1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Đánh giá tổng thiệt hại điều kiện tự nhiên và diễn biến biến đổi khí hậu tại tỉnh sóc trăng

23 878 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh giá tổng thiệt hại điều kiện tự nhiên và diễn biến biến đổi khí hậu tại tỉnh sóc trăng
Trường học Trung Tâm Kỹ Thuật Môi Trường
Thể loại Đề tài
Thành phố Sóc Trăng
Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 617,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đánh giá tổng thiệt hại điều kiện tự nhiên và diễn biến biến đổi khí hậu tại tỉnh sóc trăng

Trang 1

MỤC LỤC

Trang

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG I: ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ DIỄN BIẾN BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TẠI TỈNH SÓC TRĂNG 2

I.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN 2

I.1.1 Vị trí địa lý 2

I.1.2 Đặc điểm địa hình, địa mạo 2

I.1.3 Đặc điểm địa chất 3

I.2 DIỄN BIẾN BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TẠI TỈNH SÓC TRĂNG VÀ HẬU QUẢ GÂY RA 3

I.2.1 Diễn biến biến đổi khí hậu tại tỉnh Sóc Trăng 3

I.2.2 Tình hình thiệt hại về tài nguyên môi trường, KTXH do biến đổi khí hậu và nước biển dâng gây ra 7

CHƯƠNG II: ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ THIỆT HẠI VỀ TÀI NGUYÊN MÔI TRƯỜNG, KTXH VÀ CÁC THIỆT HẠI KHÁC DO BĐKH VÀ NƯỚC BIỂN DÂNG GÂY RA 11

II.1 MỨC ĐỘ TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ NƯỚC BIỂN DÂNG .11

II.1.1 Các đối tượng dễ bị tổn thương do biến đổi khí hậu 11

II.1.2 Nhận định về mức độ nhạy cảm và khả năng thích ứng với BĐKH 12

II.1.3 Mức độ tác động tiềm tàng 13

II.2 ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ THIỆT HẠI VỀ TÀI NGUYÊN MÔI TRƯỜNG, KTXH VÀ CÁC THIỆT HẠI KHÁC 14

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 20 TÀI LIỆU THAM KHẢO

TRUNG TÂM KỸ THUẬT MÔI TRƯỜNG (CEE)

Trang 2

MỞ ĐẦU

Việt Nam là một trong những nước chịu ảnh hưởng nặng nề của BĐKH Biếnđổi khí hậu (BĐKH) là sự biến động trạng thái trung bình của khí quyển toàn cầu haykhu vực theo thời gian từ vài thập kỷ đến hàng triệu năm Những biến đổi này đượcgây ra do quá trình động lực của trái đất, bức xạ mặt trời, và gần đây có thêm hoạtđộng của con người BĐKH trong thời gian thế kỷ XX đến nay được gây ra chủ yếu docon người

Các loại thiên tai diễn ra hàng năm trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng như hạn hán, lũlụt, xâm nhập mặn, gió, lốc xoáy là những nguyên nhân gây ảnh hưởng bất lợi đếntốc độ phát triển KT – XH của tỉnh trong những năm qua, đặc biệt là cơn bão số 9 vàonăm 2006 Hậu quả thiên tai làm tăng khả năng thiệt hại về tài nguyên và môi trường,đồng thời làm tổn thương một số ngành kinh tế của tỉnh, nhất là ngành nông nghiệp làngành chịu tổn thương nhiều và cũng là ngành phát triển chính của tỉnh Để nhận biết

và giảm bớt được thiệt hại trên việc đầu tiên tỉnh Sóc Trăng cần làm là “Đánh giá mức thiệt hại về tài nguyên môi trường, KTXH và các thiệt hại khác do BĐKH và nước biển dâng gây ra” Qua đó nhằm giảm thiểu mức thiệt hại của biến đổi khí hậu

gây ra tỉnh cần xây dựng những chương trình hành động, những định hướng phát triển

để ngày càng hạn chế được những tác hại do thiên tai, sự cố môi trường gây ra chonhân dân

Trang 3

CHƯƠNG I ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ DIỄN BIẾN BIẾN ĐỔI KHÍ

