TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI KHOA KHOA HỌC BIỂN VÀ HẢI ĐẢO Đề bài tập lớn 1 Anh (chị) hãy trình bày đặc điểm về hình thái, kích thước và vị trí của Trái đất trong hệ mặt trời Các phư[.]
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI
KHOA KHOA HỌC BIỂN VÀ HẢI ĐẢO
Đề bài tập lớn:
1 Anh (chị) hãy trình bày đặc điểm về hình thái, kích thước và vị trí củaTrái đất trong hệ mặt trời Các phương pháp nghiên cứu đặc điểm đó là gì?(3đ)
2 Anh (chị) hãy trình bày các tính chất vật lý của Trái đất, ý nghĩa nghiêncứu các dị thường vật lý của Trái Đất (3đ)
3. Anh (chị) hãy trình bày các quyển của Trái đất, các mối tương tác giữacác quyển này với nhau Điều gì sẽ xảy ra nếu Trái Đất không có Khíquyển và Thủy quyển (4 đ)
Họ và tên: Lê Minh Châu
Lớp: DH10QB
Học phần: Cơ sở địa chất biển
Giảng viên hướng dẫn: Nguyễn Hồng Lân
Hà Nội, ngày 18 tháng 04 năm 2022
Trang 2MỤC LỤC:
1 Đặc điểm về hình thái, kích thước và vị trí của Trái đất trong hệ
mặt trời Các phương pháp nghiên cứu đặc điểm 3
a) Đặc điểm về hình thái, kích thước và vị trí của Trái đất trong hệ mặt trời 3
b) Các phương pháp nghiên cứu đặc điểm 5
- Phương pháp trắc địa 5
- Phương pháp đo sâu nghiên cứu địa hình đáy biển: 6
- Phương pháp đo sâu hồi âm 6
- Phương pháp sonar quét sườn 6
2 Các tính chất vật lí của Trái Đất 7
a) Trọng lực: 7
b) Tỉ trọng: 7
c) Cấu trúc 8
d) Các mảng kiến tạo 9
e) Từ trường: 10
f) Địa nhiệt: 11
g) Thủy quyển 11
h) Khí quyển 12
3 Các quyển của Trái Đất, mối tương tác của các quyển với nhau Nếu Trái Đất không có Khí quyển và Thủy quyển 13
a) Các quyển của Trái Đất 13
- Khí quyển 13
Trang 3- Thủy quyển: 15
- Thạch quyển: 18
- Sinh quyển: 21
- Băng quyển: 24
- Thổ nhưỡng quyển: 28
b) Mối tương tác giữa các quyển 30
c) Trái Đất không có Khí quyển và Thủy quyển 31
Trang 4Khoảng 15 tỷ năm trước, một vụ nổ lớn được gọi là vụ nổ Big Bang
đã làm cho vũ trụ nở ra Theo các nhà vật lý thiên văn, sự giãn nở của VũTrụ đến nay vẫn đang tiếp tục
Khoảng 4.6 tỷ năm trước hệ mặt trời của chúng ta cũng bắt đầu hoànthành tự vụ sụp đổ của đám mây khí bụi đang quay và các hành tinh bắtđầu hoàn thành
Do tốc độ quay của đám mây lúc này tăng lên nên nhiệt độ cũng tăng,đám mây khí và bụi trở thành dạng hình đĩa, Mặt trời được hình thành tạitrung tâm của đĩa này
Khu vực rìa của hình dạng đĩa nguội dần các khí tương tác với nhau
và trở thành các hạt vật chất và sau này hình thành nên 9 hành tinh quayquanh Mặt Trời đó là sao Thủy, sao Kim, Trái Đất, sao Mộc , sao Hỏa, saoThổ, sao Diêm Vương, sao Hải Vương, sao Thiên Vương
Trang 5Hình dạng của Trái Đất rất gần với hình phỏng cầu là hình cầu bị néndọc theo hướng từ địa cực tới chỗ phình ra ở xích đạo. Phần phình ra này làkết quả của quá trình tự quay và khiến cho độ dài đường kính tại đườngxích đạo dài hơn 43 km so với độ dài đường kính tính từ cực tới cực. Độdài đường kính trung bình của hình phỏng cầu tham chiếu vào khoảng
