Thiên diễn học Đông phương có thể nói là một trong những môn học về quốc túy Trung Hoa, ngày càng mới mẻ, như một thứ Kinh Dịch sống.. Muốn giải quyết những mâu thuẩn và bổ khuyết mọi th
Trang 1KHOA HỌC PHƯƠNG ĐÔNG THUẬT PHONG THỦY TRUNG HOA CỔ ĐẠI
Trang 2THẤM TRÚC NHƯNG
và CÁC TÁC GIÁ
KHOA HỌC ĐÔNG PHƯƠNG
TRACH VAN TAN AW
Bién dich : LE VIET ANH
Trang 3Biên dịch từ
TRẠCH VẬN TÂN ÁN
(Quảng Tây Dân tộc xuất bản xã xuất bản tháng 3/1994
Trang 5Re
Hh
aC dere]
Trang 10SƠ lược nội dung
“Khoa học Đông phương - Trach vdn tan dn” do cdc nhă địa lý phong thủy cận đại trước tâc, thuột lại rõ răng lý luận uă phương phâp của khoa địa lý phong thủy Trung Quốc,
bể lại những u¡ dụ thănh công uă thốt bại Nó được người đời gọi tín lă “Kinh Dịch sống”, lă kho bâu lưu lại nhđn gian Mây chục năm nay người ta chỉ nghe danh mă ít được thấy
Bộ sâch năy lấy bản tn đầu tiín của nhă sâch Hải Thượng
Tu V6 Trai, năm 1927, lăm bản gốc, đê mời nhiíu chuyín gia, học giả danh tiếng tiến hănh chỉnh lý, loại bỏ câi thô, chót lọc cúi tình, nín bộ sâch năy bhông những giữ lại nguyín bản, mă còn bình luận, chú giải, giản luge cdc vi du trong nguyín bản, duyệt lại toăn bộ nguyín bản Độc giả có thể căn
cứ uăo thứ tự Tủ Bạch phi tỉnh luđn chuyển theo năm thâng,
đối chiếu uớt Cửu tình lưu chuyển từng năm từng thang theo địa chị, mă biết sẽ gặp họa phúc như thế năo, từ đó giảm bớt thiệt hại, nĩ trânh bất hạnh, tăng độ an toăn
Ngoằi ra, để đâp ứng nhu cầu của những độc giả sơ bộ tìm hiểu khoa địa lý phong thủy muốn lĩnh hội uă nắm uững câc vi du, trong sâch còn in thím phần kiến thức cơ sở Huyền Không học có liín quan, đó lă “Huyín Không tập yếu"
Bộ sâch chứa dụng những 0í dụ toăn diện, bình luận tình
tế, phđn tích có lý, diễn giải dễ hiểu, thích hợp cho câc chuyín øìa, học giả uă đông đảo những người thích đọc sâch, lă loại sâch công cụ mă hết thây những ai nghiín cứu địa lý phong thủy muốn co trong tay
Trang 11Lời nói đu
(của nguyên bản)
Trần thế xưa nay, biết đâu là quá khứ, biết đâu là tương lai Nếu nói về
sự luân phiên thời gian trước sau, quá khứ nào cũng có chỗ trong hiện tại, tương lai nào cũng đều có quá trình hiện tại Quá khứ vị lai đều là quá khứ
Vị lai trong chớp mắt đã thành hiện tại, vị lai chẳng phải vị lai Hiện tại trong chớp mắt đã thành quá khứ, hiện tại chẳng phải hiện tại, cả hiện tại lẫn vị lai đều là quá khứ Hiện tại chẳng đứng yên, hiện tại chỉ là sát-na tạm dừng trong quá trình luân chuyển, khi quá khứ chưa đứt hẳn, quá khứ hiện tại đều là vị lai Hiểu được thời gian chuyển hóa liên tục thì sau đó có thể nghiên cứu Thiên diễn học Đông phương Thiên diễn học Đông phương có thể nói là một trong những môn học về quốc túy Trung Hoa, ngày càng mới mẻ, như một thứ Kinh Dịch sống Mọi việc tử - sinh, thường - biến tuy thiên biến vạn hóa, song vẫn có trình tự nhất định và có quỹ đạo để theo Bất luận theo chiều dọc đến ngàn năm, theo chiều ngang suốt sáu châu, con người hiển hay ngu, sự việc thành hay bại, vò hình chung đều có giới hạn khó tránh, có thể diễn giải thành phương thức khoa học phổ biến cho mọi người cùng biết để đón nhận thuận lợi, mở mang bách nghiệp, diệt trừ đau khổ Ứng dụng của
