Bồn trũng Cửu Long được coi là bồn khép kín điển hình của Việt Nam có hình dạng đặc trưng là bầu dục, vồng ra về phía biển và nằm dọc theo bờ biển Vũng Tàu-Bình Thuận.Bồn được bồi lấp ch
Trang 1Bồn trũng Cửu Long
Bồn trũng Cửu Long là một bồn trũng lớn có diện tích 36.000 km2 nằm ở thềm lục địa Nam Việt Nam và một phần đất liền thuộc khu vực cửa sông Cửu Long Cùng với Nam Côn Sơn, bồn trũng Cửu Long là một trong những bể có tiềm năng dầu khí lớn
Vị trí địa lý.
Bồn trũng Cửu Long được coi là bồn
khép kín điển hình của Việt Nam có
hình dạng đặc trưng là bầu dục,
vồng ra về phía biển và nằm dọc theo
bờ biển Vũng Tàu-Bình Thuận.Bồn
được bồi lấp chủ yếu bởi các trầm
tích lục nguyên Đệ Tam, chiều dày
lớn nhất tại trung tâm bể có thể đạt
tới 7-8 km.Phía Tây Bắc tiếp giáp với
đất liền, ngăn cách với bể Nam Côn
Sơn bởi đới nâng Côn Sơn.Phía Tây
Nam là đới nâng Khorat-Natuna Phía
Đông Bắc là đới cắt trượt Tuy Hòa
Trang 2 Võng trung tâm Cửu Long chiếm một diện tích khá lớn về phía Tây Bắc lô
09 Móng sụt tới độ sâu 6.5-7 km Trục của võng kéo dài theo phương vĩtuyến sang đến lô 16
Võng Nam Cửu Long nằm ở lô 09 Móng sụt tới độ sâu 8 km.Võng có hìnhovan, trục của võng kéo dài theo phương Đông Bắc
Ngăn cách giữa Võng Trung Tâm và Võng Nam Cửu Long là gờ nâng trungtâm Gờ nâng được nâng cao chạy theo phương Đông Bắc – Tây Nam, đặctrưng cho phương phát triển chung của bình đồ cấu trúc bồn trũng Tại đâytập trung các mỏ dầu quan trọng như Bạch Hổ, Rồng, Sói, …
Nhìn chung bồn trũng Cửu Long là một cấu trúc sụt võng không đối xứng cóphương Đông Bắc – Tây Nam Sườn Tây Bắc của bồn trũng có độ dốc thoải, địahình của móng có dạng bậc thang và thoải dần về phía lục địa Sườn Đông Namcủa võng sụt có độ dốc lớn đến 40 – 500, đá móng được nhô cao đến độ sâu1500m
Trang 3 Đặc điểm kiến tạo.
Do ảnh hưởng kiến tạo tách dãn của Biển Đông, ứng với điều này lịch sử pháttriển các đặc điểm kiến tạo trải qua ba thời kì:
Thời kì trước tạo rift (Jura – Creta): Là thời kì rift với sự tách dãn và sự lúnphân dị theo các đứt gãy lớn bên trong mảng Kontum – Borneo để hìnhthành các trũng kiểu giữa núi Quá trình này đi kèm hoạt động magma xâmnhập Granitoite, phun trào núi lửa axit dạng ryolite, andesite, basalt và cáchoạt động nhiệt dịch, các chuyển động nứt co bên trong các khối magma,
Trang 4tạo ra các khe nứt đồng sinh được lấp đầy bởi Zeolite và Calcite cũng như
tạo ra các hang hốc khác nhau
Thời kỳ đồng tạo rift (Eocene – Oligocene sớm): Là thời kì phát triển rift với
các trầm tích lục địa, molas, phủ không chỉnh hợp trên các tầng trầm tích
Mezozoi ở trung tâm trũng hoặc trên các đá cổ hơn ở ven rìa Sự chuyển
động dâng lên mạnh ở các khối nâng và quá trình phong hoá xảy ra vào đầu