Trang 612.745 km, xấp xỉ với 40.000 km/π, mét được định nghĩa bằng1/10.000.000 khoảng cách từ xích đạo đến cực Bắc đo qua Paris, Pháp Địa hình các khu vực khác nhau đều có các sai lệch nhất định so vớihình phỏng cầu đã được lý tưởng hóa này và nếu xét ở quy mô toàn cầu thì
độ lệch này thường rất nhỏ, còn đối với một khu vực nhỏ thì Trái Đất
có dung sai vào khoảng 1/584, tức 0,17% so với hình phỏng cầu tham chiếu
và nhỏ hơn 0,22% dung sai cho phép đối với các quả bóng bi-da Nơi có độlệch (độ cao hoặc độ sâu) lớn nhất so với bề mặt Trái Đất là đỉnhEverest (8.848 m trên mực nước biển) và rãnh Mariana (10.911 dưới mựcnước biển) Do sự phồng lên ở xích đạo, nơi xa tâm Trái Đất nhất làđỉnh Chimborazo cao 6.268 m ở Ecuador
b) Các phương pháp nghiên cứu đặc điểm
Nghiên cứu địa chất biển khác với địa chất lục địa là không quan sát trựctiếp được mà chỉ quan sát gián tiếp thông qua các dụng cụ, thiết bị cơ học
và điện tử được lắp đặt trên các tàu thuyền chuyên dụng Nghiên cứu địachất biển phải sử dụng một hệ phương pháp bao gồm: Phương pháp trắcđịa; phương pháp địa chất và phương pháp vật lý
Hiện nay ở Việt Nam sử dụng máy GPS phatfider với hai trạm theodõi: Trạm cố định trên bờ và trạm trên tàu, các số liệu đo đạc có thể sử
Trang 7dụng hệ quy chiếu UTM hoặc hệ tọa độ toàn cầu có độ chính xác từ 50m.
10 Phương pháp đo sâu nghiên cứu địa hình đáy biển:
Trước năm 1920, để đo sâu người ta dùng dây rọi bằng các buộc mộtvật nặng vào đầu sợi dây, khi thả sợi dây xuống tới đáy biển ta cảm nhậnđược và được độ sâu trên dây đã được đánh dấu
Nhược điểm của phương pháp này:
+ Sai số lớn vì khi thả sợi dây bị tác động bởi dòng chảy biển làm dâytạo thành một cành huyền của tam giác vì vậy độ sâu tăng thêm so với độsâu thực,
+ Số điểm đo bị hạn chế vì mất nhiều thời gian đo đạc
- Phương pháp đo sâu hồi âm
Nguyên tắc: tạo một tia sóng âm hoặc chùm tia sóng âm hướng xuốngđáy biển, khi sóng gặp vật cản sẽ phản hồi ngược trở lại
Ưu điểm: Ta có thể đo vẽ được địa hình theo từng dải mà tàu đi qua,với độ sâu càng lớn thì dải chùm tia càng lớn và diện tích quét được càngrộng
Nhược điểm: Nhiệt độ nước biển và độ mặn nước biển làm thay đổitốc độ truyền sóng âm và chúng có tỷ lệ thuận với tốc độ truyền sóng vìvậy tồn tại sai số nhất định
- Phương pháp sonar quét sườn
Để nghiên cứu địa hình cũng như các vật thể dưới đáy biển người tathường dùng phương pháp Sonar quét sườn bằng cách gắn vào hai thành
Trang 8tàu có các đầu dò dạng như máy quay phim dưới đáy biển nhưng dùng tia
ra đa để quét địa hình hai bên thành tàu đi qua, tia sóng phát ra hướng vềđáy biển và hình ảnh thu được cho phép nghiên cứu tỉ mỉ cấu tạo đáy biểnnhư: cồn nổi, uốn nếp, đứt gãy và diện phân bố các loại trầm tích, các khốiđá
a) Trọng lực:
Đặc trưng bởi g0 = 9.780 × (1 + 0.0053 sin2φ − 58 × sin22φ) Với φ là
vĩ độ
b) Tỉ trọng:
Tỷ trọng trung bình của trái đất là 5.5 g/cm3
Tỷ trọng ở các độ sâu khác nhau thì khác nhau:
Tên lớp Tỉ trọng (g/cm3) Ghi chú
Lớp manti 3.3-5.5 Chiếm ¾ thể tích Trái ĐấtLớp trung tâm 10-13 Thành phần: Fe, Ni, S,
Trang 9c) Cấu trúc
Lớp vỏ Trái Đất được chia làm 4 lớp:
• Lớp vỏ: là một lớp silicat rắn bao gồm bảy mảng kiến tạo riêng biệtnằm trên một lớp chất rắn dẻo. Vỏ Trái Đất phân cách với lớp phủ bởi điểmgián đoạn Mohorovičić, và độ dày thay đổi trung bình 6 km đối với vỏ đạidương và 30–50 km đối với vỏ lục địa. Lớp vỏ và phần trên cùng của lớpphủ cứng, lạnh được gọi là thạch quyển, và các mảng lục địa được tạo trênthạch quyển
• Thạch quyển hoàn toàn cứng rắn bao gồm toàn bộ lớp vỏ( cả lớp vỏlục địa và đại dương) và phần trên của Manti bao gồm khoảng 70-150 km
• Quyển mềm là phần nằm bên dưới lớp Manti khoảng 20km
• Ranh giới giữa Thạch Quyển – Quyển mềm được gọi là moho
Riêng vỏ Trái Đất người ta chia làm hai loại chính: Vỏ lục địa và vỏđại dương
❖ Vỏ kiểu lục địa được cấu tạo đầy đủ 3 lớp: Lớp bazan, lớp granit,lớp trầm tích
Trang 10❖ Vỏ kiểu đại dương được cấu tạo có 2 lóp: Lớp bazan và lớp trầmtích rất mỏng ở phía trên.
d) Các mảng kiến tạo
Lớp ngoài cứng về mặt cơ học của Trái Đất, tức thạch quyển, bị vỡthành nhiều mảnh được gọi là các mảng kiến tạo Các mảng này di chuyểntương đối với nhau theo một trong ba kiểu ranh giới mảng: hội tụ khi haimảng va chạm; tách giãn khi hai mảng đẩy nhau ra xa, chuyển dạng khi cácmảng trượt dọc theo các vết đứt gãy. Các trận động đất, hoạt động núi lửa,
sự hình thành các dãy núi, và rãnh đại dương đều xuất hiện dọc theo cácranh giới này. Các mảng kiến tạo nằm trên quyển atheno (quyển mềm),phần rắn nhưng kém nhớt của lớp phủ trên có thể chảy và di chuyển cùngcác mảng kiến tạo, và chuyển động của chúng gắn chặt với các kiểu đốilưu bên trong lớp phủ Trái Đất
các mảng kiến tạo di chuyển, đáy đại dương bị hút chìm ở rìa của lụcđịa hay tại ranh giới hội tụ Trong khi đó, sự phun trào mácma ở ranh giớiphân kỳ tạo ra các rặng núi giữa đại dương Sự kết hợp của các quá trìnhnày đẩy lớp vỏ ở đại dương trở lại lớp phủ Bởi quá trình tái chế này, phầnlớn đáy đại dương không quá 100 triệu tuổi. Lớp vỏ đại dương già nhất là ởtây Thái Bình Dương và ước chừng khoảng 200 triệu tuổi Bên cạnh đó,lớp vỏ lục địa già nhất khoảng 4030 triệu tuổi
Các mảng lục địa khác bao gồm mảng Ấn Độ, mảng Ả Rập, mảngCaribe, mảng Nazca ở bờ phía tây Nam Mỹ và mảng Scotia ở nam Đại TâyDương Mảng Úc thực chất đã hợp nhất với mảng Ấn Độ trong khoảng từ
50 đến 55 triệu năm trước để tạo thành mảng Ấn-Úc Các mảng kiến tạo dichuyển nhanh nhất là các mảng đại dương, với mảng Cocos di chuyển vớitốc độ 75 mm mỗi năm và mảng Thái Bình Dương di chuyển với tốc độ
Trang 1152–69 mm mỗi năm Ở một thái cực khác, mảng di chuyển chậm nhất
là mảng Á-Âu, di chuyển với tốc độ bình thường 21 mm một năm
ra định kì một vài lần trong mỗi triệu năm Sự đảo cực quan sát rõ trong địa
