kinh tế vĩ mô 2 bài tập áp dụng phân tích thực tiễn
Trang 1CHƯƠNG I : CƠ SỞ LÝ LUẬN
1 Một số vấn đề về thất nghiệp
1.1 Khái niệm
Theo tổ chức Lao động quốc tế (ILO): “ Thất nghiệp là tình trạng tồn tại một số người trong lực lượng lao động muốn làm việc nhưng không thể tìm được việc làm ở mức tiền lương thịnh hành”
1.2 Phân loại
Phân loại theo lý do thất nghiệp :
Thất nghiệp tự nguyện : Là loại thất nghiệp mà ở một mức tiền công nào đó người
lao động không muốn làm việc hoặc vì lý do cá nhân nào đó (di chuyển, sinh con…).Thất nghiệp loại này thường tạm thời
Thất nghiệp không tự nguyện : Thất nghiệp mà ở mức tiền công nào đó người lao
động chấp nhận nhưng vẫn không được làm việc do kinh tế suy thoái , cung lớn hơn cầu về lao động…
Thất nghiệp trá hình (còn gọi là hiện tượng khiếm dụng lao động) là hiện tượng
xuất hiện khi người lao động được sử dụng dưới mức khả năng mà bình thường gắn với việc sử dụng không hết thời gian lao động
1.3 Tác động của thất nghiệp đến sự phát triển kinh tế - xã hội
Thất nghiệp tác động đến tăng trưởng kinh tế và lạm phát
Thất nghiệp ảnh hưởng đến thu nhập và đời sống của người lao động
Thất nghiệp ảnh hưởng đến trật tự xã hội, an toàn xã hội
2 Bảo hiểm thất nghiệp
2.1 Khái niệm
BHTN là quá trình tổ chức và sử dụng quỹ tiền tệ tập trung – quỹ bảo hiểm thất nghiệp - được hình thành do sự đóng góp của các bên tham gia ( người lao động, người
sử dụng lao động và sự hỗ trợ của Nhà nước ) nhằm hỗ trợ về mặt thu nhập cho người lao động trong thời gian bị mất việc làm, tạo điều kiện cho họ tìm kiếm việc làm mới trong thị trường lao động
Trang 2BHTN cũng là một loại thuế nhãn hiệu Thuế nhãn hiệu là thuế có mục đích, mà được xác định và thời điểm vận dụng loại thuế đó Sử dụng các khoản thu từ thuế đó dù vào mục đích khác đi nữa cũng không được phép Người tham gia BHTN thực hiện trách nhiệm nộp thuế và hiểu rất rõ phần thuế mình nộp vào sẽ được tiêu dung vào mục đích gì BHTN cũng tuân thủ theo nguyên tắc lấy số đông bù số ít giống BHXH vì mục tiêu chung là bảo vệ người lao động, ổn định xã hội
Mặc dù vậy, nhưng BHTN có những đặc điểm khác với BHXH, vì BHTN gắn liền với vấn đề việc làm và tạo việc làm cho đối tượng, mục đích, công tác quản lý…Nên:
Đối tượng của bảo hiểm thất nghiệp không thể tính toán được, cũng không thể
dự toán chính xác được như các loại bảo hiểm xã hội khác
Lao động làm việc trong các thành phần kinh tế khác nhau, việc quản lý quyền lợi của người tham gia bảo hiểm thất nghiệp rất khó khăn, vì thực tế ở các nước đã có nhiều người lao động tìm được việc làm, có thu nhập, nhưng vẫn nhận được trợ cấp thất nghiệp
Bảo hiểm thất nghiệp có liên quan chặt chẽ với cơ quan xúc tiến việc làm trong lúc cơ quan này lại hoạt động chưa thực sự hiệu quả
2.2 Mục tiêu của chương trình BHTN
Cung cấp nguồn hỗ trợ về thu nhập cho người lao động bị thất nghiệp, đảm bảo chi tiêu cần thiêt trong thời gian tìm việc mới mà không gây ra tình trạng nợ nần
Ổn định nền kinh tế, góp phần duy trì sức tiêu dùng ở cả góc độ cá thể và kinh
tế vĩ mô, thúc đẩy tìm việc làm hiệu quả - tạo điều kiện kết nối tốt hơn giữa cung và cầu trong thị trường lao động
Khuyến khích người lao động nâng cao tay nghề
