theo lãi suất thị trường: (i) theo thể thức dự phòng (SBA) với số tiền tương đương 157 triệu USD và (ii) theo thể thức chuyển đổi hệ thống (STF) trị giá khoảng 34 triệu USD để trả nợ cho khoản vay bắc cầu

Tháng 11/1994, IMF đã thông qua chương trình cho vay điều chỉnh cơ cấu mở rộng (ESAF) 3 năm (1994-1997) với lãi suất ưu đãi hơn với tổng trị giá khoảng 535 triệu USD Sau khi hoàn thành các điều kiện của chương trình ESAF năm thứ nhất và thứ hai, Việt Nam đã rút được tổng số tiền là 360 triệu USD Đến tháng 10/1997, chương trình ESAF 3 năm 1994-1997 kết thúc

Ngày 13/4/2001 IMF thông qua chương trình PRGF cho Việt Nam với tổng số vốn cam kết là 368 triệu USD chia làm 7 đợt rút vốn bằng nhau trong 3 năm (2001-2004) Tính đến tháng 8/2002,Việt Nam đã thực hiện được 3 đợt rút vốn theo chương trình này với tổng số tiền là 158,8 triệu USD Sau 3 đợt rút vốn, do chính sách an toàn mà IMF đưa ra làm điều kiện cho các khoản giải ngân tiếp theo không phù hợp với khuôn khổ luật pháp hiện hành của Việt Nam nên chương trình PRGF của IMF với Việt Nam đã kết thúc vào ngày đến hạn, ngày 12/4/2004 vừa qua

2.2 Hỗ trợ kỹ thuật của IMF cho Việt Nam

Trước khi nối lại quan hệ tín dụng, IMF đã cử nhiều đoàn chuyên gia kinh tế vào giúp Việt Nam xây dựng các chương trình kinh tế, trong đó có các biện pháp chống lạm phát

IMF cũng đã nhận đào tạo một số cán bộ của các ngành kinh tế tổng hợp về kiến thức kinh tế thị trường, thực hiện trợ giúp kỹ thuật cho NHNN và Bộ tài chính trị giá 1,9 triệu Đôla Mỹ dưới hình thức cử các chuyên gia tư vấn ngắn, trung và dài hạn về nghiệp vụ chính sách đồng thời tổ chức các khoá tập huấn, hội thảo trong nước cũng như các khảo sát tại các nước có những kinh nghiệm về phát triển kinh tế trong thời kỳ quá độ tương tự như Việt Nam

Dự án VIE/93/007 về “Tăng cường thể chế và chính sách tài chính” được hỗ trợ của IMF/UNDP (United Nations Development Programme) đã đem lại những kết quả đáng khích lệ trong các lĩnh vực điều hành và quản lý tiền tệ, xây dựng các thị trường vốn, quản lý ngoại hối, hệ thống thanh toán, thanh tra ngân hàng trung ương, chế độ báo cáo, thống kê tiền tệ

Các chuyên gia của IMF đã giúp tư vấn về cách thức, phương pháp hoạch định và điều hành chính sách tiền tệ Các thị trường nội tệ và ngoại tệ liên ngân hàng đã được thành

Trang 11

Page 11

lập Thị trường đấu thầu tín phiếu kho bạc cũng đã được hình thành Các quy chế quản lý

dự trữ bắt buộc, lãi suất, trần tín dụng, quản lý ngoại hối đã được soạn thảo và sửa đổi với những ý kiến tư vấn và sự giúp đỡ của các chuyên gia IMF thường trú tại Việt Nam Hoạt động thanh tra ngân hàng đã được cải tiến và nâng cao theo mô hình các nước tiên tiến dưới hình thức đào tạo tại chỗ do các chuyên gia ngắn hạn và dài hạn thực hiện Cố vấn dài hạn đã giúp tư vấn về các quy chế thanh tra, kiểm tra, các bước tiến hành giám sát từ

xa và thanh tra tại chỗ, tư vấn cho các nghiệp vụ thanh tra và tổng kiểm soát, kiểm toán nội bộ, phòng ngừa rủi ro trong thanh toán liên ngân hàng, quản lý và kinh doanh ngoại hối Hệ thống kế toán ngân hàng đã được sửa đổi và hệ thống thanh toán liên ngân hàng

