Vườn gia đình của các nông hộ vùng cao ở huyện Đà Bắc là một hệ thống sản xuất thực phNm và các sản phNm cần thiết khác, là nơi chứa đựng đa dạng loài và đa dạng di truyền nhiều loài cây
Trang 1PHÂN TÍCH NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI SỰ ĐA DẠNG CÂY TRỒNG TRONG VƯỜN GIA ĐÌNH
TẠI HUYỆN ĐÀ BẮC, TỈNH HOÀ BÌNH
Nguyễn Thị Ngọc Huệ, Đinh Văn Đạo và cộng sự
SUMMARY
Influence of factors to crop genetic diversity in home gardens
at Dabac district, Hoabinh province
Home gardens in Dabac district of Hoabinh province are found being an ecosystem well suit for in situ conservation of plant resources A comprehensive study is being carried out in three communities of Dabac to look at the effect of natural and culture - socioeconomic factors to the management of plant resources in home gardens The study focuses on analyzing the current gardening patterns, traditional knowledge in genetic resources management, and natural, social and cultural factors influencing the diversity of plant varieties The data have been obtained using participapatory rural appraisal (PRA)/and Baseline survey techniques Analysis of the relationship between socio - economic factors and amount of crop diversity was done The results showed that the ecological, socioeconomic and culture factors have been effecting to the plants diversity in Home gardens in different levels These information will greatly help in promoting research and development programes aimed at enhancing conservation and utilization of local crop resources for
better nutrition of households and enhancing their income
Keywords: Home gardens, plant resources, socioeconomic factors, Dabac
I ĐẶT VẤN ĐỀ
Đà Bắc là huyện miền núi của tỉnh Hoà
Bình, nơi có sự đa dạng cao về tài nguyên
di truyền thực vật Vườn gia đình của các
nông hộ vùng cao ở huyện Đà Bắc là một
hệ thống sản xuất thực phNm và các sản
phNm cần thiết khác, là nơi chứa đựng đa
dạng loài và đa dạng di truyền nhiều loài
cây trồng địa phương mà trên đồng ruộng
không trồng được và một số dạng hoang dại
có quan hệ gần gũi với cây trồng Vì thế
vườn gia đình ở Đà Bắc là nơi bảo tồn
insitu lý tưởng cho các nhóm thực vật này
(N guyễn Thị N gọc Huệ và CS, 2007) Tuy
nhiên trong vài năm trở lại đây trước sự đổi
mới kinh tế theo hướng kinh tế thị trường
đã gián tiếp tác động đến sự đa dạng tài nguyên cây trồng trong vùng nói chung và trong vườn gia đình nói riêng Sự tác động này thông qua các nhân tố tự nhiên và kinh
tế xã hội N goài ra, do tính chất đặc thù riêng của một huyện miền núi là đa dạng thành phần dân tộc nên yếu tố văn hoá trong canh tác và sử dụng cũng ảnh hưởng lớn đến tài nguyên cây trồng Để có cơ sở khoa học, góp phần xây dựng kế hoạch bảo tồn tài nguyên cây trồng trong vườn gia đình tại huyện Đà Bắc, Trung tâm Tài nguyên thực vật đã tiến hành nghiên cứu về tác động các yếu tố tự nhiên, kinh tế xã hội
và văn hoá đến đa dạng tài nguyên cây trồng trong vườn gia đình tại 3 điểm điển hình của huyện, từ đó đề xuất những giải
