1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

BẤT BÌNH ĐẲNG GIỚI Ở NÔNG THÔN

20 2,9K 13
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 112 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BẤT BÌNH ĐẲNG GIỚI Ở NÔNG THÔNBạn đã nhập tối đa: 6 tags.

Trang 1

Thảo luận nhóm:

Chủ đề:

BẤT BÌNH ĐẲNG GIỚI Ở NÔNG THÔN

DANH SÁCH NHÓM

1 Lê Thị Thành Tuyên

2 Nguyễn Thị Hiền

3 Nguyễn Minh Trang

4 Triệu Đức Tính

5 Võ Bá Hiếu

6 Lê Thị Mai

Trang 2

I KHÁI NIỆM VÀ CÁC QUAN ĐIỂM VỀ BBĐ GIỚI

1 Khái niệm

a Bất bình đẳng

Theo Hoàng Bá Thịnh:

“Bất bình đẳng là sự không bình đẳng (không ngang bằng nhau)về các cơ hội và lợi ích đối với những cá nhân khác nhau trong một nhóm hoặc giữa các nhóm xã hội”

(Hoàng Bá Thịnh, 1997, 1999,2000, 2001, 2006, 2008:224)

b Bất bình đẳng xã hội:

Là vấn đề trọng tâm của xã hội học, bất bình đẳng có ý nghĩa quyết định đối với sự phân tầng xã hội Do vậy, các nhà xã hội học quan tâm tới những cách thức mà các nhóm xã hội có mối quan hệ bất bình đẳng với những nhóm xã hội khác Những thành viên của mỗi nhóm xã hội sẽ có những đặc điểm chung và luôn coi vị trí bất bình đẳng của mình sẽ được truyền lại cho con cái của họ

Trang 3

Có những định nghĩa khác nhau về bất bình đẳng xã hội, sau đây chỉ là một trong những định nghĩa về bất bình đẳng xã hội:

“Bất bình đẳng xã hội là điều kiện mà ở đó con người có sự tiếp cận không bình dẳng về các nguồn lực có giá trị, các dịch vụ và những vị trí trong xã hội”

(Harold R Kerbo:1996:10).

Bất bình đẳng xã hội là một hiện tượng phổ biến từ khi xã hội

có giai cấp Sự bất bình đẳng tồn tại khắp các quốc gia, chỉ khác nhau về mức độ bất bình đẳng mà thôi Bất bình đẳng xã hội thường được thể hiện rõ nhất qua sự phân tầng giàu – nghèo, nói cách khác, người ta thường căn cứ vào số lượng của cải mà quốc gia hoặc cá nhân có được để xếp hạng

c Bất bình đẳng giới

Bất bình đẳng giới: Nói một cách đơn giản, đó là sự không

ngang bằng nhau giữa cá nhân nam giới và phụ nữ, giữa các nhóm phụ nữ và nam giới trong các cơ hội, việc tiếp cận các nguồn lực

và sự sử dụng, hưởng thụ những thành quả xã hội

d Bất bình đẳng giới ở nông thôn

Bất bình đẳng giới ở nông thôn tức là sự không ngang bằng nhau giữa các nhân nam giới và phụ nữ, giữa các nhóm phụ nữ và nam giới trong các cơ hội, tiếp cận các nguồn lực và sự sử dụng, hưởng thụ những thành quả xã hội xảy ra trên khu vực nông thôn

2 Các quan điểm về BBĐ giới

Bất bình đẳng nam nữ ( bất bình đẳng giới) là một hiện tượng xuất hiện trong quá trình phát triển của nhân loại Sự áp bức phụ nữ

là hình thức áp bức sớm nhất trong lịch sử nhân loại, theo cách diễn đạt của F Engels: “Sự đối lập giai cấp đầu tiên xuất hiện trong lịch

Trang 4

sử là trùng với sự phát triển đối kháng giữa chồng và vợ trong hôn nhân cá thể và sự áp bức đầu tiên là trùng với sự nô dịch của đàn ông đối với đàn bà” Đây là một số quan điểm về bất bình đẳng giới:

a.

Nhìn nhận từ góc độ triết lý

Chịu ảnh hưởng tư tưởng quan niệm bất bình đẳng giới, coi thường phụ nữ của các danh nhân trong các thế kỷ trước Trong lịch

sử hình thành con người: Thượng đế tạo con người không hề nghĩ ra phụ nữ, sau này thượng đế lấy xương sườn thứ 7 của nam giới làm

ra phụ nữ, chẳng qua là tạo nên nữ giới từ việc lấy thêm một bộ phận của nam giới mà thôi Một nền văn hóa coi phụ nữ như là một loại của cải (như ngôi nhà, con trâu ), là một loại hình của cải của nam giới

b.

