Người phụ nữ không chỉ đóng vai trò là lực lượngsản xuất chính trong gia đình mà còn tham gia tích cực vào các hoạt động xã hội.Nhiều nghiên cứu nói lên rằng mặc dù phụ nữ là lực lượng l
Trang 1Báo cáo “Giới với vấn đề thu nhập và ra quyết định
trong gia đình nông thôn hiện nay”
Trang 2MỤC LỤC
PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Tính cấp thiết 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 1
1.2.1 Mục tiêu chung 1
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 1
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 2
PHẦN 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
2.1 Các khái niệm 3
2.1.1 Giới 3
2.1.2 Thu nhập 3
2.1.3 Ra quyết định 3
2.1.4 Bình đẳng giới 3
2.2 Giới và vấn đề thu nhập 3
2.2.1 Nguồn thu nhập của gia đình 3
2.2.2 Đặc điểm thu nhập của hộ nông dân 4
2.2.3 Vai trò đóng góp kinh tế của phụ nữ đối với gia đình 5
Trang 32.2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập 7
2.3 Giới và ra quyết định trong gia đình 9
2.3.1 Quyền ra quyết định về tiếp cận và kiểm soát nguồn lực 9
2.3.2 Một số nghiên cứu liên quan đến vấn đề ra quyết định trong gia đình 9
2.3.3 Nguyên nhân ảnh hưởng đến vấn đề ra quyết định 11
2.4 Các ví dụ cụ thể 12
PHẦN 3 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 15
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 15
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 15
3.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội 15
3.2 Phương pháp nghiên cứu 17
3.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 17
3.2.2 Phương pháp thu thập thông tin 17
3.3.3 Phương pháp phân tích thông tin 17
PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 18
4.1 Tình hình thu nhập của các hộ gia đình tại xã Thụy Dân 18
4.2 Thực trạng ra quyết định của chồng và vợ trong các gia đình tại xã Thụy Dân 18
4.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập và quyền ra quyết định trong gia đình tại xã Thụy Dân 18
4.3 Một số giải pháp nâng cao vị thế của người phụ nữ với vấn đề thu nhập và ra quyết định trong gia đình 18
PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 18
5.1 Kết luận 18
5.2 Kiến nghị 18
PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết
Trang 4Hiện nay có tới 78% tổng số phụ nữ sống trong nông thôn, họ chiếm tới70% lực lượng lao động trong nông thôn và được đánh giá là tạo ra 60% sảnphẩm của xã hội nông thôn Người phụ nữ không chỉ đóng vai trò là lực lượngsản xuất chính trong gia đình mà còn tham gia tích cực vào các hoạt động xã hội.Nhiều nghiên cứu nói lên rằng mặc dù phụ nữ là lực lượng lao động chính tronggia đình tại nông thôn hiện nay nhưng quyền quyết định chính trong gia đình vẫn
là nam giới Vấn đề đặt ra trong nghiên cứu này là thực trạng quyết định tronggia đình nông thôn hiện nay như thế nào? Thu nhập có ảnh hưởng như thế nàođến quyền quyết định của chồng và vợ? Phụ nữ cần làm gì để nâng cao vị thế củamình trong gia đình cũng như tham gia vào việc ra quyết định trong gia đình?
