HỌC VIỆN Y DƯỢC HỌC CỔ TRUYỀN VIỆT NAM Bộ môn Quản lý Kinh tế Dược HỌC PHẦN DỊCH TỄ DƯỢC TIỂU LUẬN PHÂN TÍCH/ ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG SỬ DỤNG VỊ MẠCH MÔN TRONG CÁC PHƯƠNG THUỐC ĐIỀU TRỊ BỆNH BẰNG Y HỌC CỔ[.]
TỔNG QUAN
Trồng trọt
- Mạch môn được trồng nhiều nơi thành các luống nhỏ, dọc lối đi, bao quanh sân để làm cảnh và làm thuốc [1]
Mạch môn có thể trồng quanh năm bằng cách sử dụng nhánh, lý tưởng nhất là vào mùa xuân để đạt hiệu quả cao Đất phù hợp để trồng mạch môn bao gồm đất thịt nhẹ, đất cát pha, cao ráo và thoát nước tốt, phù hợp với nhiều loại đất nhưng ưu tiên đất thoát nước tốt Khi trồng, bạn nên tạo luống cao từ 20-25cm, rộng 0,9 – 1,2m và bón lót phân chuồng để cung cấp dinh dưỡng cho cây Bụi mạch môn được tách thành khóm gồm 2-3 nhánh, sau đó cắt bớt lá và rễ rồi trồng với khoảng cách 30×30cm để đảm bảo sự phát triển tối ưu.
Để chăm sóc cây hiệu quả, cần trồng sâu từ 5-7cm, lấp đất kín gốc và tưới giữ ẩm cho đất Hàng tháng, nên tưới thúc bằng nước phân chuồng, nước giải hoặc đạm pha loãng, kết hợp làm cỏ và xới xáo nhẹ trên mặt đất nhằm duy trì độ tơi xốp, thoáng khí cho đất Ngoài ra, việc bổ sung phân chuồng mục vào cuối mùa đông và đầu mùa xuân giúp cây phát triển tốt hơn Hiện chưa phát hiện sâu bệnh hại trên cây.
- Cây trồng sau 2-3 năm có thể thu hoạch củ [1]
Bộ phận dùng
- Rễ củ đã phơi hay sấy khô của cây Mạch môn đông [Ophiopogon japonicas (L.f.) Ker-Gawl], họ Mạch môn đông (Convallariaceae) [3]
Hình 6 Rễ củ mạch môn
Thu hái, chế biến và bảo quản
- Thu hái: Rễ củ thu hoạch vào tháng 9-12 ở những cây mọc được 2 năm [2]
Chế biến đào bắt đầu từ việc thu hoạch vào mùa hè, sau đó đào được đào lấy rễ củ, rửa sạch để loại bỏ bụi bẩn và đất cặn Rễ đào được phơi dưới ánh nắng mặt trời nhiều lần cho đến khi đạt độ khô khoảng 70-80%, giúp bảo quản chất lượng tốt hơn Trong quá trình sơ chế, rễ tua không cần thiết sẽ được loại bỏ hoàn toàn, và phần rễ còn lại sẽ được phơi hoặc sấy nhẹ đến khi khô hoàn toàn để đảm bảo giữ nguyên dược tính và dễ vận chuyển, bảo quản lâu dài.
- Bảo quản: Để nơi khô mát, tránh mốc [3]
Hình 7 Rễ củ Mạch môn sau khi chế biến
Mô tả dược liệu Mạch Môn
Rễ hình thoi có hai đầu hơi nhỏ lại, dài từ 1,5 cm đến 3,5 cm, với đường kính phần giữa từ 0,2 cm đến 0,8 cm Mặt ngoài của rễ có màu vàng nâu hoặc trắng ngà, nhiều nếp nhăn dọc nhỏ, trong suốt, và một đầu có lõi nhỏ ở chính giữa Chất rễ mềm dẻo, mặt cắt ngang gồm lớp vỏ mỏng màu nâu nhạt và phần ruột trắng ngà chứa lõi nhỏ trung tâm Rễ có mùi thơm nhẹ và vị hơi ngọt, sau đó chuyển sang đắng, dính răng khi nhai, tạo cảm giác dễ chịu trong quá trình sử dụng.
6 Thành phần hóa học chính
Ophiopogonin A, B, C, D và B’, C’, D’ là các saponin steroid quan trọng Trong đó, ophiopogonin A, B và D khi thủy phân sẽ giải phóng phần aglycon là ruscogenin, với cấu trúc mạch đường của ophiopogonin B và D đã được xác định và nối vào nhóm OH ở C1 của ruscogenin Ngoài ra, các hợp chất ophiopogonin B’, C’ và D’ có phần aglycon là diosgenin, góp phần tạo nên hoạt tính sinh học đa dạng của nhóm saponin này.
- Các hợp chất sterol: β-sitosterol, stigmasterol và β-sitosterol-β-D- glucosid.
- Carbohydrat: gồm có các glucofructosan và đường như glucose,fructose và saccharose.[2]
7 Tác dụng dược lý Đã nghiên cứu và chứng minh rễ củ mạch môn có những tác dụng dược lý như sau:
- Tác dụng chống viêm rõ rệt đối với cả hai giai đoạn cấp tính và bán mạn tính của phản ứng viêm thực nghiệm.
- Tác dụng gây thu teo tuyến ức với mức độ yếu.
- Tác dụng ức chế tương đối khá trên phế cầu và yếu hơn trên sự phát triển của các chủng vi khuẩn: tụ cầu vàng, Shigella dysenteriae, Bacillus subtilis.
Liều cao 200g/kg cho uống không gây biểu hiện độc cấp tính trên chuột thí nghiệm, cho thấy tính an toàn của thuốc Trong nghiên cứu về khả năng thích nghi với các yếu tố bất lợi của môi trường, chuột được uống thuốc sinh mạch tán gồm mạch môn, nhân sâm, ngũ vị, giúp kéo dài thời gian cầm cự ở nhiệt độ cao 42˚ so với nhóm chứng Về giải phẫu bệnh lý, có hiện tượng sung huyết nhẹ ở các phủ tạng, nhưng không có sự khác biệt rõ rệt giữa nhóm thử nghiệm và nhóm chứng, cho thấy tác dụng bảo vệ cơ thể Nghiên cứu cũng xác nhận tác dụng chống ho rõ rệt của rễ mạch môn qua các thử nghiệm gây ho nhẹ bằng khí dung amoniac hoặc acid citric, đồng thời chứng minh khả năng long đờm và tăng tiết dịch ở niêm mạc khí phế quản, giúp làm giảm tình trạng ho và làm thông thoáng đường thở.
Dịch chiết mạch môn ngâm trong nước có tác dụng hạ đường huyết hiệu quả Hiệu quả này đã được chứng minh qua các thử nghiệm trên thỏ bình thường và thỏ mắc bệnh tiểu đường do dùng alloxan gây ra Chất chiết xuất từ mạch môn giúp duy trì lượng đường huyết ổn định, mang lại lợi ích tích cực cho người bị tiểu đường.
- Tác dụng chống viêm: Dịch chiết với ethanol của mạch môn thí nghiệm trên chuột cống trắng gây phù chân bằng carragenin có tác dụng ức chế phù.[1]
8 Phương pháp kiểm nghiệm Định tính A.Quan sát mặt cắt ngang của dược liệu dưới ánh sáng tử ngoại ờ bước sóng 366 nm thấy có phát quang màu xanh nhạt sáng, mạnh nhất ở vùng lõi và gỉam dần ở vùng vỏ B Lấy 1 g bột dược liệu, thêm 15 ml ethanol 70 % (TT), đun hồi lưu trên bếp cách thủy
15 min, lọc Lấy khoảng 1 ml dịch lọc pha loãng với nước cất thành
Để chuẩn bị dung dịch, lắc mạnh 10 ml trong 15 giây để tạo bọt bền Bộ phận bột dược liệu cần lấy 1 g, pha với 15 ml nước và đun cách thủy trong 15 phút rồi lọc sạch Để xác định bằng phương pháp phản ứng Fehling, lấy 1 ml dịch lọc pha cùng 1 ml thuốc thử Fehling, đun sôi, kết tủa đỏ gạch xuất hiện sẽ chứng minh chứa đường Phương pháp sắc ký lớp mỏng (TLC) sử dụng bản mỏng silica gel GF254, với dung môi khai triển gồm dicloromethan, methanol và nước theo tỷ lệ 8:2:0,3 Để tiến hành phân tích, lấy khoảng 5,0 g bột dược liệu vào bình cầu cổ mài để chuẩn bị thử nghiệm.
Chuẩn bị chiết xuất bằng cách thêm 100 ml methanol vào 250 ml mẫu, đun hồi lưu trên cách thủy trong 60 phút, sau đó làm nguội và lọc Rửa bã dược liệu bằng 10 ml methanol, gộp dịch lọc và dịch rửa, rồi cất thu hơi dung môi đến cắn Hòa cắn, chuyển vào bình chiết 100 ml cùng 25 ml nước, sau đó thêm 25 ml nước bão hòa n-butanol, lắc kỹ và lấy dịch chiết n-butanol để bay hơi đến cấn Hòa tan phần cắn trong 3 ml methanol tạo dung dịch chuẩn để chấm sắc ký Chuẩn bị dung dịch đối chiếu bằng cách hòa tan khoảng 5,0 g bột Mạch môn (mẫu chuẩn) và hòa tan ophiopogonin D chuẩn trong methanol (TT) với nồng độ 1 mg/ml Thực hiện chấm riêng biệt 4 μl mỗi dung dịch lên bản mỏng, phát triển sắc ký, sau đó để khô, phun dung dịch acid sulfuric 10% trong ethanol rồi sấy ở 120°C để làm rõ các vết Quan sát dưới ánh sáng bình thường, các vết trong dung dịch thử phải phù hợp về vị trí Rf và màu sắc với các vết trong dung dịch đối chiếu hoặc vết của ophiopogonin D trên bản mỏng để xác nhận.
II TỔNG QUAN VỀ TÁC DỤNG YHCT CỦA VỊ THUỐC MẠCH MÔN
1 Tính vị, quy kinh của vị thuốc Mạch Môn a, Tính vị của Mạch môn
+Vị ngọt, hơi đắng, tính hàn [8] b, Quy kinh:
+ Vào kinh thủ Thái âm Phế [11]
+ Vào kinh thủ Thái âm, thủ Thiếu âm [12]
+Vào kinh túc Dương minh, kiêm thủ Thái âm, Thiếu âm [10]
+ Vào kinh Phế, Vị, Tâm [9]
+ Vào kinh Tâm, Phế, Vị ( Đông Dược học Thiết Yếu) [8]
2 Công năng- chủ trị của vị thuốc
Dưỡng vị sinh tân, nhuận phế thanh tâm giúp cân bằng âm dương, hỗ trợ điều trị phế nhiệt do âm hư gây ra Liều dùng thích hợp có thể giảm ho khan, ho lao, tổn thương tân dịch, giảm triệu chứng tâm phiền mất ngủ, tiêu khát và lương hóa táo bón Phù hợp trong các trường hợp phế nhiệt, âm hư, giúp cải thiện sức khỏe toàn diện và nâng cao chất lượng cuộc sống.
3 Kiêng kỵ khi sử dụng vị thuốc Mạch môn
● Kiêng kỵ: Tỳ vị hư hàn, ăn uống chậm tiêu, ỉa chảy không nên dùng [3]
- Chữa ho do nhiệt, táo làm tổn thương phế âm, ho khạc ra máu.
- Sinh tân dịch, chữa khát do vị nhiệt
- Nhuận tràng chữa táo bón do âm hư, sốt cao làm mất tân dịch.
- Cầm máu do sốt gây chảy máu: chảy máu cam, ho ra máu, chảy máu chân răng.
- Lợi niệu chữa phù thũng, đái buốt, đái rắt [5]
III CÁC ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VỀ VỊ MẠCH
MÔN, THỰC TRẠNG SỬ DỤNG TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM
1 Các đề tài NCKH về vị thuốc Mạch môn
Bảng 7 Các nghiên cứu khoa học về vị Mạch môn
STT Đề tài nghiên cứu Phương pháp nghiên cứu Kết quả nghiên cứu
1 Tác dụng bảo vệ tim mạch của polysacarit từ Ophiopogo n japonicus đối với thiếu máu cơ tim do isoproterenol gây ra ở chuột.
Xử lý bằng OJP1 (100, 200 và 300 mg / kg)
Polysacarit từ Ophiopogon japonicus làm giảm đáng kể độ cao của đoạn ST do ISO gây ra, đồng thời giảm mức độ các enzyme đánh dấu như AST, LDH, CK và CK-MB, giúp bảo vệ sức khỏe tim mạch Tiền xử lý với OJP1 còn nâng cao hoạt động của các enzyme chống oxy hóa như SOD, GPx và CAT trong huyết thanh và cơ tim, đồng thời giảm mức độ lipid peroxidation (MDA), ngăn chặn tổn thương mô và bảo vệ tế bào cơ tim khỏi tổn thương do ISO gây ra Các phân tích sinh hóa và mô bệnh học xác nhận rằng OJP1 có khả năng giảm thiểu tổn thương cơ tim, mang lại lợi ích tích cực cho chức năng tim mạch.
2 Ophiopogon japonicus ức chế viêm phổi do phóng xạ ở
Mô hình chuột bị tổn thương phổi cấp tính sử dụng chuột
Ophiopogon japonicus đã làm giảm đáng kể tình trạng viêm phổi do bức xạ bằng cách ức chế các cytokine viêm như IL-6 và TNF-α Nghiên cứu trên chuột C57BL/6 đã cho thấy, sau khi được chiếu xạ 18 Gy vào vùng ngực, việc điều trị bằng Ophiopogon japonicus bắt đầu từ 4 ngày trước khi xạ trị giúp giảm thiểu tổn thương phổi Đây là một phương pháp tiềm năng để chống lại các tác dụng phụ của xạ trị trong điều trị ung thư.
O japonicus ho ặc dexamethasone kết hợp với cephalexin hoặc xe hàng ngày trong 14 ngày.
TGF-β1, hydroxyproline, MDA 2 và TIMP-2 trong huyết tương hoặc mô phổi [14]
3 Sàng lọc và xác định các thành phần hoạt động tiềm năng trong
Ophiopogoni s Radix còn có tác dụng chống xơ vữa động mạch nhờ vào việc chiết xuất tế bào sinh học từ các tế bào nội mô mạch máu nguyên phát, tế bào VSMC và bạch cầu trung tính nguyên phát đã được nghiên cứu và chế xuất thành công Sử dụng chiết xuất từ Ophiopogonis Radix (EOR) giúp cải thiện chức năng mạch máu, ngăn ngừa sự phát triển của xơ vữa và bảo vệ sức khỏe tim mạch hiệu quả.
H 2 O 2gây ra các loại oxy phản ứng (ROS) và sản xuất oxit nitric (NO)
Phân tích HPLC- Q-TOF-MS / MS Sau đó, chiết xuất tế bào sinh học và kỹ thuật LC-MS đã được sử dụng để sàng lọc các
EOR giúp giảm mức độ phân tử bám dính giữa tế bào-1 và phân tử kết dính tế bào mạch máu-1, từ đó bảo vệ nội mạc khỏi tổn thương oxy hóa Hợp chất này còn đóng vai trò trong việc ngăn chặn rối loạn chức năng nội mô, góp phần duy trì sức khỏe mạch máu Nhờ cơ chế này, EOR có tác dụng quan trọng trong việc bảo vệ hệ tuần hoàn khỏi các tổn thương do oxy hóa gây ra.
51 hợp chất trong EOR đã được xác định bao gồm 22 saponin và 24 homoisoflavonoid.
[15] thành phần hoạt động chống xơ vữa động mạch trong
4 Đặc tính cấu trúc và phân biệt đối xử của Ophiopogo n japonicas
(Liliaceae) từ các nguồn gốc địa lý khác nhau dựa trên phân tích hồ sơ chuyển hóa.
Sử dụng công nghệ sắc ký lỏng hiệu năng cực cao kết hợp với phép đo phổ khối lượng thời gian bốn cực (UPLC/Q-TOF MS) giúp xác định thành phần hóa học toàn cầu của O japonicas một cách chính xác và hiệu quả Quá trình này bao gồm cả phương pháp tự động và thủ công để đảm bảo độ chính xác trong phân tích thành phần Ngoài ra, chiến lược xác định cấu trúc saponin steroid tích hợp đã nâng cao khả năng phân tích cấu trúc phân tử của các hợp chất trong dược liệu này, góp phần vào nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn trong lĩnh vực dược phẩm.
O japonicas dựa trên thông tin khối lượng chính xác, đặc điểm phân mảnh và thời gian lưu được phát triển
Dữ liệu hồ sơ chuyển hóa của O japonicas khác nhau đáng kể giữa các khu vực sản xuất, với mẫu từ Tứ Xuyên chứa saponin steroid, trong khi các mẫu từ Chiết Giang có hàm lượng homoisoflavonoid cao hơn Phân tích hồ sơ chuyển hóa bằng công nghệ UPLC/Q-TOF MS cho thấy đây là phương pháp hiệu quả để phân biệt nguồn gốc địa lý của dược liệu này.
2 Thực trạng sử dụng vị thuốc Mạch môn trên thế giới
Mạch môn là vị thuốc có vị ngọt, hơi đắng, tính hàn, thường được sử dụng để điều trị các bệnh liên quan đến phế và nhiệt Nó có tác dụng hạ sốt, nhuận phế, sinh tân dịch, giúp bổ trợ cho các chứng ho do nhiệt, tổn thương phế âm, và khắc phục tình trạng khát do nhiệt Ngoài ra, mạch môn còn được dùng để chữa táo bón do âm hư, sốt cao làm mất tân dịch, và cầm máu do sốt gây chảy máu, phù hợp trong nhiều bài thuốc điều trị các bệnh lý liên quan đến nhiệt và thiếu khí.
Vị mạch môn hiện được sử dụng rộng rãi ở Đông và Trung Á đặc biêt ở Trung Quốc và Nhật Bản.
Tính vị, quy kinh của vị thuốc Mạch Môn
a, Tính vị của Mạch môn
+Vị ngọt, hơi đắng, tính hàn [8] b, Quy kinh:
+ Vào kinh thủ Thái âm Phế [11]
+ Vào kinh thủ Thái âm, thủ Thiếu âm [12]
+Vào kinh túc Dương minh, kiêm thủ Thái âm, Thiếu âm [10]
+ Vào kinh Phế, Vị, Tâm [9]
+ Vào kinh Tâm, Phế, Vị ( Đông Dược học Thiết Yếu) [8]
Công năng- chủ trị của vị thuốc
Dưỡng vị sinh tân giúp bổ sung dưỡng chất, làm dịu cổ họng và thanh lọc tâm trí, phù hợp để điều trị phế nhiệt do âm hư Các triệu chứng chủ yếu bao gồm ho khan, ho lâu ngày, tân dịch bị tổn thương, tâm phiền mất ngủ, tiêu khát và táo bón Liệu pháp này giúp cân bằng âm dương, giảm các triệu chứng của phế nhiệt và hỗ trợ hệ tiêu hóa, mang lại cảm giác dễ chịu và phục hồi sức khỏe toàn diện.
Kiêng kỵ khi sử dụng vị thuốc Mạch môn
● Kiêng kỵ: Tỳ vị hư hàn, ăn uống chậm tiêu, ỉa chảy không nên dùng [3]
Ứng dụng lâm sàng
- Chữa ho do nhiệt, táo làm tổn thương phế âm, ho khạc ra máu.
- Sinh tân dịch, chữa khát do vị nhiệt
- Nhuận tràng chữa táo bón do âm hư, sốt cao làm mất tân dịch.
- Cầm máu do sốt gây chảy máu: chảy máu cam, ho ra máu, chảy máu chân răng.
- Lợi niệu chữa phù thũng, đái buốt, đái rắt [5]
CÁC ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VỀ VỊ MẠCH MÔN, THỰC TRẠNG SỬ DỤNG TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM
MÔN, THỰC TRẠNG SỬ DỤNG TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM
1 Các đề tài NCKH về vị thuốc Mạch môn
Bảng 7 Các nghiên cứu khoa học về vị Mạch môn
STT Đề tài nghiên cứu Phương pháp nghiên cứu Kết quả nghiên cứu
1 Tác dụng bảo vệ tim mạch của polysacarit từ Ophiopogo n japonicus đối với thiếu máu cơ tim do isoproterenol gây ra ở chuột.
Xử lý bằng OJP1 (100, 200 và 300 mg / kg)
Polysacarit từ Ophiopogon japonicus giúp giảm đáng kể độ cao của đoạn ST do ISO gây ra, đồng thời cải thiện chỉ số tim và giảm mức độ các enzyme đánh dấu như AST, LDH, CK và CK-MB Tiền xử lý với OJP1 còn tăng cường hoạt động của các enzyme antioxidant như SOD, GPx và CAT trong huyết thanh và cơ tim, đồng thời giảm lượng MDA, biểu hiện của stress oxy hoá Phân tích sinh hóa và mô bệnh học xác nhận rằng OJP1 có khả năng giảm thiệt hại cơ tim do ISO gây ra, cho thấy tiềm năng sử dụng polysacarit này trong điều trị tổn thương cơ tim.
2 Ophiopogon japonicus ức chế viêm phổi do phóng xạ ở
Mô hình chuột bị tổn thương phổi cấp tính sử dụng chuột
Ophiopogon japonicus giúp giảm đáng kể tình trạng viêm phổi do bức xạ thông qua việc ức chế các cytokine gây viêm như IL-6 và TNF-α Nghiên cứu trên chuột C57BL/6, đã chiếu xạ 18 Gy vào vùng ngực để mô phỏng tác dụng của bức xạ, cho thấy hiệu quả của Ophiopogon japonicus bắt đầu từ 4 ngày trước khi bắt đầu điều trị xạ Việc sử dụng nguyên liệu này có thể là một phương pháp tiềm năng để giảm thiểu tổn thương phổi do tác động của điều trị xạ liệu.
O japonicus ho ặc dexamethasone kết hợp với cephalexin hoặc xe hàng ngày trong 14 ngày.
TGF-β1, hydroxyproline, MDA 2 và TIMP-2 trong huyết tương hoặc mô phổi [14]
3 Sàng lọc và xác định các thành phần hoạt động tiềm năng trong
Ophiopogoni s Radix được nghiên cứu và chiết xuất từ tế bào sinh học của các tế bào nội mô mạch máu nguyên phát, tế bào cơ trơn mạch máu (VSMC) và bạch cầu trung tính nguyên phát để chống xơ vữa động mạch Việc điều chế chiết xuất Ophiopogonis Radix (EOR) có tiềm năng cải thiện sức khỏe mạch máu và giảm nguy cơ mắc các bệnh tim mạch Nghiên cứu cho thấy rằng các hoạt chất trong EOR có khả năng làm giảm sự tích tụ của mảng xơ vữa, qua đó hỗ trợ phòng ngừa và điều trị xơ vữa động mạch hiệu quả.
H 2 O 2gây ra các loại oxy phản ứng (ROS) và sản xuất oxit nitric (NO)
Phân tích HPLC- Q-TOF-MS / MS Sau đó, chiết xuất tế bào sinh học và kỹ thuật LC-MS đã được sử dụng để sàng lọc các
EOR giảm mức độ phân tử bám dính giữa tế bào-1 và phân tử liên kết tế bào mạch máu-1, từ đó bảo vệ nội mạc khỏi tổn thương oxy hóa Công dụng chính của EOR là ngăn ngừa rối loạn chức năng nội mô, góp phần duy trì sự khỏe mạnh của hệ thống mạch máu Việc sử dụng EOR giúp cải thiện chức năng nội mô, chống lại các tác nhân gây hại và giảm nguy cơ tổn thương mạch máu do oxy hóa.
51 hợp chất trong EOR đã được xác định bao gồm 22 saponin và 24 homoisoflavonoid.
[15] thành phần hoạt động chống xơ vữa động mạch trong
4 Đặc tính cấu trúc và phân biệt đối xử của Ophiopogo n japonicas
(Liliaceae) từ các nguồn gốc địa lý khác nhau dựa trên phân tích hồ sơ chuyển hóa.
Sử dụng sắc ký lỏng hiệu năng cực cao kết hợp với phép đo phổ khối lượng thời gian bốn cực (UPLC / Q-TOF MS) Đầu tiên, việc xác định thành phần hóa học toàn cầu của O japonicas được thực hiện bằng cả phương pháp tự động và thủ công Một chiến lược xác định cấu trúc saponin steroid tích hợp trong
O japonicas dựa trên thông tin khối lượng chính xác, đặc điểm phân mảnh và thời gian lưu được phát triển
Dữ liệu hồ sơ chuyển hóa của O japonicas khác nhau đáng kể giữa các khu vực sản xuất khác nhau Cụ thể, O japonicas từ Tứ Xuyên chứa hàm lượng saponin steroid cao hơn, trong khi các mẫu từ Chiết Giang có mức homoisoflavonoid cao hơn Phân tích hồ sơ chuyển hóa bằng công nghệ UPLC/Q-TOF MS cho thấy đây là phương pháp hiệu quả để phân biệt nguồn gốc địa lý của dược liệu này.
2 Thực trạng sử dụng vị thuốc Mạch môn trên thế giới
Mạch môn là vị thuốc có vị ngọt, hơi đắng, tính hàn, thường được sử dụng để điều trị các bệnh liên quan đến nhiệt và âm hư Dược liệu này có tác dụng hạ sốt, nhuận phế, sinh tân dịch, giúp giảm các triệu chứng ho do nhiệt, tổn thương phế âm và khắc phục tình trạng khát do nhiệt Ngoài ra, mạch môn còn dùng để chữa táo bón do âm hư, giảm sốt cao gây mất tân dịch, và cầm máu do sốt làm chảy máu Tất cả những tính năng này đã giúp mạch môn trở thành một thành phần quan trọng trong nhiều bài thuốc cổ truyền hỗ trợ điều trị các bệnh về hô hấp, nhiệt, và mất nước.
Vị mạch môn hiện được sử dụng rộng rãi ở Đông và Trung Á đặc biêt ở Trung Quốc và Nhật Bản.
Ngày nay, nhận biết giá trị sử dụng của vị thuốc Mạch môn trong điều trị bệnh bằng phương pháp y học cổ truyền (YHCT) đã được củng cố nhờ những tiến bộ khoa học Nhiều nghiên cứu đã tập trung vào các hoạt chất, tác dụng sinh học và ứng dụng lâm sàng của Mạch môn, không chỉ trong YHCT mà còn trong y học hiện đại (YHHĐ) Điều này chứng tỏ vai trò quan trọng của Mạch môn trong hỗ trợ điều trị bệnh lý, mở ra nhiều cơ hội kết hợp giữa y học cổ truyền và y học hiện đại.
3 Thực trạng sử dụng vị thuốc Mạch môn ở Việt Nam
Mạch môn là vị thuốc quý trong Y học cổ truyền, được sử dụng rộng rãi để điều trị các bệnh hô hấp và tiêu hóa Hiện nay, hầu hết các cửa hàng thuốc đông dược, phòng khám đông y và phòng chẩn trị YHCT đều sử dụng Mạch môn như một thành phần chính trong các bài thuốc dân gian Các bài thuốc dựa trên kinh nghiệm dân gian đã được áp dụng lâm sàng thành công trong việc hỗ trợ điều trị các bệnh liên quan đến phổi, họng và tiêu hóa, mang lại hiệu quả tích cực cho người bệnh.
- Chữa âm hư, sốt cao, suyễn khát, trên nóng dưới lạnh (Toàn chân nhất khí thang):
Mạch môn 12g, thục địa 32g, ngũ vị 32g, nhân sâm 12g, bạch truật 12g, phụ tử chế 4g Sắc uống ngày 1 thang
- Chữa nhiệt thương tổn đến nguyên khí, đoản hơi, khát, phế hư mà ho ( Sinh mạch tán):
Mạch môn 2g, nhân sâm 2g, ngũ vị 7 hạt
Chữa cảm nắng thấp nhiệt gây nhức đầu, ra mồ hôi nhiều, khát nước, đái vàng, tức ngực, đau nhức toàn thân, lười ăn, mệt mỏi, mạch hư có thể sử dụng bài thuốc Thanh thử ích khí thang gồm các vị như Mạch môn, Hoàng kỳ, Thương truật, Thăng ma, Nhân sâm, Bạch truật, Trần bì, Trạch tả, Thần khúc, Đương quy, Cát căn, Hoàng bá, Cam thảo, Thanh bì, cùng ngũ vị 9 hạt, sắc uống hàng ngày để giải nhiệt, bổ khí, giảm triệu chứng do cảm nắng thấp nhiệt gây ra.
Chữa mửa khan không dứt hiệu quả với bài thuốc Thanh Kim Đao Khí Phương, sử dụng các thành phần chính như Mạch Môn sao gạo 8g, Xa Tiền sao qua 6g, Trạch Tả sao muối 6g, Ngưu Tất dùng sống 4g, Nhục Quế kỵ lửa 4g, Xích Phục Linh 4g cùng Trầm Hương để cân bằng âm dương, giúp giảm triệu chứng khó chịu do mửa khan kéo dài.
(mài vào thuốc) 2g, ngũ vị 1,6g, gừng sống 3 lát Sắc uống ngày 1 thang
Chữa ăn uống không tiêu, thông quan giao thác thang, sử dụng các vị thảo dược như mạch môn 4g, thục địa 12g, sơn dược 7g (đều tẩm trầm hương), sơn thù 4g, đơn bì 3,6g, ngưu tất 2,4g, trạch tả 2,4g, phục linh 2g, nhục quế 1,2g, phụ tử chế 1,2g; sắc uống mỗi ngày để cải thiện tiêu hóa và điều hòa chức năng tiêu hóa.
Chữa chứng thực nhiệt, phát cuồng, tinh thần hỗn loạn và khát nước nhiều bằng bài thuốc Khử nhiệt định cuồng phong với các thành phần chính gồm mạch môn, thạch cao, huyền sâm, phục thần, xa tiền, tri mẫu và sa sâm, mỗi loại lượng phù hợp để sắc uống hàng ngày.
- Chữa ra mồ hôi nhiều, toàn thân nóng, phiền khát, mê sảng ( Cứu âm tiết dương thang):
Mạch môn 8g, thục địa 16g, mẫu đơn 6g, đơn sâm 6g, ngưu tất 6g, phục linh 6g, bạch thược 4g, khương thán 1,6g Sắc uống ngày 1 thang.
Bài thuốc Xuân dục phương giúp chữa các triệu chứng kinh sợ, hồi hộp, quên, ra mồ hôi trộm, kén ăn, ít ngủ, mỏi mệt, phù nữ kinh trệ, rong kinh Các thành phần gồm Mạch moon 6g, Thục địa 12g, Bạch truật 8g, Phục linh 8g, Ngưu tất 6g, Ô dược 4g, Phụ tử 4g, Ngũ vị 9 hạt, cùng với nước gừng sống; sắc uống mỗi ngày một thang.
Chữa chứng tinh huyết suy kiệt gây ra cảm giác nôn nao trong ngực, đau từ trên xuống dưới, khô khát, táo kết và gãy sam bằng phương pháp Tư thủy nhuận táo, kết hợp các vị thuốc như mạch môn 24g, thục địa 80g, thiên môn 24g, phụ tử chế 8g cùng các ngũ vị để cân bằng âm dương và dưỡng huyết hiệu quả.
20 hạt, sữa người 1 bát to Sắc uống ngày 1 thang
TỔ CHỨC CỦA MỘT BÀI THUỐC YHCT
Các bài thuốc Đông y, dù là Nam hay Bắc, thường gồm một hoặc nhiều vị thuốc để tăng hiệu quả điều trị Ví dụ, bài 'Độc sâm thang' chỉ gồm vị Nhân sâm, trong khi bài thuốc chữa viêm gan chỉ có vị Nhân trần Những bài thuốc nhiều vị thường có từ hai thành phần trở lên, như 'Thông xị thang' gồm Thông bạch và Đạm đậu xị, hoặc 'Nhân trần chi tử thang' gồm Nhân trần và Chi tử Tất cả các bài thuốc Đông y đều do thầy thuốc hoặc nhân dân sáng tạo dựa trên kinh nghiệm chữa bệnh dân gian, phản ánh sự kết hợp tinh tế của các vị thuốc để mang lại hiệu quả chữa bệnh tối ưu.
Một bài thuốc Đông y gồm có 4 phần chính:
Là vị thuốc nhằm giải quyết bệnh chính như trong bài ‘Thừa khí thang’ thì Đại hoàng là chủ dược để công hạ thực nhiệt ô trường vị.[4]
Trong ứng dụng y học cổ truyền, các vị thuốc hỗ trợ (thần dược) đóng vai trò quan trọng tăng cường tác dụng của vị thuốc chính Ví dụ, trong bài “Ma hoàng thang”, Quế chi được sử dụng như vị hỗ trợ nhằm giúp Ma hoàng phát huy tối đa khả năng phát hãn Ngoài ra, bài “Xạ can ma hoàng thang” sử dụng Xạ can để giảm tác dụng tân ôn giải biểu của Ma hoàng, từ đó nâng cao hiệu quả trong việc tuyên Phế và bình suyễn, mang lại lợi ích toàn diện cho điều trị bệnh.
Để điều trị các triệu chứng phụ của bệnh, có thể bổ sung thêm các thuốc phụ như Cát cánh và Hạnh nhãn khi bệnh nhân ho nhiều do bệnh ngoại cảm Ngoài ra, để cải thiện chứng ăn kém, có thể dùng Mạch nha và Thần khúc cùng với bài thuốc Thông xị thang nhằm tăng hiệu quả điều trị và giảm các tác dụng phụ.
Trong y học cổ truyền, có một số vị thuốc gọi là sứ dược giúp dẫn thuốc đến đúng nơi bị bệnh, như Cát cánh dẫn thuốc lên phần trên và Ngưu tất dẫn thuốc xuống phần dưới của cơ thể Ngoài ra, các loại thuốc như Cam thảo, Đại táo, Gừng tươi đóng vai trò điều hòa vị thuốc, làm tăng khả năng điều trị hiệu quả Cần lưu ý rằng trong bài thuốc, vị thuốc chủ và vị thuốc hỗ trợ không giới hạn số lượng, nhưng nhiều bài thuốc thường có từ 2-3 vị phối hợp để tăng cường tác dụng chữa bệnh Khi bài thuốc có từ 2 vị trở lên là vị thuốc chủ hoặc hỗ trợ, có thể xảy ra hai trường hợp cần cân nhắc để đảm bảo hiệu quả điều trị tốt nhất.
Sau khi ghép vị thuốc, có thể tăng khả năng hạn chế hoặc cải biến tác dụng của vị thuốc chủ hoặc hỗ trợ Ví dụ, vị Kim ngân hoa dùng cùng Ngân kiều trong bài ‘Ngân kiều tán’ góp phần tăng cường tác dụng thanh nhiệt do dược tính của hai vị này giống nhau Trong bài ‘Ma hạnh thạch cam thang’, Ma hoàng và Thạch cao được phối hợp để hạn chế tác dụng, giúp khai Phế và thanh nhiệt; Ma hoàng có tính tân ôn, còn Thạch cao tân hàn, khí vị tương phản Bài ‘Quế chi thang’ sử dụng Quế chi và Bạch thược làm vị thuốc chủ, chủ yếu để điều hòa Vinh Vệ do khí vị của hai vị này có tính tương phản.
• Hai là cũng có bài kết hợp một lúc 2 cách trị bệnh như bài ‘Đại thừa khí thang’, lấy Hậu phác, Chỉ thực ghép với Đại hoàng là cách kết hợp một lúc 2 cách chữa là công hạ và hành khí, phá khí, tác dụng của nó càng mạnh hơn Bài ‘Hoàng long thang’, dùng Nhân sâm, Đương quy để ích khí, dưỡng huyết, phối hợp vổỉ Đại hoàng để công hạ, đó là kết hợp ứng dụng giữa công và bổ, trở thành bài thuốc vừa công vừa bổ.[4]
CÁC NHÓM THUỐC THEO YHCT
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Địa điểm nghiên cứu
Học viện Y Dược học cổ truyền Việt Nam
Đối tượng nghiên cứu
Các tài liệu liên quan đến vị thuốc, cây thuốc, dược liệu và các bài thuốc YHCT:
Các tài liệu về vị thuốc, cây thuốc cụ thể là:
Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam tập II
Bài giảng y học cổ truyền tập 1
Các tài liệu tiến hành khảo sát bài thuốc YHCT là:
Phương tễ học – Hoàng Duy Tân
Phương tễ học- PGS.TS Nguyễn Nhược Kim
380 bài thuốc Đông Y hiệu nghiệm – Học viện dân tộc học Thượng Hải
Thời gian nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu được thực hiện từ 03/2020 đến 05/2020.
Phương pháp nghiên cứu và phương tiện nghiên cứu
Phương pháp mô tả hồi cứu:
Mô tả về tài liệu
Vị trí làm quân của vị thuốc trong bài thuốc và thuốc.
Phương pháp thống kê, phân tích để tập hợp vị thuốc theo:
Vị trí làm quân của vị thuốc.
IV.1 Phương tiện nghiên cứu
Hệ thống chụp, sao chép
Kỹ thuật thu thập và xử lý số liệu
Số liệu từ tài liệu sơ cấp
Ghi chép thông tin theo mẫu: Tên vị thuốc, tính vị, qui kinh, công năng…
Số liệu sau khi thu thập được làm sạch và xử lý theo phần mềm:
Mẫu nghiên cứu
Chọn mẫu: có chủ định
Cỡ mẫu : Lấy mẫu cả khối
Kỹ thuật chọn mẫu theo phương pháp:
Các biến và chỉ tiêu nghiên cứu
Số bài thuốc trong mỗi tài liệu.
Tỉ lệ bài thuốc chứa vị thuốc Mạch môn/ 01 tài liệu.
Tỉ lệ bài thuốc chứa vị thuốc Mạch môn/ số tài liệu nghiên cứu.
Tỉ lệ bài thuốc chứa vị thuốc Mạch môn/ 01 nhóm thuốc dược lý ở 01 tài liệu nghiên cứu.
Tỉ lệ bài thuốc chứa vị thuốc Mạch môn/ số nhóm thuốc dược lý ở các tài liệu nghiên cứu.
Tỉ lệ bài thuốc chứa vị Mạch môn làm quân/01 tài liệu.
Tỉ lệ bài thuốc chứa vị thuốc Mạch môn làm quân/ số tài liệu nghiên cứu.
Số thuốc chứa vị thuốc Mạch môn sản xuất theo hướng hiện đại…
Biện pháp khắc phục sai số
Để hạn chế các sai số trong quá trình nghiên cứu, phải thực hiện một số quy định yêu cầu được tuân thủ như sau:
Lấy số liệu từ tài liệu sơ cấp.
Lấy các thông tin chính thống
Quy trình nghiên cứu
Bước 1: Thu thập tài liệu nghiên cứu.
Bước 2: Liệt kê bài thuốc trong mỗi
Bước 3: Liệt kê bài thuốc có chứa vị Mach môn
Bước 4: Liệt kê bài thuốc có vị Mạch môn làm quân.
Bước 5: Liệt kê bài thuốc có vị X trong nhóm tác dụng dược lý theo YHCT ( phát tán phong thấp, nhóm thanh nhiệt, nhóm lợi niệu, nhóm….
Bước 6: Xử lý số liệu, trình bày kết quả , bàn luận, kết luận.
Hình 8 Quy trình nghiên cứu
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Tần suất sử dụng vị thuốc Mạch môn trong một số tài liệu
TRONG MỘT SỐ TÀI LIỆU
Bảng 8 Tỉ lệ bài thuốc chứa vị Mạch môn
Có chứa vị Mạch môn
Không chứa vị Mạch môn
Số lượng Tỉ lệ Số lượng Tỉ lệ Phương tễ học –
380 Bài thuốc Đông Y hiệu nghiệm
- Vị Mạch môn xuất hiện trong cả 3 tài liệu
- Tần suất sử dụng vị Mạch môn trong tài liệu Phương tễ học – PGS.TS
Nguyễn Nhược Kim chiếm tỷ lệ lớn nhất trong các tài liệu nghiên cứu với 7,37%, trong khi đó, các tài liệu về 380 bài thuốc Đông y hiệu quả có tỷ lệ thấp nhất là 4,47% Vị Đào nhân được sử dụng nhiều trong tổng số các bài thuốc khảo sát, chiếm tần suất 6,20%, cho thấy vị Mạch môn được ưa chuộng và sử dụng khá phổ biến trong Y học cổ truyền Việt Nam.
- Tỉ lệ phần trăm giữa cả 3 tài liệu không có sự chênh lệch quá nhiều.
Tần suất sử dụng vị Mạch môn trong các nhón dược lý
NHÓN DƯỢC LÝ YHCT Ở MỘT SỐ TÀI LIỆU
Bảng 9 Tỉ lệ bài thuốc chứa vị Mạch môn ở các nhóm dược lý trong tài liệu khảo sát 1: Phương tễ học – Hoàng Duy Tân
Có chứa vị Mạch môn Không chứa vị Mạch môn
Vị Mạch môn xuất hiện khá phổ biến trong các bài thuốc, đặc biệt trong nhóm thuốc Nhuận táo, chiếm tỷ lệ cao nhất với 66,67% Ngoài ra, vị này còn được sử dụng nhiều trong các nhóm dược lý y học cổ truyền như thuốc bổ (19,3%), thuốc an thần (18,18%), thuốc thanh nhiệt (12,82%) và thuốc trừ phong (10%) Sự có mặt rộng rãi của Vị Mạch môn phản ánh vai trò quan trọng của nó trong các bài thuốc y học cổ truyền.
Bảng 10 Tỉ lệ bài thuốc chứa vị Mạch môn ở các nhóm dược lý trong tài liệu khảo sát 2: Phương tễ học – PGS.TS Nguyễn Nhược Kim
Nhóm thuốc dược lý Tài liệu 2
Có chứa vị Mạch môn Không chứa vị Mạch môn
Nhận Xét : Trong tài liệu 2, Các bài thuốc chứa vị Mạch môn có mặt trong nhiều nhóm tác dụng dược lý yhct với tỷ lệ tương đối cao, theo thứ tự giảm dần ở các nhóm thuốc
An thần, Thanh nhiệt, Trừ phong, Tả hạ, Lý khí, Thuốc bổ, Tiêu đờm, Lý huyết
Bảng 11 Tỉ lệ bài thuốc chứa vị Mạch môn ở các nhóm dược lý yhct trong tài liệu khảo sát 3: 380 Bài thuốc Đông Y hiệu nghiệm
Nhóm thuốc dược lý Tài liệu 3
Có chứa vị Mạch môn Không chứa vị Mạch môn
Các bài thuốc chứa vị Mạch môn thường xuất hiện trong các nhóm dược lý yhct như thuốc Thanh nhiệt, thuốc Chỉ thống, thuốc Bổ, thuốc Trấn kinh và An thần Tỷ lệ sử dụng vị Mạch môn trong các loại thuốc này khá cao và không có sự chênh lệch lớn giữa các nhóm, cho thấy vai trò quan trọng của vị thuốc này trong y học cổ truyền.
Bảng 12 Tỉ lệ các bài thuốc chứa vị Mạch môn ở các nhóm thuốc dược lý yhct trong tổng số tài liệu khảo sát
Có chứa vị Mạch môn Không chứa vị Mạch môn
Số lượng Tỉ lệ % Số lượng Tỉ lệ %
- Nhóm thuốc dược lý chứa vị Mạch môn có tỉ lệ cao nhất trong cả 3 tài liệu khảo sát là nhóm thuốc Nhuận táo với tỉ lệ là 66,67%
- Nhóm thuốc dược lý chứa vị Mạch môn có tỉ lệ thấp nhất trong cả 3 tài liệu là nhóm thuốc Lý khí với tỉ lệ là 2,04%
- Bài thuốc có chứa vị mạch môn có mặt trong nhiều nhóm dược lý như thuốc bổ, An thần, Trấn kinh, Thanh nhiệt, Trừ phong, Chỉ thốngvới tỷ lệ khá cao và không chênh lệch quá nhiều
III TẦN SUẤT VỊ MẠCH MÔN LÀM QUÂN TRONG
CÁC BÀI THUỐC Ở MỘT SỐ TÀI LIỆU
Bảng 7 Tỉ lệ bài thuốc chứa vị Mạch môn làm quân
Vị Đào nhân là quân Vị Đào nhân không là quân
Số lượng Tỉ lệ Số lượng Tỉ lệ Phương tễ học –
380 Bài thuốc Đông Y hiệu nghiệm
- Vị thuốc Mạch môn làm quân trong tài liệu Phưoếưng tễ học – Hoàng Duy Tân chiếm tỉ lệ cao nhất là 1,79%
- Vị thuốc Mạch môn làm quân trong tài liệu 380 bài thuốc Đông
Y hiệu nghiệm chiếm tỉ lệ thấp nhất là 0,53%
- Vị thuốc Mạch môn làm quân trong trong cả 3 tài liệu khảo sát chiếm tỉ lệ 1,28%.
Số thuốc chứa vị thuốc Mạch môn sản xuất theo hướng hiện đại
XUẤT THEO HƯỚNG HIỆN ĐẠI
Bảng 8 Các thuốc hiện đại chứa vị Mạch môn
STT Tên thuốc Dạng dùng Thành phần Công dụng
Viên nang Bao gồm thuốc chính của Erigeron breviscapus, và được bổ sung với nhân sâm
Panax, Ophiopog on japonicusvà Schisandra chinensis
Chức năng bổ sung Qi và nuôi dưỡng Yin, thúc đẩy lưu thông máu và tăng cường trí não [17]
(SMI), Thuốc tiêm Bao gồm Panax ginsengC.A.Mey.a nd Ophiopogon japonicus (Thunb.
) Ker Gawl Được sử dụng rộng rãi để điều trị bệnh mạch vành do xơ vữa động mạch và viêm cơ tim do virus ở Trung Quốc [18]
3 Thuốc sắc tố BuZangT ongLuo
Astragalus mucanaceus, Dioscorea hemsleyi, Salvia miltiorrhiza, Scrophularia ningpoensis, Ophi opogon japonicus , Panax ginseng và
Có khả năng hiệu quả chống lại các biến chứng mạch máu do tiểu đường.[19]
BÀN LUẬN
Mạch môn là một vị thuốc được sử dụng rất nhiều trong các bài thuốc YHCT.
Vị Mạch môn có vị ngọt, hơi đắng, hơi hàn, vào kinh phế vị giúp sinh tân dịch, nhuận phế, hạ sốt được ứng dụng nhiều trong lâm sàng.
Cả 3 tài liệu được khảo sát đều thấy sự xuất hiện của vị thuốc Mạch môn chứng tỏ đây là một vị thuốc quý được sử dụng rộng rãi trong YHCT Tần suất sử dụng trung bình chiếm tới 6,2% là một con số không hề nhỏ trong các tài liệu cho thấy việc sử dụng vị thuốc này rất phổ biến.
Vị thuốc Mạch môn được sử dụng nhiều nhất trong các tài liệu thuộc nhóm nhuận táo, chiếm tỷ lệ 66,67%, chủ yếu để điều trị các chứng ngoại táo và nội táo do tân dịch không đầy đủ hoặc bị tổn thương Công năng chính của Mạch môn là sinh tân dịch, giúp thúc đẩy quá trình nhuận tràng hiệu quả Ngoài ra, Mạch môn còn xuất hiện khá thường xuyên trong các nhóm thuốc Thanh nhiệt, thuốc Bổ, thuốc An thần, với tần suất sử dụng đạt gần 14%, thể hiện vai trò đa dạng trong y học cổ truyền.
Khảo sát cho thấy tỷ lệ sử dụng vị thuốc Mạch môn làm quân chỉ chiếm khoảng 1,28% trung bình trong ba tài liệu nghiên cứu Đa số các bài thuốc có vị Mạch môn ở vị trí làm quân thuộc nhóm thuốc nhuận táo, chủ yếu là các bài thuốc nội táo Điều này cho thấy Mạch môn thường được sử dụng trong các bài thuốc điều trị táo bón và có vai trò quan trọng trong bài thuốc nhuận tràng nội tạng.
Mạch môn là một vị thuốc quý đã được sử dụng lâu đời trong điều trị bệnh bằng Y học cổ truyền Ngày càng có nhiều nhà khoa học nghiên cứu và phát hiện ra các tác dụng sinh học mới của mạch môn Những phát hiện này mở ra nhiều ứng dụng lâm sàng theo xu hướng Y học hiện đại, thể hiện vai trò quan trọng của mạch môn trong y học ngày nay.