Quan điểm “ văn hóa cao hơn tự nhiên

Khái niệm “tuyết nữ quyền sinh thái”, do bà Francoise d’ Eaubonne, một phụ nữ đấu tranh cho nữ quyền, tạo nên và được phát triển quảng bá Khái niệm này lập luận rằng phụ nữ gần với thiên nhiên hơn nam giới, còn nam giới gần với văn hóa hơn( và Asdfi thống trị phụ nữ( K Neefjs, 2003:30) Những quan điểm văn hóa cao hơn tự nhiên cho rằng cái gì có giá trị thường gắn liền với văn hóa, còn cái gì ít có giá trị gắn liền với tự nhiên Và những người theo quan điểm trên đã lấy điều này để giải thích sự bất bình đẳng về giới

c.

Lý thuyết chân đế - bệ đỡ

Những người theo quan điểm này ca ngợi thiên chức của phụ nữ sinh con để duy trì nhân loại, chăm sóc và nuôi dạy thế hệ trẻ, phụ

nữ thực hiện chức năng tình cảm, tạo nên sự bình yên,ấm êm trong gia đình và có vai trò quan trọng trong các hoạt động xã hội Phụ nữ đảm nhận những công việc đó tạo điều kiện cho nam giới có nhiều thuận lợi tập trung vào công việc, phấn đấu công danh, sự nghiệp Với sự hy sinh vì chồng, vì con của người phụ nữ cũng giống như cái chân đế - bệ đỡ

Trang 5

II THỰC TRẠNG VỀ BBĐ GIỚI Ở NÔNG THÔN VIỆT

NAM

1 Trong lịch sử

a)Bất bình đẳng giới ở nông thôn trong đời sống xã hội xưa

Chế độ phong kiến Việt Nam tồn tại hàng ngàn năm với những điều luật vô cùng khắc nghiệt Chế độ phụ hệ tồn tại lâu đời

và nam giới là người quyết định trong mọi vấn đề của gia đình và xã hội Phụ nữ bị gắn chặt vào những luật lệ, luật tục của chế độ phong kiến Ví dụ: “ xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử” hay “ công dung ngôn hạnh” Phụ nữ không có quyền hành gì trong mọi việc của gia đình và xã hội, mọi việc do đàn ông quyết định Công việc của người phụ nữ là ở nhà sinh đẻ và bị giới hạn hoàn toàn về công việc của xã hội Đăc biệt, phụ nữ không được quyền học hành thi cử

Những định kiến về nữ giới trong thời kỳ phong kiến rất sâu sắc đặc biệt là phụ nữ nông thôn

Trước Cách mạng tháng Tám, phụ nữ Việt Nam vẫn phải chịu những luật lệ hà khắc của chế độ cũ Một người phụ nữ “chửa hoang” thì bị xã hội lên án nặng nề và phải chịu những hình phạt dã man như “cạo đầu bôi vôi” hay “thả bè trôi sông” Trong khi đó, nam giới thì năm thê bảy thiếp

Như vậy có thể nói tư tưởng trọng nam khinh nữ đã ăn sâu vào tiềm thức của con người Việt Nam

Vấn đề định kiến về giới và sự bất bình đẳng giới trong xã hội

cũ đã được ca dao tục ngữ và thành ngữ Việt Nam thể hiện khá rõ rệt Định kiến giới đánh giá thấp vai trò vị trí năng lực của người phụ nữ, điều này vẫn tồn tại đến ngày nay

Thân em như hạt mưa xa

Trang 6

Hạt rơi xuống giếng hạt ra vườn hồng

(ca dao Việt Nam)

Kể cả trong thơ văn, nhiều nhà thơ đã lên tiếng xót xa cho thân phận người phụ nữ, mà tiêu biểu là Nguyễn Du trong tác phẩm Truyện Kiều

"Đau đớn thay phận đàn bà Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung”

ta hiện nay

a Bất bình đẳng giới trong lao động

 Phụ nữ làm nhiều việc hơn nam giới

Ở các vùng nông thôn thời gian lao động tạo thu nhập của phụ nữ và nam giới là xấp xỉ như nhau Tuy nhiên, phụ nữ dành thời gian nhiều gần gấp đôi nam giới cho các công việc nhà mà không được trả công

