1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(Luận án tiến sĩ) nghiên cứu ảnh hưởng lẫn nhau giữa các địa phương thuộc vùng đồng bằng sông hồng trong thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài

211 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 211
Dung lượng 2,03 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xuất phát từ các lý do trên và mong muốn đưa ra giải pháp tăng cường thu hút FDI vào các địa phương thuộc vùng Đồng bằng sông Hồng, tác giả đã lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu ản

Trang 1

TRIỆU VĂN HUẤN

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG LẪN NHAU GIỮA CÁC ĐỊA PHƯƠNG THUỘC VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG TRONG THU HÚT

ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÀNH KINH TẾ ĐẦU TƯ

HÀ NỘI - NĂM 2021

Trang 2

TRIỆU VĂN HUẤN

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG LẪN NHAU GIỮA CÁC ĐỊA PHƯƠNG THUỘC VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG TRONG THU HÚT

ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI

Chuyên ngành: Kinh tế đầu tư

Mã số: 9310104

LUẬN ÁN TIẾN SĨ

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Phạm Văn Hùng

HÀ NỘI - NĂM 2021

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi đã đọc và hiểu về các hành vi vi phạm sự trung thực trong học thuật Tôi cam kết bằng danh dự cá nhân rằng nghiên cứu này do tôi tự thực hiện và không vi phạm yêu cầu về sự trung thực trong học thuật

Triệu Văn Huấn

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tác giả xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu và các thầy cô giáo trường Đại học Kinh tế Quốc dân, Khoa Đầu tư, Bộ môn Kinh tế đầu tư, Viện Đào tạo sau đại học, các phòng ban chức năng của Nhà trường, các chuyên gia đã trang bị kiến thức và tạo điều kiện thuận lợi để NCS được học tập và hoàn thành luận án của mình

Tác giả xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu trường Đại học Kinh tế và QTKD Thái Nguyên, Khoa Kinh tế, Bộ môn Kinh tế Ngành đã tạo điều kiện để NCS

có thể hoàn thành được luận án của mình Đồng thời, NCS cũng gửi lời cảm ơn chân thành đến các đồng nghiệp đã động viên, giúp đỡ NCS trong quá trình nghiên cứu

Tác giả đặc biệt gửi lời cảm ơn chân thành đến giảng viên hướng dẫn – PGS.TS Phạm Văn Hùng đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ NCS vượt qua nhiều khó khăn trong quá trình nghiên cứu và hoàn thiện luận án

Cuối cùng, Tác giả xin chân thành cảm ơn đến gia đình, bạn bè, người thân đã ủng hộ, tạo điều kiện, thường xuyên động viên NCS trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu cho đến khi hoàn thành luận án

Xin trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, ngày tháng năm 2021

Triệu Văn Huấn

Trang 5

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu, câu hỏi và nhiệm vụ nghiên cứu 4

2.1 Mục tiêu nghiên cứu 4

2.2 Câu hỏi nghiên cứu 5

2.3 Nhiệm vụ nghiên cứu 5

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6

3.1 Đối tượng nghiên cứu 6

3.2 Phạm vi nghiên cứu 6

4 Đóng góp mới của luận án 6

4.1 Đóng góp về lý luận 6

4.2 Đóng góp về thực tiễn 7

5 Kết cấu của luận án 7

Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 8

1.1 Tổng quan nghiên cứu 8

1.1.1 Tổng quan nghiên cứu liên quan đến luận án 8

1.1.2 Khoảng trống nghiên cứu của luận án 19

1.2 Quy trình nghiên cứu của luận án 20

1.3 Phương pháp nghiên cứu của luận án 23

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 36

Chương 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ẢNH HƯỞNG LẪN NHAU GIỮA CÁC ĐỊA PHƯƠNG TRONG THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI 37

2.1 Lý luận chung về Đầu tư trực tiếp nước ngoài 37

2.1.1 Khái niệm Đầu tư trực tiếp nước ngoài 37

Trang 6

2.1.2 Đặc điểm của Đầu tư trực tiếp nước ngoài 39

2.1.3 Phân loại Đầu tư trực tiếp nước ngoài 40

2.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến thu hút Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào địa phương cấp tỉnh 43

2.2 Lý luận chung về ảnh hưởng lẫn nhau giữa các địa phương trong thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài 45

2.2.1 Khái niệm 45

2.2.2 Các yếu tố của một quốc gia/địa phương ảnh hưởng đến các quốc gia/địa phương lân cận trong thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài 49

2.2.3 Tác động của ảnh hưởng lẫn nhau giữa các địa phương trong thu hút FDI 52

2.2.4 Các yếu tố khuyến khích/hạn chế ảnh hưởng lẫn nhau giữa các địa phương trong thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài 55

2.3 Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu 57

2.3.1 Cơ sở lý thuyết 57

2.3.2 Giả thuyết nghiên cứu 61

2.3.3 Mô hình nghiên cứu 66

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 70

Chương 3 PHÂN TÍCH ẢNH HƯỞNG LẪN NHAU GIỮA CÁC ĐỊA PHƯƠNG THUỘC VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG TRONG THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI 72

3.1 Thực trạng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào vùng Đồng bằng sông Hồng giai đoạn 1988-2019 72

3.1.1 Tiềm năng, lợi thế của vùng Đồng bằng sông Hồng trong thu hút Đầu tư trực tiếp nước ngoài 72

3.1.2 Thực trạng đầu tư trực tiếp nước ngoài vào vùng Đồng bằng sông Hồng giai đoạn 1988 – 2019 81

Trang 7

3.1.3 Đánh giá chung về thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào vùng Đồng bằng

sông Hồng 94

3.2 Phân tích ảnh hưởng lẫn nhau giữa các địa phương thuộc vùng Đồng bằng sông Hồng trong thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài 104

3.2.1 Kiểm định sự tự tương quan giữa các địa phương trong thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài 104

3.2.2 Lựa chọn ma trận không gian và mô hình không gian 106

3.2.3 Kết quả phân tích ảnh hưởng lẫn nhau giữa các địa phương thuộc vùng Đồng bằng sông Hồng trong thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài 110

3.2.4 Kết quả hồi quy theo phương pháp Pooled Mean Group 120

3.3 Đánh giá chung về giả thuyết và mô hình nghiên cứu của luận án 122

TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 129

Chương 4 GIẢI PHÁP PHÁT HUY ẢNH HƯỞNG TÍCH CỰC VÀ HẠN CHẾ ẢNH HƯỞNG TIÊU CỰC GIỮA CÁC ĐỊA PHƯƠNG THUỘC VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG TRONG THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI 131

4.1 Bối cảnh thế giới và Việt Nam ảnh hưởng đến thu hút Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào vùng Đồng bằng sông Hồng 131

4.2 Định hướng thu hút Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào vùng Đồng bằng sông Hồng 137

4.3 Một số giải pháp chủ yếu phát huy ảnh hưởng tích cực, hạn chế ảnh hưởng tiêu cực giữa các địa phương vùng Đồng bằng sông Hồng trong quá trình thu hút Đầu tư trực tiếp nước ngoài 143

4.3.1 Tăng cường liên kết đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực 144

4.3.2 Tăng cường liên kết hoàn thiện hệ thống hạ tầng giao thông, đặc biệt là các dự án có tính lan tỏa, kết nối vùng 146

4.3.3 Tăng cường liên kết tạo môi trường đầu tư tốt trong thu hút và thúc đẩy các doanh nghiệp FDI phát triển 148

Trang 8

4.3.4 Xây dựng Chương trình liên kết giữa các tỉnh thuộc vùng Đồng bằng sông Hồng

trong thu hút Đầu tư trực tiếp nước ngoài 150

4.3.5 Thành lập Trung tâm thông tin vùng Đồng bằng sông Hồng về đầu tư trực tiếp nước ngoài 153

4.4 Điểm mạnh, hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo của luận án 155

TIỂU KẾT CHƯƠNG 4 157

KẾT LUẬN 158

KIẾN NGHỊ 161

1 Đối với Chính phủ 161

2 Đối với các tỉnh vùng Đồng bằng sông Hồng 161

TÀI LIỆU THAM KHẢO 162

PHỤ LỤC 1 174

PHỤ LỤC 2 178

PHỤ LỤC 3 182

PHỤ LỤC 4 195

Trang 9

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

(Hợp đồng hợp tác kinh doanh)

(Xây dựng - Kinh doanh - Chuyển giao)

(Xây dựng - Chuyển giao)

(Xây dựng - Chuyển giao - Kinh doanh)

Comprehensive and Progressive Agreement for

Trans - Pacific Partnership (Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên

Thái Bình Dương)

(Đầu tư trực tiếp nước ngoài)

(Hiệp định thương mại tự do)

12 EVFTA European - Vietnam Free Trade Agreement

(Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU)

(Tổng sản phẩm quốc nội)

14 GRDP Gross Regional Domestic Product

(Tổng sản phẩm trên địa bàn)

(Quỹ tiền tệ quốc tế)

Trang 10

16 KT-XH Kinh tế - Xã hội

18 M&A Cross - border Merger and Acquisition

(Mua lại và sáp nhập qua biên giới)

(Thuế giá trị gia tăng)

Trang 11

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 1.1: Ma trận tương quan 33

Bảng 2.1: Tổng hợp các yếu tố ảnh hưởng gián tiếp đến các quốc gia/địa phương lân cận trong thu hút FDI 50

Bảng 2.2: Tổng hợp cách đo lường các yếu tố ảnh hưởng gián tiếp đến các địa phương lân cận trong thu hút FDI 51

Bảng 2.3: Tác động của ảnh hưởng lẫn nhau giữa các địa phương trong thu hút FDI 53 Bảng 2.4: Động cơ của công ty đa quốc gia trong hoạt động đầu tư ra nước ngoài 59

Bảng 2.5: Xây dựng thang đo cho các biến nghiên cứu trong mô hình 68

Bảng 2.6: Thông kê mô tả các biến có trong mô hình 69

Bảng 3.1: Tỷ lệ lực lượng lao động đã qua đào tạo theo trình độ chuyên môn kỹ thuật năm 2019 78

Bảng 3.2: Chỉ số PCI vùng Đồng bằng sông Hồng năm 2005 và năm 2019 80

Bảng 3.3: Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào Việt Nam theo vùng, lũy kế các dự án còn hiệu lực đến 31/12/2019 82

Bảng 3.4: FDI vào vùng Đồng bằng sông Hồng theo ngành kinh tế, lũy kế các dự án còn hiệu lực đến 31/12/2019 91

Bảng 3.5: Quy hoạch phát triển ngành công nghiệp sản xuất thiết bị điện, điện tử Vùng Đồng bằng sông Hồng đến năm 2025 99

