LỜI MỞ ĐẦUTrong những năm gần đây, vấn đề thị trường chứng khoán đã ,đang và sẽ trở thành một vấn đề “thời sự nhất” đối với nền kinh tế của tất cả các quốc gia trên toàn thế giới hiện na
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Trong những năm gần đây, vấn đề thị trường chứng khoán đã ,đang và sẽ trở thành một vấn đề “thời sự nhất” đối với nền kinh tế của tất cả các quốc gia trên toàn thế giới hiện nay.Khi nền kinh tế thị trường phát triển tới một mức độ nhất định và nó đòi hỏi phải hình thành thêm một hình thức thị trường kinh tế phát triểnhiện đại hơn, chính xác hơn và thu hút được nhiều thành phần kinh tế cùng các cá nhân tham gia- đó chính là thị trường chứng khoán.Thực tế đã chứng minh rằng thị trường chứng khoán cung cấp một nguồn vốn rất quan trọng cho nền kinh tế thịtrường ,nó thúc đẩy nền kinh tế của các quốc gia tham gia phát triển mạnh
hơn ,nhanh chóng hơn
Thị trường chứng khoán Việt Nam mới ra đời và bắt đầu hoạt động từ 10 năm trước.Tuy còn non trẻ và có nhiều hạn chế nhưng trong quá trình phát triển cũng đã đạt được một số thành tựu nhất định.Trong nền kinh tế thế giới nói chung
và nền kinh tế Đông Nam Á nói riêng, Việt Nam là một nước kinh tế đang phát triển, một điểm đầu từ hấp dẫn của các nhà đầu tư nước ngoài.Trong đó không thể không kể đến vai trò, tiềm năng, sự phát triển của thị trường chứng khoán Các nhàkinh tế tin tưởng rằng “thị trường chứng khoán Việt Nam” sẽ phát triển và đạt nhiều triển vọng trong những năm tới
Đối với Việt Nam thị trường chứng khoán đã được hình thành và đang tiếp tục phát triển.Thị trường chứng khoán ra đời ở nước ta đã phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế “Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp, ưu tiên phát triển lực lượng sản xuất, đồng thời xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp theo định hướng XHCN ”
Cũng như các quốc gia khác trên thế giới, để có thể phát triển kinh tế vớiđường lối chiến lược như vậy đòi hỏi nước ta phải có nguồn lực lớn, nguồn vốnlớn để phát triển kinh tế
Trang 2Vì vậy em xin nêu một vài điểm khái quát về thị trường chứng khoán Việt Nam
Trong khuôn khổ đề tài tiểu luận, do trong quá trình gặp nhiều khó khăn nên không tránh khỏi những sai sót.Em mong nhận được sự góp ý của cô để bài tiểu luận được hoàn chỉnh hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 3CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
I LỊCH SỬ HÌNH THÀNH THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
1 Thời kỳ phôi thai (từ giữa thế kỷ 15 đến năm 1929).
Trong thời kỳ này, thị trường chứng khoán hưng thịnh nhất vào thế kỷ 19.Nhưng đến giữa thế kỷ 19, nó đã bắt đầu thể hiện các mặt tiêu cực, như nhữngcuộc khủng hoảng có tính chu kỳ, đỉnh cao là đầu thế kỷ 20-được kết thúc bằngcuộc khủng hoảng nền kinh tế toàn cầu (1929-1933)
Các đặc điểm nổi bật thời kỳ này:
Việc hình thành thị trường chứng khoán và sở giao dịch chứngkhoán là mang tính chất tự phát, Nhà nước không can thiệp vào mà thừa nhậnvai trò tất yếu của nó trong nền kinh tế
Thị trường chứng khoán ở thời kỳ này là thuộc về tầng lớp thươnggia, mang nhiều tính chất đầu cơ
Hoạt động của thị trường chứng khoán dựa trên cơ sở tính chất hiệphội ngành nghề với các quy định tự đặt ra
2 Thời kỳ phục hưng (1930-1970).
Thời kỳ này nhà nước bắt đầu can thiệp vào thị trường chứng khoán và thịtrường chứng khoán là nơi chịu ảnh hưởng nặng nề nhất trong cuộc khủng hoảngtài chính.Vì thế mà thị trường chứng khoán trở thành công cụ trong việc quản lýthúc đẩy nền kinh tế Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán được chuyển vềtay Nhà nước bằng sự ra đời của Uỷ ban Chứng khoán quốc gia
Vào những năm 50-60 của thế kỷ này, nền kinh tế thế giới bắt đầu phục hồivới sự hoạt động rất sôi động trở lại của thị trường chứng khoán
Trang 43 Thời kỳ quốc tế hoá và công chúng hoá thị trường chứng khoán (1971 đến nay).