Theo thống kê của cuộc khảo sát tại hai xã thuộc Nam Định: công việc trong gia đình (nấu ăn, dọn dẹp) phần lớn do người phụ

nữ đảm nhiệm (90%) còn nam giới thì không tham gia nhiều (10%) Nguyên nhân đưa ra đó là công việc bếp núc là của đàn bà, phụ nữ thì phải công, dung, ngôn, hạnh

Số liệu của Điều tra mức sống hộ gia đình Việt Nam năm 2002 cho thấy phụ nữ tập trung cao trong số những người làm việc từ 51 đến 60 giờ một tuần, thậm chí hơn 61 giờ một tuần Điều

Trang 7

tra này trong năm 2004 thấy rằng trong khi phụ nữ bỏ ra thời gian tương đương với nam giới trong các hoạt động kiếm thu nhập thì nam giới lại không chia sẻ công việc nhà ở mức tương đương khiến cho nhìn chung, phụ nữ phải chịu gánh nặng công việc không cân bằng (NHTG, 2006)

Ủy ban quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ (NCFAW 2005) cho biết khi phụ nữ và nam giới làm việc với số giờ tương đương trong sản xuất và kinh doanh, thì phụ nữ sử dụng thời gian nhiều cho việc nhà hơn 2.5 lần so với nam giới ở thành thị và 2.3 lần ở vùng nông thôn

Phụ nữ nông thôn ở tất cả các lứa tuổi đều có tổng thời gian làm việc nhiều hơn nam giới Điều đó đã ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ và gia đình của họ, thiếu thời gian nghỉ ngơi, giải trí và tham gia các hoạt động xã hội trong cộng đồng cũng như các cơ hội tham gia đảm nhận các vị trí quản lý và lãnh đạo, có rất ít thời gian để tham gia vào các khoá đào tạo, bồi dưỡng để nâng cao trình độ, kỹ năng và sự tự tin do đó khả năng di động xã hội của phụ nữ thấp hơn rất nhiều so với nam giới

 Khác biệt về thu nhập

Ở nước ta, nghiên cứu cho thấy phụ nữ thu nhập thấp hơn nam giới trong mọi ngành nghề Trung bình năm 2004, một phụ nữ kiếm được 83% so với lương của nam giới ở thành thị và 85% so với lương của nam giới ở nông thôn (WB và các tổ chức khác, 2006)

Sự bất bình đẳng giới về thu nhập trong lao động có thể phản ánh

sự kết hợp của các yếu tố trong đó có sự khác biệt về trình độ văn hóa, chuyên môn, kinh nghiệm và những nguyên nhân khác cộng với sự phân biệt đối xử

Trang 8

b Đại diện của phụ nữ ở các cấp ra quyết định trong các ngành còn rất ít

Hiện có rất ít cán bộ chủ chốt là nữ trong các ban, ngành, đoàn thể Tính chung trong tất cả các Cục, Vụ, Viện, Tổng Công ty và các trường trong mỗi ngành chỉ có trung bình 5,7% cán bộ lãnh đạo ( cấp phó và tương đương) là nữ Trên toàn quốc phụ nữ chỉ chiếm 4,5% lãnh đạo các UBND xã; 4,9% lãnh đạo UBND huyện và 6,4% lãnh đạo UBND tỉnh

Nhìn tổng thể, tiếng nói của phụ nữ trong việc ra quyết định là yếu và chưa tương xứng với khối lượng công việc và trách nhiệm

mà họ gánh vác.(Theo báo Hà Nội Mới ra ngày 14- 10-2009)

c Bất bình đẳng trong giáo dục, đào tạo, tập huấn.

Phụ nữ ít được tập huấn và đào tạo Do vậy, phụ nữ đang bị mất

đi tiềm năng để tiếp cận với các công nghệ tiên tiến và để đóng góp vào các mục tiêu phát triển Mặc dù phụ nữ chiếm gần ¾ lực lượng lao động ngành chăn nuôi, song chỉ có 20% các lớp tập huấn khuyến nông về chăn nuôi có phụ nữ tham gia

Tương tự, mặc dù có 80% phụ nữ nông thôn làm trong lĩnh vực trồng trọt nhưng chỉ có 10% số người được tập huấn khuyến nông

về trồng trọt là nữ Đa số các cán bộ cung cấp dịch vụ công ở cấp cơ

sở là nam giới và họ cũng thường coi các nông dân nam (chủ hộ gia đình) là đối tượng mục tiêu của các hoạt động khuyến nông

(Số liệu lấy từ báo Hà Nội Mới ra ngày 14-10-2009)