Bảng 3.6: Kiểm định Global Moran’s I của FDI 105

Bảng 3.7: Kết quả AIC của các ma trận không gian 106

Bảng 3.8: Kết quả kiểm định Hausman và hệ số độ trễ không gian Rho 108

Bảng 3.9: Kết quả mô hình hồi quy Spatial Durbin Model (SDM) 110

Bảng 3.10: Kết quả Hồi quy Pooled Mean Group 121

Trang 12

DANH MỤC HÌNH, SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ

Hình 1.1: Quy trình nghiên cứu của luận án 21 Hình 2.1: Mô phỏng tác động của ảnh hưởng lẫn nhau giữa 2 tỉnh trong thu hút FDI 52 Hình 2.2: Mô hình nghiên cứu 67 Hình 3.1: Cao tốc Hà Nội - Hải Phòng là trục giao thông kết nối phát triển kinh tế giữa Hà Nội với các tỉnh 75 Hình 3.2: Cầu Bạch Đằng nối Hải Phòng và Quảng Ninh 95 Biểu đồ 3.1: Lực lượng lao động phân theo vùng kinh tế giai đoạn 2010-2019 77 Biểu đồ 3.2: Số doanh nghiệp đang hoạt động phân theo vùng kinh tế giai đoạn 2010-

2019 79 Biểu đồ 3.3: Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào Việt Nam theo vùng, lũy kế các dự

án còn hiệu lực đến 31/12/2019 83 Biểu đồ 3.4: FDI đăng ký vào vùng Đồng bằng sông Hồng giai đoạn 1988-2019 84 Biểu đồ 3.5: FDI đăng ký vào vùng Đồng bằng sông Hồng theo địa phương, lũy kế các

dự án còn hiệu lực đến 31/12/2019 87 Biểu đồ 3.6: FDI vào vùng Đồng bằng sông Hồng theo hình thức đầu tư, lũy kế các dự

án còn hiệu lực đến 31/12/2019 89 Biểu đồ 3.7: FDI vào vùng Đồng bằng sông Hồng theo đối tác đầu tư chủ yếu, lũy kế các dự án còn hiệu lực đến 31/12/2019 93

Trang 13

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Nghiên cứu ảnh hưởng lẫn nhau giữa các địa phương trong thu hút Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đã được một số nhà khoa học trong và ngoài nước nghiên cứu

Đó là nghiên cứu của Coughlin và Segev (2000; Kayam và cộng sự (2013); Blonigen

và cộng sự (2007); Garretsen và Peeters (2009); Nwaogu (2012); Gamboa (2012); Hoang và Gujion (2014); Esiyok và Ugur (2015); Le và Nguyen (2017) Tuy nhiên, tổng quan các nghiên cứu này cho thấy, một mặt, còn một số vấn đề lý luận về ảnh hưởng lẫn nhau giữa các địa phương ở một vùng trong thu hút FDI cần được làm rõ Mặt khác, thực tiễn thu hút FDI vào các địa phương cấp tỉnh vùng Đồng bằng sông Hồng đã nảy sinh những vấn đề cần khắc phục trong phối hợp, liên kết thu hút FDI của các địa phương ở vùng Đồng bằng sông Hồng Do đó, nghiên cứu ảnh hưởng lẫn nhau giữa các địa phương vùng Đồng bằng sông Hồng trong thu hút FDI cần được nghiên cứu để hoàn thiện về lý luận và giải quyết các vấn đề thực tiễn phát sinh trong Vùng

Cuối năm 1987, Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam được Quốc hội thông qua, đây có thể coi là một bước ngoặt lớn về tư duy kinh tế vì nó đã tạo ra được nền tảng hành lang pháp lý cho hoạt động hợp tác đầu tư với nước ngoài của Việt Nam Tính đến 31/12/2019, Việt Nam đã thu hút được 30.936 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) với tổng số vốn đăng ký đạt 364.151,86 triệu USD (Cục Đầu tư nước ngoài, 2019) Trong 32 năm qua, FDI là nguồn vốn bổ sung quan trọng cho nguồn vốn đầu tư phát triển (FDI chiếm trung bình khoảng từ 22-25% tổng vốn đầu tư toàn xã hội), tăng thu ngân sách (FDI đóng góp trung bình khoảng 15-19% ngân sách), thúc đẩy xuất khẩu (FDI chiếm trung bình khoảng 70% kim ngạch xuất khẩu), giải quyết việc làm (FDI góp phần tạo ra gần 4 triệu việc làm), chuyển giao công nghệ và giúp Việt Nam hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới (Tổng cục Thống kê, 2019) Qua các số liệu trên cho thấy, FDI là nguồn lực quan trọng cho phát triển kinh tế xã hội của một quốc gia, đặc biệt là các nước đang phát triển như Việt Nam Không chỉ ở phạm vi quốc gia mà các địa phương của mỗi quốc gia đều có các nỗ lực khác nhau để thu hút được nguồn vốn này Tuy nhiên, do cầu về vốn luôn lớn hơn cung trong thị trường vốn FDI, lợi thế thuộc về phía các nhà đầu tư nước ngoài và vì thế cạnh tranh giữa các địa

Trang 14

phương, đặc biệt giữa các địa phương có điều kiện tương đồng là hiện tượng diễn ra phổ biến Tuy nhiên, thực tế cho thấy không phải lúc nào các địa phương cũng cạnh tranh nhau trong thu hút FDI Để giảm thiểu những tác động tiêu cực từ cạnh tranh và cùng nhau khai thác tốt nguồn vốn này là hướng đi tất yếu hiện nay

Ở nước ta hiện nay có 6 vùng kinh tế, mỗi vùng kinh tế sẽ có những đặc điểm riêng biệt so với các vùng kinh tế khác Những đặc điểm đó có thể là những lợi thế của vùng, cũng có thể là những khó khăn của vùng Theo Nghị định số 92/2006/NĐ-

CP ngày 07/9/2006, “Vùng Đồng bằng sông Hồng bao gồm 12 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương là: Hà Nội, Hà Tây, Ninh Bình, Vĩnh Phúc, Hà Nam, Bắc Ninh, Hải Phòng, Hưng Yên, Hải Dương, Nam Định, Thái Bình, Quảng Ninh” (Nghị định

số 92/2006/NĐ-CP, 2006, tr.9) Theo Nghị quyết số 15/2008/QH12 ngày 29/05/2008,

Hà Tây được sáp nhập vào Hà Nội kể từ ngày 01/8/2008 Như vậy, kể từ ngày 01/8/2008, Vùng Đồng bằng sông Hồng bao gồm 11 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương Thời gian qua, kết quả thu hút FDI vào các địa phương thuộc Vùng Đồng bằng sông Hồng đã có nhiều điểm sáng tích cực Tính đến 31/12/2019, Vùng đã thu hút được 10.308 dự án FDI, chiếm 33,32% tổng số dự án FDI của cả nước Vốn FDI đăng

kí đạt 106.601,06 tỷ USD, chiếm 29,27% vốn FDI đăng kí của cả nước (Cục Đầu tư nước ngoài và tính toán của tác giả) Đây là vùng thu hút được FDI lớn thứ hai cả nước, chỉ sau vùng Đông Nam Bộ Trong vùng, có nhiều tỉnh, thành phố nằm trong tốp những địa phương thu hút được nhiều FDI nhất cả nước như Hà Nội, Bắc Ninh, Hải Phòng, Hải Dương Tuy nhiên, không phải địa phương nào của Vùng cũng có kết quả khả quan trong thu hút FDI như một số địa phương kể trên Nếu so sánh số dự án FDI và số vốn FDI đăng kí được của tỉnh thu hút được nhiều nhất và tỉnh thu hút được

ít nhất thì con số chênh lệch là rất lớn Số dự án FDI mà Hà Nội thu hút được gấp 80,61 lần so với số dự án FDI mà Ninh Bình thu hút được (5.965/74 dự án FDI) Số vốn FDI đăng kí mà Hà Nội thu hút được gấp 49,23 lần so với số vốn FDI đăng kí mà Thái Bình thu hút được (34.778,93 triệu USD/706,43 triệu USD) Vậy tại sao trong một Vùng lại có sự khác biệt lớn như vậy trong thu hút FDI? Có những yếu tố nào ảnh hưởng đến thu hút FDI vào một địa phương cấp tỉnh? Khả năng thu hút FDI vào một tỉnh có phụ thuộc vào các yếu tố của tỉnh lân cận trong vùng không? Các tỉnh trong vùng

Trang 15

nên cạnh tranh hay hỗ trợ nhau trong thu hút FDI? Đâu là cơ sở khoa học để đưa ra kiến nghị này?

Tại “Hội nghị xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế xã hội và đầu tư công năm

2020 vùng Đồng bằng sông Hồng” được tổ chức ngày 16/8/2019 tại thành phố Hải Phòng, Ông Vũ Đại Thắng - Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho biết, trong bối cảnh Việt Nam nói chung, vùng Đồng bằng sông Hồng nói riêng đang là địa chỉ mà nhiều nhà đầu tư nước ngoài đang nhắm tới do những chính sách ưu đãi đầu tư và đặc biệt là nền chính trị ổn định thì các địa phương đều “trải thảm đỏ” để thu hút đầu tư (Kim Oanh, 2019), tức là các địa phương đang cạnh tranh nhau bằng việc đưa ra nhiều

ưu đãi để thu hút FDI vào địa phương mình Tuy nhiên, thay vì địa phương nào cũng

có khu, cụm công nghiệp mọc lên thì rất cần các dự án trọng điểm, vừa mang tính đột phá vừa đóng vai trò lan toả trong Vùng, không thể mạnh ai người ấy làm, như vậy sẽ dẫn đến sự chồng chéo, lãng phí và giảm sức hút của Vùng trong thu hút FDI Tại cuộc họp Thường trực Chính phủ về phát triển vùng kinh tế trọng điểm tổ chức ngày 26/5/2020, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc cho rằng, lãnh đạo các địa phương trong vùng cần đề cao trách nhiệm trong phát triển kinh tế vùng, phải thực sự tận tâm, tận lực vì sự phát triển của cả vùng, của đất nước và từng địa phương Không có địa phương nào có thể phát triển bền vững nếu các địa phương lân cận kém phát triển Thủ tướng cũng yêu cầu Bộ Kế hoạch và Đầu tư rà soát, đề xuất Chính phủ cơ chế phù hợp

để các địa phương trong vùng kinh tế trọng điểm tận dụng được tiềm năng, thế mạnh, không cạnh tranh lẫn nhau, làm suy yếu nhau (Tư Giang, 2020) Qua phân tích trên cho thấy, các địa phương thuộc vùng Đồng bằng sông Hồng cần hỗ trợ, liên kết với nhau trong hoạt động thu hút FDI