HẬU TẠI TỈNH SÓC TRĂNG

I.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN

I.1.1 Vị trí địa lý

Sóc Trăng là tỉnh ven biển nằm ở phía Nam cửa sông Hậu của khu vực Đồngbằng sông Cửu Long (ĐBSCL) Nằm ở 9°14’40” đến 9°33’56” vĩ độ Bắc và105°49’37” đến 106°19’01’’ kinh độ Đông Diện tích tự nhiên 3.311,7 km2, xấp xỉ 1%diện tích của cả nước và 8,3% diện tích của khu vực ĐBSCL Dân số trung bình năm

2009 là 1.293.165 người

Tỉnh hiện có 11 đơn vị hành chính trực thuộc, gồm: thành phố Sóc Trăng và cáchuyện Châu Thành, Kế Sách, Mỹ Tú, Cù Lao Dung, Long Phú, Mỹ Xuyên, Ngã Năm,Thạnh Trị, Vĩnh Châu, Trần Đề, trong đó thành phố Sóc Trăng là trung tâm chính trị –kinh tế – văn hóa xã hội của tỉnh

- Tỉnh Sóc Trăng có địa giới hành như sau:

- Phía Tây – Bắc giáp tỉnh Hậu Giang

- Phía Đông – Bắc giáp tỉnh Trà Vinh và Vĩnh Long

- Phía Tây – Nam giáp tỉnh Bạc Liêu

- Phía Đông và Đông Nam giáp biển Đông

I.1.2 Đặc điểm địa hình, địa mạo

Sóc Trăng có địa hình tương đối thấp và bằng phẳng, địa hình bao gồm phầnđất bằng xen kẽ những vùng trũng và các giồng cát Toàn bộ tỉnh Sóc Trăng nằm ởphía Nam của vùng cửa sông Hậu, cao độ biến thiên không lớn, chỉ từ 0,2 – 2m so vớimực nước biển, vùng nội đồng có cao độ trung bình từ 0,5 – 1,0m Địa hình của tỉnh

có dạng hình lòng chảo thoải, hướng dốc chính từ sông Hậu thấp dần vào phía trong,

từ biển Đông và kênh Quản lộ thấp dần vào đất liền với những giồng đất ven sông,biển

Dựa vào địa hình có thể chia tỉnh Sóc Trăng thành 3 vùng như sau:

- Vùng địa hình thấp, vùng trũng: Tập trung ở huyện Mỹ Tú, Châu Thành,Thạnh Trị, Ngã Năm và một phần phía Bắc huyện Mỹ Xuyên, thường bị ngập dài vàomùa mưa

- Vùng địa hình cao ven sông Hậu, phía Bắc huyện Kế Sách đến sông MỹThanh, giới hạn từ sông Hậu đến Kênh Bà Sẩm cao trình từ 1 – 1,2 m và ven biển,gồm các huyện Vĩnh Châu, Trần Đề, Long Phú, Cù Lao Dung, giồng cát cao đến 1,4m

- Vùng địa hình trung bình: gồm có thành phố Sóc Trăng và huyện Kế Sách

Trang 4

Với địa hình thấp, bị phân cắt nhiều bởi hệ thống các sông rạch và kênh mươngthủy lợi, lại tiếp giáp với biển cho nên dễ bị nước biển xâm nhập (nhiễm mặn), nhất làvào mùa khô

I.1.3 Đặc điểm địa chất

Vùng Đồng bằng sông Cửu Long nói chung và tỉnh Sóc Trăng nói riêng đượchình thành bởi các loại trầm tích nằm trên nền đá gốc Mezoic xuất hiện từ độ sâu gầnmặt đất ở phía Bắc đồng bằng cho đến độ sâu khoảng 1.000 m ở gần bờ biển Các dạngtrầm tích có thể chia thành những tầng chính sau:

- Tầng Holocene: nằm trên mặt, thuộc loại trầm tích trẻ, bao gồm sét và cát.Thành phần hạt từ mịn tới trung bình