Cuộc nghiên cứu Việt Nam-Hà Lan 1998 về đề tài trẻ em nữ bỏ học sớm ở đồng bằng Sông Hồng

Trang 9

Cha mẹ 62.2 9.4

Từ những con số trên ta có thể thấy được ở nông thôn Việt Nam hiện nay sự định kiến trong học tập vẫn rõ rệt giữa nam và nữ

Nguyên nhân dẫn tới điều này là do khi lập gia đình phũ

nữ phải đảm trách nhiều công việc từ đồng áng cho tới việc nhà, chăm sóc con cái Do đó họ ít có thời gian, cơ hội để tham gia và các khóa tập huấn nâng cao tay nghề hay theo các khóa học nâng cao trình độ học vấn

d Bất bình đẳng giới trong lao động – việc làm

Thiếu việc làm vẫn đang là vấn đề bức xúc ở nông thôn Tỷ lệ phụ nữ nông thôn thiếu việc làm đã tăng dần trong giai đoạn 1996 –

2002, đặc biệt khó cạnh tranh để kiếm việc làm thêm do họ thiếu kỹ năng lao động cần thiết cũng như thiếu vốn để đa dạng hóa hoạt động sản xuất, kinh doanh Và hiển nhiên trong thời buổi hội nhập vấn đề này càng gặp khó khăn hơn, khi mà chỉ có 9,2% lực lượng lao động nữ ở nông thôn từng được đào tạo kỹ thuật, trong khi tỷ lệ này ở nam giới là 15,2%

Quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa nông thôn tạo cho gia đình Việt Nam điều kiện tiếp thu những giá trị văn hóa mới của xã hội hiện đại Sự biến đổi về quy mô, cơ cấu và chức năng của gia đình trong xã hội nông thôn: tuổi kết hôn lần đầu của thanh niên được nâng cao, thanh niên có nhiều thời gian để học tập hơn và tích lũy kinh nghiệm sống hơn, vị trí vai trò của phụ nữ được nâng cao

Tỷ lệ số phụ nữ được bình đẳng trong kinh tế, việc làm được nâng cao một cách rõ rệt, họ có nhiều thời gian và cơ hội tiếp xúc với các

Trang 10

dịch vụ vui chơi giải trí nhiều hơn, tự do trong tình yêu và hôn nhân, được tôn trọng trên cơ sở bình đẳng giới đã được pháp luật bảo vệ góp phần nâng cao vai trò của phụ nữ trong gia đình và xã hội

Mặc dù vậy thì trong các gia đình nông thôn Việt Nam, phụ nữ vẫn còn chịu nhiều thiệt thòi, bất bình đẳng giới vẫn còn khá phổ biến

Với gánh nặng phải cân đối giữa công việc và trách nhiệm gia đình, một số phụ nữ Việt Nam phải làm việc rất nhiều giờ Theo một đánh giá về bình đẳng giới của Hội LHPNVN vào năm 2004, phụ

nữ làm việc trung bình 13 giờ một ngày so với nam giới là 9 giờ (Nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, 2005)

90% công việc gia đình do phụ nữ đảm nhận (nấu cơm, rửa bát, chăm sóc con cái, quản lý chi tiêu…)

Mô hình phân công lao động theo giới

Công việc sản

xuất

Hoạt động 1

Hoạt động 2

Hoạt động 3

8 tiếng Gieo hạt/chăn nuôi Chăm sóc cây lúa Nghề phụ…

8 tiếng Cày bừa Trồng cây Nghề phụ…

Công việc gia

đình

Hoạt động 1

6 tiếng

Đi chợ/nấu ăn Chăm sóc, dạy con

Có thể 2 tiếng Sửa chữa đồ đạc Dạy con học

Trang 11

Hoạt dộng 2

Hoạt động 3

Hoạt động 4

Hoạt động 5

Chăm sóc thành viên Nội trợ, giặt giũ Cung cấp nước

Giao tiếp

Công việc cộng

đồng

Hoạt động 1

Hoạt động 2

Có thể tới 15'