nó thật vô cùng, những điều cốt yếu quá ư đơn giản, số của nó có chín, sắc của nó có bảy, hành động của nó phân ra thuận nghịch, thực hiện theo nó có thể đoạt quyền sinh sát Phần lớn không cần nói mà vẫn tin, không ra lệnh vẫn làm, không giận dữ vẫn có thần uy
Toàn hộ bộ Kinh Dịch sống này có được là nhờ sự giác ngộ, không phải nhờ chữ nghĩa Khi đã giác ngộ, sẽ hiểu được su huyén bí của nó, từ đó có thể biết hết thây đều có hình, có tướng, có thể nghe, thấy, ngửi, nếm, động chạm Ngay cả những thứ tưởng là không thực, như trong chân không, chẳng thấy hình, chẳng thấy sắc, song vẫn có thực tướng ở mọi lúc mọi nơi, thi hành quyền sinh sát của nó một cách độc lập Đay rồi vơi, thái rỗi bĩ, tuyệt rồi sinh, bác rồi phục, cứ thế tuần hoàn, thay thế lẫn nhau Người mê tín cho đó thuộc quyển tối cao của tạo hóa, bậc thức giả biết đó là lực chuyén bién cia chính mình Kẻ cố chấp luôn gặp nguy hiểm, người giỏi ứng biến theo chữ
“thời” thì không gì không có lợi.
Trang 12Muốn giải quyết những mâu thuẩn và bổ khuyết mọi thiếu sót xưa nay trên đời, không thể dùng khoa học Tây phương, mà phải trở về với khoa Thiên điễn học Đông phương, bởi khoa này luôn luôn mới mẻ, đã xác định rõ con đường tiến tới từ nay về sau, giải trừ mọi nguy tai của hiện tại, vị lai, nhằm hướng tới vận may cho cả thế gian Trên tỉnh thần đó, chúng tôi biên soạn “Trạch pận tân án”, diễn dịch và khái quát căn nguyên mọi biến hóa cöIi nhân gian
Ngày 16 tháng Mười Một năm Dán quốc thú mười súu Tuyết Hành cẩn chí tai Hdi Thuong Tu V6 Trai
Trang 13LƯỜNG THIÊN XÍCH TÂN CA
(Lường Thiên xích là chỉ Thất sắc,
Cửu khí trong đại số Lạc Thư)
Thùy đắc lường thiên xích nhất chị,
Bộ lường trung ngoại cổ kim thi
Tư sinh đắc thất tùy thám sách,
Quá hiện vị lai liễu liãu trì
Tứ thiên dự niên xuất thế cửu,
Tế nhân tằng hữu kỷ danh sư ?
Nhất triêu khám phá cá trunỳ diệu,
Tuết nguyệt Ìưu tỉnh tịnh nhật thời
Ba binh dac u lai khứ khẩu,
Hóa cơ tiến thoái biện hào tỉ
Các gia các hữu nhất thiên địa,
Vô đố vô khi vô phi nghị
Trang 14Dịch nghĩa :
10
Ai ndm được Lường Thiên xích,
Sẽ có thể đo lường mọi thứ cổ kim, trong và ngoài Tìm hiểu việc sông chết và được mất,
Nắm rõ quá khứ, hiện tại, tương lai
Hơn bốn ngàn năm trở lại đây,
Đã mấy danh sư từng cứu giúp người 2
Một hôm khám phá sự huyền diệu,
Liên quan đến sự lưu chuyển năm tháng ngày giờ Lấy đó làm căn cứ đoán định chính xác,
Sự tiến thoái của tạo hóa
Mỗi người mỗi nhà có trời đất riêng,
Không hề có chuyện khi để đố ky
Tạo hóa vẫn ngắm tiến hành hạn chế,
Trong vòng mười năm được mấy lúc tốt đẹp Thứ đem vận dụng môn học này,
Vun đấp hòa bình bác ái cho mọi người
Trang 15Giỏi thích ð1 bộ vị Lường Thiên xích
Trang 17Động cơ vận 5 Trung nguyên
(Hinh §)