Paleogene tạo ra lớp phong hoá có chiều dài khác nhau trên đỉnh các khối
nâng granite Đó là điều kiện thuận lợi để tích tụ hydrocacbon và cũng là
tầng sản phẩm quan trọng được phát hiện và khai thác hiện nay ở trũng
Cửu Long
Thời kỳ sau tạo rift (Oligocene – Đệ tứ): Là thời kì mở rộng các vùng trũng
do sự lún chìm khu vực ở rìa Nam địa khối Kontum – Borneo, có liên quan
trực tiếp dến sự phát triển của biển Đông
Chủ yếu là đá magma axit thuộc nhóm granitoite có tuổi từ T3 đến K1 Các đá này
tương đương với một số phức hệ đá xâm nhập của lục địa như phức hệ Hòn Khoai
-Gồm các tập sét kết màu đen, xám xen kẽ với các lớp cáthạt từ mịn đến trung bình, độ lựa chọn hạt tốt, gắn kết chủyếu bởi xi măng kaonilite Phần bên trên của trầm tíchOligocene hạ là lớp sét dày Trên các địa hình nâng cổthường không gặp hoặc chỉ gặp các lớp sét mỏng thuộc
phần trên của Oligocene hạ
Trang 5Trầm tíchOligocenethượng – điệp
Trà Tân(P32tt)
Gồm các trầm tích sông hồ đầm lầy và trầm tích biển nông.Ngoài ra trầm tích Oligocene thượng còn chịu ảnh hưởngcủa các hoạt động magma vì thế ở đây còn tìm thấy thân đáphun trào như basalt, andesite,… Phần bên dưới của trầmtích Oligocene bao gồm sét xen kẽ với các lớp cát kết hạtmịn trung, các lớp sét và các tập đá phun trào Bên trên đặctrưng bằng các lớp sét đen dày Ở khu vực đới nâng Côn
Sơn cát nhiều hơn
điệp BạchHổ(N11bh)
_ Phụ điệp Bạch Hổ dưới(N11bh): gồm các lớp cát kết lẫn vớicác lớp sét kết và bột kết Cát kết thạch anh màu xám sáng,hạt độ từ nhỏ đến trung bình, được gắn kết chủ yếu bằng ximăng sét, kaolinit lẫn với carbonate Bột kết màu từ xámđến nâu, xanh đến xanh tối, trong phần dưới chứa nhiềusét Trong phần rìa của bồn trũng Cửu Long, cát chiếm mộtphần lớn (60%) và giảm dần ở trung tâm bồn trũng._Phụ điệp Bạch Hổ giữa(N11bh1): ): phần dưới của phụ điệpnày là những lớp cát hạt nhỏ lẫn với những lớp bột rấtmỏng Phần trên chủ yếu là sét kết và bột kết, đôi chỗ gặp
những vết than và glauconite_Phụ điệp Bạch Hổ trên(N11bh2): Chủ yếu là sét kết xanhxám, xám sáng Phần trên cùng của mặt cắt là tầng sét kếtRotalit có chiều dày 30 – 300m, chủ yếu trong khoảng 50 –
100m, là tầng chắn khu vực cho cả bể
Trầm tíchMiocene trung
Trang 6Trầm tíchMiocenethượng – điệpBiểnĐông(N12bd)
Trầm tích phần dưới gồm cát xen kẽ với lớp sét mỏng, đôichỗ lẫn với cuội, sạn kích thước nhỏ thành phần chủ yếu làthạch anh một ít những mảnh đá biến chất, tuff và nhữngtinh thể pyrite Phần trên là cát thạch anh với kích thướclớn độ lựa chọn kém, hạt sắc cạnh Trong cát gặp nhiềumảnh hoá thạch sinh vật, glauconite than và đôi khi cả tuff
Điệp này được đặc trưng chủ yếu là cát màu xanh trắng, có
độ mài tròn trung bình, độ lựa chọn kém, có nhiềuglauconite Trong cát có cuội thạch anh hạt nhỏ Phần trêncác hoá thạch giảm cát trở nên thô hơn, trong cát có lẫn
bột, cát có màu hồng chứa glauconite
Các lô và mỏ dầu khí
Trang 7Tên Lô Tên mỏ Nhà điều
hành
Thành phần tham gia
PVEP (15%) PCVL (85%) 1,184
Phát triển Khai thác Dầu
PVEP (50%) PCOSB (50%) 129,7 Phát triển
PVEP (50%)
SK (9%) KNOC (14.25%) CONOCOPHILLIPS (23.25%) GEOPETROL (3.5%)
800 Phát triểnKhai thác Dầu và Khí
PVEP POC PVEP (100%) 11.823 Tìm kiếmThăm dò
09-2/09 Tê Giác
Trắng PVEP POC PVEP (100%) 992
Tìm kiếm Thăm dò
Trang 8Khai thác Dầu
ER ENERGY
SALAMANDER ENERGY (75%) ORIGIN (25%)
ER ENERGY
SALAMANDER ENERGY (35%) PVEP (40%) ORIGIN (25%) DBSCL-
PVEP (50%) PTTEP (25%) SOCO (25%)
1.372 Khai thác Dầu và khí
PVEP (35%) IDEMITSU (15%) ZARUBEZNEFT (50%)
15-1/05 PVEP POC
PVEP (40%) TOTAL (35%)
SK ENGERGY (25%)
3.827 Tìm kiếm
Thăm dò
17.5%, Phương Đông 35.5%) JVPC (46.5%)
468,5 Phát triển
Khai thác
Dầu và khí
Trang 9CONOCOPHILLIPS (36%)
16-1 Voi Trắng HOANGLON
G JOC
PVEP (41%) PTTEP (28.50%) SOCO (28.50%) OPECO (2.0%)
173 Phát triển
Khai thác Dầu và khí
PVEP (45%) NOEX (40.00%) VSP (15.00%)
2.785 Tìm kiếmThăm dò
09-3/12 VSP PVEP(30%) 5.559 Tìm kiếmThăm dò
KHAI THÁC DẦU KHÍ
Lịch sử tìm kiếm thăm dò và khai thác dầu khí bồn trũng Cửu Long gắn liền với lịch
sử tìm kiếm thăm dò, khai thác dầu khí của thềm lục địa Nam Việt Nam Căn cứ vào quy mô, mốc lịch sử và kết quả thăm dò, lịch sử tìm kiếm, thăm dò và khai thác dầu khí bồn trũng Cửu Long được chia làm 4 giai đoạn sau:
Giai đoạn trước năm 1975
Giai đoạn 1975 – 1979
Giai đoạn 1980 – 1988
Giai đoạn 1989 đến nay
I Giai đoạn trước năm 1975:
Trang 10Đây là thời kỳ khảo sát địa vật lý khu vực như: từ, trọng lực và địa chấn để chuẩn bị cho công tác đấu thầu các lô Năm 1967: U.S Nauy Oceanographic Office tiến hành khảo sát từ hàng không gần khắp lãnh thổ miền Nam
Năm 1967-1968: hai tàu Ruth và Santa Maria của Alping Geophysical
Corporation đã tiến hành đo 19500 km tuyến địa chấn ở phía Nam biển Đông trong đó có tuyến cắt qua bể Cửu Long Năm 1969: công ty Ray Geophysical Mandreel đã tiến hành đo địa vật lý bằng tàu N.V Robray I ở vùng thềm lục địa miền Nam và vùng phía Nam Biển Đông với tổng số 3482 km trong đó có tuyến cắt qua bể Cửu Long
Trong tháng 6-8, 1969 U.S Nauy Oceanographic cũng tiến hành đo song song
20000 km tuyến địa chấn bằng 2 tàu R/V E.V Hunt ở vịnh Thái Lan và phía Nam của biển Đông trong đó có tuyến cắt qua bể Cửu Long Đầu 1970 công ty Ray Geophysical Mandreel lại tiến hành đo đợt hai ở Nam biển Đông và dọc bờ biển
8639 km, đảm bảo mạng lưới cỡ 30 km x 50 km, kết hợp các phương pháp từ, trọng lực và hàng không trong đó có tuyến cắt qua bể Cửu Long
Năm 1973, xuất hiện các công ty tư bản đấu thầu trên các lô được phân chia
ở thềm lục địa Nam Việt Nam, cũng trong khoảng thời gian này các công ty trúng thầu đã tiến hành khảo sát địa vật lý chủ yếu là địa chấn phản xạ trên các
lô và các diện tích có triển vọng Những kết quả nghiên cứu của địa vật lý đã khẳng định khả năng có dầu của bồn trũng Cửu Long
Trong khoảng 1973-1974 đã đấu thầu trên 11 lô, trong đó có 3 lô thuộc bể Cửu Long là 09, 15 và 16 Năm 1974, công ty trúng thầu trên lô 09 – Mobil, đã tiến hành khảo sát địa vật lý, chủ yếu là địa chấn phản xạ, có từ và trọng lực vớikhối lượng là 3000 km tuyến Vào cuối 1974 đầu 1975, công ty Mobil đã khoan giếng khoan tìm kiếm đầu tiên trong bể Cửu Long, BH-1X, ở phần đỉnh của cấu tạo Bạch Hổ Giếng khoan này khi khoan tới độ sâu 3026 (m) đã gặp nhiều lớp cát kết chứa dầu ở độ sâu 2755 (m) – 2819 (m) tại các cấu tạo đứt gãy thuộc Miocene Hạ và Oligocene Cuộc thử vỉa thứ nhất ở độ sâu 2819 (m) đã thu được 430 thùng dầu và 200000 bộ khối khí ngưng tụ Thử vỉa lần 2 ở độ sâu
2755 (m) cho 2400 thùng dầu và 860000 bộ khối khí ngày và đêm
II Giai đoạn 1975 – 1979:
Trang 11Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, tháng 11/1975 Tổng cục dầu khí (tiền thân của Petrovietnam ngày nay) quyết định thành lập công ty dầu khí Nam Việt Nam Công ty đã tiến hành đánh giá lại triển vọng dầu khí thềm lục địa Nam Việt Nam nói chung và từng lô nói riêng.
Năm 1976, Công ty địa vật lý CGG của Pháp khảo sát 1210.9 km theo các consông của đồng bằng sông Cửu Long và vùng ven biển Vũng Tàu – Côn Sơn Kết quả của công tác khảo sát địa chấn đã xây dựng các tầng phản xạ và bước đầu xác lập các mặt cắt trầm tích khu vực Cũng trong đợt nghiên cứu này đã phát hiện ra sự tồn tại của các Graben ở phần Tây Nam bồn
Năm 1978, công ty Geco (Nauy) thu nổ địa chấn 2D trên các lô 10, 09, 16, 19,
20, 21 với tổng số 11898.5 km làm rõ chi tiết trên cấu tạo Bạch Hổ với mạng tuyến 2*2 và 1*1 km
Trên lô 15 và cấu tạo Cửu Long (nay là mỏ Rạng Đông), công ty Deminex và Geco đã khảo sát 3221.7 km tuyến địa chấn mạng lưới 3.5*3.5 km Trong đợt thăm dò này, công ty Daminex đã khoan được 4 giếng khoan tìm kiếm trên các cấu tạo triển vọng nhất Trà Tân (15A-1X), Sông Ba (15B-1X), Cửu Long (15C-1X)
và Đồng Nai (15G-1X) Kết quả khoan các giếng khoan này đều gặp các biểu hiện dầu khí trong cát kết tuổi Miocene sớm và Oligocene nhưng không có ý nghĩa công nghiệp này, Công ty dầu khí II (Petrovietnam II) đã xây dựng một số cấu tạo theo thời gian tỉ lệ 1/200000 cho một số lô (09, 10, 16) và chủ yếu là xây dựng bản đồ cấu tạo địa phương tỉ lệ 1/50000 và 1/25000 phục vụ trực tiếpcho công tác sản xuất
III.Giai đoạn 1980 – 1988:
Hiệp định hữu nghị và hợp tác tìm kiếm thăm dò khai thác dầu khí ở thềm lụcđịa Nam Việt Nam được kí kết giữa Việt Nam và Liên Xô, đã mở ra một giai đoạn mới trong lịch sử phát triển ngành công nghiệp dầu khí Việt Nam với sự rađời của Xí nghiệp liên doanh dầu khí “Vietsovpetro”
Năm 1980, tàu nghiên cứu POISK (Vietsovpetro) đã tiến hành khảo sát 4057
km tuyến địa chấn MOP – điểm sâu chung, từ và 3250 km tuyến trọng lực trongphạm vi các lô 09, 15 và 16 Kết quả đợt khảo sát này đã chia ra 4 loạt địa chấn
C, D, E, F và xây dựng được một số sơ đồ cấu tạo dị thường từ và trọng lực Bughe Trên cơ sở tổng hợp tài liệu và các kết quả nghiên cứu trước đây, Xí
Trang 12nghiệp liên doanh Vietsovpetro đã tiến hành khoan các giếng khoan tìm kiếm trên cấu tạo Bạch Hổ và Rồng nhằm tìm kiếm và thăm dò trong trầm tích tuổi Miocene và Oligocene Sự nghiên cứu này đã mang lại nhiều thành tựu lớn trong ngành công nghiệp dầu khí Việt Nam: Hàng loạt các giếng khoan thẩm lượng và khai thác ở khu vực mỏ Bạch Hổ được thực hiện, dẫn đến việc phát hiện dầu ở tầng cát Oligocene và tầng móng nứt nẻ Đây là sự kiện quan trọng mang đến những thay đổi quan trọng trong việc đánh giá trữ lượng và mục tiêukhai thác của mỏ Bạch Hổ, cũng như cho ra đời một quan niệm địa chất mới về việc tìm kiếm thăm dò dầu khí trên thềm lục địa Việt Nam Mặc dù hạn chế về
số lượng, nhưng các giếng khoan thăm dò ở các cấu tạo Rồng, Đại Hùng và TamĐảo đã mang lại những kết quả khả quan về phát hiện dầu thô, và sau đó các
mỏ Rồng, Đại Hùng đã được đưa vào khai thác thương mại (R-1X, 3X, 4X, BH-5X)
BH-Có thể nói rằng, 1980-1988 là giai đoạn mở đầu hình thành ngành công nghiệp dầu khí Việt Nam, đặt nền móng cho hoạt động tìm kiếm thăm dò trong các giai đoạn tiếp theo trên toàn bộ khu vực thềm lục địa
IV Giai đoạn 1989 đến nay:
Đây là giai đoạn phát triển mạnh mẽ nhất trong công tác tìm kiếm, thăm dò
và khai thác dầu khí trên bể Cửu Long Hàng loạt hợp đồng với công ty nước ngoài trong việc thăm dò và khai thác đã được kí kết Đến cuối 2003, đã có 9 hợp đồng tìm kiếm, thăm dò được kí kết trên các lô: 09-1, 09-2, 09-3, 01 & 02, 15-1, 15-2, 16-1, 16-2, 17
Hầu hết các lô thuộc bồn trũng trong giai đoạn này đã được khảo sát một cách tỉ mỉ không chỉ phục vụ cho công tác thăm dò mà cả cho công tác chính xác mô hình vỉa Khối lượng khảo sát trong giai đoạn này: 2D là 21408 km và 3D
là 7340.6 km2 Khảo sát 3D được tiến hành trên hầu hết các diện tích có triển vọng và trên tất cả các mỏ có triển vọng và trên tất cả các vùng mỏ đã phát hiện.Trong lĩnh vực xử lý tài liệu địa chấn 3D có những tiến bộ rõ rệt khi sử dụng qui trình dịch chuyển thời gian và độ sâu trước cộng (PSTM, PSDM)
Cho đến hết năm 2003, tổng số giếng khoan thăm dò, thẩm lượng và khai thác đã khoan ở bồn Cửu Long khoảng 300 giếng Trong đó riêng Vietsovpetro chiếm 70% Bằng kết quả khoan nhiều phát hiện dầu khí đã được xác định:
Trang 13Rạng Đông (lô 15.2), Sư Tử Đen, Sư Tử Vàng, Sư Tử Trắng (lô 15.1), Topaz
North, Diamond, Pearl, Emerald, Jade (lô 01), Cá Ngừ Vàng (lô 09.2), Voi Trắng (lô 16.1), Đông Rồng, Đông Nam Rồng (lô 09-1) Trong số phát hiện này có 5 mỏdầu: Bạch Hổ, Rồng (bao gồm cả Đông Rồng và Đông Nam Rồng), Rạng Đông,
Sư Tử Đen, Ruby hiện đang được khai thác
Qua công tác nghiên cứu tìm kiếm, thăm dò đã đạt được những thành công nhất định, kéo theo đó là các hoạt động khai thác cũng diễn ra ngày càng phát triển Kể từ giếng khoan tìm kiếm đầu tiên BH-1X, đến nay hàng loạt giếng đã được đưa vào khai thác công nghiệp với sản lượng dầu và khí ngày càng tăng
Với các hoạt động phong phú của các công ty thăm dò - khai thác trong và ngoài nước:
Tên
Nhà thầutham gia
SB
PC (V) SB 85%
PVEP 15%
Thăm dò và khaithác dầu khí(mỏ RUBY),
Tiếp tục thẩmlượng các pháthiện khác
Tiến hànhnghiên cứu vàphát triển toàn
Dầu: 20.000thùng/ngày
Trang 14JVPC (Japan):
46.5%
ConocoPhillips: 36%
PVEP: 17.5%
Thăm dò và khaithác dầu khí(mỏ RANGDONG)
Tiếp tục thăm
dò mỏ PhươngĐông
Dầu: 52000thùng/ngày
09.1 Bạch Hổ Vietsovpetro
PETROLVIETN
AM (50%)ZARUBEZNEF
T (50%)
Thăm dò và khaithác dầu khí(mỏ Bạch Hổ và
mỏ Rồng)
Mỏ Bạch Hổ:
250000 bopd
Mỏ Rồng: ướctính trữ lượng
có thể khoảng
40 mmbbl09.2
Hoan Vu JointOperationCompany (JOC)
PVEP: 50%,SOCO: 25%,PTTEP: 25%
Tìm kiếm
Thăm dò
OperationCompany (JOC)
PVEP: 50%,ConocoPhillips: 23.25%
Thăm dò
Khai thác
Mỏ Sư Tử ĐenCho dòng dầu
60.000-70.000thùng/ ngày
Trang 15SK: 9%,GEOPETROL:
PVEP: 41.5%,SOCO: 28.5%,PTTEP: 24.5%
PVEP: 50% PC
1 ĐẶC ĐIỂM KIẾN TRÚC VÀ CẤU TẠO
Các đơn vị cấu trúc của bể Cửu Long có thể được phân chia bao gồm:
• Trũng phân dị Bạc Liêu: là trũng nhỏ nằm ở phần cuối Tây Nam của bể CửuLong có diện tích khoảng 3600 km2 với một nửa thuộc lô 31 và phần còn lạithuộc nước nông và đất liền Trũng có chiều dày Đệ Tam không lớn, khoảng 3
km và bị chia cắt bởi các đứt gãy thuận có phương TB-ĐN
• Trũng phân dị Cà Cối: nằm chủ yếu ở khu vực cửa sông Hậu có diện tích rấtnhỏ và chiều dày trầm tích không lớn, khoảng 2000 m Trũng bị phân cắt bởicác đứt gãy kiến tạo có phương ĐB-TN, gần như vuông góc với phương củađứt gãy trong trũng phân dị Bạc Liêu
• Đới nâng Cửu Long: nằm về phía Đông của đới phân dị Bạc Liêu và Cà Cối,phân tách hai trũng này với trũng chính của bể Đới nâng có chiều dày trầmtích không đáng kể, chủ yếu là trầm tích hệ tầng Đồng Nai và Biển Đông