- Tầng Pleistocene: có chứa cát sỏi lẫn sét, bùn với trầm tích biển

- Tầng Pliocene: có chứa sét lẫn cát hạt trung bình

- Tầng Miocene: có chứa sét và cát hạt trung bình

I.2 DIỄN BIẾN BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TẠI TỈNH SÓC TRĂNG VÀ HẬU QUẢ GÂY RA

I.2.1 Diễn biến biến đổi khí hậu tại tỉnh Sóc Trăng

-Ảnh hưởng chung của biến đổi khí hậu trên toàn cầu và biến đổi khí hậu đã thểhiện ở tỉnh Sóc Trăng giai đoạn 1985 - 2009 trên cả 3 giá trị: nhiệt độ trung bình, nhiệt

độ tối thấp và nhiệt độ tối cao Nhiệt độ cao nhất qua các năm dao động trong khoảng

từ 35,1 - 37,10C (chênh lệch 2,00C) và nhiệt độ thấp nhất dao động trong khoảng 16,7 20,70C (chênh lệch 4,00C), nhiệt độ với sự chênh lệch mức nóng nhất và lạnh nhất quacác năm 14,4 - 19,50C Biểu hiện sự chênh lệch nhiệt độ giữa tháng nóng nhất và thánglạnh nhất trong cùng một năm tại Sóc Trăng có sự khắc nghiệt và có chiều hướng ngàycàng gia tăng qua các năm Tuy nhiên đến năm 2000, sự chênh lệch này là 14,40C,năm 2006, 2008 là 15,10C do ảnh hưởng của hiện tượng La Nina nên thời tiết dịu hơn

-Nhiệt độ cao nhất thường vào tháng 4 trong năm, do tháng 4 là thời kỳ chuyểntiếp từ gió mùa Đông Bắc sang gió mùa Tây Nam, đây cũng là thời kỳ nắng nóng nhấttrong mùa khô Do trong giai đoạn này nước ta chịu ảnh hưởng xu thế hiện tượng thờitiết nóng trên toàn cầu đó là hiện tượng El Nino, nên nhiệt độ trung bình của năm sau

so với năm trước chênh lệch đến 0,2 - 0,40C (giai đoạn 1987, 1988, 2000, 2002, 2005,

2006, 2007, 2009 nhiệt độ ở mức 26,9 - 270C) Tuy nhiên đến năm 2008 do ảnh hưởngcủa hiện tượng La Nina (giảm nhiệt độ bề mặt đại dương – trái ngược với hiện tượng

El Nino) nên nhiệt độ trung bình của năm tại tỉnh đã giảm xuống còn 26,60C (là mộttrong những năm thấp nhất trong giai đoạn 1985 - 2009) và đây cũng là năm mà việnnghiên cứu không gian NASA cho là lạnh nhất kể từ đầu thập kỷ đến nay Tuy nhiên

tổ chức khí tượng thế giới (WMO) sau khi tổng hợp dữ liệu từ hai cơ quan giám sát

Trang 5

khí hậu của Anh và Mỹ lại kết luận, năm 2008 vẫn nằm trong số 10 năm nóng nhấtlịch sử Nhiệt độ trung bình năm 2008 là 15,10C, cao hơn nhiệt độ trung bình năm

1961 - 1990, mức tham chiếu chuẩn

Biểu đồ: Diễn biến nhiệt độ qua các năm 1985 - 2009

Nguồn: Đài khí tượng thủy văn khu vực Nam Bộ

I.2.1.2 Lượng mưa

Tại tỉnh Sóc Trăng cả số ngày mưa và tổng lượng mưa đều tập trung vào cáctháng mùa mưa, từ tháng 5 đến hết tháng 11 Mưa ở Sóc Trăng thường không kéo dàiliên tục nhiều ngày mà phổ biến là mưa trận cách quãng nhau số ngày mưa bình quânkhoảng 130 ngày/năm, lượng mưa trong thời kỳ này chiếm từ 90 - 95% lượng mưa cảnăm với tổng lượng mưa đạt khoảng 1,176mm Tuy nhiên vào những tháng mùa khôtrùng với thời kỳ gió mùa Đông Bắc, xuất hiện những đợt mưa trái mùa với tổng lượngmưa chỉ đạt khoảng 171mm Lượng mưa trung bình trong các tháng dao động từ 30 -50mm Lượng mưa thấp hoặc không mưa thường xảy ra vào tháng 1 - 2