Trang 2pháp phù hợp nhằm giảm thiểu những rào
cản và phát huy lợi thế trong hoạt động bảo
tồn tài nguyên di truyền thực vật trong
vườn gia đình
II PHƯƠN G PHÁP N GHIÊN CỨU
- Điều tra nhanh nông thôn có sự tham
gia (PRA), Đánh giá nhanh nông thôn
(RRA) và phương pháp điều tra cơ bản kinh
tế xã hội và đa dạng tài nguyên thực vật
- Quan sát và thống kê cây trồng trong
vườn
- Phỏng vấn sâu các hộ nông dân có
kinh nghiệm trong việc làm vườn
- Sử dụng phương pháp phân tích thống
kê sinh học trong nông nghiệp để xử lý và
phân tích số liệu
Ba xã Toàn Sơn, Tu Lý và Tân Minh
thuộc huyện Đà Bắc, nơi tương đối khác
nhau về tiểu địa lý đã được chọn làm điểm
nghiên cứu Mỗi xã chọn ra 2 - 3 thôn điển
hình để tiến hành phỏng vấn (10 hộ - 15
hộ/thôn) bằng biểu mẫu điều tra có sẵn và
điều tra có sự tham gia (1 thôn/xã) (15 nông
dân/nội dung)
III KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
1 Khái quát chung về đa dạng tài
nguyên cây trồng trong vườn gia đình tại
các điểm nghiên cứu
Ba xã Tu Lý, Toàn Sơn và Tân Minh đại
diện được nghiên cứu do có các đặc điểm
riêng và điển hình cho huyện Đà Bắc Tu Lý
là xã nằm ngay sát thị trấn Đà Bắc có độ cao
trung bình 330 - 340 m, trung tâm giao
thương của huyện và nơi trung chuyển hàng
hoá nông sản đi đến các huyện thị lân cận
Đây là xã có điều kiện kinh tế khá và tập
quán làm vườn nổi bật nhất trong huyện
Toàn Sơn nằm ở độ cao 340 - 350 m, với
điều kiện giao thông thuận lợi, nằm sát đường giao thông giữa thị xã Hoà Bình và huyện Đà Bắc Tân Minh nằm rất xa trung tâm so với hai xã trên, có độ cao trung bình
560 - 600 m Điều kiện kinh tế và giao thông khó khăn hơn, hơn nữa dân cư ở đây chủ yếu
là bà con dân tộc thiểu số nên điều kiện kinh
tế và nhận thức của bà con còn hạn hẹp Tại cả 3 điểm nghiên cứu Toàn Sơn,
Tu Lý và Tân Minh đều có sự đa dạng khá cao về tài nguyên thực vật trong vườn gia đình Tổng số 10 nhóm cây trồng chính với
274 giống cây trồng thuộc 163 loài của
110 chi, 62 họ đã được xác định Có 15 loài cây trồng bản địa được trồng rất phổ biến trong các vườn gia đình của các điểm nghiên cứu Giữa 3 xã có sự giao thoa mật thiết về các loài cây trồng phụ thuộc chính vào điều kiện tự nhiên và thị trường Tuy nhiên mức độ và sự phân bố đa dạng tài nguyên cây trồng rất khác nhau giữa các vườn hộ trong một xã và giữa các xã Các nhóm cây rau và cây ăn quả có số loài cây trồng cao nhất Số loài cây được trồng trong các vườn gia đình tại 3 xã cũng có sự khác nhau Trong 3 xã, Toàn Sơn có bình quân số loài trồng trong một vườn gia đình cao nhất là 28 loài, tiếp là Tu Lý với 27 loài, Tân Minh có số loài trong một vườn thấp nhất là 17 loài Sự biến động về số loài giữa các vườn là rất lớn, đặc biệt là ở
Tu Lý vườn có số loài thấp nhất là 7 loài
và vườn có số loài nhiều nhất là 61 Tuy nhiên số loài bình quân trên 100 m2 lại cao nhất ở xã Tân Minh (2,6 loài/m2), do ở đây điều kiện địa hình đồi núi nên diện tích vườn nhà liền kề ít, dẫn đến số loài trung bình/100m2 cao nhất
2 -hững nhân tố ảnh hưởng đến sự đa dạng tài nguyên thực vật trong vườn gia đình
Trang 32.1 Điều kiên tự nhiên
Đà Bắc là huyện miền núi của tỉnh Hoà
Bình, có địa hình tương đối phức tạp, chủ
yếu là rừng và núi cao rất khó cho phát triển
sản xuất nông nghiệp Địa hình không bằng
phẳng làm cho cấu trúc vườn gia đình ở đây
khác biệt so với ở các tỉnh vùng đồng bằng
Kiểu vườn ở đây chủ yếu là vườn tạp gắn
với vườn đồi Sản phNm của vườn chủ yếu là
tự cung tự cấp cho các nhu cầu hàng ngày
của nông hộ, còn lại một lượng nhỏ được
bán ra thị trường địa phương và các tỉnh lân
cận Sản phNm hàng hoá từ vườn tại Tu Lý
là rau - quả, Toàn Sơn là quả - củ và Tân
Minh thì chưa xác định được loại sản phNm
hàng hoá chính Với độ cao so với mặt nước
biển trung bình khoảng 300 - 600 m đã cho
Đà Bắc có điều kiện khí hậu mát mẻ hơn các
vùng khác của tỉnh, cây trồng ở đây phát triển tương đối thuận lợi Tuy nhiên với lượng mưa phân bố không đều, chỉ tập trung vào mùa mưa, còn mùa khô hạn thì rất ít và hầu như không có, trong khi đó hệ thống tưới tiêu khác lại bị hạn chế nên gây khó khăn cho việc trồng trọt các loại cây trồng
ưa nước vào mùa khô do không có nước Tại Toàn Sơn có đến 60% số vườn phụ thuộc vào nguồn nước trời còn Tân Minh là 55%, riêng Tu Lý có 45% vì đây là xã nằm trong khu khá bằng phẳng nên cũng có lợi thế hơn
về nguồn nước tích trữ (bảng 1)
Thực tế hạn chế về nguồn nước nêu trên đã ảnh hưởng đáng kể đến số lượng các loài, giống cây trồng ưa Nm trong vườn, đặc biệt hạn chế việc phát triển các loài cây trồng chủ yếu trong vụ đông
Bảng 1 Một số yếu tố tự nhiên tác động đến vườn gia đình
Nguồn cung cấp nước chính cho vườn (%)
2.2 Điều kiện kinh tế xã hội
- Thành phần dân tộc và sự đa dạng tài
nguyên thực vật trong vườn gia đình
Truyền thống làm vườn của người dân
Việt Nam có từ lâu đời nhưng ở mỗi vùng,
mỗi dân tộc có quan điểm và kiến thức làm
vườn khác nhau đã tạo ra các kiểu vườn
khác nhau và làm phong phú thêm các loại
cây trồng trong vườn gia đình Tại huyện
Đà Bắc, kết quả so sánh số loài và nhóm
cây được trồng bởi các nông hộ thuộc bốn nhóm dân tộc Mường, Dao, Tày, Kinh cho thấy có sự khác nhau về loại cây trồng trong vườn của mỗi dân tộc Vườn gia đình của người Dao và người Mường có sự đa dạng loài và giống cao hơn vườn của người Tày và người Kinh Đặc biệt là cây thuốc
có sự đa dạng rất cao trong vườn gia đình của người Dao, chiếm tới 44,4% tổng số loài có trong vườn, trong khi vườn của người Kinh chỉ có 17,6% Qua phân tích
Trang 4trên cho thấy yếu tố dân tộc cũng ảnh
hưởng ít nhiều đến sự đa dạng nguồn tài
nguyên cây trồng trong vườn gia đình tại
Đà Bắc
- Kinh tế hộ
Sự giàu có của hộ là vấn đề quan trọng
đảm bảo cho sự phát triển mạnh mẽ và bền
vững các hoạt động của hộ đặc biệt là vấn đề
đầu tư sản xuất nông nghiệp của các hộ nông
dân Sự phát triển kinh tế vườn thường được quan tâm nhiều khi hộ đã có đủ tiềm lực về kinh tế hoặc khi vườn có lợi thế kinh tế cao hơn các hoạt động sản xuất kinh tế khác trong gia đình Đối với sự đa dạng tài nguyên cây trồng trong vườn thì đây là yếu
tố quan trọng và là yếu tố khởi nguồn ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển cây trồng trong vườn gia đình ở vùng cao
Hình 1 Mối tương quan giữa thu nhập hộ và số loài cây trong vườn
Hiện trạng kinh tế hộ gia đình tại 3
điểm điều tra hầu hết ở mức trung bình và
khá chiếm đến 81 - 97,7%, chỉ có 3,7% hộ
giàu tại xã Tu Lý Số hộ nghèo thiếu ăn,
thiếu vốn đầu tư cho sản xuất, cơ sở hạ tầng
kém, thu nhập từ vườn gia đình còn chiếm
2,3 - 15,6% Sự khác nhau về kinh tế giữa
các hộ dẫn đến những kế hoạch phát triển
vườn theo nhiều hướng khác nhau, tất yếu
dẫn đến sự khác biệt về đa dạng cây trồng
trong vườn Kết quả phân tích mối tương
quan giữa thu nhập của hộ và số lượng
giống cây trồng trong vườn (khi loại trừ các
yếu tố khác) thể hiện trên hình 1 cho thấy
giữa 2 nhân tố trên có mối tương quan
thuận nhưng không chặt Tại Tân Minh có
hệ số tương quan cao nhất trong 3 xã là R2
= 0,28, tiếp đến là Tú Lý có R2 = 0,11 và
thấp nhất ở Toàn Sơn có R2 = 0,03 Như vậy nếu xét riêng sự ảnh hưởng của yếu tố thu nhập đến số lượng giống thì yếu tố này ảnh hưởng không đáng kể đến đa dạng tài nguyên cây trồng trong vườn gia đình tại
Đà Bắc
- Tuổi chủ hộ
Trong các yếu tố kinh tế xã hội ảnh hưởng đến bảo tồn đa dạng tài nguyên cây trồng trong vườn gia đình thì tuổi của chủ
hộ là yếu tố tổng quát nhất vì trong nó thể hiện tổng hợp về nhận thức, kinh nghiệm
và trình độ xã hội của chủ hộ Đây là những vấn đề có ảnh hưởng gián tiếp đến việc ra quyết định của chủ hộ trong kế hoạch phát triển vườn của hộ Theo kết quả đánh giá nếu tuổi của các chủ hộ được
nh (tri
Toàn Sơn
Tu Lý Tân Minh
Thu nhập hộ (triệu)
Thu nhập hộ (triệu)
Thu nhập hộ (triệu)
Trang 5điều tra chia thành 4 nhóm, nhóm 1 dưới
35 tuổi, nhóm 2: 35 - 45, nhóm 3 từ 46 -
59 và nhóm từ 60 tuổi trở lên thì các hộ
có độ tuổi chủ hộ 35 - 45 có số giống
trung bình cao nhất 27,6 giống cây
trồng/vườn Hai nhóm có độ tuổi chủ hộ
dưới 35 và 46 - 59 thì không có gì khác
nhau nhiều nhưng nhóm có độ tuổi chủ hộ
trên 60 thì số giống trung bình/vườn thấp
hơn cả, đạt 21,2 giống/vườn Có thể giải
thích những hộ trong độ tuổi 36 - 45 là
những hộ sau khi lập gia đình và đã ổn
định về kinh tế nên hộ có ý thức tốt phát
triển kinh tế tổng hợp kể cả kinh tế vườn
Sự tập trung cao này đã tạo nên những sắc
thái mới về thành phần giống cây trồng
trong vườn của họ
- Trình độ văn hoá chủ hộ
Trình độ học vấn của chủ hộ được thể
hiện như yếu tố xác định năng lực nhận
thức của hộ trong việc thực hiện các hoạt
động kinh tế xã hội Khả năng tiếp thu các
vấn đề mới của nông dân là rất quan trọng
trong các chương trình phát triển nông
thôn Kết quả phân tích cho thấy những
chủ hộ có trình độ văn hoá cấp II thì có số giống trung bình là 25,9 giống/vườn, tiếp đến là các chủ hộ có trình độ văn hoá cấp III với số giống trung bình là 24,1 và số giống thấp nhất 22,9/vườn thuộc những chủ hộ có văn hoá cấp I Thực tế là đa phần trình độ văn hoá của người dân huyện
Đà Bắc chỉ ở mức xoá mù chữ và học vấn cấp II, những người này chủ yếu là ở nhà sản xuất nông nghiệp và họ cũng có trình
độ nhân thức và ý thức làm nông nghiệp hơn các hộ gia đình có trình độ văn hoá ở cấp khác Kết quả này làm cơ sở cho việc xây dựng các chương trình giáo dục nâng cao nhận thức của nông dân trong công tác bảo tồn đa dạng sinh học tại chỗ
- Lao động và nhân khNu
Thực tế kết quả điều tra thể hiện trên hình 2 là mối tương quan thuận giữa số lao động trong hộ và số giống trung bình Những hộ có số lao động thấp nhất (1 lao động) cũng là những hộ có số giống trung bình thấp nhất (17 giống) và số hộ có số lao động cao nhất (4 lao động) thì số giống trung bình cũng là cao nhất (29 giống)
Hình 2 Số lao động hộ và số giống cây trồng trong vườn
Điều này chứng tỏ rằng số lao động
trong hộ càng cao thì càng có nhiều người
quan tâm đến sản xuất nông nghiệp nói chung và làm vườn nói riêng Sự thật này
Số giống
Số lao động
Số giống trung bình
Số lao động
Trang 6tạo nên sự đa dạng cây trồng trong vườn gia
đình và làm cơ sở cho việc xây dựng các kế
hoạch hoạt động nhằm bảo tồn đa dạng sinh
học nông nghiệp
- Thị trường
Thương phNm chính của vườn tại các
điểm nghiên cứu là rau và quả, đây là
những thứ mà hộ nông dân muốn sản xuất
ra thật nhiều, tiêu thụ được trên thị trường
và bán được giá Việc quyết định bán nông
sản của mình ở đâu và khi nào đối với nông
dân Đà Bắc, đặc biệt là sản phNm từ vườn là
hoàn toàn phụ thuộc vào thị trường Nếu thị
trường biến động tốt thì nông dân được lợi
và ngược lại Sản phNm bán ra chủ yếu cho
các thương lái và chợ địa phương, chưa có
sản phNm vườn nào mang tính chất hàng
hoá đặc sản của địa phương Điều này làm
cho giá sản phNm từ vườn của hộ bán không
được giá nên hộ đành để tiêu dùng trong
nhà là chính, dần dần mục tiêu xây dựng
vườn ở đây chủ yếu mang tính chất phục vụ
nội gia
Tại xã Tân Minh thì chỉ có sản phNm
của cây có củ được bán ra nhiều nhất nhưng
mới chỉ đạt khoảng 25%, còn lại rau, gia vị
và cây ăn quả chỉ đạt dưới 10% Đối với xã
Toàn Sơn thì đa phần các loại cây đều có
thể được bán ra thị trường vì xã có lợi thế
về giao thông, nhưng lượng bán ra không
cao chỉ chiếm một lượng rất nhỏ, cao nhất
là cây ăn quả và rau chỉ đạt khoảng 20%
Thực trạng này cũng giống như tại Tu Lý
nhưng cụ thể hơn là cây rau và cây thuốc ở
đây được bán ra nhiều hơn vì Tu Lý gần với
trung tâm thị trấn Đà Bắc, nơi có nhu cầu
cao về rau và một số loại cây được coi là
rau làm thuốc mà người dân có thể sử dụng
như loại thức ăn thức uống hàng ngày Tại
Đà Bắc sự kích thích sản xuất và phát triển
vườn không có yếu tố nào có thể thay thế được vấn đề thị trường, chỉ khi có thị trường thì nông sản hàng hoá mới tiêu thụ được và từ đó kích thích nông dân có hướng trồng trọt nhiều loại cây khác nhau trong vườn Do đó cần có chính sách và hỗ trợ nông dân về tiếp thị
- Chính sách
Việc định hướng phát triển kinh tế vườn đã được lãnh đạo địa phương huyện
Đà Bắc tập trung ưu tiên hàng đầu nhằm khuyến khích nông dân trong huyện tham gia phát triển kinh tế Hiện nay huyện đã có nhiều chính sách cụ thể như tổ chức các lớp tập huấn về làm vườn, trồng cây rừng, canh tác trên đất dốc và tổ chức các chuyến thăm quan học hỏi mô hình làm kinh tế giỏi để nhằm áp dụng vào địa phương Kết quả cho thấy nhiều mô hình làm VAC đã được áp dụng, nhiều cây trồng có hiệu quả đã được đưa về như hồng nhân hậu, mía, na, khoai
sọ KS4 bước đầu đem lại nguồn thu cho nông dân và thực sự đã góp phần làm đa dạng thêm thành phần giống cây trồng tại
địa phương
2.3 Vấn đề văn hoá cộng đồng và vườn gia đình
Mỗi dân tộc và mỗi địa phương đều có những quan điểm về tâm linh, tín ngưỡng riêng và được lưu giữ từ đời này qua đời khác Do sự tồn tại theo thời gian và ý thức tiến bộ của người dân đã biến quan điểm này trở thành những nét văn hoá đặc biệt của địa phương và dân tộc mình như việc dùng các nông sản làm vật cúng lễ tổ tiên vào các dịp giỗ tổ, ngày rằm, ngày lễ quốc gia Xuất phát từ những nhu câu văn hoá trên, nhiều loại cây như cau, chuối, bưởi, hoa huệ, trầu đã được coi là loại cây không thể thay thế vì chúng được coi là sản
Trang 7phNm phục vụ cho đời sống văn hoá tinh
thần Do tính chất mùa vụ đối với các sản
phNm nông nghiệp nên bà con nông dân ở
Đà Bắc đã trồng nhiều loại cây khác nhau
nhằm tự tạo ra sản phNm phục vụ cho các
ngày lễ văn hoá trong cả năm của mình
Điều này đã tạo ra các nét văn hoá kết tinh
trong các phương thức canh tác và phương
thức sử dụng đối với từng loại cây trồng
riêng, góp phần lưu giữ sự đa dạng tài
nguyên cây trồng trong vườn gia đình
2.4 Giá trị sử dụng của đa dạng tài
nguyên
Sản phNm đa dạng thu được từ mười
nhóm cây trồng trong vườn gia đình là
nguồn nguyên liệu quan trọng phục vụ thiết
thực đến cuộc sống hàng ngày của các nông
hộ vùng cao Các loài cây ăn quả, rau là
nguồn bổ sung vitamin cho cơ thể, nhiều
loài cây thuốc góp phần hạn chế bệnh tật
cho các hộ nghèo, nhiều loài cây trồng để
sử dụng trong tín ngưỡng, tâm linh Kết
quả phân tích thông tin thu được cho thấy
tuy thu nhập từ vườn so với bình quân thu
nhập trong năm của một hộ gia đình tại 3 xã
trung bình chỉ là 20,1%, tại Tân Minh chỉ ở
mức 14,3%, Tại Tu Lý 18,8% và ở Toàn
Sơn là 25,4% nhưng giá trị sử dụng từ vườn
gia đình lại rất cao và quan trọng đối với
các hộ nông dân ở miền núi Đây là điểm
hết sức quan trọng cho thấy vai trò của
vườn gia đình đối với cuộc sống của người
dân vùng cao Sản phNm trong vườn đa
dạng chính là xuất phát từ nhu cầu sử dụng
cho các mục đích khác nhau của các thành
viên trong gia đình, sở thích của người quản
lý vườn Kết quả nghiên cứu cho thấy hầu
hết những loài cây được trồng phổ biến
trong vườn gia đình đều có đa mục đích sử
dụng như chuối, mít, khoai môn sọ, gừng, hành
2.5 Các tổ chức chính trị và đoàn thể tại cộng đồng
Các cơ quan quản lý hành chính như:
Sở Nông nghiệp & PTNT, phòng kinh tế huyện, UBND xã có tác động gián tiếp đến
sự đa dạng cây trong vườn thông qua các hoạt động chỉ đạo phương hướng, đường lối phát triển các loại cây con Các tổ chức như khuyến nông, hội nông dân, hội phụ
nữ đóng vai trò quan trọng trong việc tuyên truyền vận động tham gia và động viên khuyến khích, giúp đỡ thực hiện; Ngân hàng hỗ trợ về vốn; khuyến nông tập huấn và chuyển giao kỹ thuật Như vậy phương hướng phát triển kinh tế xã hội của địa phương, hoạt động của các tổ chức đoàn thể cũng là các nhân tố ảnh hưởng gián tiếp đến sự đa dạng cây trồng trong vườn gia đình
IV KẾT LUẬN VÀ KIẾN N GHN
1 Kết luận
Địa hình, phân bố lượng mưa và nguồn nước tưới có ảnh hưởng đáng kể đến số lượng và phân bố các loài, giống cây trồng trong vườn gia đình tại huyện Đà Bắc, tỉnh Hoà Bình
Các yếu tố như thành phần dân tộc, kinh tế hộ, tuổi và trình độ của chủ hộ, số nhân khN u và lao động là yếu tố ảnh hưởng
rõ đến số lượng giống cây trồng trong vườn Vườn gia đình của các hộ dân tộc Dao, Mường, các hộ có trình độ văn hoá chủ hộ cấp II là nơi có sự đa dạng cao hơn các hộ khác Hộ có độ tuổi của chủ hộ từ 35
- 45 thường quan tâm nhiều hơn đến vườn gia đình
Trang 8Thị trường ở huyện Đà Bắc không ảnh
hưởng rõ nét đến vườn nhưng là yếu tố
quan trọng tác động mạnh mẽ đến sự biến
động cây trồng trong vườn
Yếu tố văn hoá giúp cho việc duy trì
các kiến thức bản địa trong các phương
thức canh tác và sử dụng các sản phN m từ
vườn Đa dạng mục đích sử dụng cũng góp
phần duy trì sự phong phú cây trồng trong
vườn gia đình
N hững thông tin trên sẽ rất hữu ích khi
xây dựng các chương trình nghiên cứu thúc
đN y hoạt động bảo tồn và sử dụng các
nguồn gen cây trồng địa phương góp phần
tăng thu nhập và dinh dưỡng cho các nông
hộ vùng cao
2 Kiến nghị
Để thúc đN y bảo tồn tài nguyên thực vật
trong vườn gia đình cần nghiên cứu tìm ra
thị trường tiêu thụ bền vững các sản phN m
từ vườn nhằm khuyến khích nông dân gieo
trồng bền vững cây trồng trong vườn gia
đình Mọi chính sách và hỗ trợ kỹ thuật cho
người sản xuất phải tập trung nhằm giảm
thiểu những rào cản của các yếu tố sinh thái
(khí hậu, địa hình) và những điều kiện kinh
tế xã hội (văn hoá truyền thống, lợi ích sinh
kế, nhận thức )
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Engels, J.M.M and D Wood, 1999
Conservation of agrobiodiversity.Pp
355 - 385 in Agrobiodiversity:
Characterization, Utilization, and
Management(Wood and Lenne, eds.)
CABI Publishing, Wallingford, UK
2 1guyễn Thị 1gọc Huệ, 1gô Đức Thể,
Hoàng Gia Trinh, 2007 Mức độ và
phân bố đa dạng tài nguyên cây trồng
trong vườn gia đình ở huyện Đà Bắc, tỉnh Hoà Bình Tạp chí Nông nghiệp & Phát triển nông thôn số 8, tr.14 - 18
3 Pablo BEyzaguirre and Olga F
Linares, 2004 Home garden and
biodiversity Smithsonian Institution
4 Watson, J.W and P.B Eyzaguirre, 2002
Home gardens and insitu conservation
of plant genetic resources in farming systems Proceedings of the Second international Home gardens Workshop,
17 - 19 July 2001, Witzenhausen, Federal Republic of Germany
-gười phản biện: -guyễn Văn Viết
Trang 9T¹p chÝ khoa häc vµ c«ng nghÖ n«ng nghiÖp ViÖt Nam
9