Với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, công nghệ đã tạo ra việc ứng dụngcông nghệ tin học vào thị trường chứng khoán
Những đặc điểm nổi bật là:
+ Hoạt động của sở giao dịch chứng khoán sôi động hơn và chất lượng caohơn
+ Thị trường luôn đáp ứng thông tin đầy đủ và công khai tới công chúng đầu
tư qua các phương tiện hiện đại, được cập nhật thường xuyên và được công chúngtham gia rộng rãi
+ Các sàn giao dịch trên thế giới được kết nối cho phép hoạt động liên tục24/24
+ Với những đặc điểm như vậy cho phép mọi công dân đầu tư chứng khoán bất cứ ở đâu và bất cứ khi nào mà họ muốn
II KHÁI NIỆM,PHÂN LOẠI VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN.
1 Khái niệm về thị trường chứng khoán.
1.1 Khái niệm về chứng khoán.
Chứng khoán là những giấy tờ có giá trị, được xác nhận quyền sở hữu hợp pháp của người sở hữu chứng khoán đối với tài sản hoặc vốn của tổ chức phát hành chứng khoán.Chứng khoán bao gồm các loại như: Cổ phiếu, Trái phiếu và các loại giấy tờ khác có giá trị
Cổ phiếu là loại chứng chỉ xác nhận việc góp vốn của một người vào công ty
cổ phần.Cổ phiếu xác nhận quyền sở hữu của người này đối với công ty cổ phần, người sở hữu được gọi là cổ đông, cổ đông có các quyền hạn và trách nhiệm đối với công ty cổ phần, được chia lời (cổ tức) theo kết quả kinh doanh của công ty cổ phần: được quyền bầu cử, ứng cử vào ban quản lý, ban kiểm soát.Cổ phiếu có thể
Trang 5được phát hành vào lúc thành lập công ty, hoặc lúc công ty cần them vốn để mở rộng, hiện đại hóa sản xuất kinh doanh.
Một đặc điểm của cổ phiếu là cổ đông được chia cổ tức theo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty Cổ đông có thể được hưởng lợi nhuận nhiều hơn giá trị của cổ phiếu và cũng có thể bị mất trắng khi công ty làm ăn thua
lỗ Cổ đông không được quyền đòi lại số vốn mà người đó đã góp vào công ty cổ phần, họ chỉ có thể thu lại tiền bằng cách bán cổ phiếu đó ra trên thị trường chứng khoán
Trái phiếu là chứng chỉ xác nhận quyền làm chủ một món nợ của chủ sở hữu trái phiếu đối với đơn vị phát hành Trái phiếu lại loại chứng khoán mà lãi suất vay
nợ đã được xác định rõ ngay khi phát hành do đó nó có lợi tức cố định và chỉ đượchoàn trả khi đến hạn thanh toán ghi trên trái phiếu mà người phát hành phải thực hiện Trái phiếu do các doanh nghiệp có thể là quốc doanh, tư doanh hay cổ phần phát hành.Ở Việt Nam hình thức vay vốn bằng cách phát hành trái phiếu đã xuất hiện ở một vài nơi
Kỳ phiếu là chứng chỉ của nhà nước phát hành với mục đích vay vốn của các
tổ chức kinh tế xã hội, các tầng lớp dân cư để bù đắp vào thâm hụt của ngân sách Nhà nước.Trong vài năm trở lại đây, kho bạc nhà nước đã phát hành kỳ phiếu kho bạc rộng rãi trong cả nước
1.2 Khái niệm về thị trường tài chính.
Thị trường tài chính (TTTC) là nơi cung và cầu về vốn gặp nhau, nơi diễn racác hoạt động trao đổi, mua bán quyền sử dụng các nguồn tài chính thông quanhững phương thức giao dịch và công cụ tài chính nhất định
Cấu trúc của thị trường tài chính:
Trang 61.3 Thị trường chứng khoán.