Điểm trưng tảm6
2
Động cơ vận 6 Trung nguyên
(Hình 8}
Trang 19Thuyết minh
Đây là khí vô hình, mắt không
thể thấy, tay chẳng sờ được, nhưng có
thời vận để an, có đường lối để theo,
có định số để xét, có thành bại, sinh diệt, vui sướng, lo buôn, có thể chứng thực qua muôn vạn biến đổi của mọi người, trở thành khoa học của Đông phương đoán số mệnh day huyền bí chẳng ai có thể xóa bỏ
Các đô hình trên là giải thích 81
bộ vị trong phép Lường thiên xích, gọi
vào Nguyệt Quật, sẽ theo quỹ đạo quang tuyến tam giác mà phóng đi thuận nghịch, sẽ thấy rõ hết thay moi
2 chuyện nhân sự từ xưa đến nay, ở Trung Quốc cũng như ở các nước khác Nguyệt Quật là Trung tâm điểm, Thiên Căn là tên gọi cặp song tỉnh tìm thấy từ chín động cơ nói trên Toàn bộ các ví du trong bộ sách
đã biết nhìn vào sẽ hiểu ngay, người
3 chưa biết hãy nhìn các sơ đổ theo
Điềm trung tam9
chiều thuận cũng sẽ hiểu Căn cứ vào
xích, sẽ thấy rõ căn nguyên gây ra sự biến đổi của mọi chuyện
Để tiện dùng, phía dưới sẽ nói rõ Bước thứ nhất, là trung tâm điểm của các công ty, cửa hiệu, cơ quan Lấy bộ phận quan trọng nhất ở đỏ làm chủ đạo, cũng chính tại miếng đất đó Hoặc có thể vận dụng chủ quan Bước thứ bai là phương tây bắc của ta Bước
Động cơ trình a nguyén thứ ba là phương chính tây Bước thứ
1
Trang 20tư là phương đông bắc Bước thứ năm là phương chính nam Bước thử sáu là chính bắc Bước thứ bảy là tây nam Bước thứ tám là chính đông Bước thứ chín
là đông nam Tám phương bao quanh ta đầu gọi là khách quan Mọi vui buén, được mất của chính ta đều do chủ tỉnh của hoàn cảnh và tự thân (ta) sinh khắc chế hóa với khách tình năm tháng ngày giờ Người mới học nên học thuộc chín bước này Một khi nắm vững thì có thể vận dụng mọi lúc mọi nơi
nó phát ainh nhiều mối quan hệ Tường chắn ánh sáng Mặt trời, nên bên này thì sáng, bên kia tối Khi Mặt trời chiếu xiên thì bóng râm kéo dài Giữa trưa bóng râm thu hẹp hẳn Dưới chân tường và cách đó không xa thường là bóng rầm, ánh sáng ít khi chiếu tới, cây cổ At bj héo da, xơ xác Hơn nữa, vì tường ngăn ánh sáng, nên trong bóng râm hàm chứa sự sự ẩm thấp, sinh ra các loại rêu, vi khuẩn, côn trùng, sâu kiến làm tổ ở đây Quan hệ phát sinh không chỉ
dừng ở đó Gió thổi tới bị tường chắn, sẽ lập tức có biến hóa, chuyển hướng,
đồn mạnh vào chỗ trống, sinh ra gió lùa, gió chướng Con người ta khi gặp rủi
ro bất hạnh mấy khi ngờ rằng họa phúc, cát bung phần lớn nằm ngay trong gian nhà của mình Hễ có sự tiếp xúc với vật thể, lập tức sẽ phát sinh quan hệ
Vi dụ về bức tường nói trên là một bằng chứng Dang hén bị xui, đang phúc gặp họa Năm tháng vận hành trong đại khí luôn luôn biến đổi Cửu tình làm thay đổi bảy sắc, khí số vốn vô thường Năm tháng biến đổi, sẽ gặp hiếu hí hay buồn đau Mật nhà thiệt hai, ảnh hưởng đến cả nước Một nhà hạnh phúc, cả nước phôn vinh Biết an bài trạch vận, sẽ tạo phúc cho cả nhân loại
NGUỒN GỐC LẠC THƯ
Cách đây bốn ngàn một tram ba mươi lăm năm, đời Đường Ngu (Nghiêu)