Xuất phát từ những vấn đề trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài
“Giới với vấn đề thu nhập và ra quyết định trong gia đình nông thôn hiện nay”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Tìm hiểu về vấn đề thu nhập và quyền ra quyết định trong gia đình nôngthôn hiện nay
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về thu nhập và quyền ra quyết định
- Thực trạng thu nhập và quyền quyết định trong gia đình nông thôn hiệnnay
- Giải pháp nâng cao vị thế của phụ nữ trong gia đình, cũng như tham giavào việc ra quyết định trong gia đình
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Hoạt động thu nhập của giới và sự ra quyết định trong gia đình đối vớimỗi giới
Trang 51.3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nội dung: vấn đề giới với thu nhập và ra quyết định trong gia đìnhnông thôn hiện nay
- Phạm vi không gian: xã Thụy Dân, huyện Thái Thụy – Thái Bình
- Phạm vi thời gian: năm 2006 - 2008
PHẦN 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1 Các khái niệm
Trang 62.1.1 Giới
Là phạm trù chỉ quan niệm, vai trò và mối quan hệ xã hội giữa nam giới
và phụ nữ Xã hội tạo ra và gán cho trẻ em gái và trẻ em trai, cho phụ nữ và namgiới các đặc điểm giới khác nhau Bởi vậy, các đặc điểm giới rất đa dạng và cóthể thay đổi được
2.1.2 Thu nhập
Thu nhập là số lượng tiền, hàng hoá hoặc dịch vụ mà một cá nhân, công tyhay một nền kinh tế nhận trong một khoảng thời gian nhất định (quý, tháng, năm)
2.1.3 Ra quyết định
Ra quyết định là một quá trình lựa chọn có ý thức giữa hai hoặc nhiềuphương án để chọn ra một phương án và phương án này sẽ tạo ra được một kếtquả mong muốn trong các điều kiện ràng buộc đã biết
- Tiền lương: Mức thu nhập này tùy thuộc vào kết quả lao động của mỗi người
và điều kiện kinh doanh của doanh nghiệp
- Tiền thưởng: Phần thu nhập bổ sung cho những người lao động tốt, có năngsuất cao, kỉ luật tốt
- Tiền phúc lợi: Do cơ quan, trường học… chi cho cán bộ viên chức trong nhữngdịp lễ tết, thăm hỏi, hiếu hỉ… từ quỹ phúc lợi
Trang 72.2.2 Đặc điểm thu nhập của hộ nông dân
Thu nhập, đời sống của nông dân còn thấp và tăng chậm so với dân cưthành thị Nông hộ chủ yếu sống ở nông thôn, nơi có nhiều điều kiện khó khănnhư cơ sở hạ tầng, trình độ dân trí thấp, dân trí tăng nhanh và thiếu việc làm.Theo thống kê của Tổng cục thống kê Việt Nam thì khoảng cách về thu nhậpbình quân của 1 người 1 tháng giữa dân cư thành thị và dân cư nông thôn có xuhướng gia tăng năm 1993 là 2 lần, năm 1994 tăng lên 2,55 lần, năm 1995 là 2,63lần, năm 1996 là 2,7 lần, năm 1999 là 3,7 lần, năm 2001 là 4 lần đến 2003 giảmxuống nhưng vẫn ở mức 2,3 lần
Nguồn thu nhập của hộ nông dân phong phú đa dạng: hoạt động sản xuấtkinh doanh của hộ nông dân bao gồm các hoạt động sản xuất nông nghiệp và sảnxuất phi nông nghiệp trong nông hộ: trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản,kinh doanh, buôn bán, tiểu thủ công nghiệp, làm thuê, xuất khẩu lao động…
Thu nhập của nông hộ vẫn chủ yếu từ hoạt động nông nghiệp
Thu nhập của hộ nông dân không đều do mỗi vùng có 1 nguồn tài nguyên,điều kiện kinh tế, xã hội, môi trường, tổ chức quản lý khác nhau Sự đa dạng vềquy mô và trình độ phát triển đã tạo ra sự khai thác nguồn lực không đồng đềugiữa các hộ nông dân trong vùng Những hộ biết tận dụng mọi khả năng sẵn có,biết học hỏi kinh nghiệm và có khả năng đầu tư sẽ đem lại hiệu quả cao và thunhập cao, ngược lại
Thu nhập của hộ nông dân chưa loại trừ hết chi phí sản xuất Trong nông
hộ thu nhập không chỉ là lợi nhuận kinh doanh mà nó bao gồm cả chi phí lao
Trang 8động gia đình Nguồn lao động sử dụng 1 cách linh hoạt 1 người có thể làm đượcnhiều công việc, tuỳ theo thời vụ, công việc mà sắp xếp nên khó tính chi phí laođộng của gia đình.