Thị trường chứng khoán là nơi diễn ra các hoạt động mua,bán ,chuyểnnhượng các loại cổ phiếu ,trái phiếu và một số loại giấy tờ có giá trị khác nhằmmục đích kiếm lợi
Thị trường chứng khoán theo tiếng Latinh là Bursa, nghĩa là các ví đựng tiền,còn gọi là sở giao dịch chứng khoán, là một thị trường có tổ chức và hoạt động cóđiều khiển
Cụ thể hơn thị trường chứng khoán có thể được định nghĩa như là nơi tậptrung các nguồn tiết kiệm để phân phối lại cho người muốn sử dụng những nguồntiết kiệm đó theo giá mà người sử dụng sẵn sang trả.Nói cách khác thị trườngchứng khoán là nơi tập trung và phân phối các nguồn đầu tư này, có thêm nhiềuvốn hơn để đưa vào sản xuất trong nền kinh tế vì vậy có thể làm cho nền kinh tếtăng trưởng và tạo nên sự thịnh vượng
Theo định nghĩa nêu trên thị trường chứng khoán không phải là cơ quan muavào hoặc bán ra các loại chứng khoán.Thị trường chứng khoán chỉ là nơi giaodịch, ở đó việc mua bán chứng khoán được thực hiện bởi những người môi giới
Thị trường chứng khoán
Thị trường vay
nợ dài hạn
TTCK d i h ài h ạn (trên một năm)
Trang 7chứng khoán.Như vậy thị trường chứng khoán không phải là nơi giao dịch chứngkhoán của những người muốn mua hay muốn bán các loại chứng khoán mà là củanhững nhà môi giới Nếu một người muốn mua hay muốn bán chứng khoán, ngườinày sẽ thông qua người môi giới chứng khoán của anh ta trên thị trường chứngkhoán để tiến hành việc mua bán chứ không trực tiếp tham gia mua bán Giá cảchứng khoán được hình thành một cách khách quan theo hệ thống bán đấu giá haichiều.Người môi giới mua khác được với giá thấp nhất, người môi giới bán cạnhtranh với những người môi giới bán khác để bán được giá cao nhất Vì thế mà thịtrường chứng khoán là thị trường có tính tự do cao nhất trong các loại thi trường.
2 Phân loại thị trường chứng khoán.
Về phương diện pháp lý, thị trường chứng khoán gồm có:
_ Thị trường chứng khoán chính thức (TTCK tập trung) là thị trường hoạtđộng theo đúng các quy luật pháp định, là nơi mua bán các loại chứng khoán đãđược đăng biểu hay được biệt lệ
+ Chứng khoán đăng biểu là loại chứng khoán đã được cơ quan có thẩmquyền cho phép bảo đảm, phân phối và mua bán qua trung gian các kinh kỷ và cáccông ty kinh kỷ, tức là đã hội đủ các tiêu chuẩn đã định
+ Chứng khoán biệt lệ là loại chứng khoán được miễn giấy phép của cơ quan
có thẩm quyền, do chính phủ trong các cơ quan công quyền, thành phố, tỉnh, quận,huyện, thị phát hành và bảo đảm
Thị trường chứng khoán chính thức có địa điểm và thời biểu mua bán
rõ rệt và giá cả được tính theo thể thức đấu giá công khai, có sự kiểm soát của hộiđồng chứng khoán.Thị trường chứng khoán chính thức chủ yếu được thể hiện bằngcác sở giao dịch chứng khoán
_ Thị trường chứng khoán phi chính thức( TTCK phi tập trung) là thị trườngmua bán chứng khoán bên ngoài sở giao dịch chứng khoán, không có địa điểm tậptrung những người môi giới, những người kinh doanh chứng khoán như ở sở giao
Trang 8dịch chứng khoán Ở đây không có sự kiểm soát từ bên ngoài, không có ngày giờhay thủ tục nhất định mà do sự thỏa thuận giữa người mua và người bán.
III VAI TRÒ VÀ CHỨC NĂNG CỦA THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN.
1.Vai trò của thị trường chứng khoán.