Những nghiên cứu trước đây khi tiến hành nghiên cứu về thu hút nguồn vốn FDI có thể chia theo hai hướng: (1) Nghiên cứu môi trường đầu tư hay các yếu tố ảnh hưởng đến thu hút FDI của quốc gia, của một vùng, của một tỉnh Trong các nghiên cứu này các tác giả ngầm định rằng các địa phương không ảnh hưởng lẫn nhau trong quá trình thu hút FDI Hướng nghiên cứu này xem xét đơn vị hành chính cấp tỉnh trong thu hút FDI là những quan sát độc lập với nhau Tuy nhiên, trên thực tế cho thấy, giữa các tỉnh thành, đặc biệt là những tỉnh thành gần nhau có sự tương tác và chia sẻ

Trang 16

với nhau trong thu hút FDI Thực tế đã có một số nghiên cứu chứng minh được điều này, nghĩa là có ảnh hưởng lẫn nhau giữa các địa phương trong thu hút FDI Cách tiếp cận này là vấn đề vì khi bỏ qua sự phụ thuộc về không gian sẽ dẫn đến ước tính thông

số sai lệch, không phù hợp và hiệu quả (Nwaogu, 2012) (2) Các nghiên cứu về ảnh hưởng của các địa phương gần nhau trong thu hút FDI Các nghiên cứu về ảnh hưởng của các địa phương gần nhau trong thu hút FDI đã được một số nhà nghiên cứu trong

và ngoài nước nghiên cứu Các mô hình chủ yếu được các nhà nghiên cứu sử dụng là

mô hình SAR, mô hình SEM và mô hình SDM Tuy nhiên các nghiên cứu này còn đưa

ra các kết luận trái chiều Bên cạnh đó, phạm vi nghiên cứu ở tất cả các tỉnh thành trong một quốc gia chưa thể hiện được tính “vùng” trong thu hút FDI Xuất phát từ các

lý do trên và mong muốn đưa ra giải pháp tăng cường thu hút FDI vào các địa phương

thuộc vùng Đồng bằng sông Hồng, tác giả đã lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu

ảnh hưởng lẫn nhau giữa các địa phương thuộc vùng Đồng bằng sông Hồng trong thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài” làm đề tài luận án

2 Mục tiêu, câu hỏi và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục tiêu nghiên cứu

Trang 17

+ Đưa ra một số giải pháp nhằm phát huy những ảnh hưởng tích cực, hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực giữa các địa phương thuộc vùng Đồng bằng sông Hồng trong thu hút FDI

2.2 Câu hỏi nghiên cứu

- Có các yếu tố nào ảnh hưởng đến thu hút FDI vào các địa phương thuộc vùng Đồng bằng sông Hồng?

- Hoạt động thu hút FDI vào các địa phương thuộc vùng Đồng bằng sông Hồng

có phụ thuộc vào các địa phương lân cận trong Vùng không?

- Xu hướng chung là các địa phương lân cận trong vùng Đồng bằng sông Hồng

sẽ cạnh tranh nhau hay hỗ trợ nhau trong thu hút FDI?

- Mức độ tác động của các yếu tố của các địa phương thuộc vùng Đồng bằng sông Hồng trong thu hút FDI như thế nào? Yếu tố nào tác động trực tiếp? Yếu tố nào tác động gián tiếp? Yếu tố nào tác động lên việc thu hút FDI của toàn vùng?

- Để tăng cường sự liên kết, hỗ trợ nhau giữa các địa phương thuộc vùng Đồng bằng sông Hồng trong thu hút FDI cần thực hiện những giải pháp chủ yếu nào?

2.3 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Tổng quan tài liệu nghiên cứu trong nước và nước ngoài về nghiên cứu sự ảnh hưởng lẫn nhau giữa các địa phương trong thu hút FDI Từ đó, đề xuất mô hình nghiên cứu của luận án

- Thu thập số liệu từ các nguồn tin cậy cho các biến nghiên cứu trong mô hình

từ Tổng cục Thống kê, Cục Thống kê của các địa phương cấp tỉnh thuộc vùng Đồng bằng sông Hồng

- Kiểm định mô hình nghiên cứu của luận án

- Tổng hợp các kết quả nghiên cứu để trả lời được các câu hỏi nghiên cứu, đáp ứng được các mục tiêu nghiên cứu đã đề ra

Trang 18

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là “ảnh hưởng lẫn nhau giữa các địa phương thuộc vùng Đồng bằng sông Hồng trong thu hút FDI”

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi về không gian: đề tài được tiến hành nghiên cứu tại vùng Đồng bằng sông Hồng, Việt Nam Đối với địa phương nghiên cứu trong đề tài, tác giả giới hạn ở phạm vi địa phương cấp tỉnh

- Phạm vi về thời gian: số liệu FDI vào Vùng Đồng bằng sông Hồng được tác giả thu thập và phân tích trong giai đoạn 1988-2019; số liệu sử dụng để phân tích cho

mô hình nghiên cứu được tác giả thu thập và phân tích trong giai đoạn 2010-2018; đề xuất giải pháp thực hiện đến năm 2025

- Phạm vi về nội dung: đề tài tập trung nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến thu hút FDI vào một địa phương và ảnh hưởng giữa các địa phương thuộc vùng Đồng bằng sông Hồng trong thu hút FDI Đồng thời, tác giả đề xuất các giải pháp để phát huy những ảnh hưởng tích cực, hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực giữa các địa phương thuộc vùng Đồng bằng sông Hồng trong thu hút FDI

4 Đóng góp mới của luận án

Trang 19

5 Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận

án được trình bày trong 4 chương:

Chương 1: Tổng quan nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu

Chương 2: Cơ sở lý luận về ảnh hưởng lẫn nhau giữa các địa phương trong thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài

Chương 3: Phân tích ảnh hưởng lẫn nhau giữa các địa phương thuộc vùng Đồng bằng sông Hồng trong thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài

Chương 4: Giải pháp phát huy ảnh hưởng tích cực và hạn chế ảnh hưởng tiêu cực giữa các địa phương thuộc vùng Đồng bằng sông Hồng trong thu hút FDI

Trang 20

Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1.1 Tổng quan nghiên cứu

1.1.1 Tổng quan nghiên cứu liên quan đến luận án

Những nghiên cứu trước đây khi tiến hành nghiên cứu về thu hút nguồn vốn FDI có thể chia theo hai hướng nghiên cứu chính:

- Hướng nghiên cứu thứ nhất: nghiên cứu môi trường đầu tư hay các yếu tố ảnh hưởng đến thu hút FDI của quốc gia, của một vùng hay của một tỉnh Trong các nghiên cứu này các tác giả ngầm định rằng các quốc gia hay các địa phương không ảnh hưởng lẫn nhau trong quá trình thu hút FDI

Các nghiên cứu của Asiedu (2006) và Moreira (2008) đã chỉ ra rằng các yếu tố ảnh hưởng đến thu hút Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào châu Phi bao gồm: quy

mô thị trường, bất ổn chính trị, tài nguyên thiên nhiên và chất lượng dịch vụ công Asiedu (2006) đã sử dụng dữ liệu bảng cho 22 quốc gia từ năm 1984 đến năm 2000 để xem xét và đưa kết luận: các nguồn tài nguyên thiên nhiên, bất ổn chính trị, các chính sách của chính phủ, chất lượng của các tổ chức của nước chủ nhà vào FDI và quy mô thị trường có tác động nhiều chiều đến dòng vốn FDI Trong khi đó, Moreira (2008) cho rằng quy mô thị trường và tốc độ tăng trưởng là một trong những yếu tố quyết định quan trọng nhất của FDI Ngoài ra các yếu tố có ảnh hưởng đến quyết định đầu tư trực tiếp nước ngoài bao gồm: tài nguyên thiên nhiên có sẵn, lao động giá rẻ và chất lượng của lực lượng lao động, kết cấu hạ tầng chất lượng, độ mở của nền kinh tế, sự bất ổn về chính trị và kinh tế, chất lượng dịch vụ công của chính quyền địa phương

Nghiên cứu của Shapiro (1988), Khachoo và Khan (2012) cho thấy quy mô thị trường, chi phí lao động, kết cấu hạ tầng có ảnh hưởng đến thu hút dòng vốn FDI Shapiro (1988) cho rằng: quy mô thị trường, chi phí lao động, chất lượng lao động, kết cấu hạ tầng, dịch vụ hỗ trợ, độ mở thương mại ảnh hưởng đến thu hút dòng vốn FDI Trong đó, quy mô thị trường của một khu vực càng lớn, thì càng thu hút được nhiều FDI hơn, với các điều kiện khác không thay đổi Chi phí lao động cao sẽ có ảnh hưởng tiêu cực đến thu hút vốn FDI Đối với chất lượng lao động, nhà đầu tư nước ngoài

Trang 21

không chỉ quyết định đầu tư dựa trên chi phí lương mà còn tìm kiếm chất lượng lao động có thể ở mức giá cao hơn Đối với kết cấu hạ tầng có tác động thuận chiều đối với thu hút FDI, kết cấu hạ tầng phát triển sẽ hấp dẫn FDI Ngoài ra, độ mở thương mại có mối quan hệ thuận chiều với kết quả thu hút FDI Khachoo và Khan (2012) thực hiện nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng dòng vốn FDI vào các nước đang phát triển Nhóm tác giả sử dụng mẫu của 32 nước đang phát triển với dữ liệu được lấy trong giai đoạn 1982 – 2008 để nghiên cứu tác động của quy mô thị trường, tổng trữ lượng, kết cấu hạ tầng, chi phí lao động và độ mở của thị trường đến dòng vốn FDI của các nước chủ nhà Kết quả cho thấy quy mô thị trường, kết cấu hạ tầng, tổng trữ lượng và chi phí lao động có ảnh hưởng đến thu hút FDI vào các nước đang phát triển

Abdul và cộng sự (2014), Boateng và cộng sự (2015) lại đưa ra nhiều yếu tố ảnh hưởng đến thu hút FDI vào một quốc gia cụ thể khác với các nghiên cứu của Asiedu (2006), Moreira (2008), Shapiro (1988) và Khachoo và Khan (2012) Abdul

và cộng sự (2014) trong nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Pakistan đã sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng thông qua dữ liệu thu thập dòng vốn FDI, vốn cổ phần, tổng thu nhập quốc dân, số liệu xuất khẩu, số liệu nhập khẩu, chi tiêu cho quân sự, nợ nước ngoài của Pakistan từ năm 1988 đến năm

2012 Kết quả nghiên cứu thực nghiệm cho thấy rằng các yếu tố như: tích lũy tài sản, xuất khẩu, tổng thu nhập quốc dân có ảnh hưởng tích cực đến thu hút FDI vào Pakistan Boateng và cộng sự (2015) trong nghiên cứu các yếu tố tác động đến dòng chảy FDI vào Na Uy cho rằng dòng FDI chảy vào Na Uy chịu tác động trực tiếp bởi

07 nhóm yếu tố bao gồm: GDP, lạm phát, tỷ giá, dòng tiền, tỷ lệ thất nghiệp, lãi suất,