Qua bảng thống kê diễn biến lượng mưa từ năm 1985 - 2009 tại tỉnh Sóc Trăngcho thấy lượng mưa giai đoạn 1990 - 1993 và các năm 2004, 2006, 2009 là khá thấp,thời kỳ ảnh hưởng đỉnh điểm của hiện tượng El Nino làm cho mùa khô năm 2006 -

2007 trở nên gay gắt hơn và khô hạn hơn so với thông thường Hiện tượng “mưa nắngthất thường” do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu trên toàn cầu là vào mùa mưa, tần suấtmưa và chu kỳ mưa đã có sự thay đổi đáng kể, trong những năm qua mưa thường đếnsớm hơn, kéo dài và kết thúc muộn, chứ không còn theo quy luật của mấy chục nămtrước Cụ thể trong năm 2007, 2008, mùa mưa kéo dài mãi đến tháng 12 và tháng 1năm sau, muộn hơn mấy năm trước hơn 1 tháng Mùa lũ cũng có độ trễ, đỉnh lũthường xuất hiện muộn Tình trạng mưa kéo dài, lũ về đạt đỉnh muộn và trùng vào lúctriều cường hàng tháng khiến cho vùng hạ lưu nhiều nơi bị ngập Tuy nhiên, đến năm

2009 thì mùa mưa lại đến muộn hơn (bắt đầu vào khoảng giữa tháng 5) khoảng 10 - 15ngày và kết thúc sớm hơn (cuối tháng 10)

I.2.1.3 Mực nước

Mực nước đầu nguồn sông Cửu Long và các sông rạch trong tỉnh Sóc Trăngdiễn biến khá phức tạp, mực nước đạt đỉnh cao nhất vào những tháng mùa mưa cuốinăm và đầu năm sau (khoảng từ tháng 9 đến hết cuối tháng 2 hoặc nửa tháng 3 nămsau hàng năm), hầu hết mực nước các tháng mùa mưa những năm sau xấp xỉ hoặc caohơn những năm trước

Biểu đồ: Diễn biến mực nước tại trạm Đại Ngãi qua các năm 1985 – 2009

Trang 6

Nguồn: Đài khí tượng thủy văn khu vực Nam Bộ

I.2.1.4 Xâm nhập mặn

Biểu hiện xâm nhập mặn tại tỉnh Sóc Trăng trong giai đoạn (năm 1985-2009)được đo tại các trạm trên sông Mỹ Thanh, Sông Hậu, kênh Nhu Gia và kênh Masperocho thấy: mặn chủ yếu trong các tháng đầu năm từ (tháng 1 đến nửa đầu tháng 5) xâmnhập chủ yếu vào vùng cửa sông và đi sâu vào nội đồng Độ xâm nhập mặn vào hệthống sông ngòi, kênh rạch ở tỉnh Sóc Trăng đang có diễn biến bất thường và phức tạp

từ năm này qua năm khác, có cả sự thay đổi về thời gian, phạm vi và nồng độ mặn Cónhững năm do mùa mưa kết thúc sớm hơn và xâm nhập mặn đã nhập quá sâu vàotrong cửa sông và nội đồng Nồng độ mặn thay đổi theo đặc thù từng năm phụ thuộcvào lượng nước sông Mekong chảy vào cũng như các yếu tố khí tượng, thủy văn, thủytriều trên toàn vùng theo thời gian và tổng lượng

Sóc Trăng thuộc tiểu vùng cửa sông Cửu Long theo sông Hậu thì vào mùa kiệt,lượng nước ngọt từ thượng nguồn chảy về rất hạn chế Mặt khác, do độ dốc lòng sôngnhỏ, địa hình thấp tạo điều kiện nước mặn tiến sâu vào nội đồng Trong mùa khôlượng dòng chảy nhỏ hơn, cộng với gió chướng thổi mạnh, liên tục nên tốc độ xâmnhập mặn vào nội đồng nhanh hơn dự báo Những dòng chảy trên toàn hệ thống sôngMekong đang ở mức thấp hơn trung bình nhiều năm 10 - 20cm nên dòng chảy đổ racửa biển rất thấp, làm mặn xâm nhập sớm và lấn sâu vào đất liền gần 40km Nhữngngày triều cường kết hợp với gió chướng thổi mạnh, mặn xâm nhập sâu đến 80km