Tăng cường các kỹ năng tìm kiếm việc làm, Giúp những người thất nghiệp sớm có cơ hội tìm được việc làm, những người có kĩ năng sẽ tìm đựơc công việc phù hợp thay vì phải làm những công việc khác với mức lương không tương xứng
Giảm gánh nặng cho ngân sách nhà nước và doanh nghiệp
Trang 32.3 Đối tượng và phạm vi bảo hiểm
Đối tượng được nhận bảo hiểm thất nghiệp là những người bị mất việc không do lỗi của cá nhân họ Họ vẫn đang cố gắng tìm kiếm việc làm, sẵn sàng nhận công việc mới
và luôn nỗ lực nhằm chấm dứt tình trạng thất nghiệp Bảo hiểm thất nghiệp không áp dụng cho những người thất nghiệp vì tự ý bỏ việc hay những ngưòi vừa mới ra trường và chưa tìm được công ăn vịêc làm,những người thuộc vào diện thất nghiệp tự nhiên
3 Hiệu quả và công bằng của BHTN
3.1 Hiệu quả Pareto
Theo Vilfredo Pareto, nhà kinh tế học người Ý, một sự phân bổ nguồn lực được gọi là đạt hiệu quả Pareto nếu như không có cách nào phân bổ lại các nguồn lực để làm ít nhất một người được lợi mà không phải làm thiệt hại đến bất kì ai Nghĩa là, ngoài những người nhận được trợ cấp từ BHTN sẽ được lợi, mà những người tham gia BHTN mà không được nhận hoặc chưa được nhận những khoản trợ cấp này cũng không bị thiệt hại
3.2 Tính công bằng
3.2.1 Tính công bằng ngang và công bằng dọc
Khái niệm công bằng xã hội không hoàn toàn không đồng nhất, nó được hiểu ở nhiều khía cạnh khác nhau, tuy nhiên có thể hiểu ở hai cách sau:
Thứ nhất, khái niệm công bằng ngang là sự đối xử như nhau đối với những người
có tình trạng kinh tế như nhau (được xét theo một số tiêu chí nào đó như: thu nhập, hoàn cảnh gia đình, tôn giáo, dân tộc…)
Thứ hai, khái niệm công bằng dọc là đối xử khác nhau với những người có khác biệt bẩm sinh hoặc có tình trạng kinh tế ban đầu khác nhau nhằm khắc phục những khác biệt sẵn có
3.2.2 Phân phối lại thu nhập
Phân phối lại thu nhập là hình thức điều tiết thu nhập tài sản trong xã hội nhằm tạo công bằng cho xã hội như lấy của người giàu chia cho người nghèo, trợ cấp…và bảo hiểm thất nghiệp chính là một chính sách phân phối lại thu nhập của chính phủ
3.3 Mối quan hệ giữa hiệu quả và công bằng xã hội
Trang 4Có hai trường phái khác nhau về mối quan hệ giữa hiệu quả và công bằng xã hội:
Trường phái thứ nhất cho rằng hiệu quả và công bằng có mâu thuẫn, có
nghĩa là nếu ưu tiên hiệu quả thì phải chấp nhận bất công và ngược lại
Trường phái thứ hai cho rằng hiệu quả và công bằng không nhất thiết phải có
mâu thuẫn, có nghĩa là không nhất thiết phải có sự đánh đổi giữa hiệu quả và công bằng
CHƯƠNG II : NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG VỀ CHẾ ĐỘ BHTN Ở VIỆT NAM
1 Những quy định chung về việc thực hiện BHTN ở Việt Nam
Vấn đề bảo hiểm thất nghiệp hiện đang được điều chỉnh cơ bản bởi Nghị định số 127/2008 NĐ – CP được Chính phủ ban hành ngày 12/12/2008 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội về bảo hiểm thất nghiệp với một số các nội dung cơ bản sau đây :
1.1 Quy định về người lao động tham gia BHTN
Người lao động tham gia BHTN là công dân Việt Nam giao kết các loại hợp đồng lao động với người sử dụng lao động gồm : hợp đồng lao động xác định thời hạn từ đủ mười hai tháng đến ba mươi sáu tháng; Hợp đồng lao động không xác định thời hạn; Hợp đồng làm việc xác định thời hạn từ đủ mười hai tháng đến ba mươi sáu tháng; Hợp đồng làm việc không xác định thời hạn
