1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Biến đổi khí hậu

17 319 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh Giá Tác Động Đến Các Hệ Sinh Thái Dưới Nước Do Mất Không Gian Cư Trú Cho Các Loài Sinh Vật, Rối Loạn Môi Trường Sống Và Suy Giảm Đa Dạng Sinh Học
Trường học Trung Tâm Kỹ Thuật Môi Trường - CEE
Thể loại Đề Xuất Kế Hoạch Ứng Phó
Thành phố Sóc Trăng
Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 14,87 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là một trong những đồng bằng lớn, phì nhiêu của Đông Nam Á và thế giới, là vùng sản xuất, xuất khẩu lương thực, vùng cây ăn trái nhiệt đới lớn nhất Việt Nam.

Trang 1

MỤC LỤC

Trang

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG I: TÁC ĐỘNG CỦA BĐKH ĐẾN CÁC HỆ SINH THÁI DƯỚI NƯỚC DO MẤT KHÔNG GIAN CƯ TRÚ CHO CÁC LOÀI SINH VẬT, RỐI LOẠN MÔI TRƯỜNG SỐNG VÀ SUY GIẢM ĐA DẠNG SINH HỌC 2

I.1 NHỮNG BIỂU HIỆN CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TẠI TỈNH SÓC TRĂNG 2

I.1.1 Nhiệt độ 2

I.1.2 Lượng mưa 2

I.1.3 Mực nước 3

I.1.4 Xâm nhập mặn 3

I.1.5 Hạn hán 4

I.1.6 Bão, áp thấp nhiệt đới 4

I.1.7 Các yếu tố thời tiết cực đoan 5

I.2 TÁC ĐỘNG CỦA BĐKH ĐẾN CÁC HỆ SINH THÁI DƯỚI NƯỚC 5

I.2.1 Tác động hệ sinh thái thủy sinh nội địa 5

I.2.1.1 Tác động do thay đổi không gian cư trú 5

I.2.1.2 Tác động do rối loạn môi trường sống 7

I.2.1.3 Tác động làm suy giảm đa dạng sinh học 8

I.2.2 Tác động đến các loài thủy sinh vùng cửa sông, ven biển 10

I.2.2.1 Thực trạng đa dạng sinh học vùng cửa sông ven biển Sóc Trăng 10

I.2.2.2 Ảnh hưởng của BĐKH đến vùng cửa sông, ven biển 10

CHƯƠNG II: ĐỀ XUẤT KẾ HOẠCH ỨNG PHÓ 12

II.1 ĐỐI VỚI HỆ SINH THÁI THỦY SINH NỘI ĐỊA 12

II.2 ĐỐI VỚI HỆ SINH THÁI THỦY SINH CỬA SÔNG VEN BIỂN 13

KẾT LUẬN 15 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 2

MỞ ĐẦU

Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là một trong những đồng bằng lớn, phì nhiêu của Đông Nam Á và thế giới, là vùng sản xuất, xuất khẩu lương thực, vùng cây

ăn trái nhiệt đới lớn nhất Việt Nam ĐBSCL cũng là vùng đất quan trọng đối với Nam

Bộ và cả nước trong phát triển kinh tế, hợp tác đầu tư và giao thương với các nước trong khu vực và thế giới Hàng năm, vùng ĐBSCL bị ngập lũ gần 50% diện tích từ 3

-4 tháng tạo nên một đặc điểm nổi bật của vùng, một mặt làm hạn chế lớn đối với canh tác, trồng trọt và gây nhiều khó khăn cho đời sống của dân cư, nhưng mặt khác cũng tạo nên những điều kiện thuận lợi cho việc đánh bắt, nuôi trồng thủy sản và bổ sung độ phì nhiêu cho đất trồng trọt

Sóc Trăng ở hạ lưu sông Hậu, có ba nhánh sông lớn đổ ra biển Đông: Định An, Trần Đề, Mỹ Thanh và 72 km bờ biển Mỗi năm lượng phù sa từ các nhánh sông đổ ra biển rất lớn, bồi đắp các bãi bồi ven biển, tạo điều kiện thuận lợi môi trường lý tưởng cho các loài thủy sản đặc hữu cư trú, sinh sôi nảy nở và cây rừng ngập mặn ven biển phát triển mạnh Trên địa bàn tỉnh bao gồm hệ sinh thái cửa sông, ven biển đa dạng và độc đáo; hệ sinh thái nông nghiệp và hệ sinh thái biển Tất cả tạo nên tính đa dạng sinh học phong phú, đa dạng và đặc thù của vùng ven biển đồng bằng sông Cửu Long

Trong thời gian tới, tác động của biến đổi khí hậu và nước biển dâng lên các hệ sinh thái tự nhiên và đa dạng sinh học tỉnh Sóc Trăng sẽ rất lớn, làm thay đổi hoặc biến mất các hệ sinh thái đặc thù tại địa phương Những ảnh hưởng của biến đổi khí hậu làm dâng cao chế độ triều của biển, dẫn đến hiện tượng xâm mặn ngày càng đi sâu hơn vào các vùng sinh thái ngọt, lợ, làm thay đổi bản chất môi trường nước trên địa bàn Hậu họa từ những ảnh hưởng trên đã và đang làm cho đa dạng sinh học tại Sóc Trăng

bị suy giảm cả về chủng loại và cá thể đối với các loài cả loài trên cạn, dưới nước, ven biển và biển Trữ lượng, sản lượng thủy hải sản đang ít dần, cuộc sống của người dân đang bị đe dọa

Đã từ lâu cuộc sống của một bộ phận không nhỏ dân cư của tỉnh đã sống nhờ vào sự phong phú của các hệ sinh thái dưới nước này Do đó, khi sự đa dạng sinh học của các hệ sinh thái dưới nước bị suy giảm sẽ ảnh hưởng rất lớn đến cuộc sống của người dân Để giảm thiểu và chủ động phòng tránh các tác động mà BĐKH đã và đang gây ra cho địa phương mình, tỉnh Sóc Trăng cần có các kế hoạch ứng phó kịp thời

Trang 3

CHƯƠNG I TÁC ĐỘNG CỦA BĐKH ĐẾN CÁC HỆ SINH THÁI DƯỚI NƯỚC DO MẤT KHÔNG GIAN CƯ TRÚ CHO CÁC LOÀI SINH VẬT, RỐI LOẠN MÔI TRƯỜNG SỐNG VÀ SUY GIẢM ĐA DẠNG SINH HỌC

I.1 NHỮNG BIỂU HIỆN CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TẠI TỈNH SÓC TRĂNG I.1.1 Nhiệt độ

Tỉnh Sóc Trăng thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, có 2 mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 5 - 11 với gió mùa Tây Nam và mùa khô từ tháng 12 đến tháng

4 với gió mùa Đông Bắc, Nhiệt độ trung bình của tỉnh trong giai đoạn 25 năm (1985 -2009) dao động trong khoảng 26,5 - 270C, và đỉnh điểm là vào năm 2009 (đạt 27 0C), nhiệt độ thay đổi thất thường không diễn ra theo bất kỳ quy luật nhất định và có xu hướng khắc nghiệt hơn như “nóng thì càng nóng hơn và lạnh thì càng lạnh hơn”

Ảnh hưởng chung của biến đổi khí hậu trên toàn cầu và biến đổi khí hậu đã thể hiện ở tỉnh Sóc Trăng giai đoạn 1985 - 2009 trên cả 3 giá trị: nhiệt độ trung bình, nhiệt

độ tối thấp và nhiệt độ tối cao Nhiệt độ cao nhất qua các năm dao động trong khoảng

từ 35,1 - 37,10C (chênh lệch 2,00C) và nhiệt độ thấp nhất dao động trong khoảng 16,7 -20,70C (chênh lệch 4,00C), nhiệt độ với sự chênh lệch mức nóng nhất và lạnh nhất qua các năm 14,4 - 19,50C Biểu hiện sự chênh lệch nhiệt độ giữa tháng nóng nhất và tháng lạnh nhất trong cùng một năm tại Sóc Trăng có sự khắc nghiệt và có chiều hướng ngày càng gia tăng qua các năm Tuy nhiên đến năm 2000, sự chênh lệch này là 14,40C, năm 2006, 2008 là 15,10C do ảnh hưởng của hiện tượng La Nina nên thời tiết dịu hơn

Nhiệt độ cao nhất thường vào tháng 4 trong năm, do tháng 4 là thời kỳ chuyển tiếp từ gió mùa Đông Bắc sang gió mùa Tây Nam, đây cũng là thời kỳ nắng nóng nhất trong mùa khô Do trong giai đoạn này nước ta chịu ảnh hưởng xu thế hiện tượng thời tiết nóng trên toàn cầu đó là hiện tượng El Nino, nên nhiệt độ trung bình của năm sau

so với năm trước chênh lệch đến 0,2 - 0,40C (giai đoạn 1987, 1988, 2000, 2002, 2005,

2006, 2007, 2009 nhiệt độ ở mức 26,9 - 270C) Tuy nhiên đến năm 2008 do ảnh hưởng của hiện tượng La Nina (giảm nhiệt độ bề mặt đại dương – trái ngược với hiện tượng

El Nino) nên nhiệt độ trung bình của năm tại tỉnh đã giảm xuống còn 26,60C (là một trong những năm thấp nhất trong giai đoạn 1985 - 2009) và đây cũng là năm mà viện nghiên cứu không gian NASA cho là lạnh nhất kể từ đầu thập kỷ đến nay Tuy nhiên

tổ chức khí tượng thế giới (WMO) sau khi tổng hợp dữ liệu từ hai cơ quan giám sát khí hậu của Anh và Mỹ lại kết luận, năm 2008 vẫn nằm trong số 10 năm nóng nhất lịch sử, nhiệt độ trung bình năm 2008 là 15,10C, cao hơn nhiệt độ trung bình năm 1961

- 1990, mức tham chiếu chuẩn

I.1.2 Lượng mưa

Tại tỉnh Sóc Trăng cả số ngày mưa và tổng lượng mưa đều tập trung vào các tháng mùa mưa, từ tháng 5 đến hết tháng 11 Mưa ở Sóc Trăng thường không kéo dài liên tục nhiều ngày mà phổ biến là mưa trận cách quãng nhau số ngày mưa bình quân

Trang 4

năm với tổng lượng mưa đạt khoảng 1,176mm (1,970) Tuy nhiên vào những tháng mùa khô trùng với thời kỳ gió mùa Đông Bắc, xuất hiện những đợt mưa trái mùa với tổng lượng mưa chỉ đạt khoảng 171mm Lượng mưa trung bình trong các tháng dao động từ 30 - 50mm Lượng mưa thấp hoặc không mưa thường xảy ra vào tháng 1 - 2

Qua bảng thống kê diễn biến lượng mưa từ năm 1985 - 2009 tại tỉnh Sóc Trăng cho thấy lượng mưa giai đoạn 1990 - 1993 và các năm 2004, 2006, 2009 là khá thấp, thời kỳ ảnh hưởng đỉnh điểm của hiện tượng El Nino làm cho mùa khô năm 2006

-2007 trở nên gay gắt hơn và khô hạn hơn so với thông thường Hiện tượng “mưa nắng thất thường” do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu trên toàn cầu là vào mùa mưa, tần suất mưa và chu kỳ mưa đã có sự thay đổi đáng kể, trong những năm qua mưa thường đến sớm hơn, kéo dài và kết thúc muộn, chứ không còn theo quy luật của mấy chục năm trước Cụ thể trong năm 2007, 2008, mùa mưa kéo dài mãi đến tháng 12 và tháng 1 năm sau, muộn hơn mấy năm trước hơn 1 tháng Mùa lũ cũng có độ trễ, đỉnh lũ thường xuất hiện muộn Tình trạng mưa kéo dài, lũ về đạt đỉnh muộn và trùng vào lúc triều cường hàng tháng khiến cho vùng hạ lưu nhiều nơi bị ngập Tuy nhiên, đến năm 2009 thì mùa mưa lại đến muộn hơn (bắt đầu vào khoảng giữa tháng 5) khoảng 10 - 15 ngày

và kết thúc sớm hơn (cuối tháng 10)

I.1.3 Mực nước

Mực nước đầu nguồn sông Cửu Long và các sông rạch trong tỉnh Sóc Trăng diễn biến khá phức tạp, mực nước đạt đỉnh cao nhất vào những tháng mùa mưa cuối năm và đầu năm sau (khoảng từ tháng 9 đến hết cuối tháng 2 hoặc nửa tháng 3 năm sau hàng năm), hầu hết mực nước các tháng mùa mưa những năm sau xấp xỉ hoặc cao hơn những năm trước

I.1.4 Xâm nhập mặn

Biểu hiện xâm nhập mặn tại tỉnh Sóc Trăng trong giai đoạn (năm 1985 - 2009) được đo tại các trạm trên sông Mỹ Thanh, Sông Hậu, kênh Nhu Gia và kênh Maspero cho thấy: mặn chủ yếu trong các tháng đầu năm từ (tháng 1 đến nửa đầu tháng 5) xâm nhập chủ yếu vào vùng cửa sông và đi sâu vào nội đồng Độ xâm nhập mặn vào hệ thống sông ngòi, kênh rạch ở tỉnh Sóc Trăng đang có diễn biến bất thường và phức tạp

từ năm này qua năm khác, có cả sự thay đổi về thời gian, phạm vi và nồng độ mặn Có những năm do mùa mưa kết thúc sớm hơn và xâm nhập mặn đã nhập quá sâu vào trong cửa sông và nội đồng Nồng độ mặn thay đổi theo đặc thù từng năm phụ thuộc vào lượng nước sông Mekong chảy vào cũng như các yếu tố khí tượng, thủy văn, thủy triều trên toàn vùng theo thời gian và tổng lượng

Sóc Trăng thuộc tiểu vùng cửa sông Cửu Long theo sông Hậu thì vào mùa kiệt, lượng nước ngọt từ thượng nguồn chảy về rất hạn chế Mặt khác, do độ dốc lòng sông nhỏ, địa hình thấp tạo điều kiện nước mặn tiến sâu vào nội đồng Trong mùa khô lượng dòng chảy nhỏ hơn, cộng với gió chướng thổi mạnh, liên tục nên tốc độ xâm nhập mặn vào nội đồng nhanh hơn dự báo Những dòng chảy trên toàn hệ thống sông Mekong đang ở mức thấp hơn trung bình nhiều năm 10 - 20cm nên dòng chảy đổ ra cửa biển rất thấp, làm mặn xâm nhập sớm và lấn sâu vào đất liền gần 40km Những ngày triều cường kết hợp với gió chướng thổi mạnh, mặn xâm nhập sâu đến 80km

Tại các trạm đo độ mặn qua nhiều năm cho thấy, độ mặn cao nhất vào năm

2005 do trong giai đoạn này nước ta chịu ảnh hưởng xu thế hiện tượng thời tiết nóng trên toàn cầu đó là hiện tượng El Nino, thời điểm nắng nóng và khô hạn kéo dài Độ

Trang 5

mặn cao nhất của các năm 2006, 2007, 2008 và năm 2009 có diễn biến thất thường và thấp hơn cùng kỳ 2005 Đến năm 2010 do mùa mưa kết thúc sớm (cuối tháng 10) năm

2009, mực nước đầu nguồn sông Hậu tại Châu Đốc xuống nhanh và ở mức thấp hơn cùng kỳ năm ngoái, Trong khi đó gió Đông Bắc hoạt động khá mạnh và thủy triều vùng ven biển Đông ở mức cao nên từ đầu tháng 1/2010 đến nay mặn đã xâm nhập khá mạnh vào vùng cửa sông và đi sâu dần vào nội đồng, do ảnh hưởng của hiện tượng El-nino nên trong các tháng 2, 3, 4 và những ngày đầu tháng 5 thời tiết các nơi trong tỉnh tiếp tục khô hạn, mặn tiếp tục xâm nhập mạnh vào các sông rạch trong tỉnh và đạt mức cao nhất năm 2010 là: tại Đại Ngãi độ mặn cao nhất 11,6‰; tại Trần Đề 26,6‰; tại Thạnh Phú 16‰; và tại TP,Sóc Trăng 5,2‰

I.1.5 Hạn hán

Hạn hán Sóc Trăng đều tập trung vào những tháng mùa khô trong năm, mùa khô trên địa bàn tỉnh thường bắt đầu vào cuối tháng 10 hoặc giữa tháng 11 hàng năm

và kết thúc vào cuối tháng 4 hoặc giữa tháng 5 năm sau hàng năm Tuy nhiên, theo số liệu thống kê tình hình hạn hán tại tỉnh Sóc Trăng trong giai đoạn 2006 - 2010 với diễn biến phức tạp hơn cả về thời gian, mức độ và có xu hướng tăng đợt hạn hán vào những năm sau kế tiếp Cụ thể, theo nguồn Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Sóc Trăng vào năm 2006 xuất hiện 2 đợt hạn hán (đợt 1 từ ngày 18/8 - 24/8, đợt 2 vào đầu tháng 9); năm 2007 xuất hiện 3 đợt hạn hán (đợt 1 từ ngày 5/6 - 9/6, đợt 2 từ 17/7 - 27/7, đợt 3

từ 5/9 - 10/9); năm 2008 xuất hiện 3 đợt hạn hán (đợt 1 từ ngày 2/6 - 8/6, đợt 2 từ 10/7

- 21/7, đợt 3 từ 22/8 - 31/8)

I.1.6 Bão, áp thấp nhiệt đới

Trong những năm trước đây trên thế giới cũng như Việt Nam bão, áp thấp nhiệt đới là một hiện tượng tự nhiên theo quy luật Đối với bão trước đây tại nước ta thường xảy ra theo quy luật, khoảng tháng 5, 6, 7 xảy ra ở vùng các tỉnh ven biển Bắc bộ; tháng 8, 9 bão xảy ra ở ven biển Trung bộ; tháng 10, 11, 12 xảy ra ở Nam bộ Theo số liệu thống kê 50 năm trở lại đây (1949 - 1998) ở khu vực phía Nam Việt Nam đã xuất hiện 33 cơn bão trong đó chỉ có 8 cơn bão đổ bộ vào khu vực biển Sóc Trăng Tuy ít bão nhưng cơn bão số 5 – cơn bão Linda (1997) là những trận bão lịch sử đã ghi nhận bởi hậu quả nặng nề mà chúng gây ra cho các tỉnh vùng ĐBSCL (trong đó có tỉnh Sóc Trăng)

Những năm gần đây quy luật đó không còn nữa mà nó đã trở nên bất thường,

số lượng cơn bão, tần suất và cường độ của các cơn bão đổ bộ vào nước ta tăng nhanh

rõ rệt, các cơn bão thường lệch theo quỹ đạo phía Nam và thường kết thúc muộn Nguy hiểm hơn, số lượng các cơn bão hướng vào vùng ĐBSCL, khu vực mà trong quá khứ rất ít khi hứng chịu bão, ngày càng nhiều với cường độ khá lớn Sự biến đổi khí hậu còn được thể hiện rõ rệt qua hai hiện tượng El Nino và La Nina dẫn đến sự hạn hán và mưa không theo quy luật Theo kinh nghiệm của những năm trước, khi xuất hiện El Nino đã xảy ra nhiều cơn bão trái quy luật, kết hợp với tần số không khí lạnh (gió mùa đông bắc) ít hơn và kết thúc sớm hơn mọi năm, dẫn đến mùa đông ấm hơn bình thường ở các tỉnh phía Bắc Thường xảy ra sau hiện tượng El Nino là hiện tượng

La Nina với biểu hiện là những cơn bão và ấp thấp nhiệt đới với cường độ mạnh gây mưa nhiều trên diện rộng kèm theo giông lốc Các cơn bão và áp thấp nhiệt đới thườmg xuất hiện từ tháng 5 đến tháng 12 hàng năm tại các tỉnh phía Nam Bộ nói chung và tỉnh Sóc Trăng nói riêng

Trang 6

Số lượng các cơn bão và áp thấp nhiệt đới ảnh hưởng trực tiếp đến tỉnh Sóc Trăng không nhiều Tuy nhiên, những hiện tượng bất thường của thời tiết như sự hình thành của áp thấp nhiệt đới ngay trên khu vực biển Đông, một số cơn bão có cường độ rất mạnh (cấp 12, trên cấp 12) đã xảy ra; lốc xoáy cục bộ xuất hiện nhiều Ảnh hưởng

về tai biến thiên tai nặng nhất trong những năm gần đây là cơn bão số 9 năm 2006 và trong năm 2007 là cơn bão số 7 gây thiệt hại nặng nề và người và của Riêng trong năm 2008 tuy là ảnh hưởng của hiện tượng La Nina gây mưa nhiều trên diện rộng cả nước nhưng riêng tỉnh Sóc Trăng trong năm này lại không ảnh hưởng trực tiếp nhiều

I.1.7 Các yếu tố thời tiết cực đoan

Trong những năm qua, tình hình thời tiết diễn biến rất phức tạp, các đợt nắng nóng, số ngày nắng nóng, các đợt rét, số ngày rét, lốc xoáy đã có sự thay đổi, tăng lên

và tác động ngày càng lớn Nắng nóng gay gắt trong mùa khô, mùa mưa có lượng mưa tương đối nhiều, thường xuyên xảy ra lốc xoáy, giông, sét

I.2 TÁC ĐỘNG CỦA BĐKH ĐẾN CÁC HỆ SINH THÁI DƯỚI NƯỚC

I.2.1 Tác động hệ sinh thái thủy sinh nội địa

I.2.1.1 Tác động do thay đổi không gian cư trú

a, Do hạn hán

Nguồn nước là một trong những yếu tố quyết định sự thành công trong phát triển nuôi trồng thủy sản Hiện tượng nắng nóng kéo dài đã làm cạn kiệt nguồn nước ngọt, làm tăng mức độ bốc hơi nước trong các ao nuôi và hệ thống kênh mương tự nhiên

Trong những năm gần đây hạn hán liên tục xảy trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng, đặc biệt là đợt hạn tháng 3/2010 vừa qua được nhận định là đợt hạn hán cao nhất từ trước đến nay

Mực nước của các sông, kênh giảm đáng kể Một số kênh mương nội đồng bị khô cạn, nước phục vụ cho sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản và những sinh hoạt khác của người dân bị thiếu trầm trọng

Tại các kênh mương tự nhiên, hạn hán làm mực nước giảm đáng kể, các yếu tố tiêu cực như nhiệt độ, dịch bệnh tác động mạnh hơn làm đa dạng sinh học của các hệ sinh thái này suy giảm, đời sống của các loài sinh vật thủy sinh bị ảnh hưởng

Tại các tuyến kênh mương nội đồng, mực nước không chủ động như kênh mương tự nhiên, hơn nữa nước ở đây hầu hết phục cho tưới tiêu nông nghiệp nên xảy

ra tình trạng khô cạn hoàn toàn Môi trường sống không còn đã làm biến mất các hệ sinh thái thủy sinh của khu vực trong một thời gian

Trang 7

Hình 1.1: Mương nước ngọt ngọt nội đồng xã Vĩnh Châu

Đối với các ao nuôi ở cách xa nguồn cung cấp nước thì sẽ bị ảnh hưởng rất lớn Nắng nóng lâu ngày làm lượng nước bốc hơi nhiều trong khi không có nước ngọt để

bổ sung trong quá trình nuôi, các ao có thể sẽ phải thu hoạch sớm để tránh tình trạng thủy sản chết do cạn kiệt nguồn nước trong ao, ảnh hưởng đến năng suất cũng như lợi nhuận của người chăn nuôi

Hình 1.2: Kênh mương tỉnh Sóc Trăng cạn nước vì hạn hán tháng 3/2010

Nắng nóng làm nước ao tôm bốc hơi nhanh, từ đó nhiệt độ tăng cao, độ mặn trong vuông nuôi cũng tăng theo ảnh hưởng đến quá trình tăng trưởng của tôm nuôi Ngoài ra, nắng nóng cùng với độ mặn tăng cao làm các loại cây cỏ thủy sinh trong vuông nuôi bị chết và phân hủy nhanh Đây là nguồn dinh dưỡng cho tảo phát triển mạnh, kéo theo sự biến đổi về độ trong, đục của nước trong ao

Nắng hạn gay gắt kéo dài mấy tháng liền làm cho người nuôi tôm cũng như ngư phủ ven biển Sóc Trăng gặp nhiều khó khăn Nắng nóng vào ban ngày và trời trở lạnh vào ban đêm làm tôm chết hàng loạt Trong khi đó, nước cung cấp cho các vuông tôm cạn dần Mực nước trên các cửa sông Tiền, sông Hậu đang xuống thấp, gây hạn hán ở nhiều địa phương, đe dọa ngành nông nghiệp Khi triều cường, nước mặn xâm nhập qua các cửa sông tiến sâu vào nội đồng ảnh hưởng đến các hệ sinh thái thủy sinh Các

mô hình nuôi tôm, cá, các loại thủy sản khác tại các huyện như Mỹ Xuyên Vĩnh Châu, Long Phú, Trần Đề có thể sẽ bị thiệt hại rất lớn nếu không có biện pháp hạn chế tác động của hạn hán

Trang 8

Hình 1.3: Hoạt động nuôi tôm tại xã Vĩnh Hải

b, Do lũ lụt

Mùa lũ tại tỉnh Sóc Trăng tuy ảnh hưởng có phần tiêu cực đến đời sống của người dân nhưng lại có ảnh hưởng tích cực đối với sự đa dạng sinh học của các thủy vực Nhiều năm trở lại đây, người dân nghèo tỉnh Sóc Trăng đã quen với cuộc sống mùa nước nổi và thu hoạch các nguồn lợi mà lũ mang về như thủy sản, trồng cây thủy sinh

Tác động quan trọng nhất của lũ lụt là khôi phục và gia tăng sự đa dạng cho các

hệ sinh thái thủy sinh Lũ lụt đưa nước về các kênh mương và khởi đầu cho một diễn thế mới

Đa dạng sinh học của các thủy vực tăng rất nhiều trong mùa lũ Có một số các loài thủy sản xuật hiện nhiều trong mùa lũ như cá linh non,… các loài thực vật thủy sinh cũng phát triển nhanh hơn trong nước lũ như ấu, rau nhúc, bồn bồn, điên điển, bông súng, bông sen…

Tuy nhiên, những năm gần đây tình hình mưa lũ thất thường đã khiến các hệ sinh thái này bị tác động phần nào Đa dạng sinh học của các thủy vực vào mùa lũ không còn được phong phú, đa dạng như trước đây Một phần do sự khai thác không hợp lý của người dân, một phần do sự thay đổi thất thường của thời tiết làm suy giảm khả năng sinh sôi của các sinh vật, các yếu tố môi trường bị thay đổi làm sinh vật không thể thích nghi sẽ bị tuyệt chủng

I.2.1.2 Tác động do rối loạn môi trường sống

a Ảnh hưởng do hiện tượng nước biển dâng và ngập mặn gia tăng

Nước biển dâng sẽ tăng diện tích của các thủy vực nhưng sẽ đẩy mặn xâm nhập sâu vào nội đồng

Trang 9

Mặn đang xâm nhập ngày càng sâu vào kênh mương nội động khu vực trũng thấp thuộc các huyện Mỹ Xuyên, Thạnh Trị, Kế Sách, đã và sẽ dẫn đến các hậu quả:

+ Môi trường sống thích hợp của một số loài thuỷ sinh nước ngọt sinh sống tại các con sông, kênh rạch sẽ bị thay đổi

+ Môi trường nuôi trồng các loài thủy sản, thực vật thủy sinh sẽ bị thay đổi như

độ pH, độ mặn,… ảnh hưởng trực tiếp đến sản lượng cũng như chất lượng

+ Làm thay đổi ranh giới giữa các vùng nuôi lợ, mặn, ngọt

Các loài sinh vật thủy sinh có thể chết do bị sốc trước sự thay đổi nồng độ muối Một số loài sinh vật như các loại cá có thể di chuyển đến những vùng thủy vực

có môi trường thích hợp sẽ sống sót nhưng những loài như tôm, ốc, các loài giáp xác, sinh vật bậc thấp không thể di chuyển tới môi trường mới và không thể thay đổi để thích nghi sẽ bị chết

Các loài thực vật thủy sinh như rong, tảo, một số cây khác như bèo, cỏ nước không thích ứng kịp với sự thay đổi cũng sẽ sinh trưởng và phát triển kém Sau một thời gian có thể chết nếu nồng độ muối ngày càng tăng nhanh

Đặc biệt, khi ranh giới giữa các vùng mặn, ngọt, lợ bị thay đổi thì những hệ sinh thái cũ và đa dạng sinh học sẽ biến mất, thay vào đó là các hệ sinh thái mới

b Ảnh hưởng của lượng mưa

Lượng mưa bất thường vào mùa mưa gây ngập úng tại các vùng nội đồng thuộc huyện Thạnh Trị, Mỹ Tú (lưu lượng vào mùa mưa hiện nay tại tỉnh là từ 7.000 – 8.000m3/s và dự kiến tăng từ 0 – 5% trong tương lai tại khu vực Nam bộ theo GS TSKH Nguyễn Đức Ngữ) sẽ làm thay đổi môi trường nước gây ảnh hưởng đến đời

sống của các loài sinh vật, đặc biệt là với các mô hình nuôi cá thâm canh và bán thâm canh (tra, trê lai, tai tượng, ), các mô hình nuôi tôm

Gia tăng nhiệt độ với lượng bốc hơi cao trong thời gian dài là những trở ngại gây thay đổi môi trường các hệ sinh thái thủy sinh nội đồng: diện tích mặt nước sẽ thu hẹp phạm vi hạn chế không gian sống, dẫn đến tính cạnh tranh giữa các loài mang tính sống còn, loài ưu thế với tính thích ứng sẽ tồn tại trong khi những loài nhạy cảm với nhiệt độ sẽ phải di chuyển nơi sinh sống khác hoặc bị tiêu diệt

Đối với nghề nuôi thủy sản mặn lợ, độ mặn là yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến sinh trưởng và phát triển của loài nuôi Khi xảy ra mưa lớn, độ mặn trong các ao nuôi giảm xuống đột ngột vượt ra khỏi ngưỡng chịu đựng làm cho tôm cá bị sốc, chết hoặc chậm lớn Lũ xảy ra còn làm cho độ mặn các vực nước gần bờ như các cửa sông giảm xuống, nghề nuôi nhuyễn thể, tôm cá, rong đề bị ảnh hưởng nghiêm trọng

Bên cạnh đó, hàm lượng phiêu sinh động vật và thực vật trong các thủy vực sông, ao, đầm nuôi tôm là nguồn thức ăn cho các loài thủy sản sẽ bị tác động mạnh

mẽ, từ đó ảnh hưởng đến tính đa dạng loài, như hàm lượng các muối dinh dưỡng, thúc đẩy quá trình quang hợp của phiêu sinh thực vật, mắt xích ban đầu trong chuỗi thức ăn

tự nhiên của thủy vực, tạo điều kiện cho các loài tôm cá nuôi tại các mương, vườn, ao phát triển sẽ bị tác động mạnh mẽ, có thể gây xáo trộn chuỗi thức ăn tự nhiên từ đó gây giảm năng suất hoạt động nuôi thủy sản

I.2.1.3 Tác động làm suy giảm đa dạng sinh học

Trang 10

a Ảnh hưởng của nhiệt độ

Hình 1.4: Hiện tượng nắng nóng, gia tăng độ mặn trong môi trường nước ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động nuôi tôm tại ấp Châu Khánh, Khánh Hòa, Vĩnh Châu.

Nhiệt độ đóng vai trò quan trọng cho quá trình sinh trưởng và phát triển của sinh vật nói chung và các loài thủy sinh dưới nước nói riêng Mỗi loài có khoảng nhiệt

độ thích ứng riêng Khả năng chống chịu của chúng nằm trong khoảng giới hạn nhất định Đối với các loài thủy sinh sống trong môi trường nước động như các kênh rạch,

ao có độ sâu lớn thì sự thay đổi nhiệt độ hầu như ít bị ảnh hưởng Nhưng các vực nước

tù và nhỏ như các ao nuôi thường dễ bị ảnh hưởng nghiêm trọng hơn khi nhiệt độ không khí tăng lên làm cho nước nóng lên

Nhiệt độ nước trong các ao hồ phụ thuộc hoàn toàn vào thời tiết và từng địa phương Khi nhiệt độ không khí tăng lên làm cho nước nóng lên, tuy nhiên biến động nhiệt độ nước trong các ao hồ chậm hơn so với không khí

Sự tăng nhiệt độ có thể làm suy giảm số lượng thủy sinh trong các kênh rạch Nhiều nghiên cứu cho thấy rằng khi nhiệt độ tăng lên làm cho hàm lượng oxy trong nước giảm mạnh vào ban đêm, do sự tiêu thụ quá mức của các loài thực vật thủy sinh, hoặc quá trình phân hợp chất hữu cơ Sự suy giảm hàm lượng oxy làm ảnh hưởng đến

sự sinh trưởng và phát triển của loài sinh vật có thể bị chết hoặc chậm lớn

Nhiệt độ tăng sẽ dẫn đến một số hậu quả dễ nhận thấy và rõ ràng như:

+ Gây ra hiện tượng phân tầng nhiệt độ rõ rệt trong thuỷ vực nước đứng, ảnh hưởng đến quá trình sinh sống của sinh vật

+ Mặt nước nóng vượt qua mức chịu đựng của các loài sinh vật buộc một số loài chuyển xuống sâu hơn làm thay đổi cơ cấu phân bố thuỷ sinh vật theo chiều sâu

+ Quá trình quang hoá và phân huỷ các chất hữu cơ nhanh hơn, ảnh hưởng đến nguồn thức ăn của sinh vật Các sinh vật tiêu tốn nhiều năng lượng hơn cho quá trình

hô hấp cũng như các hoạt động sống khác

+ Thay đổi nhiệt độ còn là điều kiện phát sinh của nhiều loài dịch bệnh xảy ra cho các loài nuôi Nhiệt độ tăng cao làm cho sức khỏe của các loài nuôi, môi trường nước bị xấu đi, là điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của các loài vi sinh vật gây hại

Bên cạnh những ảnh hưởng bất lợi, tăng nhiệt độ cũng là điều kiện thuận lợi cho nuôi trồng thủy sản Sự tăng lên của nhiệt độ trong khoảng cho phép tăng năng

Ngày đăng: 14/01/2013, 11:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w