Các vai trò của thị trường chứng khoán rất đa dạng:
1.1 Tạo vốn cho nền kinh tế quốc dân.
Do có thị trường chứng khoán nên việc đầu tư các nguồn vốn tạm thời nhànrỗi dễ dàng hơn.Từ việc nguồn vốn bị ứng đọng từ nhiều nơi, không có khả năngsinh lời, cho đến khi có thị trường chứng khoán việc đầu tư, tích luỹ vốn sôi động
và dồi dào hẳn lên Thông qua đó nền kinh tế tăng trưởng mạnh mẽ, công ăn việclàm được giải quyết, thất nghiệp giảm Bên cạnh, thị trường chứng khoán như mộttrung tâm thu gom mọi nguồn vốn từ dân chúng, như một nam châm cực mạnh hútcác nguồn vốn từ nước ngoài.Ngoài ra còn giúp Nhà nước giải quyết vấn đề thiếuhụt ngân sách, có thêm vốn xây dựng hạ tầng cơ sở
1.2 Tạo điều kiện cho các doanh nghiệp sử dụng vốn linh hoạt và có hiệu quả hơn.
Khi DN cần vốn để mở rộng quy mô sản xuất họ có thể phát hành chứngkhoán,vào thị trường để huy động vốn Đây là phương thức tài trợ vốn qua pháthành và lúc đó nguồn vốn của DN tăng lên.Lúc này rủi ro đối với doanh nghiệp làrất nhỏ vì những cổ đông của họ đã gánh đỡ thay Một điều thuận lợi nữa, khi DNchưa có cơ hội sản xuất kinh doanh, các DN có thể dự trữ chứng khoán như là mộttài sản kinh doanh và các chứng khoán đó sẽ được chuyển nhượng thành tiền khicần thiết thông qua thị trường chứng khoán.Ngoài ra, khi DN niêm yết trên thịtrường chứng khoán, có nghĩa là đã có chữ tín đối với công chúng đầu tư.Như vậy
Trang 9các công ty chứng khoán sẽ là tác nhân kích thích giúp DN tạo vốn nhanh chónghơn.
1.3 Thị trường chứng khoán là công cụ đánh giá DN, dự đoán tương lai.
Thị trường chứng khoán ngày càng đa dạng và phức tạp,liên quan đến vậnmệnh của nền kinh tế quốc dân.Sự hình thành thị giá chứng khoán của một DNtrên thị trường chứng khoán đã bao hàm sự hoạt động của DN đó trong hiện tại và
dự đoán tương lai.Khi giá cổ phiếu của một DN cao (hay thấp) biểu hiện trạng tháikinh tế tức là khả năng mang lại cổ tức cao (hay thấp) cho các cổ đông của DNđó.Triển vọng tương lai của các DN cũng được thể hiện một cách trực tiếp trên thịgiá cổ phiếu và cũng như sự biến động của nó
Ngoài ra, với phương pháp chỉ số hoá thị giá của các loại chứng khoán chủyếu trong nền kinh tế và việc nghiên cứu, phân tích một cách khoa học hệ thốngchỉ số giá chứng khoán trên thị trường chứng khoán ở từng nước trong mối quan
hệ với thị trường thế giới, đã dự đoán được trước sự biến động kinh tế của mộthoặc hàng loạt các nước trên thế giới
2 Chức năng của thị trường chứng khoán.
2.1 Chức năng thu hút vốn nhàn rỗi vào đầu tư phát triển.
Ta biết muốn đầu tư, phát triển thì phải tự tích luỹ hoặc huy động vốn từ bênngoài.Vốn huy động từ bên ngoài bao gồm vốn vay tín dụng của các tổ chức tàichính và phát hành cổ phiếu, trái phiếu.Ưu điểm của phát hành trái phiếu, cổ phiếuđối với dân chúng là họ dễ dàng đầu tư vào bất cứ DN nào họ muốn hoặc mua bánkiếm lợi.Còn đối với các DN là họ không phải trả lãi suất hàng tháng và khôngphải trả nợ gốc khi bị thua lỗ
Do tính chất của chu kỳ kinh doanh nên vốn tạm thời nhàn rỗi trong các DN
là rất lớn, bên cạnh còn có một lượng vốn lớn nằm rải rác trong dân chưa đượchuy động Tất cả những tiềm năng này sẽ được phát huy hiệu quả nếu có thị
Trang 10trường chứng khoán Vì thị trường chứng khoán với cơ sở pháp lý hoàn chỉnh và
bộ máy quản lý hữu hiệu, với sự phổ biến và hướng dẫn rộng rãi , người dân sẽ dễdàng sử dụng nguồn tiết kiệm của họ hơn.Đây là tác nhân kích thích ý thức tiếtkiệm và tạo thói quen đầu tư trong công chúng
Ngoài ra, trong xã hội còn có các khoản tiền tạm thời nhàn rỗi như: quỹ bảohiểm, quỹ phúc lợi tập thể…một phần vốn của quỹ này được gửi vào ngân hàng đểthực hiện việc thanh toán, phần còn lại, những người quản lý quỹ luôn tự hỏi làmthế nào cho vốn của họ có khả năng sinh lãi nhiều nhất và vừa an toàn, vừa có tínhtạm thời…và thị trường chứng khoán có khả năng đáp ứng yêu cầu này
Tóm lại, thị trường chứng khoán có chức năng thu hút mọi nguồn vốn nhànrỗi trong xã hội để đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh, mở rộng quy mô doanhnghiệp góp phần giải quyết việc làm, giảm thất nghiệp