Tại vị trí đo qua từng năm cho thấy độ mặn cao nhất tại các trạm đo tăng, caonhất vào năm 2005 do trong giai đoạn này nước ta chịu ảnh hưởng xu thế hiện tượngthời tiết nóng trên toàn cầu đó là hiện tượng El Nino, thời điểm nắng nóng và khô hạnkéo dài Độ mặn cao nhất của các năm 2006, 2007, 2008 và năm 2009 có diễn biếnthất thường và thấp hơn cùng kỳ 2005 Đến năm 2010 do mùa mưa kết thúc sớm (cuốitháng 10) năm 2009, mực nước đầu nguồn sông Hậu tại Châu Đốc xuống nhanh và ởmức thấp hơn cùng kỳ năm ngoái Trong khi đó gió Đông Bắc hoạt động khá mạnh vàthủy triều vùng ven biển Đông ở mức cao nên từ đầu tháng 1/2010 đến nay mặn đãxâm nhập khá mạnh vào vùng cửa sông và đi sâu dần vào nội đồng, do ảnh hưởng củahiện tượng El-nino nên trong các tháng 2, 3, 4 và những ngày đầu tháng 5 thời tiết cácnơi trong tỉnh tiếp tục khô hạn, mặn tiếp tục xâm nhập mạnh vào các sông rạch trongtỉnh và đạt mức cao nhất năm 2010 là: tại Đại Ngãi độ mặn cao nhất 11,6‰; tại Trần

Đề 26,6‰; tại Thạnh Phú 16‰; và tại TP.Sóc Trăng 5,2‰

I.2.1.5 Hạn hán

Trang 7

Hạn hán Sóc Trăng đều tập trung vào những tháng mùa khô trong năm, mùakhô trên địa bàn tỉnh thường bắt đầu vào cuối tháng 10 hoặc giữa tháng 11 hàng năm

và kết thúc vào cuối tháng 4 hoặc giữa tháng 5 năm sau hàng năm Tuy nhiên, theo sốliệu thống kê tình hình hạn hán tại tỉnh Sóc Trăng trong giai đoạn 2006 - 2010 với diễnbiến phức tạp hơn cả về thời gian, mức độ và có xu hướng tăng đợt hạn hán vào nhữngnăm sau kế tiếp Cụ thể, theo nguồn Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Sóc Trăng vàonăm 2006 xuất hiện 2 đợt hạn hán (đợt 1 từ ngày 18/8 - 24/8, đợt 2 vào đầu tháng 9);năm 2007 xuất hiện 3 đợt hạn hán (đợt 1 từ ngày 5/6 - 9/6, đợt 2 từ 17/7 - 27/7, đợt 3

từ 5/9 - 10/9); năm 2008 xuất hiện 3 đợt hạn hán (đợt 1 từ ngày 2/6 - 8/6, đợt 2 từ 10/7

- 21/7, đợt 3 từ 22/8 - 31/8)

I.2.1.6 Bão, áp thấp nhiệt đới

Trong những năm trước đây trên thế giới cũng như Việt Nam bão, áp thấp nhiệtđới là một hiện tượng tự nhiên theo quy luật Đối với bão trước đây tại nước ta thườngxảy ra theo quy luật, khoảng tháng 5, 6, 7 xảy ra ở vùng các tỉnh ven biển Bắc bộ;tháng 8, 9 bão xảy ra ở ven biển Trung bộ; tháng 10, 11, 12 xảy ra ở Nam bộ Theo sốliệu thống kê 50 năm trở lại đây (1949 - 1998) ở khu vực phía Nam Việt Nam đã xuấthiện 33 cơn bão trong đó chỉ có 8 cơn bão đổ bộ vào khu vực biển Sóc Trăng Tuy ítbão nhưng cơn bão số 5 – cơn bão Linda (1997) là những trận bão lịch sử đã ghi nhậnbởi hậu quả nặng nề mà chúng gây ra cho các tỉnh vùng ĐBSCL (trong đó có tỉnh SócTrăng)