2.2.3 Vai trò đóng góp kinh tế của phụ nữ đối với gia đình
Chức năng kinh tế là một chức năng đặc biệt và quan trọng nhất ở thiếtchế gia đình Người phụ nữ có đặc trưng về sinh học: là mẹ, là vợ, họ đảm tráchcác công việc thường nhật của gia đinh, tuy nhiên họ cũng còn phải đóng góp thunhập vào kinh tế gia đình Có quan điểm cho rằng công việc nhà là công việc
“đương nhiên” của phụ nữ Tuy nhiên chúng ta biết rằng sự phân công lao độngtheo giới là một sản phẩm xã hội Ph.ăng-ghen trong tác phẩm nổi tiếng Nguồngốc của gia đình của chế độ tư hữu và của nhà nước, khi nói về sự phân công laođộng theo giới trong thời kỳ bộ lạc đã cho rằng: “ Sự phân công lao động là hoàntoàn có tính chất tự nhiên, nó chỉ tồn tại giữa nam và nữ Đàn ông đi đánh giặc,
đi săn bắt và đánh cá, tìm nguyên liệu dùng làm thức ăn và kiếm những công cụcần thiết cho việc đó Đàn bà chăm sóc việc nhà, chuẩn bị cái ăn và cái mặc, họlàm bếp và may vá (trích nguồn Các Mác và Ph.ăng-ghen, 1984:243-) Trong kếtquả điều tra gia đình Việt Nam năm 2006, quan niệm mức độ hài lòng về hônnhân của người phụ nữ cũng nhấn mạnh tới chức năng kinh tế của bất hoà vềứng xử và dẫn đến rạn nứt gia đình Có đến 46,1% đưa ra lý do khó khăn về kinh
tế khi được hỏi về nguyên nhân dẫn tới bất hoà trong gia đình (trích nguồn Bộvăn hoá thể dục thể thao và du lịch, Tổng cục thống kê, Viện gia đình và giới,Unicef 2008 )
(Nguồn: Tạp chí nghiên cứu giới và gia đình số 4 năm 2010)
Quyền quyết định của người phụ nữ trong gia đình cũng ngày càng đượctăng lên Có nhiều người vợ quyết định cùng chồng những công việc quan trọngtrong gia đình Trong “Kết quả điều tra gia đình năm 2006” cho thấy đến 53% sốphụ nữ ở thành thị đứng tên một giấy tờ đăng ký sản xuất kinh doanh (trích
Trang 9nguồn Bộ văn hoá thể dục thể thao và du lịch, Tổng cục thống kê, Viện gia đình
và giới, Unicef 2008 ).Ở các thành phố vai trò trụ cột kinh tế hiện nay đã khôngcòn là đặc quyền của chồng Các số liệu của Nguyễn Thị Hoà và Trần Thị VânAnh,2007 đã góp phần chứng minh điều đó Ví dụ nghiên cứu của Nguyễn ThịHoà cho thấy 64,5% người vợ đóng góp công sức nhiều nhất cho kinh tế gia đình
so với 30,8% là người chồng Sự đóng góp của người vợ không có gì khác biệttheo vùng miền Tương tự kết quả nghiên cứu của Trần Thị Vân Anh cho thấy tỷ
lệ nữ tự đánh giá về việc có đóng góp vào thu nhập gia đình của bản thân là92,5% Và đánh giá của những người chồng về việc có đóng góp vào thu nhậpgia đình của phụ nữ cũng chiếm tỷ lệ tương tự là 94,5% Như vậy con số thống
kê này cho thấy người vợ có xu hướng đóng góp nhiều cho kinh tế gia đình.Nhìn nhận vai trò kinh tế một cách thoả đáng giúp phụ nữ thể hiện rõ vai trò kinh
tế của họ Xã hội Việt Nam có nhiều biến đổi đặc biệt là giai đoạn đổi mới năm