2.2 Chức năng điều tiết các nguồn vốn.
Phải thừa nhận rằng, một DN không phải lúc nào cũng thiếu hoặc thừavốn.Thừa hay thiếu là phụ thuộc vào tính chất của chu kỳ kinh doanh Khi cần đầu
tư mua nguyên vật liệu, công cụ, dụng cụ, các khoản phải thu lớn, thì đây là lúc
mà DN đang thiếu vốn Khi quá trình sản xuất kết thúc, sản phẩm được bán ra vàthu vốn về, các khoản phải thu được thu về, lúc này DN lại tạm thời thừa vốn.Trên thị trường vốn, luôn luôn có sự điều tiết vốn từ nơi thừa sang nơithiếu.Ở đây thị trường chứng khoán đóng vai trò rất quan trọng
2.3 Chức năng hoà nhập nền kinh tế thế giới.
Một DN có thể thu hút vốn bất cứ nơi nào và bằng con đường nào mà họ cóthể thu hút một cách dễ dàng thông qua thị trường chứng khoán.Nhờ vào hệ thốngmáy tính mà thị trường chứng khoán cho phép bất cứ ai, ở nơi nào trên thế giới vàmua một loại cổ phiếu của bất kỳ một công ty nào mà họ thích Từ đó hình thànhmối liên hệ tiền tệ quốc tế, đẩy nhanh tốc độ chu chuyển nguồn vốn giữa các nước,
Trang 11thực hiện quan hệ vay mượn lâu dài trên thế giới tạo điều kiện cho việc hoà nhậpnền kinh tế thế giới.
2.4 Chức năng điều tiết vĩ mô.
Thị trường chứng khoán là công cụ của Nhà nước thông qua Uỷ ban chứngkhoán nhà nước và Ngân hàng trung ương
Nghiệp vụ chủ yếu là thắt chặt hay nới lỏng sự đầu tư trên thị trường.Khi sảnxuất sa sút, thiếu vốn, Nhà nước tung tiền ra mở rộng cho vay để khuyến khích sảnxuất thông qua việc mua vào những lô chứng khoán có giá trị lớn.Khi hiện tượngđầu tư quá mức, đầu cơ thịnh hành, thì bán chứng khoán nhằm thắt chặt tín dụnggiảm bớt đầu tư kinh tế.Vậy thị trường chứng khoán là công cụ hữu hiệu để nhànước kịp thời điều tiết nguồn vốn trên thị trường
Trang 12CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM QUA CÁC
tỷ đồng và một số ít trái phiếu Chính phủ được niêm yết giao dịch
Từ đó cho đến 2005, thị trường luôn ở trong trạng thái gà gật, loại trừ cơn sốt vào năm 2001(chỉ số VN index cao nhất đạt 571.04 điểm sau 6 tháng đầu năm nhưng chỉ trong vòng chưa đầy 4 tháng [từ tháng 6 đến tháng 10] các cổ phiếu niêm yết đã mất giá tới 70% giá trị, chỉ số VN Index sụt từ 571,04 điểm vào ngày 25/4/2001 xuống chỉ còn khoảng 200 điểm vào tháng 10/2001) Trong 4 tháng
“hoảng loạn” này, trong khi nhiều nhà đầu tư tháo chạy khỏi thị trường với lời nguyền không bao giờ quay lại thì một số nhà đầu tư khác vẫn bình tĩnh bám trụ,
âm thầm mua bán và tiếp tục kiếm được lợi nhuận thì trong 5 năm chỉ số Index lúc cao nhất chỉ có 300 điểm, mức thấp nhất xuống đến130 điểm Lý do chính là ít hàng hoá, các doanh nghiệp niêm yết cũng nhỏ, không nổi tiếng, không hấp dẫn nhà đầu tư trong nước, trong khi "room" cũng hết