có nạn hông thủy Bá Cồn được lệnh trị nạn hỏng thủy Cổn do khinh suất, làm
hỏng việc lớn Tai nạn tràn lan Đại Vũ ứng với vận trời sinh thánh triết, nhận
l6
Trang 21lãnh việc trị thủy, vì nước vi dan quên mình Mười năm lặn lội đó đây, căn cứ
địa hình địa thế mà đấp đê, khơi dòng Ở phía tây Trung Châu, đào hồ Long
Môn, làm cho bằn nguồn nước lớn đều chảy vào Hoàng Hà mà ra biển Đông
Thủy tai được loại trừ dân, lòng người hoan hỉ, thuận với ý Trời Ở (sông) Lạc
Hà nổi lên rùa thân Lưng rùa có văn Ở giữa lưng có nữm điểm tròn màu uàng Gần cố có chín điểm màu từn, gần đuôi có một điểm màu trắng, bên trái ba điểm màu xanh biếc, bên phải có bẩy điểm màu đỏ, phía tả đằng trước có bốn điểm màu lục, phía hữu đằng trước có hai điểm màu đen; phía tâ đồng squ có tam điểm màu trống, phía hữu đăng sau có sáu điểm màu trắng
Vua Đại Vũ nhân đó mà xếp thành Cứu trù, truyền đến Vũ vương nhà Chu Vũ vương thắng nhà Ân, hỏi Cơ Tử Cơ Tử đem diễn thành thiên Hằng Pham Hét thay moi việc mọi sự xưa nay đều gói ghém trong đó, coi như khoa
lý số của phương Đông, ứng dụng rộng rãi Đến thời Tần Thủy Hoàng phát cuồng, muốn làm bá chủ thiên hạ, mới đem chôn nho sĩ, đốt sách, những lời chỉ giáo huyền diệu của thánh hiền hầu như mất cả Chỉ để lại chín số trong tui can khôn, không nói ra những điều vô cùng huyền điệu Phải là bac kỳ tài mới thấu hiểu lẽ huyền bí của nó, lấy đó giúp đời, gặp thời trừ loạn Khảo cứu hết thầy mọi việc đều dựa vào thuyết nguồn gốc của Lạc Thư
PHƯƠNG VỊ VỚI 24 SƠN HƯỚNG
Không gian vốn vô giới hạn hoạch định, nên mới lấy bổn vị sở tại làm trung ương (ở giữa), xung quanh là mười phương Mười phương gồm :
- chính nam, chính bắc, chính đông, chính tây là tứ chính;
- đông nam, đông bắc, tây nam, tây bắc là tứ ngung;
- cộng với hai phương trên đưới
Nhưng trong khoa địa lý chỉ dùng tím phương, nên không luận tới hai phương trên và dưới Hai mươi tư sơn hướng tức là tiêu nạp trong phạm vì tám
phương :
- phương bác Nhâm Tý Quý,
- phương đông bắc Sưu Cấn Dần,
- phương đông Giáp Mão At,
- phuong déng nam Thin Ton Ty,
17
Trang 22- phương nam Bính Ngọ Định,
- phương tây nam Mùi Khôn Thân,
- phương tây Canh Dậu Tan,
- phương tây bắc Tuất Càn Hợi
Đặc
Hình 10 Đá hình 24 sơn hướng
Trang 23NGU HANH VA NGŨ HÀNH SỞ THUỘC
Hành là chỉ khí vận hành liên tục giữa trời đất, gồm Thúy, Hóa, Mộc, Kim, Thể Lấy hình tướng mà nói, tròn đầy thuộc Kim, hẹp dài thuộc Mộc, khúc khuỷu thuộc Thúy, nhọn tà thuộc Hỏa, vuông vức thuộc Thổ Lấy thời lệnh mà nói, vào tiết Lập Xuân, Vũ Thủy của Mạnh xuân, Kinh Trập, Xuân Phân của Trọng xuân, Mộc tính đang Vượng Vào tiết Lập Hạ, Tiểu Mãn của Mạnh bạ, Mang Chúng, Hạ Chí của Trọng hạ, Hỏa tình đang Vượng Vào tiết Lập Thu,
Xử Thử của Mạnh thu, Bạch L2, Thu Phân của Trọng thu, Kim tình đang Vượng Vào tiết Lập Đông, Tiểu Tuyết của Mạnh đông, Đại Tuyết, Đông Chí của Trọng Đông, Thủy tỉnh đang Vượng Lấy màu sắc mà nói, màu xanh thuộc Mộc, màu