Những năm gần đây quy luật đó không còn nữa mà nó đã trở nên bất thường,

số lượng cơn bão, tần suất và cường độ của các cơn bão đổ bộ vào nước ta tăng nhanh

rõ rệt, các cơn bão thường lệch theo quỹ đạo phía Nam và thường kết thúc muộn.Nguy hiểm hơn, số lượng các cơn bão hướng vào vùng ĐBSCL, khu vực mà trong quákhứ rất ít khi hứng chịu bão, ngày càng nhiều với cường độ khá lớn Sự biến đổi khíhậu còn được thể hiện rõ rệt qua hai hiện tượng El Nino và La Nina dẫn đến sự hạnhán và mưa không theo quy luật Theo kinh nghiệm của những năm trước, khi xuấthiện El Nino đã xảy ra nhiều cơn bão trái quy luật, kết hợp với tần số không khí lạnh(gió mùa đông bắc) ít hơn và kết thúc sớm hơn mọi năm, dẫn đến mùa đông ấm hơnbình thường ở các tỉnh phía Bắc Thường xảy ra sau hiện tượng El Nino là hiện tượng

La Nina với biểu hiện là những cơn bão và ấp thấp nhiệt đới với cường độ mạnh gâymưa nhiều trên diện rộng kèm theo giông lốc Các cơn bão và áp thấp nhiệt đớithườmg xuất hiện từ tháng 5 đến tháng 12 hàng năm tại các tỉnh phía Nam Bộ nóichung và tỉnh Sóc Trăng nói riêng

Số lượng các cơn bão và áp thấp nhiệt đới ảnh hưởng trực tiếp đến tỉnh SócTrăng không nhiều Tuy nhiên, những hiện tượng bất thường của thời tiết như sự hìnhthành của áp thấp nhiệt đới ngay trên khu vực biển Đông, một số cơn bão có cường độrất mạnh (cấp 12, trên cấp 12) đã xảy ra; lốc xoáy cục bộ xuất hiện nhiều Ảnh hưởng

về tai biến thiên tai nặng nhất trong những năm gần đây là cơn bão số 9 năm 2006 vàtrong năm 2007 là cơn bão số 7 gây thiệt hại nặng nề và người và của Riêng trongnăm 2008 tuy là ảnh hưởng của hiện tượng La Nina gây mưa nhiều trên diện rộng cảnước nhưng riêng tỉnh Sóc Trăng trong năm này lại không ảnh hưởng trực tiếp nhiều

I.2.1.7 Các yếu tố thời tiết cực đoan

Trong những năm qua, tình hình thời tiết diễn biến rất phức tạp, các đợt nắng nóng, số ngày nắng nóng, các đợt rét, số ngày rét, lốc xoáy đã có sự thay đổi, tăng lên

Trang 8

và tác động ngày càng lớn Nắng nóng gay gắt trong mùa khô, mùa mưa có lượng mưatương đối nhiều, thường xuyên xảy ra lốc xoáy, giông, sét.

I.2.2 Tình hình thiệt hại về tài nguyên môi trường, KTXH do biến đổi khí hậu và nước biển dâng gây ra

Thiệt hại do hạn hán, xâm nhập mặn

Tình hình nắng nóng kéo dài, xâm nhập mặn ở Sóc Trăng đang diễn ra phứctạp, ảnh hưởng ngày càng nhiều đến đời sống và sản xuất của người dân Những ảnhhưởng chính của vấn đề này đến nông dân gồm:

- Khó khăn về nước sinh hoạt, đặc biệt là nước cung cấp cho sản xuất lúa xuânhè Theo nhận định chỉ riêng năm 2009, nguồn nước cần thiết phục vụ cho sinh hoạttại tỉnh đã thiếu hụt khoảng 40% so với trung bình nhiều năm

- Một số vùng thiếu nước để phục vụ nuôi thủy sản, gây thiệt hại về diện tíchnuôi trồng thủy sản của tỉnh