Người đang hưởng lương hưu, trợ cấp mất sức lao động hằng tháng có giao kết hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc với người sử dụng lao động theo các loại hợp đồng
trên không thuộc đối tượng tham gia BHTN
1.2 Quy định về người sử dụng lao động tham gia BHTN
Là người sử dụng lao động có sử dụng từ mười 10 người lao động trở lên tại các
cơ quan, đơn vị, tổ chức, doanh nghiệp : đơn vị Nhà nước; tổ chức chính trị xã hội; doanh nghiệp thành lập theo luật Doanh nghiệp, luật Đầu tư; các hợp tác xã thành lập theo luật Hợp tác xã; các hộ kinh doanh cá thể; các doanh nghiệp nước ngoài hoạt động trển lãnh thổ Việt nam có sử dụng lao động là người Việt Nam
1.3 Điều kiện hưởng BHTN
Trang 5Được quy định tại điều 15 chương III, căn cứ theo Điều 81 Luật Bảo hiểm xã hội, điều kiện được hưởng BHTN: Đã đóng bảo hiểm thất nghiệp đủ mười hai tháng trở lên trong vòng hai mươi bốn tháng trước khi bị mất việc làm hoặc chấm dứt hợp đồng lao động; Đã đăng ký với cơ quan lao động khi bị mất việc làm, chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc; Chưa tìm được việc làm sau mười lăm ngày kể từ ngày đăng ký với cơ quan lao động
1.4 Mức trợ cấp và thời gian hưởng trợ cấp
Mức trợ cấp thất nghiệp hằng tháng bằng 60% mức bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp của sáu tháng liền kề trước khi bị mất việc làm hoặc chấm dứt hợp đồng lao động
Thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp hằng tháng phụ thuộc vào thời gian làm việc
có đóng bảo hiểm thất nghiệp của người lao động :
- Đã đóng BHTN từ 12 tháng đến dưới 36 tháng hưởng 03 tháng
- Đã đóng BHTN từ 36 tháng đến dưới 72 tháng hưởng 06 tháng
- Đã đóng BHTN từ 72 tháng đến dưới 144 tháng hưởng 09 tháng
- Đã đóng BHTN từ 144 tháng trở lên hưởng 12 tháng
1.5 Tạm dừng hưởng bảo hiểm thất nghiệp
Theo điều 22, chương III, người lao động đang hưởng trợ cấp thất nghiệp hằng tháng sẽ
bị tạm dừng hưởng trợ cấp thất nghiệp khi không thông báo hằng tháng với cơ quan lao động về việc tìm kiếm việc làm hoặc đang bị tạm giam
1.6 Chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp
Người đang hưởng trợ cấp thất nghiệp bị chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp trong các trường hợp sau: hết thời hạn hưởng trợ cấp thất nghiệp; có việc làm; thực hiện nghĩa vụ quân sự; hưởng lương hưu; sau hai lần từ chối nhận việc làm do tổ chức bảo hiểm xã hội giới thiệu mà không có lý do chính đáng; không thông báo về tình hình việc làm với tổ chức BHXH trong ba tháng liên tục; ra nước ngoài để định cư; chấp hành quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính tại trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục, cơ
sở chữa bệnh hoặc chấp hành hình phạt tù nhưng không được hưởng án treo; bị chết
1.7 Mức đóng bảo hiểm thất nghiệp
Trang 6Nguồn hình thành Quỹ bảo hiểm thất nghiệp do: Người lao động đóng bằng
1% tiền lương, tiền công tháng đóng BHTN, người sử dụng lao động đóng bằng 1% quỹ tiền lương, tiền công tháng đóng BHTN của những người lao động tham gia BHTN, Nhà nước hỗ trợ từ ngân sách bằng 1% quỹ tiền lương, tiền công tháng đóng BHTN của những người lao động tham gia BHTN và mỗi năm chuyển một lần
1.8 Hỗ trợ học nghề và hỗ trợ tìm việc làm