tầng gần đây nhất, xảy ra vào giữa Kỷ Đệ Tứ, 781000 năm trước, là Đảo ngược Brunhes-Matuyama. Sự đảo cực ngắn gần đây nhất là sự kiện Laschamp xảy ra 41.000 năm trước, trong thời kỳ băng hà cuối cùng, trong
đó thời gian đảo cực dài cỡ 440 năm
Từ trường tạo nên từ quyển làm lệch hướng các điện tử của gió MặtTrời "Sốc hình cung" hướng về phía Mặt Trời nằm ở khoảng cách gấp 13lần bán kính Trái Đất Sự va chạm giữa từ trường Trái Đất và gió Mặt Trờitạo ra vành đai bức xạ Van Allen, một cặp những vùng tích điện dạng vòngcung đồng tâm hình đế hoa Khi thể plasma xâm nhập vào bầu khíquyển của Trái Đất ở các cực, chúng tạo ra cực quang
Từ trường - Hiện tượng đảo từ:
- Trái đất đã bị đảo lộn nhiều lần do các khoáng vật bị đảo lộn nhiềulần trong quá khứ
- Trong vòng 5 triệu năm trở lại đây, Trái đất đã trải qua trên 20 lầnđảo từ và hướng cực hiện nay đã được duy trì trong khoảng 700.000 năm
Trang 12- Hiện tượng này được giải thích do sự thay đổi của của các vật chấtnóng chảy ở phần ngoài trái đất theo các yếu tố:
+ Hướng dòng đối lưu
+ Ngừng đối lưu vật chất
- Hệ quả khi không có sự đối lưu này trong một thời gian gây ra sựtuyệt chủng của các sinh vật
f) Địa nhiệt:
Địa nhiệt trên trái đất được cung cấp từ nhiều nguồn khác nhau
Nội nhiệt của Trái Đất được tạo ra bởi sự kết hợp của nhiệt dư đượctạo ra trong các hoạt động của Trái Đất (khoảng 20%) và nhiệt được tạo ra
do sự phân rã phóng xạ (khoảng 80%). Các đồng vị chính tham gia vào quátrình sinh nhiệt là kali-40, urani-238, urani 235, thori-232. Ở trung tâm củaTrái Đất, nhiệt độ có thể đạt tới 7000K và áp suất có thể lên tới 360Gpa. Do phần lớn nhiệt năng này sinh ra từ sự phân rã của các chất phóng
xạ, các nhà khoa học tin rằng vào thời kì đầu của Trái Đất, trước khi sốlượng của các đồng vị phóng xạ có chu kì bán rã ngắn bị giảm xuống, nhiệtnăng sinh ra của Trái Đất còn cao hơn Nhiệt năng thêm này gấp hai lầnhiện tại vào thời điểm 3 tỉ năm trước đã làm tăng nhiệt độ mặt đất, tăng tốc
độ của quá trình đối lưu manti và kiến tạo mảng, và cho phép tao ra đámacma giống như komatiite mà ngày nay không còn được tạo ra nữa
g) Thủy quyển
Nguồn nước dồi dào trên bề mặt đất là đặc điểm độc nhất, giúp phânbiệt "Hành tinh xanh" với các hành tinh khác trong hệ Mặt Trời. Thủyquyển của Trái Đất chủ yếu bao gồm các đại dương, nhưng về lý thuyết nóbao gồm tất cả nước trên bề mặt đất, bao gồm biển nội
Trang 13địa, hồ, sông và mạch nước ngầm ở độ sâu tới 2.000 m Khu vực sâu nhấtdưới đáy biển là "Challenger Deep" thuộc rãnh Mariana ở Thái BìnhDương với độ sâu 10.911,4 m. Độ sâu trung bình của các đại dương là3.800 m, lớn hơn 4 lần độ cao trung bình của các lục địa. Khối lượng nướctrong các đại dương xấp xỉ 1,35 ×1018 tấn, hoặc khoảng 1/4400 khốilượng của Trái Đất, và chiếm thể tích 1,386 ×109 km³ Nếu tất cả đất trênTrái Đất được trải phẳng ra, mực nước biển sẽ dâng lên cao hơn 2,7 km.Khoảng 97,5% nước có chứa muối, còn lại 2,5% là nước ngọt và phần lớnnước ngọt, khoảng 68,7%, đang ở dạng băng.