Bảng: Tình hình thiệt hại ngành thủy sản qua các năm

Diện tích 16.201 16.285 17.327 5.288 3.626 3.071 13.854 2.566

Nguồn: Báo cáo “Các khuynh hướng, thảm họa tự nhiên, tác động tiềm tàng của biến đổi khí hậu đến ngành thủy sản tỉnh Sóc Trăng”, Sở NN&PTNT, năm 2009

- Tình hình xâm nhập mặn làm cho hiệu quả sản xuất thấp, hàng trăm hecta lúa

bị thiệt hại do mặn Riêng vụ hè thu năm 2010 xã Vĩnh Biên huyện Ngã Năm có 490

ha lúa bị mất trắng (80 – 100%) Theo Sở NN&PTNT tỉnh Sóc Trăng, chỉ tính riêng 4tháng đầu năm 2010, hiện tượng xâm nhập mặn sớm đã làm 118 ha lúa bị mất trắng ở

2 huyện và thành phố (Trần Đề: 110 ha; TP.Sóc Trăng: 14 ha và Long Phú: 05 ha) và

Mỹ Xuyên có 434 ha ước thiệt hại 10 - 30%, riêng huyện Ngã Năm ước 13.000 ha lúamới gieo sạ bị ảnh hưởng do thiếu nước và xâm nhập mặn ở 1 số xã giáp ranh tỉnh BạcLiêu

+ Tại huyện Vĩnh Châu, trong giai đoạn 2001 – 2005, tình hình thiệt hại do ảnhhưởng mặn được trình bày trong bảng dưới:

Bảng: Tình hình thiệt hại do mặn huyện Vĩnh Châu giai đoạn 2001 – 2005

Đơn vị tính: Ha

Năm Diện tích bị ảnh hưởng

Trong đó

Lúa mùa bị mất trắng

Lúa mùa bị giảm năng suất thu hoạch

Rau màu các loại bị giảm năng suất thu hoạch

Trang 9

+ Tại huyện Cù Lao Dung, xâm nhập mặn đang ảnh hưởng nghiêm trọng đến2.300 ha cây ăn trái trên địa bàn huyện Sự nhiễm mặn sẽ ảnh hưởng không nhỏ tới sựsinh trưởng và phát triển của cây lúa như: giảm sức nảy mầm của lúa, giảm chiều cao

và khả năng đẻ nhánh, hệ rễ phát triển kém, giảm sự cố định đạm sinh học và quá trìnhkhoáng hoá đạm trong đất Tính trung bình năng suất lúa có thể giảm tới 20 - 25%,thậm chí tới 50%

Bảng: Diện tích lúa bị nhiễm rầy nâu, bệnh VL – LXL năm 2005 – 2009

Thu đông- mùa 1 vụ 310

Nguồn: Sở nông nghiệp và PTNT Sóc Trăng

Thiệt hại sạt lở bồi tụ ven biển:

Dọc bờ biển tỉnh Sóc Trăng, do các yếu tố tự nhiên tác động: dòng chảy sôngMêkông, chế độ triều biển Đông và dòng chảy dọc bờ biển dưới ảnh hưởng gió mùatạo ra một quá trình bồi tụ và xói lở năng động dọc theo đường bờ biển

Hiện tượng xói lở đường bờ đặc biệt là ven biển tỉnh Sóc Trăng xảy ra tươngđối mạnh trong những năm gần đây Kết quả nghiên cứu của Dự án bảo vệ phát triểncác vùng đất ngập nước ven biển phía Nam đồng bằng sông Cửu Long từ năm 1996đến nay tại khu vực ven biển huyện Vĩnh Châu cho thấy: Các xã Vĩnh Tân, xã LaiHòa, xã Vĩnh Hải đoạn bờ biển Cống xóm đáy ấp Mỹ Thanh dài 3,5 km, bờ biển bị xói

lở với mức độ bình quân từ 15 đến 40 mét/năm Cụ thể như tại một đoạn của xã VĩnhHải (huyện Vĩnh Châu) mỗi năm bị lấn sâu vào bờ từ 8 - 15 mét, một phần ở xã VĩnhTân (40 m/năm), xã Lai Hòa (20 m/năm) Hiện tượng sạt lở này đã gây ra những thiệthại không nhỏ, tạo ra những khó khăn trong khâu quy hoạch phát triển công trình venbiển, đồng thời thu hẹp diện tích đất canh tác khu vực