đỏ thuộc Hóa, màu vàng thuộc Thổ, màu trắng thuộc Kim, màu đen thuộc Thúy Lấy thân thể con người mà nói, gan thuộc Mộc, hô hấp, lông, tóc và tay chân cũng xếp vào hành Mộc Phẩi thuộc Kim, đầu, họng, lưỡi, thanh đới cũng xếp vào hành Em Tìm thuộc Hóa, mắt, thượng tiêu cũng xếp vào hành Hỏa Thận thuộc Thủy, máu, mồ hồi, nước mắt, tai cũng xếp vào hành Thủy Dạ dày, lá lách thuộc Thể, lưng, bụng cũng xếp vào hành Thổ
Nói về năm đức, thì Nhân thuậc Mộc, Nghĩa thuộc Kim, Lễ thuộc Hỏa, Tín thuộc Thổ, Trí thuộc Thủy Lấy năm vị mà nói, thì Đắng thuộc Hỏa, Mặn thuộc Thủy, Chua thuộc Mộc, Cay thuộc Kim, Ngọt thuộc Thổ Lấy âm luật mà nói,
âm Thương thuộc im, tiếng chiêng, thanh la, chuông cũng hành Km; âm Giốc thuộc Mộc, tiếng trống, não bạt cũng thuộc Mộc; âm Chủy thuộc Hỏa, tiếng pháo, tiếng nổ cũng thuộc Hỏa; âm Vũ thuộc Thủy, tiếng nước chảy, tiếng suối cũng thuộc Thúy; âm Cung thuộc Thổ, tiếng gach ngói chum vò va nhau cũng thuộc Thổ Về con số mà nói, 1 và 6 thuộc Thủy, 4 và 9 thuộc Kìm, 3 và 8 thuộc Mộc, 2 và 7 thuộc Hỏa, 5 và 10 thuộc Thổ
Vé qué ma néi, Kién (Can), Đoài thuộc Kim; Chấn, Tốn thuộc Mộc; Khôn, Cấn thuộc Thổ, Khảm thuộc Thúy; Ly thuộc Hỏa Về Can Chỉ mà nói, Giáp, At, Dân, Mão thuộc Mộc; Bính, Định, Ty, Ngọ thuộc Hỏa, Canh, Tân, Thân, Dậu thuộc Kim; Nhâm, Quý, Hợi, Tý thuộc Thủy; Thìn, Tuất, Sửu, Mùi thuộc Thể
Trang 24Trong tương sinh, nếu hỏi ý nghĩa tại sao Kim sinh Thủy, có thể không dé trả lời Đáp rằng, trên Trái đất, điện tích núi non lớn hơn hẳn đồng bằng, câu nói của cổ nhân “Tam sơn lục thủy nhất phân điển” (ba phần núi, sáu phần nước, một phần ruộng) có thể chứng thực điều đó Các tỉnh ở miền Tây Bắc rất khó kiếm được nước, mùa thu nước đều từ trong núi chảy ra Núi phần nhiều
có hình Kim, dan Trung Quéc bắt nguồn từ Tây Bắc, nền văn hóa cổ từ đó sản
sinh Nái Kim sinh Thủy là từ hiện tượng thiên nhiên mà rút ra vậy
Trên phương điện khoa học, nếu nói về nguồn gốc nước mưa, thì nước trên mặt đất, gặp nắng một phẩn bốc lên thành hơi nước, bay lên không gian cao vút, tụ lại thành mây Gặp khi trời nóng, địa khí bốc lân, xộc thẳng vào tầng
khí lạnh, do chuyển động sóng của không gian, khí lạnh ập xuống Sự vận hành
của không khí hóa thành gió, nên quá nóng at sinh gió Mây gặp khí lạnh thì
co lại, kết thành hạt nước Hơi nước nhẹ bay lên cao, khi đã hóa thành hạt nước nặng thì rơi xuống thành mưa Người ta biết nước mưa từ trên trời rơi xuống Nhà dịch học Trung Quốc vốn lấy trời xanh làm quẻ Kiên, Kién (Can) thuộc Kim, trời để nước mưa nên nói im sinh Thủy là vì lẽ đó
Về tương khắc, Mộc khác Thổ chưa rõ nghĩa lắm Đáp rằng : Đất chỗ nào
có trồng cây ắt xốp, tơi, vi rễ cây ăn vào đất mà đất không thể chống lại, nên
nói là Thể bị Mộc khấc
BIA CAU VA CUU TINH