độ mở thương mại Bằng phương pháp nghiên cứu định lượng, thông qua bộ dữ liệu về dòng FDI chảy vào Na Uy từ năm 1986 đến 2009, kết quả nghiên cứu cho thấy rằng FDI chịu tác động bởi các nhóm yếu tố sau: GDP, lạm phát, tỷ giá, dòng tiền, tỷ lệ thất nghiệp, lãi suất, độ mở thương mại

Đối với các nghiên cứu trong nước, hai nghiên cứu khác nhau của hai tác giả Nguyễn Viết Bằng và cộng sự (2016) và Nguyễn Đức Nhuận (2017) đã cùng chỉ ra rằng dòng vốn FDI đều chịu ảnh hưởng của 8 yếu tố, đó là: lợi thế ngành đầu tư, thương hiệu địa phương, chi phí đầu vào cạnh tranh, kết cấu hạ tầng đầu tư, chính sách

Trang 22

đầu tư, chất lượng dịch vụ công, nguồn nhân lực, môi trường sống và làm việc Nguyễn Viết Bằng và cộng sự (2016) bằng phương pháp nghiên cứu định lượng thông qua khảo sát 365 nhà đầu tư nước ngoài tại tỉnh Đồng Nai đã cho thấy: có 08 yếu tố tác động đến quyết định của nhà đầu tư, trong đó 2 yếu tố ảnh hưởng nhiều nhất là nguồn nhân lực và kết cấu hạ tầng đầu tư Nguyễn Đức Nhuận (2017) đã sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng thông qua khảo sát 330 nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài vào vùng kinh tế Đồng bằng sông Hồng Kết quả nghiên cứu cho thấy các yếu tố như: kết cấu hạ tầng đầu tư, chi phí đầu vào cạnh tranh, chính sách đầu tư, lợi thế ngành đầu

tư, môi trường sống và làm việc, chất lượng dịch vụ công, nguồn nhân lực, thương hiệu địa phương tác động đến thu hút FDI vào vùng Đồng bằng Sông Hồng

Các nghiên cứu như: Pham (2002), Meyer và Nguyen (2005), Anwar và Nguyen (2010), Nguyễn Minh Tiến (2015) đều đã chỉ ra rằng nguồn vốn FDI vào các địa phương ở Việt Nam đều chịu tác động từ các yếu tố chính như quy mô hay dung lượng thị trường, chất lượng lao động và chất lượng cơ sở hạ tầng Pham (2002) đã sử dụng nguồn dữ liệu từ Tổng cục Thống kê, Chính phủ và Word Bank trong giai đoạn 1988-1998 để phân tích FDI vào các tỉnh thành của Việt Nam Trong giai đoạn 1988-

1998, một số lượng lớn vốn FDI đã chảy từ các khu vực vào các tỉnh thành ở Việt Nam Những dòng vốn này đã đóng góp vào sự tăng trưởng kinh tế ở khu vực bằng cách tăng lượng vốn đầu tư và sản lượng công nghiệp Tuy nhiên, vì dòng vốn FDI phân bố không đều giữa các tỉnh và khu vực có thể làm cho khoảng cách giàu nghèo của các tỉnh rộng hơn Tác giả phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sự phân bố dòng vốn FDI vào các khu vực đã chỉ ra rằng: cơ sở hạ tầng, chất lượng nguồn nhân lực và quy mô thị trường địa phương là những nhân tố quan trọng nhất quyết định sự phân bố của dòng vốn FDI Meyer và Nguyen (2005) nghiên cứu chiến lược đầu tư nước ngoài

và các tổ chức quốc gia trong các thị trường mới nổi, minh chứng trường hợp của Việt Nam Meyer và Nguyen (2005) cho rằng các nhà đầu tư nước ngoài khi đầu tư vào các thị trường mới nổi phải đưa ra các quyết định chiến lược về địa điểm và cách thức thiết lập hoạt động Những quyết định này phải phù hợp với các điều kiện thể chế khác nhau không chỉ giữa các quốc gia, mà còn trong nền kinh tế nước chủ nhà Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng: cơ sở hạ tầng giao thông, quy mô thị trường (tăng trưởng

Trang 23

GDP) và giáo dục là những nhân tố quan trọng nhất quyết định sự phân bố của dòng vốn FDI Anwar và Nguyen (2010) sử dụng số liệu về FDI vào 61 tỉnh thành của Việt Nam trong giai đoạn 1996-2005 để kiểm tra mối quan hệ giữa FDI và tăng trưởng kinh

tế Phân tích này dựa trên mô hình SEM, kết luận rằng về tổng thể tồn tại mối liên hệ 2 chiều qua lại lẫn nhau giữa FDI và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy, các yếu tố quyết định đến thu hút FDI bao gồm: dung lượng thị trường, sự phát triển cơ sở hạ tầng và điều kiện thị trường lao động Nguyễn Minh Tiến (2015) đã sử dụng bộ dữ liệu thứ cấp thu thập từ 43 tỉnh thành của Việt Nam từ năm 1997 đến năm 2012 Thông qua phương pháp ước lượng Moment tổng quát (hồi quy GMM Arellano-Bond) với bộ dữ dữ liệu bảng và dựa trên ước lượng PMG Tác giả đã nghiên cứu tác động của FDI và các yếu tố lên tăng trưởng kinh tế của 6 vùng kinh tế của Việt Nam trong giai đoạn 1997-2012 Kết quả cho thấy giữa các vùng có những đặc tính hội tụ và đặc trưng đối với các tác động của các yếu tố lên tăng trưởng kinh tế, mức độ hội tụ và đặc trưng giữa các vùng có sự khác biệt Kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, các yếu tố quyết định đến thu hút FDI bao gồm: quy mô thị trường, nguồn nhân lực, độ mở thương mại, kết cấu hạ tầng, lao động có kỹ năng, chính sách kinh tế vĩ mô, ổn định kinh tế vĩ mô

Các nghiên cứu của Lê Hoàng Bá Huyền (2015), Phan Thị Quốc Hương (2015),

Lê Tuấn Lộc và Nguyễn Thị Tuyết (2013) đã phân chia các yếu tố ảnh hưởng đến thu hút FDI thành các nhóm yếu tố Lê Hoàng Bá Huyền (2015) cho rằng, dòng vốn FDI chịu tác động bởi 06 nhóm yếu tố, bao gồm: nhóm yếu tố về chính sách, chính phủ; nhóm yếu tố về văn hóa - xã hội; nhóm yếu tố về kinh tế và thị trường; nhóm yếu tố về tài chính; nhóm yếu tố về nguồn lực và nhóm yếu tố về kết cấu hạ tầng đầu tư Nghiên cứu đã sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng thông qua việc thu thập dữ liệu thứ cấp của 41 doanh nghiệp FDI trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa từ năm 2001 đến năm

2012 Kết quả nghiên cứu cho thấy: dòng vốn FDI chịu tác động bởi 02 nhóm yếu tố là: nhóm yếu tố về kinh tế và thị trường và nhóm yếu tố kết cấu hạ tầng đầu tư Phan Thị Quốc Hương (2015) cho rằng dòng vốn FDI chảy vào Việt Nam chịu tác động trực tiếp bởi 04 nhóm yếu tố, bao gồm: nhóm yếu tố khung chính sách; nhóm yếu tố kinh tế; nhóm yếu tố chất lượng thể chế; và nhóm yếu tố về thông tin quá khứ về vốn FDI

Trang 24

thu hút được Tác giả đã sử dụng phương pháp ước lượng Moment tổng quát sai phân (DGMM) để kiểm định mô hình và các giả thuyết nghiên cứu Nghiên cứu đã sử dụng

dữ liệu biến phụ thuộc FDI và các biến độc lập trong giai đoạn 2000-2012 Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng: chưa đủ cơ sở để bác bỏ 03 trong số 06 giả thuyết ở mức ý nghĩa là 10%, gồm: động cơ tìm kiếm thị trường, tác động nhóm yếu tố khung chính sách và động cơ tìm kiếm tài nguyên đối với dòng vốn FDI vào Việt Nam Lê Tuấn Lộc và Nguyễn Thị Tuyết (2013) đã sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng thông qua khảo sát 150 doanh nghiệp FDI đang hoạt động tại thành phố Đà Nẵng Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng sự thỏa mãn của nhà đầu tư chịu tác động trực tiếp bởi

05 nhóm yếu tố: nhóm yếu tố về kết cấu hạ tầng; nhóm yếu tố về công tác quản lý và

hỗ trợ của chính quyền địa phương; nhóm yếu tố về sự hình thành và phát triển cụm ngành; nhóm yếu tố về chính sách về ưu đãi đầu tư của địa phương; nhóm yếu tố về chất lượng nguồn nhân lực

Các nghiên cứu của Cao Tấn Huy (2019) và Phan Huy Hoàng (2019) cho rằng dòng vốn FDI chịu ảnh hưởng của các yếu tố: thương hiệu địa phương, nguồn nhân

lực, chính sách đầu tư, chất lượng dịch vụ công Cao Tấn Huy (2019) sử dụng dữ liệu thứ cấp được thu thập thông qua các Niên giám thống kê về thực trạng FDI vào vùng kinh tế Đông Nam Bộ trong giai đoạn 2013-2018 Kết quả cho thấy, có 7 yếu tố yếu

tố ảnh hưởng đến thu hút FDI vào vùng Đông Nam Bộ, đó là: thương hiệu địa phương; kết cấu hạ tầng đầu tư; nguồn nhân lực; chất lượng dịch vụ công; cơ chế chính sách đầu tư; liên kết vùng; môi trường sống và làm việc Nghiên cứu của Phan Huy Hoàng (2019) cho rằng, thực tế cho thấy hiệu quả thu hút vốn FDI tại Thành phố Hồ Chí Minh vẫn chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế Nghiên cứu nhằm khám phá các nhân tố về thu hút FDI tới quyết định của nhà đầu tư vào các dự án FDI tại Thành phố

Hồ Chí Minh Nghiên cứu được thực hiện thông qua 03 bước sau: (i) nghiên cứu khám phá thông qua dữ liệu thứ cấp, (i) nghiên cứu khám phá bằng phương pháp nghiên cứu định tính, (i) nghiên cứu chính thức bằng phương pháp nghiên cứu định lượng Với tập

dữ liệu thu được, phương trình hồi qui bội thể hiện được sự ảnh hưởng của các nhân tố tới quyết định của nhà đầu tư Thành phố Hồ Chí Minh Kết quả cho thấy có 8 nhóm nhân tố tác động đến quyết định của nhà đầu tư vào các dự án FDI tại Thành phố Hồ

Trang 25

Chí Minh, đó là: thương hiệu địa phương, môi trường sống, chất lượng dịch vụ công, chính sách đầu tư, nguồn nhân lực, lợi thế ngành đầu tư của doanh nghiệp và lạm phát