Mức hỗ trợ học nghề bằng mức chi phí học nghề ngắn hạn theo quy định của pháp luật về dạy nghề Thời gian được hỗ trợ học nghề không quá 6 tháng tính từ ngày người
lao động được hưởng trợ cấp thất nghiệp hằng tháng Thời gian được hỗ trợ tư vấn, giới
thiệu việc làm tính từ ngày người lao động được hưởng trợ cấp thất nghiệp hằng tháng và không quá tổng thời gian mà người lao động đó được hưởng trợ cấp theo quy định
2 Quy trình đăng ký thất nghiệp và nộp hồ sơ hưởng bảo hiểm thất nghiệp Bước 1 : Trong vòng 07 ngày kể từ ngày mất việc, người lao động phải trực tiếp đến
Trung tâm Giới thiệu Việc làm tỉnh, thành phố nơi làm việc để đăng ký thất nghiệp
Bước 2 : Trung tâm Giới thiệu Việc làm có trách nhiệm cung cấp mẫu đơn, hướng dẫn
người lao động làm đơn đăng ký thất nghiệp và làm hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp
Bước 3 : Người lao động phải hoàn thành hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp và nộp cho
Phòng Bảo hiểm Thất nghiệp-Trung tâm Giới thiệu việc làm trong vòng 15 ngày kể từ ngày đăng ký thất nghiệp
Bước 4 : Phòng Bảo hiểm Thất nghiệp-Trung tâm Giới thiệu việc làm kiểm tra, xử lý hồ
sơ, và hoàn chỉnh hồ sơ trong vòng 15 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ của người lao động, sau đó chuyển cho Phòng Lao động Việc làm thuộc Sở Lao động TB-XH Nếu người lao động chưa đủ điều kiện hưởng trợ cấp thất nghiệp, Trung tâm Giới thiệu Việc thông báo trả lời gửi cho người lao động
Bước 5 : Phòng Lao động Việc làm thuộc Sở Lao động TB-XH có trách nhiệm thẩm định
hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp do Trung tâm Giới thiệu Việc làm chuyển đến, trình Giám đốc Sở ký trong vòng 03 ngày
Bước 6 : Giám đốc Sở Lao động TB-XH xem xét và ký quyết định hưởng trợ cấp thất
nghiệp trong vòng 02 ngày Sau đó chuyển quyết định cho Phòng Lao động Việc làm
Trang 7Phòng Lao động Việc làm trả lại cho Trung tâm Giới thiệu Việc làm toàn bộ hồ sơ và quyết định đã được Giám đốc Sở ký Trung tâm Giới thiệu Việc làm trao trả quyết định cho người lao động và hướng dẫn người lao động đến cơ quan Bảo hiểm xã hội để được hưởng trợ cấp hàng tháng theo quy định
CHƯƠNG III : ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ VÀ CÔNG BẰNG CỦA CHẾ ĐỘ BHTN Ở
VIỆT NAM
1 Đánh giá hiệu quả của BHTN
1.1 Những hiệu quả đạt được
Bảo hiểm thất nghiệp chính là một chương trình chi tiêu công của chính phủ bởi vì chính phủ đã tài trợ từ ngân sách nhà nước bằng 1% quỹ tiền lương, tiền công tháng đóng BHTN của những người lao động tham gia BHTN vào quỹ BHTN Chính vì vậy, khi xét đến tình hiệu quả của BHTN chúng ta phải xét đến phạm vi tác động của chương trình khả năng ảnh hưởng bao trùm và trải rộng đến các đối tượng, không những đối tượng trực tiếp được hưởng lợi ích mà còn các đối tưởng mở rộng
Đầu tiên, xét đến các đối tượng được hưởng lợi ích trực tiếp từ chế độ BHTN đó là những người lao động bị mất việc làm Chương trình BHTN không những trợ cấp cho NLĐ một khoản thu nhập để đáp ứng các khoản chi phí trang trải cho cuộc sống trong
Trang 8khoảng thời gian tìm việc khác mà còn đào tạo nghề, hỗ trợ NLĐ tìm việc làm mới phù hợp với tay nghề của mình
Tiếp theo là những đối tượng được hưởng lợi ích gián tiếp từ chế độ BHTN Đầu tiên