Cac nha thién vin ding nhiéu céng cu va tén bao céng tinh todn mdi xdc dinh duge su van động của các hành tình Thái Dương (Mặt trời) là trung tâm của một hệ đại hành tính trong không gian, Trái đất là hành tỉnh thứ ba xoay quanh Mặt trời Nhà quang hoc dung kính phân tích mới biết trong ánh nắng Mặt trời có bảy màu : tím, trắng, ngọc bích, đen, xanh, vàng, đỏ Mỗi màu có sắc thái đặc điểm riêng, khi pha vào nhau sẽ biến đổi, thành cảnh giới không màu, gần như màu thuần trắng, gọi là quang nguyên, bản lai điện mục của quang học, chính là bản tướng vô cực theo nhà dịch học, Niết Bàn (tịnh thể) tịch quang theo Phật học, trạng thái vô niệm theo Tâm học Rát lại thì vô cùng
nhỏ bé, thả ra thì bao trùm lục hợp Ở dạng tĩnh là khí tượng Tiên thiên, an
tĩnh như Niết Bàn; ở dang déng thi biến hóa gớm ghê, khiến thế gian hoa mắt Địa cầu vì kết cấu thổ - thủy - hóa - phong (đất - nước - lửa - gió), vì tham - sân
- gi - ái không đứt mà sinh ra biến động Biến động triền miễn, sinh điệt điệt sinh, thay cũ đối mới dẫn tới hằng hà sa số quá khứ, hiện tại, vị lai thoắt hiện thoắt biến, song boàn toàn là do lấy thất sắc (bây màu), cứu tỉnh làm nguyện
20
Trang 25lực lớn nhất trong đại dương sinh tử Kết cấu địa cầu ngày ngày vẫn thế, ham muốn vọng tưởng chẳng một ngày dừng, Trái đất cứ quay quanh Mặt trời, sứ mệnh thất sắc cứu tinh không dừng nghỉ một ngày Khí đại sế Lạc Thư vận hành, từ khi có Trái đất xoay quanh Mặt trời đến giờ, cứ luôn luồn vận hành, triết lý Đông phương chẳng phải là vô căn cứ.
Trang 267572
Trang 271 LAI LỊCH CỦA HUYỀN KHÔNG HỌC
Hai chữ “Huyền Không” nghĩa là gì, mỗi sách nói một cách, song chúng tôi thấy đều chưa nói chính xác ý nghĩa của thuật ngữ ấy
Kỳ thực hai chữ “Huyền Không” hàm ý phối hợp Hậu thiên bát quái với Tiên
thiên bát quái, tức là Thể và Dụng của Tiên thiên và Hậu thiên bát quái phối
hợp với nhau Đấy chính là tôn chỉ của Huyền Không học Huyên nghĩa là màu đen (hắc), về quả là qué Kham, vé phuong là phương Bắc, về số là số 1, về Tiên thiên la qué Khôn (tức Nhị Hắc) Không là ngụ ý sự biến hóa của tượng qué, qué
Ly là trung không (tức == ), về phương là phương Nam, về Tiên thiên là quê Can Can vi thién (Can là trời), nghĩa của thiên là không (ta vẫn nói thiên không), về số là số 9 Nói đối xứng 1 và 9 là hàm ý phối hợp Càn Khôn của Tiên thiên, cho nên Huyền Không học mới coi trọng sự đối xứng phu phụ (vợ chồng),
sự phối hợp Âm Dương, hàm nghĩa chân thực của nó là tìm kiếm sự huyền diệu trong thính không Chữ “Không” này là chỉ khí của Căn Dương Tiên thiên, vạn vật đều sống nhờ khí, nên Càn Khôn phối hợp với nhau mỗi thứ 32 quẻ, tổng cộng thành 64 quẻ, Càn ainh gáu con, Khân sinh sáu con, phối hợp 24 sơn hướng cộng thành 48 cục, đây chính là ý nghĩa chân thực của “Huyển Không” vậy
vị, mà muốn tìm ra vị trí trung tâm của nhà cửa, thì có mấy cách dưới đây :
1 Lấy trọng tâm lực học trong vật lý làm trung tâm
2 Bỏ phần lôi đi, rồi sau hãy tìm trung tâm điểm
3 Thêm phần lõm cho đây, rồi sau hãy tìm trung tâm điểm
điểm
5 Phức tạp hơn là không có hình dang nhất định, mỗi vật một thái cực, thì nên chia thành vài hình khối nhỏ rồi đi tìm trung tâm điểm của mỗi
vị trí đó.