Ngày 8/3/2005: trung tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội (TTGDCK HN) chính thức đi vào hoạt động Giai đoạn tỉnh ngủ dần xuất hiện từ năm 2005 khi tỷ
lệ nắm giữ của nhà đầu tư nước ngoài được nâng từ 30% lên 49% (trừ lĩnh vực ngân hàng)
Trong 5 năm đầu tiên, dường như thị trường không thực sự thu hút được sự quan tâm của đông đảo công chúng và các diễn biến tăng giảm của thị trường chưatạo ra tác động xã hội mở rộng để có thể ảnh hưởng tới sự vận hành của nền kinh
tế cũng như tới cuộc sống của mỗi người dân
Trang 13Theo thống kê của Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước, tính đến hết năm 2005, tổng giá trị thị trường chứng khoán việt Nam đạt gần 40.000 tỷ đồng, chiếm 0,69%tổng thu nhập quốc nội (GDP) Thị trường chứng khoán Việt Nam hiện có 4.500
tỷ đồng cổ phiếu, 300 tỷ đồng chứng chỉ quỹ đầu tư và gần 35.000 tỷ đồng trái phiếu chính phủ, trái phiếu chính quyền địa phương, thu hút 28.300 tài khoản giao dịch Trong năm 2005, tốc độ tăng trưởng của thị trường chứng khoán gấp đôi so với năm 2004, huy động được 44,600 tỷ đồng, hiện giờ giá trị cổ phiếu so với GDP của cả nước đạt gần 1%
Nhiều nhà nghiên cứu, đại diện cơ quan quản lý và giới doanh nghiệp, các công ty chứng khoán đều có chung nhận định rằng sau 5 năm hoạt động, thị
trường chứng khoán Việt Nam vẫn còn nghèo về hàng hoá và tính thanh khoản chưa cao
Số liệu được đưa ra tại hội thảo "Thị trường chứng khoán - 5 năm hoạt động
và phát triển" tổ chức ngày 18/7 tại Hà Nội cho thấy qua 5 năm (2000-2005) hoạt động, tổng giá trị niêm yết chứng khoán mới đạt trên 30.000 tỷ đồng.Số lượng cổ phiếu tăng chậm, các công ty niêm yết chủ yếu vẫn là các công ty có quy mô nhỏ Mặt khác, chính sách đối với nhà đầu tư nước ngoài chưa thực sự cởi mở; cơ chế tài khoản lưu ký, giao dịch còn phức tạp nên chưa thu hút được đông đảo nhà đầu tư
II Giai đoạn năm 2006: Sự phát triển đột phá của TTCK Việt Nam.
Mốc thời gian kể từ đầu năm 2006 được coi là mang tính chất phát triển “đột phá”, tạo cho thị trường chứng khoán Việt Nam một diện mạo hoàn toàn mới với hoạt động giao dịch sôi động tại cả 3 “sàn”: Sở giao dịch Tp.Hồ Chí Minh, Trung tâm Giao dịch Hà Nội và thị trường OTC
Với mức tăng trưởng đạt tới 60% từ đầu đến giữa năm 2006 thị trường chứng khoán Việt Nam trở thành "điểm" có tốc độ tăng trưởng nhanh thứ 2 thế giới, chỉ sau Dim-ba-buê.Và sự bừng dậy của thị trường non trẻ này đang ngày càng "hút
Trang 14hồn" các nhà đầu tư trong và ngoài nước.
Không thể phủ nhận năm 2006 vừa qua thị trường chứng khoán Việt Nam non trẻ này đã có “màn trình diễn” tuyệt vời và có thể sẽ không bao giờ có lại được với khối lượng vốn hoá tăng gấp 15 lần trong vòng 1 năm
Năm 2006 , TTCK Việt Nam có sự phát triển vượt bậc, chỉ số Vn-Index tại sàn giao dịch TP Hồ Chí Minh (HASTC) tăng 144% năm 2006, tại sàn giao dịch
Hà Nội (Hastc) tăng 152,4%
Thị trường chứng khoán Việt Nam 2006: VN-Index cuối năm tăng 2,5 lần
so đầu năm
Tổng giá trị vốn hóa đạt 13,8 tỉ USD cuối năm 2006 (chiếm 22,7% GDP)giá trị cổ phiếu do các nhà đầu tư nước ngoài đang nắm giữ đạt khoảng 4 tỉ USD, chiếm 16,4% mức vốn hóa của toàn thị trường
Hàng ngày có khoảng 80-100 công ty có cổ phiếu giao dịch, đây là những
cổ phiếu được phát hành theo Luật Doanh nghiệp là chính.Trên thị trường phi tập trung, tổng khối lượng giao dịch gấp khoảng 6 lần so với khối lượng giao dịch trênHastc
Số công ty niêm yết tăng gần 5 lần, từ 41 công ty năm 2005 đã lên tới 193 công ty, số tài khoản giao dịch đạt hơn 10 vạn gấp 3 lần năm 2005 và 30 lần so với
6 năm trước Trong vòng một năm, chỉ số Vn-Index tăng hơn 500 điểm, từ hơn
300 điểm cuối 2005 lên 800 điểm cuối 2006
Trong khoảng từ giữa đến cuối năm 2006, tình trạng đầu tư vào cổ phiếu ở nước ta mang tâm lý “đám đông”, cả người có kiến thức và hiểu biết, cả những người mua, bán theo phong trào, qua đó đẩy TTCK vào tình trạng “nóng”, hiện tượng “bong bóng” là có thật
Mức vốn hóa của thị trường chứng khoán Việt Nam đã tăng đột biến, tháng 12/2006 đạt 13,8 tỉ USD (chiếm 22,7% GDP) Đặc biệt, số lượng các nhà đầu tư mới tham gia thị trường ngày càng đông, tính đến cuối tháng 12/ 2006 có trên 120.000 tài khoản giao dịch chứng khoán được mở, trong đó gần 2.000 tài khoản của nhà đầu tư nước ngoài
Trang 15Năm 2006, kỷ lục mới của VN-Index được xác lập ở mốc 809,86 điểm.Với HASTC-Index là nỗ lực chạm mốc 260 điểm Tính chung so với đầu năm, chỉ số VN-Index đã có mức tăng trưởng tới 146% và HASTC-Index tăng tới 170% Đây
là những mức tăng mà các thị trường trên thế giới phải thừa nhận là quá ấn tượng Tính đến phiên 29/12/2006, Trung tâm Giao dịch Chứng khoán TP.HCM đã có sự góp mặt của 106 cổ phiếu, 2 chứng chỉ quỹ và 367 trái phiếu với tổng giá trị niêm yết theo mệnh giá là trên 72 nghìn tỷ đồng Còn tại Trung tâm Giao dịch Chứng khoán Hà Nội, số lượng chứng khoán tham gia đã lên đến 87 cổ phiếu và 91 trái phiếu với tổng mức đăng ký giao dịch theo mệnh giá đạt 29 nghìn tỷ đồng Xét riêng về mức vốn hoá cổ phiếu, toàn bộ thị trường chứng khoán chính thức Việt Nam với 193 cổ phiếu vào phiên cuối năm, đã lên tới 220 nghìn tỷ đồng, tương đương với 13,8 tỷ USD
III Giai đoạn 2007: Giai đoạn thị trường chứng khoán bùng nổ.
Luật Chứng khoán có hiệu lực từ ngày 01/01/2007 đã góp phần thúc đẩy thị trường phát triển và tăng cường khả năng hội nhập vào thị trường tài chính quốc tế.Tính công khai, minh bạch của các tổ chức niêm yết được tăng cường
VNIndex đạt đỉnh 1.170,67 điểm
HASTC-Index chạm mốc 459,36 điểm
Nhìn chung diễn biến của thị trường và giá cả chứng khoán trong các phiên giao dịch có nhiều biến động, Index của cả 2 sàn giao dịch đều có biên độ giao động mạnh Kết thúc phiên giao dịch cuối năm, VNIndex đạt 927,02 điểm, Hastc-Index dừng ở mức 323,55 điểm, như vậy sau 1 năm hoạt động VNIndex đạt được mức tăng trưởng là 23,3%; Hastc-Index tăng 33,2% so với mức điểm thiết lập vào cuối năm 2006
Tính đến ngày 28/12/2007, SGDCK TP.HCM đã thực hiện được 248 phiên giao dịch với tổng khối lượng giao dịch đạt hơn 2,3 tỷ chứng khoán tương đương với tổng giá trị giao dịch toàn thị trường đạt 224.000 tỷ đồng, gấp 2 lần khối lượng