Trang 10

Bên cạnh quá trình xói lở thì hiện tượng bồi lắng xảy ra ở Sóc Trăng chủ yếu tạicác khu vực như thuộc huyện Cù Lao Dung đoạn bờ biển từ của vàm Hồ Lớn chạyxuôi dọc sông Hậu đến cửa Trần Đề, đoạn bờ biển thuộc huyện Long Phú, đoạn sôngHậu thuộc ấp Đầu Giồng và đoạn bờ biện thuộc huyện Vĩnh Châu với tốc độ bồi tụkhá lớn từ 10 – 70m/năm Hiện tượng bồi tụ tại khu vực đã làm tăng thêm diện tích đấtđáng kể phục vụ phát triển trồng trọt và nuôi trồng thủy sản trong nông nghiệp.

Thiệt hại do lụt bão gây ra trong các năm

Trang 11

Bảng: Thống kê thiệt hại về người và tài sản do lụt bão gây ra trong các năm qua

Người Chết: 5 người Bị thương: 8 người - Chết: 5 người- Mất tích: 3 người - Bị thương: 4 người.- Chết: 1 người.Nhà cửa

- Nhà tốc mái: 354 căn

- Nhà sập 10%: 87 căn

- Nhà tốc mái: 221 căn

Giáo dục - Phòng bị tốc mái: 26 phòng.- Trường bị ngập do triều cường: 2 trường - Mái tole ximăng bị bể: 3 căn

- Phòng bị tốc mái: 22 phòng

- Phòng bị ngập, tốc mái: 6 phòng - Phòng học ngập, tốcmái: 3 phòng

Nông

nghiệp

- Lúa bị ngập thiệt hại 100%: 61 ha

- Lúa bị hư hại do mưa: 1.619 ha

- Thiệt hại hoa màu: 72,3 ha

- Mía bị đổ ngã thiệt hại từ 20% - 50%: 427,4 ha

- Mía bị ngập do vỡ bờ bao:1.145,6 ha

- Vườn cây ăn trái bị ngập:13,2 ha

- Lúa ngã đổ, thiệt hại trên 20%: 5.843 ha

- Mía bị ngã đổ: 115 ha

- Mía bị ngã đổ thiệt hại 20%: 3 ha - Diện tích cây ăn quảbị giảm năng suất: 10

- Bờ bao bị vỡ do triều cường: 3.517 m

- Bờ bao bị tràn do triều cường: 56.550 m

- Bọng bị thiệt hại 100% do triều cường: 19 cái

- Đập bị vỡ do triều cường: 21 cái

- Đê sông Mỹ Thanh đoạn K44 – K44.7: xói lở 360 m

- Đê biển Vĩnh Châu đoạn K7: xói lở 50 m

- Đê, bờ bao bị tràn,

hư hại: dài 239,5 m

-Giao

thông

- Đường bị sạt lở thiệt hại từ 20% - 50%: 1.347 m

- Đường bị ngập do triều cường: 38.997 m

-Nguồn: Chi cục thủy lợi & PCLB tỉnh Sóc Trăng

Ngày đăng: 16/01/2013, 16:36

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng III.1: Diện tích đất bị ngập theo huyện đến năm 2100 tỉnh Sóc Trăng - Đánh giá tổng thiệt hại điều kiện tự nhiên và diễn biến biến đổi khí hậu tại tỉnh sóc trăng
ng III.1: Diện tích đất bị ngập theo huyện đến năm 2100 tỉnh Sóc Trăng (Trang 15)
Bảng : Diện tích sản xuất nông nghiệp bị ngập theo huyện tỉnh Sóc Trăng đến năm - Đánh giá tổng thiệt hại điều kiện tự nhiên và diễn biến biến đổi khí hậu tại tỉnh sóc trăng
ng Diện tích sản xuất nông nghiệp bị ngập theo huyện tỉnh Sóc Trăng đến năm (Trang 16)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w