đã được củng cố giúp cho các hoạt động kinh doanh ngoại hối, tín dụng liên ngân hàng Hàng năm, Vụ Tiền tệ và Ngoại hối (nay là Vụ Các hệ thống Tài chính Tiền tệ) và Vụ Thống kê của IMF đã cử các đoàn chuyên gia vào tìm hiểu nhu cầu và cung cấp những trợ giúp kỹ thuật cần thiết cho Ngân hàng Nhà nước và các cơ quan hữu quan Gần đây, IMF tập trung hỗ trợ kỹ thuật vào các lĩnh vực cải cách thuế, thanh tra ngân hàng và sẵn sàng hỗ trợ cho lĩnh vực hoạt động tiền tệ và phòng chống rửa tiền và tài trợ cho khủng

bố

Về lĩnh vực đào tạo, Học viện của Quỹ đã đào tạo một số lượng lớn các quan chức cao cấp và trung cấp của Ngân hàng Nhà nước, Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Thương mại và Tổng cục Thống kê thông qua một loạt các khoá đào tạo và hội thảo về nhiều chủ đề khác nhau tại Washington, Viên và Singapore Ngoài ra, gần đây hàng năm IMF còn phối hợp với chính phủ Nhật Bản tổ chức hội thảo cho các cán bộ cao cấp của các nước đang trong quá trình chuyển đổi, trong đó có Việt Nam, về quản lý kinh tế vĩ

mô và kinh nghiệm của Nhật Bản Điều này đã góp phần cải thiện và mở rộng kiến thức của các cán bộ quản lý kinh tế của Việtnam

6 Tổng Kết:

IMF ra đời là một tất yếu khách quan của quá trình vận động các nền kinh tế trên thế giới theo xu hướng hội nhập toàn cầu Sự liên hệ và ảnh hưởng lẫn nhau của các nền kinh tế ngày càng lớn Ðể duy trì sự ổn định và phát triển, trước hết là ổn định về các quan hệ tài chính tiền tệ trên phạm vi thế giới, cần một định chế tài chính chung có khả năng điều tiết và phối hợp hành động của các quốc gia Trong hơn 50 năm qua IMF đã khẳng định được vai trò của mình trong việc duy trì ổn định và thúc đẩy phát triển kinh tế thế giới

Với tư cách là tổ chức tài chính tiền tệ quốc tế có các thành viên là Chính phủ các nước, tự điều này, đã tạo cho IMF uy tín và tính độc lập cao đối với cộng đồng tài chính quốc tế Ðối với các nước gặp khó khăn về tài chính để xử lý các món nợ Chính phủ hay

nợ thương mại nếu không có sự ủng hộ của IMF thì khó mà đạt được các thỏa ước giải quyết nợ Bên cạnh đó, với các nước đang phát triển, thiếu vốn vẫn là căn bệnh kinh niên Thực tế cho thấy dự trữ của IMF hầu như dồn hết toàn bộ vào các nhu cầu cần thiết của các nước đang phát triển; năm 1980 là 90,2% và 1984 là 87,6% các loại tín dụng IMF trở thành người trong cuộc có ảnh hưởng lớn đến chính sách kinh tế vĩ mô của nhiều nước

Trang 12

Page 12

này với 3 vai trò cơ bản : điều chỉnh thâm hụt cán cân thanh toán quốc tế ; cải cách kinh

tế trong giai đoạn chuyển đổi và thanh toán nợ quá hạn

Về mặt tổ chức có thể nói IMF có một cơ cấu tổ chức khá hoàn hảo với đội ngũ nhân viên là các chuyên gia giỏi thuộc nhiều lĩnh vực được tập hợp từ nhiều quốc gia, có quan điểm chính trị độc lập Trong hoạt động của IMF vừa có các nhân tố bảo vệ lợi ích các nước phương Tây - nhiều cổ đông lớn nhất của quỹ, vừa có các nhân tố là công cụ để các nước hợp tác với nhau nhằm duy tân sự ổn định nền tài chính toàn cầu, đồng thời thúc đẩy kinh tế của từng nước đi lên

B NHÓM NGÂN HÀNG THẾ GIỚI (WORLD BANK GROUP)

Nhóm Ngân hàng Thế giới (World Bank Group, thường được gọi tắt là Ngân hàng

Thế giới và được viết tắt là WB) là một tổ chức tài chính đa phương có mục đích trung tâm là thúc đẩy phát triển kinh tế và xã hội ở các nước đang phát triển bằng cách nâng cao năng suất lao động ở các nước này