1986 Những thay đổi xã hội tác động tới vai trò của giới trong gia đình Các kếtquả nghiên cứu về phân công lao động trong gia đình đã phản ánh khá rõ vai tròcủa phụ nữ và chức năng kinh tế của gia đình Một câu hỏi được đặt ra nhưngười phụ nữ Việt Nam có vai trò như thế nào trong không gian một gia đình?Một kết quả nghiên cứu của trung tâm nghiên cứu dân số gia đình thuộc Đại họcMichighen của Hoa Kỳ công bố trước đây cho thấy ở Việt Nam người vợ làngười chủ yếu nắm giữ “túi tiền’’ của gia đình Mặc dù người phụ nữ được nắmgiữ tài chính nhưng họ không phải là người đưa ra các quyết định quan trọngtrong gia đình
2.2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập
Giáo dục - đào tạo: Vẫn còn những thách thức lớn trong công tác giáo dục
và phát triển nguồn nhân lực ở khu vực miền núi, vùng nông thôn, sự chệnh lệch
về giới trong tỷ lệ học sinh đến trường cao hơn những vùng khác, đặc biệt đối
Trang 10với các dân tộc thiểu số Mặc dù đã có nhiều cố gắng lớn về đào tạo cho dân sốnông thôn, trình độ chuyên môn và trình độ kỹ thuật của họ vẫn còn ở mức thấp.Năm 2002, cứ 100 dân số nữ từ 15 tuổi trở lên thì có 25,5 người tốt nghiệp tiểuhọc, 25,8 người tốt nghiệp THCS và 9,4 người tốt nghiệp THPT; các tỷ lệ tươngứng ở dân số nam là 27,3; 29,5 và 12 Bậc trung học chuyên nghiệp không có sựkhác biệt lớn, nữ đạt 2,9% và nam 2,8%; bậc cao đẳng và đại học nữ đạt 2,7% vànam đạt 4,2% Riêng bậc trên đại học, tỷ lệ nữ thấp hơn 3 lần so với nam, cụ thể
nữ đạt 0,04% và nam 0,13%
Lao động và việc làm: Về ngành nghề lao động, thống kê cho thấy laođộng nữ có xu hướng tập trung lao động ở các ngành nông nghiệp và dịch vụ,trong khi lao động nam lại tập trung cao ở ngành thuỷ sản và xây dựng
Trình độ chuyên môn, phụ nữ ít có cơ hội tiếp cận với công nghệ, tín dụng
và giáo dục đào tạo, thường gặp nhiều khó khăn do gánh nặng công việc giađình, điều kiện để nâng cao chuyên môn ít hơn nam giới Có số liệu cho thấy laođộng nữ qua đào tạo chỉ bằng 30% so với lao động nam Bồi dưỡng nghiệp vụ vềquản lý nhà nước đối với nữ cũng chỉ chiếm tỷ lệ 30% Do đó trong đa số trườnghợp lao động nữ không có trình độ chuyên môn cao bằng nam giới nên dễ dẫnđến chênh lệch trong thu nhập so với nam giới
Vùng địa lý: Tỷ lệ nữ tham gia hoạt động kinh tế ở nước ta duy trì ở mứccao, năm 2003, tỷ lệ này ở nữ là 68,5%, còn ở nam là 75,8% Giữa các vùng có
sự khác biệt lớn về tỷ lệ nữ tham gia hoạt động kinh tế Năm 2003, tỷ lệ nữ hoạtđộng kinh tế là cao nhất ở Tây Bắc, đạt 80%, tiếp theo là Tây Nguyên, đạt 78%
Tỷ lệ nữ tham gia hoạt sđộng kinh tế thấp nhất được ghi nhận ở Đông Nam Bộ,đạt 60%, theo sau là đồng bằng sông Cửu Long, đạt 64% Đặc biệt, đây cũng làhai vùng có mức chênh lệch lớn nhất về tỷ lệ tham gia hoạt động kinh tế của nam
và nữ
Trang 11Nếu phân biệt theo khu vực thành thị và nông thôn thì tỷ lệ có việc làmthường xuyên ở thành thị thấp hơn ở nông thôn Năm 2003, tỷ lệ nữ ở thành thị
có việc làm thường xuyên là 94,5% còn ở nông thôn là 95,8%; các tỷ lệ tưng ứng
ở nam là 95,8% và 96,3% Trong thời kỳ 2000-2003, trong khi tỷ lệ thất nghiệpcủa nam có xu hướng giảm thì tỷ lệ thất nghiệp nữ tăng lên, năm 2003, tỷ lệ thấtnghiệp của nữ là 6,9%, còn tỷ lệ thất nghiệp của nam là 4,4%