là phải kể đến những người thân trong gia đình NLĐ được hưởng chế độ BHTN Lợi ích
mà họ nhận được là sự yên tâm rằng người thân của mình dù bị thất nghiệp nhưng vẫn nhận được một khoản thu nhập để trang trải cuộc sống và được đạo tạo nghề và có cơ hội tìm được những công việc phù hợp, bên cạnh đó, họ có thể giảm bớt gánh nặng cuộc sống, không phải nuôi thêm một người ăn theo
Sau đó là xã hội, BHTN tạo cho họ thu nhập, giúp đỡ NLĐ tìm công ăn việc làm, sẽ làm giảm bớt tình trang thất nghiệp trong nền kinh tế, giảm thất nghiệp là một trong những mục tiêu hàng đầu của nền kinh tế, giúp tăng trưởng sản lượng, phát triển kinh tế, thu nhập tăng lên, đời sống người dân ngày càng được cải thiển Bên cạnh đó, có thu nhập sẽ giảm bớt các tệ nạn xã hội, đảm bảo trật tự, an ninh quốc gia
Để có cái nhìn tổng quan về những hiệu quả mà BHTN đã mang lại, chúng ta sẽ xem xét thực trạng, những kết quả đã đạt được sau hơn 2 năm thực hiện BHTN trên các mặt thu chi, cũng như công tác giới thiệu việc làm và hỗ trợ đào tạo nghề của BHTN
1.1.1 Tình hình thu tiền của BHTN
Theo quy định tại Điều 140 của Luật Bảo hiểm xã hội thì bảo hiểm thất nghiệp có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2009 Sau 2 năm thực hiện bảo hiểm thất nghiệp bước đầu đã đạt được những kết quả khả quan, theo BHXH Việt Nam năm 2010 có 7.054.962 người tham gia BHTN, tăng 17,7% so với năm 2009 về số thu đạt 4.864 tỷ đồng tăng 27,9% so với năm 2009, đưa tổng quỹ bảo hiểm thất nghiệp lên 8.200 tỷ đồng
Theo Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội đến hết năm 2010, có 145.519 người thất nghiệp có quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp thường xuyên; 2.772 người thất nghiệp
đã có quyết định hưởng BHTN 1 lần; 114.809 người được tư vấn giới thiệu việc làm; 243 người được trợ cấp học nghề, đã phần nào giảm đi gánh nặng về giải quyết thất nghiệp cho Nhà nước, góp phần đảm bảo an sinh xã hội, tạo được lòng tin cho người lao động khi tham gia BHTN
1.1.2 Tình hình chi tiền BHTN
Trang 9Theo thống kê báo cáo của Sở Lao động – Thương binh và xã hội, tính đến ngày 1/3/2011: Số lượng đăng ký thất nghiệp: TP Hồ Chí Minh là 59.142 người, Bình Dương 56.676 người, Đồng Nai 25.403 người, Hà Nội 4.192 người, Phú Thọ 1.104 người Số người hưởng trợ cấp thất nghiệp: TP Hồ Chí Minh 50.148, Bình Dương 31.140, Đồng Nai 16.186, Hà Nội 3.910, Phú Thọ 821 Số tiền chi trợ cấp thất nghiệp: 210.974 triệu đồng, Bình Dương 95.606 triệu đồng, Đồng Nai 54.524 triệu đồng, Hà Nội 17.768 triệu đồng, Phú Thọ 2.463 triệu đồng Số tiền chi học nghề: Hồ Chí Minh 65 triệu đồng, Bình Dương 10 triệu, đồng Đồng Nai 1 triệu đồng, Hà Nội 57 triệu đồng Theo báo cáo của các địa phương về tình hình tiếp nhận và giải quyết các chế độ bảo hiểm thất nghiệp trên toàn quốc, đến hết tháng 2/2011 có tới 225.675 số người đăng ký, và 176.894 người đã có quyết định được hưởng bảo hiểm thất nghiệp Năm 2010, quỹ bảo hiểm thất nghiệp đã chi trả trên 550 tỷ đồng
1.1.3 Tình hình giới thiệu việc làm cho người lao động hưởng BHTN
Tính đến ngày 1/3/2011, theo khảo sát chương trình phối hợp giữa Cục Việc làm (Bộ LĐTBXH) và Ban Thực hiện chính sách BHXH (BHXH Việt Nam) khảo sát tình hình thực hiện chế độ bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) đã tiến hành khảo sát tại 5 tỉnh, thành phố: Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai, Phú Thọ và Hà Nội,Số lượt người được tư vấn, giới thiệu việc làm: TP Hồ Chí Minh 11.733 người, Bình Dương 30.241 người, Đồng Nai 11.217 người, Hà Nội 3.693 người, Phú Thọ 3.291 người