1 Sơ lược hình thành

Với bản chất là một cơ quan đặc biệt của Liên hợp quốc với 184 nước thành viên, WB được thành lập trong Đại chiến thế giới thứ 2 tại hội nghị Bretton Woods, New Hampshire, ngày 1-22/7/1944 Nhóm Ngân hàng Thế giới bao gồm năm tổ chức tài chính thành viên, đó là Ngân hàng Quốc tế Tái thiết và Phát triển, Hội Phát triển Quốc tế, Công

ty Tài chính Quốc tế, Trung tâm Quốc tế Giải quyết Mâu thuẫn Đầu tư, và Cơ quan Đảm bảo Đa phương

 Ngân hàng Quốc tế Tái thiết và Phát triển (IBRD): được chính thức thành lập ngày 27/12/1945 với trách nhiệm chính là cấp tài chính cho các nước Tây Âu để họ tái thiết kinh tế sau Chiến tranh thế giới II và sau này là cho phát triển kinh tế ở các nước nghèo Sau khi các nước này khôi phục được nền kinh tế, IBRD cấp tài chính cho các nước đang phát triển không nghèo Để có thể trở thành hội viên của IBRD, một quốc gia trước hết phải là hội viên của IMF Số quốc gia thành viên: 184

 Hội Phát triển Quốc tế (IDA): được thành lập năm 1960 chuyên cấp tài chính cho các nước nghèo Số quốc gia thành viên: 164

 Công ty Tài chính Quốc tế (IFC): thành lập năm 1956 chuyên thúc đẩy đầu tư tư nhân ở các nước nghèo Số quốc gia thành viên: 175

Trang 13

Page 13

 Trung tâm Quốc tế Giải quyết Mâu thuẫn Đầu tư (ICSID): thành lập năm 1966 như một diễn đàn phân xử hoặc trung gian hòa giải các mâu thuẫn giữa nhà đầu tư nước ngoài với nước nhận đầu tư Số quốc gia thành viên: 139

 Cơ quan Bảo lãnh Đầu tư Đa phương (MIGA): thành lập năm 1988 nhằm thúc đẩy FDI vào các nước đang phát triển Số quốc gia thành viên: 162

2 Chức năng nhiệm vụ và mục tiêu hoạt động

2.1 Chức năng nhiệm vụ

Chức năng của WB được phân công cho các tổ chức thành viên thực hiện

 IBRD và IDA đi vay (phát hành trái phiếu) và cho các nước thành viên vay lại (hiện WB có 184 nước thành viên) Không phải nước thành viên nào cũng được vay WB Cá nhân và công ty không được WB cho vay Chính phủ của những nước đang phát triển nhưng có thu nhập quốc dân trên đầu người trên

1305 USD/năm được vay của IBRD Các khoản vay này có lãi suất chỉ cao hơn lãi suất mà WB đã đi vay một chút Chính phủ của các nước nghèo, có thu nhập quốc dân trên đầu người dưới 1305 USD/năm (trong thực tế là dưới 805USD/năm) được vay của IDA Các khoản vay sẽ không đòi lãi suất và có thời hạn lên tới 35-40 năm

 Trong hai thập kỷ đầu kể từ khi được thành lập, IBRD đã dành hơn 2/3 tổng giá trị các khoản cho vay của mình cho các dự án phát triển năng lượng và giao thông vận tải

 Trong hai thập niên 1960 và 1970, các dự án phát triển cơ sở hạ tầng vẫn quan trọng nhất, song hoạt động của IBRD và IDA đã rất đa dạng, từ hỗ trợ giáo dục, y tế, dinh dưỡng, kế hoạch hóa gia đình, đến hỗ trợ phát triển nông thôn và hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ Các hoạt động của IBRD và IDA đều trực tiếp liên quan đến giúp đỡ người nghèo và mang hình thức hỗ trợ tài chính lẫn kỹ thuật

 Từ thập niên 1980, ngoài đầu tư vào vốn vật chất và vốn con người, IBRD và IDA bắt đầu cho vay để cải cách cơ cấu kinh tế và điều chỉnh chính sách ở các nước đang phát triển

Ngày đăng: 14/05/2014, 06:19

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm