1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

GIỚI, BẤT BÌNH ĐẲNG GIỚI VÀ PHÁT TRIỂN: NGUYÊN NHÂN VÀ THỰC TRẠNG

32 7,3K 36
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giới, Bất Bình Đẳng Giới Và Phát Triển: Nguyên Nhân Và Thực Trạng
Tác giả Nhóm 7 lớp Nhật 3 – K45E, Nguyễn Tường Anh, Nguyễn Thanh Phương, Phan Thị Thuỳ Dương, Nguyễn Thị Quỳnh, Nguyễn Thị Hiền Hậu, Nguyễn Thị Minh, Đào Thị Thu Thủy Hằng, Văn Hồng Quân, Lê Thị Bích, Mai Thị Thắng, Bùi Thị Thu Giang, Nguyễn Đức Thiện
Người hướng dẫn Th.s Lương Thị Ngọc Oanh
Trường học Trường đại học Ngoại Thương
Chuyên ngành Kinh tế phát triển
Thể loại Tiểu luận
Năm xuất bản 2009
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 452 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

GIỚI, BẤT BÌNH ĐẲNG GIỚI VÀ PHÁT TRIỂN: NGUYÊN NHÂN BẤT BÌNH ĐẲNG GIỚI , THỰC TRẠNG BẤT BÌNH ĐẲNG GIỚI

Trang 1

Trường đại học Ngoại Thương Khoa kinh tế và kinh doanh quốc tế

Tiểu luận môn Kinh tế phát triển

GIỚI, BẤT BÌNH ĐẲNG GIỚI VÀ PHÁT TRIỂN: NGUYÊN

NHÂN VÀ THỰC TRẠNG

Giáo viên hướng dẫn: Th.s Lương Thị Ngọc Oanh

Sinh viên thực hiện: Nhóm 7 lớp Nhật 3 – K45E

1, Nguyễn Tường Anh

2, Phan Thị Thuỳ Dương

3, Nguyễn Thị Hiền Hậu

4, Nguyễn Thị Minh

Hằng

5, Lê Thị Bích

6, Bùi Thị Thu Giang

7, Nguyễn Thanh Phương

8, Nguyễn Thị Quỳnh Oanh

9, Đào Thị Thu Thuỷ 10,Văn Hồng Quân

11, Mai Thị Thắng

12, Nguyễn Đức Thiện

Hà Nội ngày 11 tháng 3 năm 2009

Trang 2

Mục lục

Lời mở đầu

I Khái quát về bất bình đẳng giới 4

1 Một số khái niệm 4

2 Hình thái bất bình đẳng giới về nguồn lực 6

3 Chỉ số bất tương đồng về việc làm theo giới: chỉ số Duncan 8

II Thực trạng và nguyên nhân của bất bình đẳng giới 10

1 Thực trạng 10

1.1 So sánh vấn đề bình đẳng giới giữa các nước phát triển và đang phát triển 10

1.2 Mối quan hệ giữa bất bình đẳng giới và phát triển 15

2 Nguyên nhân 23

2.1 Nguyên nhân lịch sử, văn hóa và tín ngưỡng 23

2.2 Nguyên nhân kinh tế của bất bình đẳng giới 25

III Những đề xuất nhằm nâng cao bình đẳng giới 27

1 Vai trò của chính phủ trong việc thúc đẩy bình đẳng giới 27

2 Vai trò của các tổ chức đoàn thể quần chúng và cộng đồng quốc tế27 3 Chiến lược 3 phần để nâng cao sự bình đẳng giới 28

3.1 Cải cách thể chế tạo lập quyền và cơ hội bình đẳng cho phụ nữ và nam giới 28

3.2 Đẩy nhanh phát triển kinh tế nhằm khuyến khích tham gia và phân bổ nguồn lực bình đẳng hơn 29

3.3 Thực hiện những biện pháp thiết thực nhằm khắc phục sự bất bình đẳng giới dai dẳng trong việc làm chủ các nguồn lực và tiếng nói 29

Kết luận

Tài liệu tham khảo

Trang 3

Lời mở đầu

Mới đây tổ chức giáo dục, khoa học và văn hóa của Liên hợp quốc(UNESCO) đưa ra trong thông cáo báo chí của tổ chức này nhân ngàyPhụ nữ quốc tế 8/3: Bình đẳng giới sẽ là ưu tiên toàn cầu trong chiến lượctrung hạn 2008-2013 Thông cáo của UNESCO khẳng định việc đặt bìnhđẳng giới thành ưu tiên trên toàn cầu là điều cấp thiết bởi 3/5 trong số 1

tỷ người nghèo nhất thế giới là phụ nữ và các bé gái, và 2/3 trong số 960triệu người lớn mù chữ trên thế giới là phụ nữ UNESCO cũng nhấnmạnh phát triển bền vững, bảo vệ quyền con người và hòa bình trên phạm

vi toàn cầu, khu vực và địa phương chỉ có thể đạt được nếu nữ giới vànam giới có sự lựa chọn rộng rãi và bình đẳng, có điều kiện và khả năngsống trong tự do, và được tôn trọng Sự phát triển kinh tế mở ra nhiều conđường để tăng cường bình đẳng giới về lâu dài Nhiều bằng chứng vữngchắc khắp nơi trên thế giới khẳng định nhận định này Do đó chúng em

đã nghiên cứu đề tài : GIỚI, BẤT BÌNH ĐẲNG GIỚI VÀ PHÁTTRIỂN: NGUYÊN NHÂN VÀ THỰC TRẠNG trong khi học tập mônkinh tế phát triển để có cái nhìn sâu hơn về mối quan hệ giữa giới và pháttriển

Trong quá trình nghiên cứu do hạn chế về thời gian cũng như tầm hiểubiết chúng em còn có những thiếu sót mong cô giáo và các bạn chỉ bảothêm

Chúng em xin được gửi lời cảm ơn đến cô giáo hướng dẫn đã giúpchúng em hoàn thành bài tiểu luận này

Trang 4

I Khái quát về bất bình đẳng giới

1 Một số khái niệm

Giới là một thuật ngữ chỉ vai trò xã hội, hành vi ứng xử xã hội và những

kỳ vọng liên quan đến nam và nữ Nó được coi là một phạm trù xã hội có vaitrò quyết định chủ yếu đến cơ hội cuộc sống của con người, xác định vai tròcủa họ trong xã hội và trong nền kinh tế

Bình đẳng giới là khi phụ nữ và nam giới có địa vị, quyền và nghĩa vụ

như nhau Bình đẳng giới là khi mọi người có quyền tự do phát triển khả năng

cá nhân và tự do lựa chọn mà không bị hạn chế bởi vai trò đã được xã hội xácđịnh theo giới và sự khác biệt về hành vi, nguyện vọng và nhu cầu của nam và

nữ cần được coi trọng như nhau Theo cách này bình đẳng giới có xét đến sựkhác biệt thuộc về bản chất từ khi sinh raà nghiêng về bình đẳng về cơ hội.Bình đẳng giới nhìn từ góc độ kinh tế là sự bình đẳng về cơ hội học tập, về sựtiếp cận và sử dụng nguồn lực, về cơ hội có việc làm và thu nhập tương xứng,

về quyền ra quyết định trong gia đình

Như vậy có thể suy ra rằng bất bình đẳng giới là sự phân biệt trên cơ sở

giới tính mà sự phân biệt này ảnh hưởng đến sự tham gia, đóng góp và thụhưởng các nguồn lực của xã hội và quá trình phát triển của con người Sự phânbiệt đối xử thường thấy ở bốn lĩnh vực: giáo dục, chăm sóc sức khoẻ, tiếp cậnvới các cơ hội kinh tế, tham gia vào lãnh đạo và tham chính Sự phân biệt đối

xử này xuất phát từ quan niệm dập khuôn cho rằng phụ nữ có ít quyền tự quyếthơn, có ít nguồn lực để sử dụng hơn và ít có ảnh hưởng đối với quá trình raquyết định có liên quan tới xã hội và cuộc sống riêng của họ

Bất bình đẳng giới được định đo bằng các chỉ tiêu khác nhau Trong báocáo phát triển con người của chương trình phát triển Liên hiệp quốc (UNDP) đãđưa ra hai chỉ số:

Chỉ số phát triển giới (GDI):

Trang 5

Trong khi HDI đo thành tựu trung bình thì GDI điều chỉnh thành tựutrung bình để phản ánh bất bình đẳng giữa phụ nữ và nam giới về các độ đosau:

- Một cuộc sống khỏe mạnh và lâu dài – đo bằng tuổi thọ

- Kiến thức – đo bằng tỉ lệ biết chữ ở người lớn và tổng tỉ lệ đi học kếthợp ở cả tiểu học, trung học và đại học

- Mức sống hợp lý – đo bằng thu nhập kiếm được ước tính (PPP USD) Việc tính GDI gồm 3 bước

Bước 1: Tính từng chỉ số độ đo cho từng giới:

Công thức chung: Chỉ số độ đo = (giá trị thực-giá trị min)/(giá trị max-giá trị min)

- Về tuổi thọ TB : IH

Chỉ số tuổi thọ của nữ giới: I HF = (tuổi thọ BQ của nữ giới nước đó-27,5)/(87,5-27,5)

Chỉ số tuổi thọ của nam giới: I HM = (tuổi thọ BQ của nam giới nước đó-22,5)/(87,5-22,5)

- Về giáo dục: IE

Chỉ số giáo dục của nữ giới:

I EF = 2/3*(Tỉ lệ người lớn là nữ giới biết chữ/100)+1/3*(tỉ lệ nữ nhập học ở các cấp/100)

Chỉ số giáo dục của nam giới:

I EM = 2/3*(Tỉ lệ người lớn là nam giới biết chữ/100)+1/3*(tỉ lệ nam nhập học ở các cấp/100)

mua)-log(100)]/[log(40000)-Bước 2: Tính chỉ số phân bổ đồng đều theo công thức:

(Tỉ lệ nữ trong dân số/chỉ số độ đo của nữ giới+tỉ lệ nam trong dân số/chỉ số độ đo của nam giới) -1

Khi đó ta được các chỉ số phân bổ đồng đều:

IH:chỉ số tuổi thọ phân bổ đồng đều

IE: chỉ số giáo dục phân bổ đồng đều

Trang 6

Bước 3: Tính GDI bằng cách lấy trung bình cộng của 3 chỉ số phân bổ đồng

đều ở trên Trong mỗi nước, nếu giá trị và thứ hạng của GDI càng gần với HDIthì sự khác biệt theo giới tính càng ít Nếu thứ hạng GDI thấp hơn thứ hạngHDI cho thấy sự phân phối không bình đẳng về phát triển con người giữa nam

và nữ và ngược lại

Thước đo vị thế giới (GEM):

Thước đo này tập trung xem xét cơ hội của phụ nữ chứ không phải là khảnăng của họ Nó chỉ ra sự bất bình đẳng giới trên 3 khía cạnh

- Tham gia hoạt động chính trị và có quyền quyết định - được đo bằng tỷ

lệ có ghế trong quốc hội của phụ nữ và nam giới

- Tham gia hoạt động kinh tế và có quyền quyết định - được đo bằng tỷ

lệ các vị trí lãnh đạo, quản lý do phụ nữ và nam giới đảm nhiệm và tỷ lệ các vịtrí trong ngành kỹ thuật, chuyên gia do phụ nữ và nam giới đảm nhiệm

- Quyền đối với các nguồn lực kinh tế - đo bằng thu nhập ước tính củaphụ nữ và nam giới (PPP-USD)

Cách tính GEM dựa vào tỉ lệ phần trăm tương đương phân bố đồng đềuEDEP được tính cho từng độ đo trong số này theo công thức chung sau:

{[Tỉ trọng dân số là nữ (chỉ số phụ nữ -1 )]+[Tỉ trọng dân số là nam (chỉ số nam giới -1 )]} -1

Đối với sự tham gia chính trị và kinh tế và quyền quyết định EDEP sau

đó được tính bằng cách chia cho 50 Lý do cho cách tính này là: trong một xãhội lý tưỏng, với sự trao quyền bình đẳng cho cả hai giới biến GEM sẽ tươngđương 50% - tức là tỉ trọng của phụ nữ và tỉ trọng của nam giới bằng nhau đốivới từng biến Khi giá trị chỉ số của phụ nữ hay nam giới bằng 0, EDEP theocông thức trên không xác định được Tuy nhiên, giới hạn của EDEP là 0 khi chỉ

số tiến gần tới 0, trong những trường hợp này giá trị của EDEP đặt là bằng 0.GEM được tính đơn giản bằng trung bình của cả 3 chỉ số EDEP đã tính

2 Hình thái bất bình đẳng giới về nguồn lực

Trang 7

2.1 Bất bình đẳng giới về dịch vụ giáo dục chia theo giới

- Nam nữ bất bình đẳng về độ tuổi đi học, đào tạo, bồi dưỡng

- Nam nữ bất bình đẳng trong việc lựa chọn ngành, nghề học tập, đàotạo

Hiện nay, bình đẳng giới trong tỷ lệ đi học và số năm đi học trung bình

đã có bước cải thiện, trong đó tỷ lệ đi học của bé gái tăng nhanh hơn bé trainhưng sự phân biệt giới và tốc độ thu hẹp khoảng cách giới trong giáo dục thìlại rất khác nhau Giáo dục là nền tảng để phát triển các kĩ năng linh hoạt vốnrất cần thiết để tham gia các hoạt động kinh tế có hàm lượng chất xám cao.Những ai không có điều kiện tiếp cận đến giáo dục cơ sở có nguy cơ bị loại bỏkhỏi những cơ hội mới, và những nơi mà khoảng cách giới dai dằng trong giáodục vẫn còn tồn tại thì phụ nữ sẽ có nguy cơ ngày càng cao là bị tụt hậu đằngsau nam giới trong khả năng tham gia vào quá trình phát triển

2.2 Bất bình đẳng giới trong việc làm và thu nhập

Từ trước tới nay nam giới có tỉ lệ tham gia lực lượng lao động cao hơnphụ nữ và hình thái này vẫn đang tiếp diễn Nhưng mức độ tham gia lực lượnglao động của phụ nữ khác nhau rất nhiều giữa các vùng đang phát triển, trong

đó tỉ lệ này chiếm 25% ở Trung Đông và Bắc Phi năm 1995 đến khoảng 45% ởChâu Âu, Trung Á Đông Á và vùng Thái Bình Dương Xu hướng của từngvùng cũng rất khác nhau

Trong lực lượng lao động phụ nữ và nam giới thường thực hiện cácnhiệm vụ khác nhau và làm việc trong các ngành nghề khác nhau Ví dụ, phụ

nữ chiếm đa số trong công nhân dệt may trên toàn thế giới Có sự phân chianghề nghiệp theo giới từ trước tới nay ở cả nước phát triển lẫn nước đang pháttriển, trong đó phụ nữ hiện diện ít trong những công việc thù lao cao của khuvực chính thức và có mặt rất nhiều trong những ngành nghề không được trảlương ở vực phi chính thức Hơn nữa, nhìn chung, việc làm của phụ nữ thường

ít được bảo đảm hơn việc làm của nam giới, trong đó phụ nữ thường tham gia

Trang 8

nhiều trong các hoạt động thầu phụ, tạm thời hoặc công việc thất thường vànhững việc làm trong gia đình.

Một thước đo việc phân chia nghề nghiệp theo giới đã chia tỷ lệ số laođộng nữ làm trong 1 ngành nghề cụ thể cho số lao động nam làm việc trongngành nghề đó Vì thế, nếu tỷ số này lớn hơn 1 có nghĩa là phụ nữ hiện diệnnhiều trong ngành đó, nếu nhỏ hơn 1 thì phụ nữ ít tham gia ngành nghề đó Khi

áp dụng thước đo này vào số liệu của các nước thì rất nhiều khía cạnh khácnhau của việc phân chia nghề nghiệp đã hiện rõ Ví dụ, phụ nữ hiện diện nhiềutrong các ngành nghề dịch vụ, công việc chuyên môn và kĩ thuật, công việc vănphòng và bán hàng Còn nam giới thì có mặt cực kì nhiều trong các công việcsản xuất cùng như các vị trí hành chính và quản lý được trả lương hậu Phụ nữvẫn tiếp tục nhận mức thù lao thấp hơn nam giới

3 Chỉ số bất tương đồng về việc làm theo giới: chỉ số

-Khi I=1 thì có sự bất tương đồng hoàn toàn về mọi việc làm

1 2 1

Trang 9

7 100

15 117

40 100

4 117

70 5 0

5 0

5 0

3 3 2

2 1

M F

F M

M F

F M M

F

F M

M S

i

i i

.

5004 1 5 0

7502 0 1919 0 5583 0 5 0

7502 0 1919 0 5583 0 5 0

81 0 0598 0 15 0 3419 0 04 0 5983 0 5 0

=

=

=

+ +

=

− + +

=

− +

− +

=

S or S

Trang 10

II Thực trạng và nguyên nhân của bất bình đẳng giới

lẽ chẳng bao giờ chấm dứt được bạo hành giới, và cả nam giới và phụ nữ đều

có thể ngoảnh mặt làm ngơ hoặc thừa nhận nó như một chuyện bình thường.Thậm chí một số phụ nữ còn đứng ra bảo vệ cho những cơ chế xã hội đàn áp

họ

Để có thể so sánh tình trạng bất bình đẳng giữa các nước với nhau khôngphải là vấn đề đơn giản Mỗi nước có một nền văn hóa riêng và có những điềukiện khác nhau để cải thiện tình trạng bất bình đẳng giới, thêm vào đó mỗi cáchtiếp cận khác nhau lại chỉ ra nhứng khía cạnh khác nhau Chẳng hạn như Quỹdân số Liên hợp quốc (UNFPA) nghiên cứu vấn đề bất bình đẳng giới trên cơ

sở tiếp cận các nền văn hóa Trong khuôn khổ bài tiểu luân này chỉ tập trung

Trang 11

vào các số liệu được Chương trình Phát triển Liên hiệp quốc (UNDP) sử dụngqua những Báo cáo phát triển con người thường niên.

Trang 12

Bảng 1- Các chỉ số phát triển liên quan tới giới (GDI) một số nước chọn lọcnăm 2005

(Nguồn: Tổng hợp từ

“Báo cáo phát triển con người 2008” của UNDP)

Có thểnhậnthấyquanhững

nghiên cứu mới đây nhất của UNDP về bất bình đẳng giới, hầu hết các nướcphát triển đều có thứ hạng cao, điển hình như Na Uy, Nhật, Mỹ và những thứhạng thấp nhất giành cho các nước đang phát triển kém phát triển Qua các chỉ

số thành phần để hình thành nên GDI 2005 có thể nhận thấy sự chênh lệch ởcác chỉ số giữa nam và nữ Đặc biệt là chỉ số thu nhập phân bổ đồng đều, hầuhết các quốc gia đều có sự chênh lệch rất lớn về thu nhập giữa nam giới và nữgiới Tuy nhiên để đánh giá sự phân phối mất cân đối một cách rõ rệt nhất cần

Tên quốc

gia

Các chỉ số phát triển liên quan tới giới (GDI)

Tuổi thọ (tuổi) 2005

Tỷ lệ biết chữ của người lớn(% người từ

15 tuổi trở lên) 1995-2005

Tỷ lệ nhập học gộp các bậc giáo dục tiểu học, trung học và đại học(%) 2005

Thu nhập ước tính kiếm được (USD PPP) 2005

Xếp hạng

Giá trị Nữ Nam Nữ Nam Nữ Nam Nữ NamIceland 1 0,962 83,1 79,9 99 99 101 90 28637 40000

Quốc 73 0,776

74,

3 71,0 86,5 95,1 69 70 5220 8213Thổ Nhĩ

Trang 13

sử dụng đến chỉ số phát triển con người HDI trong mối quan hệ với chỉ số pháttriển giới GDI.

Bảng 2 – So sánh giá trị và xếp hạng theo HDI và GDI một số nước chọn lọcnăm 2005

Tên nước

trừ đi xếp hạng GDI

Giá trị Xếp

hạng Giá trị

Xếp hạng

(Nguồn: tổng hợp từ “Báo cáo phát triển con người 2008” của UNDP)

Qua bảng số liệu có thể nhận thấy ở các nước trong khối hợp tác và pháttriển kinh tế có giá trị HDI gần với giá trị của GDI, thậm chí có nước còn cóthứ hạng GDI cao hơn như Na Uy, Luc Xam bua, đều đó cho thấy một sự phânphối bình đẳng hơn về phát triển con người Ngược lại, các nước đang pháttriển như Việt Nam, Camơrun, Campuchia có thứ hạng GDI thấp hơn thứ hạngHDI, ở đó tồn tại sự phân phối không bình đẳng và phát triển giữa nam và nữ

Mặt khác, nếu xét bình đẳng giới trong hoạt động kinh tế, ở các quốc giađang phát triển tỷ lệ nữ giới trong hoạt động kinh tế là 52.4% , các quốc giaOECD là 52,8% trong khi tỷ lệ đó của thế giới là 52,5%

Thực trạng này cho thấy, bất bình đẳng giới tồn tại trong mỗi quốc gia, nhưngthể hiện với các mức độ khác nhau Và có thể nói, sự bất bình đẳng về giới ởnhững nước đang phát triển nhiều hơn, sự chênh lệch về phân phối sự phát triểngiữa nam và nữ cao hơn so với các nước đang phát triển Nhận thấy một thực tế

Trang 14

rằng, các nước phát triển, có tiềm lực về kinh tế, có sự đầu tư tốt hơn, tạo điềukiện để nâng cao chất lượng cuộc sống hay phát triển con người cao hơn Cònnhững nước đang phát triển, kinh tế khó khăn, thêm vào đó là văn hóa, chínhtrị, xã hội vẫn tồn tại những hạn chế , hay nói cách khác bất bình đẳng giới vẫnchưa suy giảm Ở đó, sự chêch lệch về việc làm, về thu nhập, về giáo dục giữanam giới và nữ giới còn cao, vị thế của phụ nữ trong xã hội vẫn chưa được cảithiện Một số biểu đồ so sánh về bất bình đẳng giới các nước trên thế giới

1 Bản đồ phân biệt đối xử giới tính trên thế giới

Nguồn:

http://www.oecd.org/document/55/0,3343,en_2649_34487_42278391_1_1_1_1,00.html

Trang 15

2.Biểu đồ so sánh các tỷ lệ nữ so với nam giữa các nước

Nguồn: Báo cáo "Đưa vấn đề giới vào phát triển" của Ngân hàng thế giới 2000

1.2 Mối quan hệ giữa bất bình đẳng giới và phát triển

1.2.1 Mối quan hệ giữa bất bình đẳng giới và đói nghèo:

Như chúng ta đã xem xét các hình thái của bất bình đẳng giới ở phầntrên, trong phần này chúng ta cũng sẽ chỉ xem xét mối quan hệ giữa đói nghèo

và bất bình đẳng giới về khía cạnh giáo dục, việc làm và thu nhập Bất bìnhđẳng giới tồn tại cả trong nhóm người giàu và nghèo nhưng dường như có xuhướng gay gắt hơn trong nhóm người nghèo

Trước tiên chúng ta sẽ xem xét về mặt giáo dục Năm 1999, Filmer đãtiến hành phân tích sự khác biệt trong tỷ lệ đến trường ở độ tuổi 6 đến 14 bằngviệc sử dụng kết quả điều tra nhân khẩu của hơn 41 nước trong các vùng Trung

Á, Nam Á và Đông Nam Á, châu Phi và hạ Sahara, châu Mỹ Latinh và vùngCaribê Kết quả nghiên cứu cho thấy sự phân biệt giới về tỷ lệ đi học trong

Trang 16

giới trong tỷ lệ đi học ở độ tuổi 6 đến 14 được Filmer thể hiện bằng tỷ số giữa

tỷ lệ số nam sinh chia cho tỷ lệ số nữ sinh Filmer đã phân ra làm 2 nhóm quốcgia, trong đó khoảng cách về giáo dục trong nhóm nghèo cao hơn trong nhómgiàu Trong 1 phân nhóm sự bất bình đẳng giới ở mức thấp hoặc vừa phải trongnhóm giàu( tỷ lệ của nam so với nữ nhỏ hơn 1,5) và ở mức vừa phải trongnhóm nghèo (tỷ lệ này là 1,1 đến 1,5) Trong nhóm thứ 2 thì sự bất bình đẳngthấp và vừa phải trong nhóm giàu( tỷ lệ dưới 1,5) nhưng lại lên tới trên 1,5trong nhóm nghèo Còn theo Todaro (2006), ở hầu hết các quốc gia đang pháttriển, trẻ em gái được học hành ít hơn trẻ em trai Trong những năm gần đây,

66 trong số 108 quốc gia được nghiên cứu có tỷ lệ trẻ em gái nhập học cấp tiểuhọc và trung học thấp hơn trẻ em nam ít nhất khoảng 10% Nếu tính trung bìnhcho tất cả các quốc gia đang phát triển, tỷ lệ phụ nữ biết chữ thấp hơn 29% sovới nam giới, số năm đến trường trung bình thấp hơn 45% so với nam giới và

tỷ lệ nhập học tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ thông của nữ thấp hơntương ứng là 9%, 28% và 49% so với nam

Theo số liệu thống kê cho thấy phụ nữ có ít quyền hơn đối với một loạtcác nguồn lực thuận lợi, bao gồm giáo dục, đất đai, thông tin, và tài chính ỞNam Á, trung bình thời gian phụ nữ được đến trường chỉ bằng khoảng một nửathời gian của nam giới, và tỉ lệ học sinh nữ nhập học ở cấp trung học vẫn chỉ là1/3 so với tỉ lệ nam học sinh Nhiều phụ nữ không có quyền sở hữu đất đai, vànhững người có quyền thì thường sở hữu ít đất hơn so với nam giới Ở phần lớncác nước đang phát triển, các công ty do phụ nữ điều hành có xu hướng thiếuvốn, tiếp cận kém hơn tới máy móc, phân bón, mở rộng thông tin, và tín dụng

so với các công ty do nam giới điều hành Những bất bình đẳng như thế, dùtrong lĩnh vực giáo dục hay trong các nguồn lực thuận lợi khác, làm suy giảmkhả năng tham gia vào quá trình phát triển của người phụ nữ và góp phần nângcao mức sống cho gia đình họ

Mặc dù các thành quả về giáo dục cho phụ nữ có tăng, họ vẫn bị trảlương thấp hơn so với nam giới trong thị trường lao động – dù họ có cùng bằng

Ngày đăng: 31/03/2014, 16:54

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2 – So sánh giá trị và xếp hạng theo HDI và GDI một số nước chọn lọc năm 2005 - GIỚI, BẤT BÌNH ĐẲNG GIỚI VÀ PHÁT TRIỂN: NGUYÊN NHÂN VÀ THỰC TRẠNG
Bảng 2 – So sánh giá trị và xếp hạng theo HDI và GDI một số nước chọn lọc năm 2005 (Trang 13)
Bảng 3 - So sánh giữa GDI và HDI – một thước đo của sự bất bình đẳng (2008) - GIỚI, BẤT BÌNH ĐẲNG GIỚI VÀ PHÁT TRIỂN: NGUYÊN NHÂN VÀ THỰC TRẠNG
Bảng 3 So sánh giữa GDI và HDI – một thước đo của sự bất bình đẳng (2008) (Trang 21)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w