Chính sách liên quan đến thu nhập và vấn đề giới: Bình đẳng giới tronglĩnh vực lao động có nghĩa là bình đẳng về quyền, trách nhiệm, cơ hội, đối xử vàđánh giá đối với mỗi người không phân biệt giới tính của họ về pháp lý ViệtNam đã quy định sự bình đẳng giữa phụ nữ và nam giới tại điều 24 Hiến phápViệt Nam khuyến khích cho doanh nghiệp sử dụng đông lao động nữ như tíndụng ưu đãi, giảm thuế và cải thiện điều kiện việc làm cho lao động nữ Đào tạo
và chuyển lao động nữ đang làm các công việc độc hại nguy hiểm có hại choviệc sinh con và chăm sóc con cái của phụ nữ sang các công việc khác phù hợphơn,cải thiện điều kiện lao động và giảm thời gian làm việc
Tuy nhiên, còn có những yếu tố hạn chế phụ nữ tham gia vào lĩnh vực việclàm chính thức và hưởng lợi một cách bình đẳng từ việc làm So với mức độ pháttriển của đất nước thì Việt Nam có nhiều chính sách lao động "bảo vệ" cho laođộng nữ như chính sách phúc lợi hưu trí, sinh đẻ, hạn chế hoặc cấm phụ nữ làmcác công việc nặng nhọc, nguy hiểm
Nhóm các yếu tố khác: Tình trạng sức khoẻ có quan hệ với thời gian laođộng, khối lượng và chất lượng công việc thực hiện nên nó có quan hệ tỷ lệthuận đối với thu nhập của người lao động
Xây dựng chiến lược thúc đẩy bình đẳng giới là nhiệm vụ đầy thách thức.Giáo dục, chuyên môn và đào tạo, là những nhu cầu cần hướng tới của một nềnkinh tế và một xã phát triển Bên cạnh đó, nâng cao hiểu biết tiến bộ về giới làmột điều kiện tiên quyết quan trọng đối với nhiều ưu tiên chính sách Bởi các
Trang 12chiến lược để thúc đẩy bình đẳng giới phải giải quyết những ý tưởng và địnhkiến lâu nay về quan hệ giới và chuẩn mực của nữ giới và nam giới trong xã hội.
2.3 Giới và ra quyết định trong gia đình
2.3.1 Quyền ra quyết định về tiếp cận và kiểm soát nguồn lực
- Nguồn lực: là tất cả những gì mà con người cần để thực hiện công việc
mà họ muốn
- Lợi ích: là những thứ giúp con người hoặc đem đến cho họ những điềutốt đẹp
- Tiếp cận: là việc sử dụng
- Kiểm soát: Là có quyền định đoạt/ quyết định việc sử dụng
- Phụ nữ góp công lớn cho gia đình nhưng không phải là người quyết địnhcác khoản chi lớn
- Nam giới thường nắm quyền quyết định về việc sử dụng các nguồn lựcnhư đất đai, nhà cửa…
- Phụ nữ thường làm những công việc thấp so với nam giới
2.3.2 Một số nghiên cứu liên quan đến vấn đề ra quyết định trong gia đình
Thực tế nhiều nghiên cứu đã nghiên cứu tại các vùng nông thôn trên cảnước ở các thời điểm khác nhau đều chỉ ra rằng trong các công việc đã có sự bànbạc giữa hai vợ chồng, nhưng việc ra quyết định chính vẫn là do người chồng vàđịnh kiến giới chính là yếu tố ảnh hưởng tới việc ra quyết định trong gia đình
Nhiều nghiên cứu cũng cho rằng mô hình về quyền quyết định trong giađình hiện nay đó là người đàn ông vẫn có quyền quyết định nhiều hơn người vợ.Mặc dù trong gia đình người vợ là người phải đảm nhận hầu hết các công việc,thậm chí họ còn là người mang lại thu nhập chính cho gia đình, nhưng phần lớnquyền quyết định chính thuộc về người chồng, người vợ chỉ là người thực thi cácquyết định đó (Đặng Thị Hoa, 2001; Mai Huy Bích và Lê Thị Kim Lan, 1999)
Lý giải cho điều này các nghiên cứu chỉ ra rằng đây là do ảnh hưởng của định