Khoảng 3,5% tổng khối lượng của các đại dương là muối và phần lớnlượng muối này được đẩy ra từ các hoạt động núi lửa hay tách ra từ đámacma nguội. Các đại dương đều có chứa đầy khí hòa tan trong nước, yếu
tố thiết yếu đối với sự sống của các sinh vật biển. Nước biển có ảnh hưởnglớn tới khí hậu của cả thế giới và các đại dương có vai trò như nguồn giữnhiệt. Sự thay đổi trong phân bố nhiệt đại dương tạo ra sự thay đổi quantrọng về thời tiết, như El Nino
h) Khí quyển
Áp suất khí quyển trung bình tác dụng lên bề mặt Trái Đất là 101,325kPa ở độ cao 8,5 km Không khí chứa 78% nitơ và 21% oxy, còn lại là hơinước, dioxide cacbon và các phân tử khí khác Độ cao của tầng đối lưu thayđổi theo vĩ độ vào khoảng 8 km ở các vùng cực và 17 km ở xích đạo, vớicác sự thay đổi ảnh hưởng bởi các yếu tố mùa và thời tiết
Sinh quyển của Trái Đất tạo ra các thay đổi khá lớn đối với bầu khíquyển Sự quang hợp oxy tiến hóa từ 2,7 tỷ năm trước, tạo ra bầu khôngkhí chứa nitơ-oxy tồn tại ngày nay Sự thay đổi này tạo điều kiện thuận lợicho sự phổ biến của các vi sinh vật ưa khí, cũng như việc tầng ôzôn - cùng
Trang 14với từ trường của Trái Đất- đã ngăn chặn các tia phóng xạ, cho phép sựsống tồn tại trên Trái Đất Các chức năng khác của khí quyển đối với sựsống bao gồm vận chuyển, cung cấp các loại khí hữu dụng, đốt cháycác thiên thạch nhỏ trước khi chúng chạm đất và điều hòa nhiệt độ. Hiệntương cuối cùng được biết dưới cái tên hiệu ứng nhà kính: các phân tử khíthu nhiệt năng tỏa ra từ mặt đất, làm tăng nhiệt độ trung bình. Cacbondioxide, hơi nước, metan và ozon là các khí nhà kính đầu tiên trong bầu khíquyển của Trái Đất Nếu không có hiệu ứng duy trì nhiệt này, nhiệt
độ trung bình bề mặt sẽ là -18 °C và sự sống sẽ không có khả năng tồn tại
3 Các quyển của Trái Đất, mối tương tác của các quyển với nhau Nếu Trái Đất không có Khí quyển và Thủy quyển.
a) Các quyển của Trái Đất
- Khí quyển
Khí quyển Trái Đất là lớp các chất khí bao quanh hành tinh TráiĐất và được giữ lại bởi lực hấp dẫn của Trái Đất Nó gồm có nitơ (78,1%theo thể tích) và oxy (20,9%), với một lượng nhỏ agon (0,9%), carbondioxide (dao động, khoảng 0,035%), hơi nước và một số chất khí khác Bầukhí quyển bảo vệ cuộc sống trên Trái Đất bằng cách hấp thụ các bức xạ tiacực tím của mặt trời và tạo ra sự thay đổi về nhiệt độ giữa ngày và đêm.Bầu khí quyển không có ranh giới rõ ràng với khoảng không vũtrụ nhưng mật độ không khí của bầu khí quyển giảm dần theo độ cao Baphần tư khối lượng khí quyển nằm trong khoảng 11 km đầu tiên của bềmặt hành tinh Tại Mỹ, những người có thể lên tới độ cao trên
50 dặm (80,5 km) được coi là những nhà du hành vũ trụ Độ cao 120 km(75 dặm hay 400.000 ft) được coi là ranh giới do ở đó các hiệu ứng khí
Trang 15quyển có thể nhận thấy được khi quay trở lại. Đường Karman, tại độ cao
100 km (62 dặm), cũng được sử dụng như là ranh giới giữa khí quyển TráiĐất và khoảng không vũ trụ
Các tầng khí quyển:
Tầng đối lưu: từ bề mặt Trái Đất tới độ cao 16 km, phụ thuộc theo vĩ
độ (ở 2 vùng cực là 7–10 km) và các yếu tố thời tiết, nhiệt độ giảm dầntheo độ cao, mỗi 100 m nhiệt độ giảm 0,6 °C Không khí trong tầng đối lưuchuyển động theo chiều thẳng đứng và nằm ngang rất mạnh làm cho nướcthay đổi cả ba trạng thái, gây ra hàng loạt quá trình thay đổi vật lý Nhữnghiện tượng thời tiết như mưa, mưa đá, gió, tuyết, sương giá, sương mù, đều diễn ra ở tầng đối lưu
Tầng bình lưu: từ độ cao trên tầng đối lưu đến khoảng 50 km Ở đâykhông khí loãng, nước và bụi rất ít, không khí chuyển động theo chiềungang là chính, rất ổn định
Tầng trung lưu: từ khoảng 50 km đến 80 km, nhiệt độ giảm theo độcao đạt đến -75 °C Phần đỉnh tầng có một ít hơi nước, thỉnh thoảng có mộtvài vệt mây bạc gọi là mây dạ quang
Tầng điện li: từ 80–85 km đến khoảng 1000 km, nhiệt độ tăng theo
độ cao có thể lên đến 2.000 °C hoặc hơn. Oxy và nitơ ở tầng này ở trạngthái ion, vì thế gọi là tầng điện li. Sóng vô tuyến phát ra từ một nơi nào đótrên vùng bề mặt Trái Đất phải qua sự phản xạ của tầng điện li mới truyềnđến các nơi trên thế giới Tại đây, do bức xạ môi trường, nhiều phản ứnghóa học xảy ra đối với oxy, nitơ, hơi nước, CO2 chúng bị phân tách thànhcác nguyên tử và sau đó ion hóa thành các ion như NO+, O+, O2+, NO3-,
NO2- và nhiều hạt bị ion hóa phát xạ sóng điện từ khi hấp thụ các tia mặttrời vùng tử ngoại xa
Trang 16 Tầng ngoài: trên 1.000 km đến 10.000 km, nhiệt độ tăng theo độ cao
có thể lên đến 2.500 °C Đây là vùng quá độ giữa khí quyển Trái Đất vớikhoảng không vũ trụ Vì không khí ở đây rất loãng, nhiệt độ lại rất cao, một
số phân tử và nguyên tử chuyển động với tốc độ cao cố "vùng vẫy" thoát rakhỏi sự trói buộc của sức hút Trái Đất lao ra khoảng không vũ trụ Do đótầng này còn gọi là tầng thoát ly Tuy nhiên, các nhiệt kế, nếu có thể, lại chỉcác nhiệt độ thấp dưới 0 °C do mật độ khí là cực kỳ thấp nên sự truyềnnhiệt ở mức độ có thể đo đạc được là rất khó xảy ra
Ranh giới giữa các tầng được gọi là ranh giới đối lưu hay đỉnh tầng đối lưu, ranh giới bình lưu hay đỉnh tầng bình lưu và ranh giới trung lưu hay đỉnh tầng trung lưu v.v ở tầng này có mặt các ion O+ (<1500 km),
He+(<1500), H+(>1500 km) Một phần hiđrô của Trái Đất (khoảng vàinghìn tấn/năm) được tách ra đi vào vũ trụ đồng thời các dòng plasma domôi trường thải ra là bụi vũ trụ (khoảng 2g/km²) cũng đi vào Trái Đất Giớihạn trên của đoạn khí quyển và đoạn chuyển tiếp với vũ trụ rất khó xácđịnh, ước đoán khoảng 1.000 km Nhiệt độ trung bình của khí quyển tại bềmặt Trái Đất là khoảng 14 °C
- Thủy quyển:
Thuỷ quyển là lượng nước được tìm thấy ở trên, dưới bề mặt và trongkhí quyển của một hành tinh, tiểu hành tinh hay vệ tinh tự nhiên Mặc dùthủy quyển của Trái Đất đã tồn tại hơn 4 tỷ năm, nhưng nó vẫn tiếp tụcthay đổi về mặt kích thước Điều này được gây ra bởi sự tách giãn đáy biển
và trôi dạt lục địa, và nó đã làm cho các vùng đất và đại dương được sắpxếp lại