Tham dự cuộc họp trong làng Dọn vệ sinh làng xóm

Có thể tới 15' Tham dự cuộc họp trong làng

Xã hội học giới-Lê Thị Quý

Chủ hộ gia đình thường là nam giới

Hiện nay, kinh tế hộ gia đình đã và đang đóng vai trò trọng yếu trong những thành công của ngành nông nghiệp Tuy nhiên, nhiều chính sách nhằm thúc đẩy sự phát triển kinh tế hộ gia đình luôn hướng vào chủ hộ - thường là nam giới, do vậy, nam giới ở nông thôn trên thực tế đã thụ hưởng được nhiều thành quả của việc trao quyền trong quá trình cải cách kinh tế hơn hẳn phụ nữ Một kết quả của quá trình này là hầu hết là các chủ trang trại nông nghiệp và lâm nghiệp đều là nam giới Mặc dù bắt đầu chuyển sang kinh tế thị trường ở điểm xuất phát tương tự như nam giới, xong có rất ít phụ

nữ trở thành chủ trang trại hoặc chủ doanh nghiệp nhỏ ở nông thôn

Bất bình đẳng trong tiếp cận và kiểm soát các nguồn lực chủ yếu

Trang 12

Trong thực tế, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chung của hộ gia đình cũng như sổ địa chính của địa phương chỉ đăng ký tên chủ hộ

là nam giới chiếm đại đa số

Nguồn: NHTG, 2006 sử dụng số liệu của Điều tra mức sống hộ gia đình Việt Nam 2004.

Tình trạng này đã gây khó khăn cho phụ nữ khi họ cần thế chấp quyền sử dụng đất để vay vốn, chia đất khi ly hôn, khi lấy chồng hoặc thừa kế đất khi người chồng qua đời Phần lớn PN khó đáp ứng được đầy đủ các điều kiện vay vốn tín dụng chính thức vì họ không phải là chủ hộ và không đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

Bất bình đẳng giới trong hoạt động quản lý-chi tiêu.

Trong một cuộc điều tra về mức thu nhập gia đình ở nông thôn năm 2004 cho thấy: 87,9% chi tiêu hàng ngày do vợ quyết định; 4.4% do chồng; 0.5% do con trai; 0.3% do con gái

84% ý kiến cho rằng phụ nữ đảm nhận chi tiêu hàng ngày

+ Độ tuổi 18-25: vợ quản lý chi tiêu trong gia đình chiếm 94.6%

+ Độ tuổi 26-25: Vợ quản lý chiếm 70-90%

Điều này làm cho phụ nữ nông thôn càng bị cột chặt vào các công việc gia đình nhiều hơn, còn nam giới thì ít chia sẻ với họ Đây

là một trong những nguyên nhân làm cho phụ nữ ít có cơ hội, khả

Trang 13

năng tham gia vào các phong trào hoạt động của xã hội cũng như các hoạt động vui chơi giả trí

Không chỉ như vậy mà do sự khác biệt về mặt thể chất nên nhiều phụ nữ còn là nạn nhân chủ yếu của sự phân biệt đối xử, phải gánh chịu những lạm dụng về thể xác, tinh thần từ phía người đàn ông Đây là một trong những nguyên nhân gây nên tình trạng bạo lực gia đình

Bạo lực gia đình là một dạng thức của bạo lực xã hội Nó là việc các thành viên trong gia đình vận dụng sức mạnh để giải quyết trong gia đình ( Bạo lực gia đình- Một sự sai lệch giá trị Lê Thị Quý, Đặng Vũ Cảnh Linh)

Còn theo Hoàng Bá Thịnh thì bạo lực gia đình được xem là

"Ngược đãi bằng tình cảm, thể xác hay tình dục một thanh viên gia đình bằng một thành viên khác"

Phần lớn bạo lực gia đình là bạo lực giới, điều này có nghĩa

là bạo lực do nam giới thực hiện với phụ nữ (hoặc các em gái)

Mặc dù số liệu thống kê về vấn đề này rất khó thu thập nhưng theo báo cáo của Bộ Công an thì trên phạm vi toàn quốc cứ 2-3 ngày

có một người bị giết liên quan tới bạo lực gia đình Trong năm 2005, có14% số vụ giết người liên quan tới bạo lực gia đình Ba tháng đầu năm 2006 tỉ lệ này là 30.5% Phần lớn các vụ bạo lực xảy ra trong gia đình thuộc diện bạo lực của người chồng đối với người vợ hoặc của người lớn đối với trẻ em Số còn lại là những hành vi bạo lực khác giữa các thành viên trong gia đình với nhau, như con cái đối với cha mẹ già, anh em họ hàng trong gia đình với nhau, bố mẹ chồng với nhau

Bạo lực gia đình vẫn là một vấn đề tồn tại.Mặc dù chưa có số liệu hoàn chỉnh về bạo lực gia đình ở Việt Nam nhưng mức độ và

Ngày đăng: 29/04/2014, 11:41

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w