Các nghiên cứu của Đinh Phi Hổ (2011), Nguyễn Thị Liên Hoa và Bùi Thị Bích Phương (2014) có đưa ra một số yếu tố khác có ảnh hưởng đến thu hút FDI Đinh Phi

Hổ (2011) đã sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng để thực hiện nghiên cứu thông qua khảo sát 226 doanh nghiệp đang hoạt động tại các khu công nghiệp tại Việt Nam Nghiên cứu đã sử dụng biến hài lòng của nhà đầu tư để thể hiện yếu tố thu hút đầu tư Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng sự hài lòng của doanh nghiệp chịu tác động bởi 08 yếu tố: chi phí cạnh tranh, chính sách đầu tư, kết cấu hạ tầng, nguồn nhân lực, môi trường sống, lợi thế đầu tư, lợi thế về lao động địa phương và năng lực lãnh đạo địa phương Nguyễn Thị Liên Hoa và Bùi Thị Bích Phương (2014) cho rằng dòng vốn FDI chạy vào các nước phụ thuộc vào các nhóm yếu tố sau: độ mở thương mại, quy

mô thị trường, tổng dự trữ ngoại hối, kết cấu hạ tầng đầu tư, chi phí lao động Nghiên cứu đã sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng, với bộ dữ liệu bảng của 30 nước

từ năm 2000 đến năm 2012 Kết quả nghiên cứu cho thấy, thu hút FDI bị ảnh hưởng bởi các yếu tố như: quy mô thị trường, tổng dự trữ ngoại hối, kết cấu hạ tầng đầu tư

Hướng nghiên cứu này xem xét đơn vị hành chính cấp tỉnh trong thu hút FDI là những quan sát độc lập với nhau Tuy nhiên, trên thực tế cho thấy, giữa các tỉnh thành, đặc biệt là những tỉnh thành gần nhau có sự tương tác và chia sẻ với nhau trong thu hút FDI Đó có thể là hệ thống đường giao thông, lực lượng lao động, quy mô thị trường…và thực tế đã có một số nghiên cứu chứng minh được điều này, nghĩa là có sự ảnh hưởng lẫn nhau giữa các địa phương trong thu hút FDI Hầu hết các nghiên cứu FDI thực nghiệm trước đây xem xét mô hình các yếu tố quyết định FDI tiếp cận theo khung nghiên cứu trọng lực giữa 2 quốc gia Cách tiếp cận này là vấn đề vì khi bỏ qua

sự phụ thuộc về không gian sẽ dẫn đến ước tính thông số sai lệch, không phù hợp và hiệu quả (Nwaogu, 2012) Bên cạnh đó, việc phát triển các lý thuyết gần đây với sự tác động đến từ quốc gia thứ 3 hay lý thuyết về mức độ quần tụ doanh nghiệp khiến cho các phương pháp kinh tế lượng thông thường chưa hoàn chỉnh trong việc tìm hiểu động cơ của các công ty trong việc đầu tư ra nước ngoài Các nghiên cứu sử dụng các phương pháp phân tích không gian có thể khắc phục được điểm yếu này

Trang 26

- Hướng nghiên cứu thứ hai: nghiên cứu về ảnh hưởng của các địa phương gần nhau trong thu hút FDI Sự ảnh hưởng của các địa phương gần nhau hay còn gọi là tác động không gian (spatial effects) được sử dụng nhiều trong các phương pháp phân tích không gian Các nghiên cứu về ảnh hưởng của các địa phương gần nhau trong thu hút FDI đã được một số nhà nghiên cứu trong và ngoài nước nghiên cứu Các mô hình chủ yếu được các nhà nghiên cứu sử dụng là mô hình SAR, mô hình SEM và mô hình SDM Coughlin và Segev (2000) là người tiên phong trong việc sử dụng kinh tế lượng không gian để phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến FDI Nghiên cứu này đã sử dụng lý thuyết hiệu quả kinh tế do quần tụ để giải thích sự phụ thuộc của FDI giữa các tỉnh tại Trung Quốc Theo nghiên cứu này, từ những năm 1970 Trung quốc bắt đầu dỡ bỏ một

số hàng rào đối với FDI Đến năm 1980, Trung quốc là nước nhận FDI lớn nhất trong các nước đang phát triển và là nước đứng thứ 2 trên thế giới về thu hút FDI

Nghiên cứu tập trung vào sự phân phối về mặt địa lý của FDI tại Trung Quốc, trong đó phần lớn nguồn vốn tập trung ở khu vực dọc bờ biển Các yếu tố ảnh hưởng đến các khu vực nhận FDI có thể cung cấp hướng dẫn cho những nhà hoạch định chính sách trong việc xác định những rào cản mà một vài khu vực cần phải vượt qua

để có thể thu hút FDI Nghiên cứu đã dùng dòng vốn FDI hàng năm vào mỗi tỉnh là biến phụ thuộc Các biến độc lập bao gồm: GPP; mức lương trung bình của người lao động; tỷ lệ dân số trên 15 tuổi ở thành phố mù chữ hoặc không biết chữ; tổng năng suất lao động của các doanh nghiệp công nghiệp với hệ thống kế toán độc lập; nhân viên và công nhân vận tải đường hàng không trên tỷ lệ 100 dân; chiều dài đường cao tốc theo khu vực Với các dữ liệu được thu thập từ năm 1990 đến năm 1997 và áp dụng mô hình SEM với ma trận nhị phân không gian, nghiên cứu chỉ ra rằng không gian có ảnh hưởng lớn đến thu hút FDI bởi các tỉnh thành lân cận có ảnh hưởng đến việc thu hút FDI của một tỉnh thành Cụ thể hơn, nghiên cứu này đã chỉ ra được hoạt động thu hút FDI giữa các tỉnh ở Trung Quốc và vốn FDI của mỗi địa phương sẽ phụ thuộc vào quy mô thị trường, chi tiêu của chính phủ, chất lượng lao động, chi phí lao động, cũng như khoảng cách đến các địa phương ven biển

Tuy nhiên, nghiên cứu của Kayam và cộng sự (2013) lại đưa ra kết luận ngược lại Nghiên cứu của Kayam và cộng sự (2013) phân tích các yếu tố quyết định dòng

Trang 27

vốn FDI chảy vào các khu vực khác nhau ở Nga Các biến được sử dụng trong mô hình gồm: dòng vốn FDI hàng năm; tổng sản phẩm khu vực; mức lương trung bình của khu vực; chỉ số chi phí giao thông của khu vực; nguồn tài nguyên thiên nhiên Kayam

và cộng sự (2013) đã thu thập dữ liệu của 64 khu vực trong giai đoạn 1995-2003 từ Cục Thống kê Liên bang Nga Bằng việc sử dụng cả 2 mô hình SAR và SEM, Kayam

và cộng sự (2013) đã phân tích các yếu tố quyết định dòng vốn FDI chảy vào các khu vực khác nhau ở Nga Sự phân bố FDI về mặt không gian là do các yếu tố khu vực và liên khu vực Các đặc điểm cụ thể của khu vực như: tiền lương, trình độ học vấn, giao thông cũng như tổng sản phẩm khu vực được đo lường bởi quy mô thị trường ở khu vực sở tại và khu vực thay thế được xem xét để phân tích sự tương tác về không gian giữa các vùng bằng việc sử dụng mô hình kinh tế lượng không gian Kết quả nghiên cứu cho thấy, những cú sốc về FDI ở các khu vực gần đó không có ảnh hưởng đến dòng vốn FDI vào khu vực sở tại Điều này có nghĩa là sự phụ thuộc không gian giữa các địa phương không tồn tại trong việc thu hút vốn FDI Tuy nhiên, nghiên cứu cũng chỉ ra rằng: FDI ở một khu vực phụ thuộc vào quy mô thị trường, tỉ lệ thất nghiệp, giáo dục, cơ sở hạ tầng và nguồn lực khoáng sản

Trong khi các nghiên cứu kể trên chỉ sử dụng các mô hình không gian thuần túy

để nghiên cứu yếu tố tác động đến thu hút FDI Một số nghiên cứu khác ứng dụng phân tích không gian để nghiên cứu hành vi của các công ty đa quốc gia khi đầu tư trực tiếp ra nước ngoài Hành vi của các công ty đa quốc gia thể hiện thông qua kết quả ước lượng từ hệ số độ trễ không gian hoặc hệ số sai số không gian và hệ số thị trường tiềm năng Blonigen và cộng sự (2007) tiến hành nghiên cứu các mối quan hệ

tự hồi quy không gian trong đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Mỹ Blonigen và cộng

sự (2007) cho rằng, có rất nhiều lý do về mặt lý thuyết giải thích tại sao FDI vào một nước chủ nhà có thể phụ thuộc vào FDI ở các nước lân cận Sự phụ thuộc về không gian phần lớn bị bỏ qua bởi các lý thuyết thực nghiệm, sự phụ thuộc về không gian chỉ xuất hiện trong rất ít các nghiên cứu nên nhóm tác giả đã thực hiện nghiên cứu này Blonigen và cộng sự (2007) sử dụng số liệu về hoạt động FDI của Mỹ trong giai đoạn 1983-1998 Các biến nghiên cứu gồm: GDP; dân số; chi phí thương mại; kỹ năng; chi phí đầu tư; khoảng cách từ nước Mỹ tính bằng km; tiềm năng thị trường lân cận

Trang 28

Thông qua mô hình SAR, nhóm nghiên cứu đã chỉ ra rằng: nguồn FDI của Mỹ đến một quốc gia nằm trong Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) sẽ hỗ trợ tăng thu hút FDI đến các quốc gia thuộc OECD còn lại Nguồn vốn FDI đến một quốc gia thuộc Khối Liên minh châu Âu (EU) sẽ chịu ảnh hưởng bởi dân số, chi phí giao thương, chất lượng lao động, chi phí đầu tư của quốc gia đó và tiềm năng thị trường của các quốc gia lân cận

Garretsen và Peeters (2009) đã sử dụng 2 mô hình là mô hình độ trễ không gian (SLM) và mô hình sai số không gian (SEM) để nghiên cứu FDI của Hà Lan vào 18 nước OECD trong giai đoạn 1984-2004 Các biến nghiên cứu gồm: GDP thực tế nước

sở tại; chi phí thương mại; chất lượng của chính phủ được đo bằng chỉ số tổng hợp, được tính bằng giá trị trung bình của các biến “tham nhũng”; “luật lệ và quy định” và

“chất lượng bộ máy hành chính”; năng suất lao động; tiềm năng thị trường Nghiên cứu nhằm mục đích kiểm định sự liên quan của các mối liên kết không gian đến FDI của Hà Lan (trong nước) Kết quả nghiên cứu đã tìm thấy quy mô thị trường, độ mở của nền kinh tế, thuế có tác động đến FDI Bên cạnh đó, nhóm tác giả đã ước lượng

mô hình độ trễ không gian (SLM) đối với FDI của Hà Lan đến 18 nước OECD Sau khi kiểm soát các hiệu ứng cố định, nhóm tác giả thấy tác động của nước thứ ba là quan trọng đối với FDI của Hà Lan vào các quốc gia Sự phụ thuộc FDI giữa 18 quốc gia này có sự khác nhau tùy theo mẫu nghiên cứu

Nwaogu (2012) đã sử dụng cả 2 mô hình SAR và SEM trong việc phân tích tương tác không gian của FDI Nghiên cứu cho thấy có sự phụ thuộc lẫn nhau về không gian, hoặc ảnh hưởng của nước thứ ba đối với nguồn vốn đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Mỹ vào châu Phi, châu Mỹ Latinh và vùng Caribe Nwaogu (2012) cho rằng, khi quyết định vị trí của công ty phụ thuộc vào hoạt động đầu tư hiện tại ở các quốc gia xung quanh nước chủ nhà tiềm năng, công ty không chỉ xem đầu tư như một tín hiệu cho các cơ hội thuận lợi và môi trường kinh doanh an toàn mà còn phải xem xét sự tồn tại của lợi ích lan tỏa Nwaogu (2012) đã sử dụng số liệu FDI của Hoa

Kỳ vào 37 nước châu Phi, 31 nước châu Mỹ Latinh và khu vực Caribe trong giai đoạn 1995-2007 Các biến nghiên cứu bao gồm: tiềm năng thị trường; dân số nước chủ nhà; GDP; chi phí thương mại; sự phát triển cơ sở hạ tầng; sự tham nhũng; các hiệp định

Trang 29

thương mại Các kết quả thực nghiệm từ mô hình SAR cho thấy: FDI của Mỹ vào Châu Phi, châu Mỹ Latinh và vùng Caribe phụ thuộc vào FDI của Mỹ đến các nước chủ nhà lân cận, bao gồm: dân số, quy mô thị trường, cơ sở hạ tầng, chi phí giao thương Dựa vào các dấu hiệu của thị trường tiềm năng và hệ số độ trễ không gian, kết quả chỉ ra rằng chiến lược FDI của Hoa Kỳ vào cả 2 khu vực được đặc trưng bởi các đặc điểm phức hợp theo chiều dọc Gamboa (2012) cũng sử dụng mô hình không gian

để nghiên cứu tác động không gian của nguồn vốn FDI từ Mỹ đến Mexico Tác giả đã thu thập dữ liệu về FDI của 32 Bang ở Mexico trong giai đoạn 1994-2004 Các biến nghiên cứu bao gồm: GDP; số lao động có trình độ; mức lương; cơ sở hạ tầng; tỷ lệ nợ quá hạn; khả năng tiếp cận thị trường Mỹ và thị trường quốc tế Trước khi áp dụng mô hình không gian, Gamboa (2012) đã sử dụng kiểm định Moran’s I và Geary’s C để chứng minh nguồn vốn FDI tại Mexico không phải phân bố một cách ngẫu nhiên mà

có sự tập trung nhất định và tác giả đã tìm ra nguồn vốn FDI vào các Bang tại Mexico

sẽ tăng khi FDI vào các bang lân cận tăng lên

Ở Việt Nam đã có một số nghiên cứu về ảnh hưởng của không gian trong thu hút FDI Đó là nghiên cứu của Hoang và Gujion (2014), Esiyok và Ugur (2015); Le và Nguyen (2017) Hoang và Gujon (2014) đã dùng mô hình kinh tế lượng không gian (cả 2 mô hình là SEM và SAR) để khám phá những yếu tố quyết định sự phân bố dòng vốn FDI giữa các tỉnh thành ở Việt Nam trong giai đoạn sau khủng hoảng châu Á Dữ liệu sử dụng trong phân tích được tác giả chia thành 2 giai đoạn: giai đoạn 2001-2006 (trước khi Việt Nam gia nhập WTO) và giai đoạn 2007-2010 (sau khi Việt Nam gia nhập WTO) Các biến nghiên cứu bao gồm: quy mô thị trường; chi phí nhân công; nguồn nhân lực; chi phí đất đai; các khu công nghiệp; tích tụ (thể hiện quá trình tích lũy khi nhà đầu tư FDI có xu hướng lựa chọn một khu vực nơi đã có các nhà đầu tư khác) và chính sách của chính phủ Đầu tiên, Hoang và Gujon (2014) kiểm định tự tương quan không gian trong ước lượng sai số OLS, chứng minh việc sử dụng mô hình sai số không gian sử dụng cách thức ước lượng hợp lý cực đại Theo nhóm nghiên cứu, mối quan hệ giữa FDI và các yếu tố quyết định truyền thống là đáng ngạc nhiên bao gồm các giới hạn về sự phụ thuộc lẫn nhau về không gian Kết quả cho thấy các tỉnh thành cạnh tranh nhau trong việc thu hút vốn FDI Theo đó, nguồn vốn FDI khi đổ vào một tỉnh sẽ làm giảm nguồn vốn FDI thu hút được của các tỉnh lân cận cho cả hai giai

Trang 30

đoạn: trước khi Việt Nam gia nhập WTO và sau khi Việt Nam gia nhập WTO Ngoài

ra, các yếu tố: con người, sự xuất hiện của đặc khu kinh tế, quy mô thị trường, chi phí lao động, năng suất lao động đều có tác động đến nguồn vốn FDI; mức độ quần tụ của doanh nghiệp, bao gồm cả doanh nghiệp nước ngoài và doanh nghiệp trong nước có tác động mạnh đến nguồn vốn FDI

Esiyok và Ugur (2015) cho rằng, dòng vốn FDI chảy vào Việt Nam đã tăng một cách đáng kể trong những năm gần đây và đã được phân bố không đồng đều giữa các địa phương cấp tỉnh Nghiên cứu này nhằm mục đích điều tra các yếu tố về vị trí có ảnh hưởng đến FDI ở 62 tỉnh thành ở Việt Nam và yếu tố không gian có ảnh hưởng quan trọng đến FDI không, các nhà nghiên cứu và các nhà hoạch định chính sách có cần tính đến yếu tố này không? Các biến nghiên cứu bao gồm: GDP bình quân đầu người cấp tỉnh; chi phí nhân công; quy mô đầu tư trong nước cấp tỉnh; số học sinh THCS trên 1000 người ở mỗi tỉnh; mức độ mở cửa thương mại; PCI Nghiên cứu sử dụng mô hình hồi quy không gian SRM, ước lượng OLS, kiểm định LM để nghiên cứu

sự phụ thuộc FDI ở Việt Nam từ năm 2006 đến năm 2009 Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng: số học sinh trung học, thu nhập bình quân đầu người ở một tỉnh thành cụ thể, chi phí lao động, mức độ mở cửa thương mại và đầu tư trong nước có tác động trực tiếp đến FDI trong tỉnh đó và có ảnh hưởng gián tiếp đến FDI của các tỉnh lân cận Các ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp này đồng thời tồn tại với các hiệu ứng lan tỏa và có sự phụ thuộc về không gian giữa các tỉnh

Le và Nguyen (2017) sử dụng mô hình SDM để phân tích tác động trực tiếp và gián tiếp của các yếu tố ảnh hưởng đến FDI của các tỉnh thành Việt Nam Nghiên cứu này kế thừa các nghiên cứu đi trước trong việc xác định các yếu tố chính có tác động đến vốn FDI như: quy mô thị trường, chi phí lao động, chất lượng lao động, hệ thống

cơ sở hạ tầng và đưa thêm một số yếu tố mới vào mô hình như: mức độ quần tụ doanh nghiệp, mức độ đô thị hóa Le và Nguyen (2017) sử dụng bộ dữ liệu trong giai đoạn 2011-2014 (giai đoạn sau khủng hoảng tài chính) để phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến FDI tại 63 tỉnh thành Việt Nam Các biến nghiên cứu bao gồm: quy mô thị trường, chi phí lao động, chất lượng lao động, cơ sở hạ tầng, mức độ quần tụ và mức độ đô thị hóa Kết quả nghiên cứu chung cho thấy, FDI đổ vào các địa phương gần nhau thì mang tính cạnh tranh Nguồn vốn FDI vào một địa phương cụ thể sẽ làm giảm FDI

Trang 31

vào địa phương láng giềng Đó là tình trạng chung diễn ra sau khi khủng hoảng tài chính toàn cầu kết thúc Tuy nhiên, có bằng chứng cho thấy FDI không những phụ thuộc vào chính bản thân mỗi địa phương mà còn phụ thuộc không nhỏ vào các địa phương khác, tức là có ảnh hưởng lẫn nhau giữa các địa phương trong thu hút FDI Quy mô của thị trường, chất lượng nguồn lao động và mức độ quần tụ doanh nghiệp

có tác động đến FDI và có tính chất lan tỏa khỏi ranh giới địa phương Với kết quả nghiên cứu này, các địa phương có thể phối hợp với nhau để tận dụng tính hấp dẫn của quy mô thị trường, chất lượng lao động nhằm thu hút FDI cho toàn vùng Các chính sách thu hút lao động có chất lượng và tay nghề, cung cấp chương trình nâng cao kiến thức, chuyên môn của người lao động của một địa phương sẽ có tác động lan tỏa đến nhiều địa phương trong vùng, làm gia tăng tính hấp dẫn của toàn vùng Bên cạnh đó, việc tạo một môi trường tốt cho doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp tư nhân tồn tại và phát triển cũng sẽ có tác động tích cực đến lượng đầu tư nước ngoài Và tác động này vượt ra khỏi ranh giới hành chính địa phương thông thường (Le và Nguyen, 2017)

1.1.2 Khoảng trống nghiên cứu của luận án

Các nghiên cứu trước đây sử dụng cả mô hình truyền thống (phi không gian) và

mô hình không gian để nghiên cứu mối quan hệ giữa FDI và các yếu tố ảnh hưởng đến thu hút FDI Đối với các nghiên cứu sử dụng mô hình không gian, các nghiên cứu trên

đã sử dụng các mô hình, các biến nghiên cứu và bộ dữ liệu trong các giai đoạn khác nhau để chứng minh được sự ảnh hưởng của các địa phương lân cận trong thu hút FDI Tuy nhiên, các nghiên cứu trên còn một số nội dung chưa được làm rõ hoặc chưa đề cập đến như: (1) Chưa hệ thống hóa và luận giải những vấn đề lý luận cơ bản về ảnh hưởng lẫn nhau giữa các địa phương trong thu hút FDI; (2) Phạm vi nghiên cứu chưa thể hiện được tính “vùng” trong thu hút FDI bởi sự ảnh hưởng lẫn nhau trong thu hút FDI giữa các địa phương được thể hiện rõ nét nhất ở trong một phạm vi nhất định (các tỉnh lân cận hoặc trong phạm vi một vùng) Do đó, các nghiên cứu trước chưa xây dựng được mô hình nghiên cứu ảnh hưởng lẫn nhau giữa các địa phương trong thu hút FDI của một vùng; (3) Trong các nghiên cứu trước đây chưa thực hiện phương pháp phân tích PMG (Pooled Mean Group) để đánh giá tác động ngắn hạn và dài hạn của các biến giải thích đến biến phụ thuộc Điều này là cần thiết bởi có biến giải thích có thể có tác động tích cực trong ngắn hạn nhưng lại tác động tiêu cực trong dài hạn hoặc ngược lại

Trang 32

Qua quá trình tổng quan tài liệu nghiên cứu, tác giả nhận thấy rằng: lĩnh vực nghiên cứu về ảnh hưởng lẫn nhau trong thu hút FDI giữa các địa phương lân cận cần được tiếp tục nghiên cứu để hoàn thiện cả về lý luận, nội dung nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu Nghiên cứu của tác giả vừa kế thừa, vừa khắc phục hạn chế các nghiên cứu đi trước trong việc nghiên cứu ảnh hưởng lẫn nhau của các địa phương trong thu hút FDI Trong luận án, tác giả sẽ luận giải, hoàn thiện những vấn đề lý luận

cơ bản về ảnh hưởng lẫn nhau giữa các địa phương trong thu hút FDI Đề xuất mô hình nghiên cứu ảnh hưởng lẫn nhau giữa các địa phương trong thu hút FDI của một vùng, cụ thể là tại vùng Đồng bằng sông Hồng Tác giả sử dụng mô hình SDM (thông qua tác động gián tiếp) để phân tích ảnh hưởng lẫn nhau trong thu hút FDI của các địa phương cấp tỉnh thuộc vùng Đồng bằng sông Hồng Mô hình SDM khắc phục hạn chế của mô hình SEM vốn không cho phép tính được tác động gián tiếp Trong khi đó, mặc dù mô hình SAR vẫn có thể cho phép tính tác động gián tiếp nhưng hệ số tác động gián tiếp/tác động trực tiếp trong mô hình SAR cho mọi biến giải thích luôn bằng nhau Theo Elhorst (2010), điều này sẽ khó có thể xảy ra trong thực tế (Le và Nguyen, 2017) Bên cạnh đó, tác giả bổ sung phương pháp phân tích PMG để đánh giá tác động ngắn hạn và dài hạn của các biến giải thích đến biến phụ thuộc Đồng thời, tác giả giới hạn phạm vi không gian nghiên cứu tại một vùng cụ thể là vùng Đồng bằng sông Hồng

để thấy rõ hơn sự tác động lẫn nhau của các địa phương trong một vùng trong hoạt động thu hút FDI Tác giả lựa chọn nghiên cứu tại Vùng Đồng bằng sông Hồng vì: (i) Đồng bằng sông Hồng là vùng có vị trí, vai trò quan trọng và là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của cả nước; (ii) là vùng thu hút được FDI lớn thứ hai cả nước, chỉ sau vùng Đông Nam Bộ

1.2 Quy trình nghiên cứu của luận án

Quy trình nghiên cứu của luận án được thể hiện thông qua các bước như hình 1.1, cụ thể bao gồm các bước như sau: xác định mục tiêu nghiên cứu; tổng quan nghiên cứu; xây dựng cơ sở lý luận; phân tích ảnh hưởng lẫn nhau giữa các địa phương (kiểm định Global Moran’s I; kiểm định AIC; kiểm định Hausman và hệ số

độ trễ không gian Rho; hồi quy để kiểm tra tác động của các yếu tố ảnh hưởng; hồi quy PMG) và đề xuất giải pháp

Trang 33

Hình 1.1: Quy trình nghiên cứu của luận án

(Nguồn: Tác giả đề xuất)

B2: Tổng quan nghiên cứu Đề xuất mô hình nghiên cứu

Hồi quy để kiểm tra tác động của

các yếu tố ảnh hưởng

Kiểm định Hausman và hệ số độ

trễ không gian Rho

Kết quả tác động trực tiếp, tác động gián tiếp và tổng tác động

B3: Xây dựng cơ sở lý luận

Lựa chọn mô hình không gian

Hình thành cơ sở lý luận

Kiểm định sự tự tương quan giữa

các địa phương Kiểm định Global Moran’s I

Kiểm định AIC Lựa chọn ma trận không gian

Hồi quy PMG

B5: Đề xuất giải pháp

Đánh giá tác động trong ngắn hạn và dài hạn

B1: Xác định mục tiêu nghiên cứu Đề xuất câu hỏi nghiên cứu

B4: Phân tích ảnh hưởng lẫn

nhau giữa các địa phương Kết quả nghiên cứu

Trang 34

- Bước 1: Xác định mục tiêu nghiên cứu

Trong bước này, tác giả tiến xác định mục tiêu nghiên cứu chung và mục tiêu nghiên cứu cụ thể của luận án Từ mục tiêu nghiên cứu, tác giả đề xuất các câu hỏi nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án cần thực hiện để trả lời được các câu hỏi nghiên cứu nhằm đạt được mục tiêu nghiên cứu đã đề ra

- Bước 2: Tổng quan nghiên cứu

Trong bước này, tác giả tiến hành tìm hiểu các nghiên cứu trước đây của cả các nhà nghiên cứu ở trong nước và các nhà nghiên cứu ở nước ngoài Sau đó, tác giả tiến hành phân tích, phân chia hướng nghiên cứu thành 02 hướng nghiên cứu chính nghiên cứu về thu hút FDI Nghiên cứu của tác giả theo hướng nghiên cứu thứ hai, nghiên cứu ảnh hưởng lẫn nhau của các địa phương trong thu hút FDI Từ tổng quan nghiên cứu, tác giả đề xuất mô hình nghiên cứu

- Bước 3: Xây dựng cơ sở lý luận

Trong bước này, tác giả tiến hành hệ thống hóa, luận giải những vấn đề lý luận

cơ bản về ảnh hưởng lẫn nhau giữa các địa phương trong thu hút FDI Đây là nền tảng

lý luận quan trọng cho nội dung phân tích thực trạng ảnh hưởng lẫn nhau giữa các địa

phương thuộc vùng Đồng bằng sông Hồng trong thu hút FDI

- Bước 4: Phân tích ảnh hưởng lẫn nhau giữa các địa phương trong thu hút FDI

Sau khi tác giả đã thu thập được đầy đủ số liệu về các biến trong mô hình nghiên cứu, tác giả tiến hành mã hóa, làm sạch dữ liệu để phục vụ cho nghiên cứu định lượng, phân tích ảnh hưởng lẫn nhau giữa các địa phương thuộc vùng Đồng bằng sông Hồng trong thu hút FDI Để kiểm định các giả thuyết nghiên cứu, tác giả sử dụng kỹ thuật phân tích không gian với sự hỗ trợ của phần mềm Stata Trong nội dung của bước 4 có các nội dung phân tích cụ thể sau:

+ Kiểm định Global Moran’s I

Kiểm định Global Moran’s I của FDI để kiểm tra có hay không sự tự tương quan không gian giữa các địa phương Nếu có sự tự tương quan không gian giữa các địa phương chứng tỏ các phương pháp ước lượng thông thường bỏ qua sự tương tác không gian giữa các quan sát sẽ dẫn đến ước lượng chệch và không phù hợp

Trang 35

+ Kiểm định AIC

Thực hiện kiểm định AIC đối với các mô hình hồi quy sử dụng ma trận trọng số khác nhau để từ đó chọn ra được ma trận không gian có kết quả tốt nhất cho nghiên cứu

+ Kiểm định Hausman và hệ số độ trễ không gian Rho

Ở bước này thực hiện cả kiểm định SAR, kiểm định SEM, kiểm định Hausman

và thống kê Rho Thông qua các kết quả này để lựa chọn được mô hình không gian tối

ưu nhất cho nghiên cứu

+ Hồi quy để kiểm tra tác động của các yếu tố ảnh hưởng

Bước này cho thấy kết quả của tác động biên gồm: tác động trực tiếp, tác động gián tiếp và tổng tác động Trong đó, tác động trực tiếp sẽ đề cập đến việc các yếu tố

từ mỗi địa phương sẽ tác động như thế nào đến việc thu hút vốn FDI của chính nó Tác động gián tiếp sẽ đề cập đến tác động của một yếu tố của các địa phương lân cận lên vốn FDI của một địa phương cụ thể Tổng tác động cho biết sự thay đổi một yếu tố nào

đó trong một địa phương sẽ tác động lên việc thu hút FDI của chính địa phương đó và những địa phương lân cận

+ Hồi quy PMG (Pooled Mean Group)

Phương pháp PMG xem xét tính đồng liên kết của số liệu và cho phép ước lượng các hệ số trong cả dài hạn và ngắn hạn Kết quả thực hiện hồi quy PMG sẽ cho biết sự khác biệt giữa các nhân tố ảnh hưởng đến thu hút FDI trong ngắn hạn và dài hạn

- Bước 5: Đề xuất giải pháp

Sau khi đã kiểm định kết quả của mô hình và giả thuyết nghiên cứu, tác giả sẽ tóm tắt những kết quả đạt được của đề tài Từ những kết quả nghiên cứu đó, tác giả đề xuất một số giải pháp phát huy những ảnh hưởng tích cực, hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực giữa các địa phương thuộc vùng Đồng bằng sông Hồng trong thu hút FDI

1.3 Phương pháp nghiên cứu của luận án

a) Phương pháp thu thập số liệu

Nguồn dữ liệu được tác giả thu thập từ các nguồn như: giáo trình, bài báo khoa học trong và ngoài nước, tài liệu hội thảo chuyên đề, đề tài khoa học công nghệ các

Trang 36

cấp, luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ, văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam, thông tin chuyên đề trên các website, số liệu từ Cục Đầu tư nước ngoài, Niên giám thống kê của các tỉnh thuộc vùng Đồng bằng sông Hồng, từ Tổng cục Thống kê

b) Phương pháp phân tổ thống kê

Phương pháp phân tổ thống kê được áp dụng rộng rãi trong nghiên cứu khoa học Áp dụng phương pháp này trong luận án, tác giả sử dụng phương pháp phân tổ thống kê để chia số liệu thu thập được thành các nhóm khác nhau dựa trên các mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu Đây là cơ sở để tác giả tiến hành phân tích mô tả, so sánh

và phân tích định lượng

c) Phương pháp thống kê mô tả

Áp dụng phương pháp này, các số liệu thu thập được sẽ được liệt kê theo thời gian theo từng chỉ tiêu cụ thể Phương pháp này kết hợp với phân tích đồ họa đơn giản như các đồ thị mô tả dữ liệu, biểu diễn các dữ liệu thông qua đồ thị, bảng biểu diễn số liệu tóm tắt Trong luận án là các bảng biểu thể hiện số lượng, cơ cấu của chỉ tiêu nghiên cứu Từ các bảng số liệu, tác giả sẽ sử dụng các biểu đồ để thấy rõ hơn cũng như có cái nhìn sinh động hơn về cơ cấu của các yếu tố đang phân tích

d) Phương pháp so sánh

Phương pháp so sánh cũng là một trong những phương pháp được áp dụng rộng rãi trong nghiên cứu khoa học Áp dụng phương pháp này trong luận án, tác giả sẽ sử dụng các hàm cơ bản trong phần mềm excel để tính toán các mức độ biến động như xác định giá trị tương đối của chỉ tiêu nghiên cứu, lập bảng phân tích so sánh qua các năm để xem mức độ tăng, giảm và phân tích nguyên nhân của sự tăng, giảm đó

e) Phương pháp chuyên gia

Phương pháp chuyên gia là phương pháp thu thập thông tin khoa học bằng cách

sử dụng trí tuệ của đội ngũ chuyên gia có trình độ cao Trong luận án, tác giả đã lựa chọn một số chuyên gia có uy tín, có chuyên môn sâu cũng như có kinh nghiệm thực tiễn để tác giả tham vấn ý kiến Đó là những ý kiến quý báu để tác giả hoàn thiện luận

án của mình

Trang 37

f) Phương pháp hồi quy không gian

Phân tích không gian hoặc thống kê không gian bao gồm các kỹ thuật nghiên cứu các thực thể sử dụng các thuộc tính tôpô, hình học, đặc biệt là địa lý (trong kinh tế học) để phân tích kinh tế lượng Hồi quy không gian sử dụng thuật toán địa điểm và thời gian để nghiên cứu các mối quan hệ tác động giữa các biến độc lập tới biến phụ thuộc trong mô hình Theo đó, các quốc gia, khu vực địa lý, luôn có sự tương tác, ảnh hưởng lẫn nhau trong quá trình vận hành của nền kinh tế Đặc biệt, trong thời kỳ toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế như hiện nay, sự tương tác này ngày càng trở lên mạnh mẽ Sự ảnh hưởng lên các địa phương gần nhau được gọi là “tác động không gian” (Spatial Effects) và đã được nghiên cứu trong một số lĩnh vực như: địa lí, quy hoạch, khoa học vùng và kinh tế Về vấn đề nghiên cứu định lượng, tác giả rất mong muốn và đã tiến hành tìm hiểu từ một số chuyên gia cũng như thu thập từ các tài liệu liên quan nhưng rất tiếc chưa có công trình nghiên cứu nào về phương pháp định lượng đối với ảnh hưởng lẫn nhau giữa các địa phương trong thu hút FDI Do đó, tác giả đã cố gắng tìm tòi phương án để đánh giá định lượng về ảnh hưởng giữa các địa phương trong thu hút FDI ở một vùng cụ thể Trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng

mô hình kinh tế lượng không gian Durbin (SDM) để nghiên cứu ảnh hưởng lẫn nhau giữa các địa phương thuộc vùng Đồng bằng sông Hồng trong thu hút FDI

- Dữ liệu bảng không gian

Việc sử dụng mô hình kinh tế lượng không gian với dữ liệu bảng có nhiều ưu điểm và được coi là phương pháp ước lượng phù hợp và chính xác hơn bởi nó bao hàm

cả sự phụ thuộc về không gian và thời gian đối với các quan sát (Anselin & cộng sự, 2004; Elhorst & Vega, 2013) Khi xem xét các tác động kinh tế, yếu tố thời điểm và vị trí luôn là những nhân tố quan trọng để đánh giá toàn diện và chuẩn xác tình hình thực

tế của hiện tượng kinh tế Khác với các loại dữ liệu khác, dữ liệu bảng không gian là một trường hợp đặc biệt của dữ liệu bảng thông thường, khi kết hợp đặc tính “không gian” và “thời gian” Số liệu bảng không gian được hình thành từ sự tập hợp số liệu của các đối tượng riêng rẽ, cập nhật thường xuyên Chính vì thế, số liệu bảng không gian rất đa dạng, phong phú, phản ánh đầy đủ sự biến động của sự vật, hiện tượng, từ

dữ liệu kinh tế vĩ mô quốc gia, cũng như số liệu chuyên sâu về các vấn đề kinh tế xã hội cụ thể

Trang 38

Thông thường, nghiên cứu hồi quy không gian sử dụng dữ liệu chéo hoặc chéo gộp, tuy nhiên, các nghiên cứu gần đây bắt đầu quan tâm tới tới dữ liệu theo không gian và theo thời gian Theo Baltagi và cộng sự (2003), các ưu điểm của dữ liệu bảng không gian so với dữ liệu chéo có thể được kể đến bao gồm: (i) Việc phân tích sử dụng

dữ liệu bảng không gian sẽ bao gồm cả sự khác biệt các đặc trưng (heterogeneity) cho từng quan sát trong nghiên cứu Đây là điều mà dữ liệu chéo hoặc dữ liệu chuỗi thời gian không có được Điều này khiến cho việc ước lượng và phân tích hồi quy được chính xác, đầy đủ hơn; (ii) Dữ liệu bảng không gian cung cấp nhiều thông tin hơn so với dữ liệu chéo hay dữ liệu chuỗi thời gian Về nguyên tắc, dữ liệu càng đầy đủ và toàn diện, việc phân tích sẽ chính xác hơn, đồng thời các sai số dễ dàng được khắc phục hơn (ví dụ hiện tượng đa cộng tuyến); (iii) Đối với các nghiên cứu có tính thay đổi và biến động cao (như thu nhập, lao động, dòng vốn FDI, ), dữ liệu bảng không gian là cực kỳ phù hợp vì phản ánh được cả mặt “không gian” và “thời gian” của quan sát (iv) Do hàm chứa cả đặc tính không gian và đặc tính thời gian, nên dữ liệu bảng không gian cho phép các công cụ phân tích đánh giá toàn diện và chính xác hơn các biến động kinh tế xã hội, đặc biệt là các tác động - điều mà phân tích dữ liệu chéo hoặc

dữ liệu theo thời gian có rất hạn chế; và (v) Dữ liệu bảng cho phép chúng ta nghiên cứu các mô hình có hành vi phức tạp Ước lượng dữ liệu bảng cũng cần những công cụ chuyên biệt Với dữ liệu chéo, ta dễ dàng có thể sử dụng OLS khi các giả định BLUE đạt được Tuy nhiên, với dữ liệu bảng ước lượng OLS sẽ bị lệch do không bao gồm các tính cá nhân riêng biệt của quan sát Để giải quyết vấn đề này, cũng như khắc phục các hiện tượng phương sai thay đổi hay tự tương quan, mô hình tác động cố định (Fixed Effect Model- FEM) hay mô hình tác động ngẫu nhiên (Random Effect Model -REM) là những công cụ hiệu quả

- Mô hình kinh tế lượng không gian với dữ liệu bảng

Như đã phân tích ở trên, hồi quy sử dụng dữ liệu bảng không gian đang là một

xu thế quan trọng trong kinh tế học và được nhiều nghiên cứu đề cập tới (Anselin và cộng sự, 2004; Baltagi và Liu, 2008; Baltagi và cộng sự, 2003; Elhorst (2003, 2010); Kapoor và cộng sự, 2007) Đặc biệt, Elhorst (2003, 2010) đã chỉ ra những vấn đề phát sinh và khó khăn trong việc phân tích và ước lượng mô hình kinh tế lượng không gian

Trang 39

Tổng thể, các mô hình ước lượng chính bao gồm: Mô hình hiệu ứng cố định, mô hình hiệu ứng ngẫu nhiên, mô hình hệ số cố định và mô hình hệ số ngẫu nhiên Đối với dữ liệu bảng không gian, theo Chou và cộng sự (2015) và Elhorst (2003, 2010) Có 03 mô hình chính được sử dụng để ước lượng bao gồm: mô hình SLM, mô hình SEM và mô hình SDM Ở khía cạnh khác, theo Vega & Elhorst (2015) và Nguyễn Văn Sĩ & Nguyễn Viết Bằng (2019) các mô hình này được phát triển từ mô hình không gian tổng quát (GNS-General Nesting Spatial) Mô hình GNS là mô hình nền tảng chung cho tất cả các nghiên cứu về hiệu ứng không gian tương quan, vốn là một vấn đề mới hiện nay và cần được tập trung phân tích để cung cấp những đánh giá tác động một cách toàn diện và chuẩn xác nhất Mô hình (GNS) dữ liệu bảng không gian dạng tổng quát có hàm như sau:

β là véc tơ hệ số của k biến giải thích;

u là véc tơ sai số và W là ma trận không gian của N quan sát

Mô hình tổng quát (1) bao hàm 3 tương tác không gian gồm có tương tác nội

sinh ρWy; tương tác ngoại sinh Wxθ và tương tác thông qua sai số λWu Một điều hiển

nhiên, chúng ta sẽ luôn mong muốn tối ưu hóa việc nghiên cứu đồng thời cả 3 tương tác này Tuy nhiên, theo Elhorst (2010), việc sử dụng mô hình GNS sẽ khiến cho tương tác nội sinh và tương tác ngoại sinh không thể tách biệt với nhau, vì vậy, ít nhất

1 tương tác sẽ phải bị loại bỏ khỏi mô hình Cũng theo Elhorst (2010), cách tối ưu nhất

là loại bỏ tương tác không gian qua sai số Từ mô hình (1), có thể tạo ra nhiều biến thể các mô hình không gian khác nhau, tuy nhiên 3 mô hình phổ biến nhất là mô hình SAR, mô hình SEM và mô hình SDM (Le và Nguyen, 2017) Một ưu thế của mô hình

Trang 40

SDM so với mô hình SAR và SEM là mô hình SDM bao hàm cả mô hình SAR và SEM và vì vậy, mô hình SDM vẫn có thể cho kết quả ước lượng không chệch dù cấu trúc dữ liệu là mô hình SAR hay mô hình SEM Điều này có thể minh chứng khi thay

hệ số θ = 0 vào mô hình SDM thì sẽ có được mô hình SAR Tương tự, nếu như hệ số θ

= – βλ thì sẽ có được mô hình SEM (Le và Nguyen, 2017) Chính vì vậy, trong nghiên

cứu này, tác giả sử dụng mô hình không gian Durbin (SDM) Mô hình kinh tế lượng không gian Durbin (SDM) như sau:

hay y=(I- -1 (x )+ (I- -1  (4)

Từ mô hình (4), Elhortst (2010) đã cho ma trận đạo hàm của biến phụ thuộc y với biến giải thích x thứ n từ quan sát 1 đến quan sát thứ N như sau:

Theo Elhorst (2010), tác động trực tiếp sẽ là đường chéo chính của ma trận (5)

và tác động gián tiếp sẽ là các dòng hoặc cột (không bao hàm đường chéo chính) của

ma trận (5) Ngoài ra, số nhân không gian (I – ρW)-1 được triển khai ra như sau:

(I- -1 = I +  (6)

Ngày đăng: 30/05/2021, 08:02

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w