1.1.4 Tình hình hỗ trợ đào tạo học nghề cho người lao động hưởng BHTN
Theo PGS-TS Dương Đức Lân, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Dạy nghề, năm 2010 cả nước có 90 trường CĐ nghề, 270 trường trung cấp nghề và 750 trung tâm dạy nghề Trong đó, 50% số trường CĐ nghề, trung cấp nghề được kiểm định và công nhận các điều kiện đảm bảo chất lượng.Trong khi đó, đội ngũ giáo viên dạy nghề hiện nay rất thiếu và yếu Về cơ sở vật chất, còn khoảng 20% số phòng học và 30% số xưởng thực hành là nhà cấp 4; về trang thiết bị thì chỉ có khoảng 25% số trường được trang bị thiết bị mới ở mức độ công nghệ khá
Qua những con số trên, ta thấy rằng NLĐ ngày càng hiểu rõ hơn về lợi ích khi tham gia BHTN, và những lợi ích mà BHTN mang lại ngày càng thu hút được nhiều
Trang 10đối tượng tham gia hơn, phạm vi tác động của BHTN ngày càng được mở rộng và hiệu quả mang lại càng cao hơn
1.2 Những khó khăn, vướng mắc và biến dạng lợi ích từ chương trình
Bên cạnh những hiệu quả đã đạt được, chúng ta không thể không kể đến những khó khăn và vướng mắc mà chương trình đang gặp phải, đồng thời đánh giá những biến dạng lợi ích không mong muốn của BHTN sau 2 năm thực hiện
1.2.1 Những khó khăn, vướng mắc
Ta thấy rằng, so với số tham gia BHXH, BHYT bắt buộc hiện nay là hơn 9,3 triệu người, thì số người tham gia BHTN nêu trên là còn quá khiêm tốn, chưa tương xứng với tiềm năng của nó, một bộ phận người lao động chưa được đảm bảo đầy đủ quyền lợi của mình Hơn nữa, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tế còn có những khó khăn, nhiều bất cập phát sinh So với thời gian đầu năm 2010, một số khó khăn, vướng mắc trong việc thực hiện giải quyết, chi trả chế độ BHTN như: “tiếp nhận khối lượng lớn hồ sơ, trả quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp thường trễ hẹn, người lao động phải đi lại nhiều lần” đã phần nào được cải thiện Tuy nhiên, theo phản ánh của các địa phương thì thời gian đầu năm 2011 lượng lao động đăng ký hưởng trợ cấp thất nghiệp tăng nhanh, trong đó người hưởng mức trợ cấp cao (trên 5 triệu đồng/tháng) đang có chiều hướng tăng
Nhu cầu học nghề và số người được hỗ trợ học nghề ở các tỉnh, thành phố cũng là khá khiêm tốn, chưa tương xứng với mục tiêu của chính sách hỗ trợ Tiêu biểu như Số người được hỗ trợ học nghề: TP Hồ Chí Minh 44 người, Bình Dương 8 người, Đồng Nai
01 người, Hà Nội 33 người Số tiền chi học nghề: Hồ Chí Minh 65 triệu đồng, Bình Dương 10 triệu, đồng Đồng Nai 1 triệu đồng, Hà Nội 57 triệu đồng Điều này dẫn tới tình trạng chung là đào tạo không khớp với nhu cầu, và các doanh nghiệp vẫn phải đào tạo lại Như vậy việc đào tạo nghề như thế nào cho chất lượng và phù hợp với nhu cầu của các doanh nghiệp luôn là vấn đề rất cần quan tâm, nhất là đối với các đối tượng lao động đang hưởng trợ cấp thất nghiệp, để họ sẵn sàng tìm được công việc mới mà không bị áp lực tái thất nghiệp
1.2.2 Biến dạng lợi ích
Các chủ sử dụng lao động né tránh đóng bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động