Trang 28
Nhà cửa phòng ốc hiện đại có muôn hình vạn trạng, muốn tìm được điểm lập cực (trung tâm điểm), đôi khi cũng gặp khó khăn Dưới đây chúng tôi ví dụ một số mặt phẳng hình dáng nhà cửa để quí độc giả tham khảo :
Nhà ở hình vuông (kể cả hình chữ nhật), lấy giao điểm của hai đường chéo làm điểm lập cực (trung tâm điểm)
Nhà ở hình tam giác lấy giao điểm của hai đường cao làm điểm lập cực
Nhà ở hình thang thì quân bình lại chỗ thiếu thừa, thành hình vuông rổi lấy giao điểm hai đường chéo hình vuông làm điểm
Trang 29Phần lỗi và phần lõm (dư và thiếu) bằng nhau thì chúng ta chìa đôi diện tích của chúng, rồi lấy giao điểm của hai đường chéo làm điểm lập cực
Nhà ở có hai vị trí bị thiếu khuyết thì ta bổ
sung thêm vào rồi lấy giao điểm hai đường chéo làm điểm lập cực
Nhà ở có một phần thừa ra cả về hai cạnh,
ta cũng xét xem mỗi cạnh có đủ một phần
ba hay không rồi dùng quy tắc bớt thừa bù thiếu để tm điểm lập cực.
Trang 30Quy tắc giống hình trên
Trang 313 HUYEN KHÔNG PHI TINH CUNG 24 SƠN
Huyền không phi tình còn gọi là Cửu cung phi tinh, nói chung đơn giản gọi là sắp xếp phi tinh, lấy Tử Bạch cửu tinh làm chủ, trong khi đó Huyền Không đại quái lại lấy quẻ hào làm chủ, phối hợp dùng cả Huyền Không phi tỉnh và đại quái là mức độ cao nhất của Huyền Không phong thủy Sự tốt
xấu, cát hung của cửu tính, trong các nguyên các vận khác nhau sẽ xuất hiện
tốt xấu, cát hung khác nhau, hiện tại tuy tốt đẹp, song tương lai, khi nguyên
và vận thay đối, cát khí mất đi, thì mộng đẹp tan thành mây khói !
Huyền Không phì tỉnh lây sự phối hợp của Cửu tỉnh trong Lạc Thư làm chủ, Cửu tình trong các tình huống khác nhau sẽ xuất hiện thuận phi (bay thuận) hoặc nghịch phi (bay nghịch) Cửu cung tức chín cung, từ đó cũng xuất hiện tổ hợp các sao khác nhau Chín phi tình trong nguyên, vận khác nhau sẽ sản sinh
ra cát hung khác nhau, sự việc mỗi phi tỉnh làm chú cũng sẽ khác nhau, mà khi chúng kết hợp, tổ hợp bằng các quy tắc khác nhau, thì đối với phong thủy chúng sẽ sinh ra lực tác động, ảnh hưởng khác nhau Còn về tốt hay xấu, hung hay cát, ta cần phải tùy vào tính chất của phi tỉnh mà suy đoán
Nghiên cứu phi tỉnh, trước tiên cần phải nghiên cứu quỳ đạo của Cửu cung
và Lạc Thư, sau đó học tới đề hình sắp xếp trạch vận, sau khi đã tỉnh thông hai bước trên rồi, rnới nghiên cứu tiếp đến tính chất cát hung và sự việc mà các sao làm chủ
Bắt đầu nghiên cứu Huyền Không phi tỉnh, nên hiểu rõ trình tự sắp xếp của 24 sơn, điều này rất cần thiết cho người mới nghiên cứu
“Thanh Nang Tự” có viết “Tiên thiên La kinh thập nhị chỉ, Hậu thiên tái
dụng can đữ duy”
Câu này nhằm chi 8 can 4 duy lại thêm 12 chị tổng cộng có 24, đây là chỉ
24 sơn của La kinh 24 sơn tức là 24 phương v1
24 sơn ngoài việc biểu thị phương vị ra còn bao gồm cả Ngũ Hành, quái
lý (lý của quẻ), cùng hợp xung của Can Chị Chúng tôi xin giới thiệu lần lượt dưới đây :
THẬP NHỊ ĐỊA CHI VÀ HÀNH CỦA NÓ
Tý (Thúy), Sữu (Thổ), Dân Mão (Mộc), Thìn (Thổ), Ty Ngọ (Hỏa), Mùi (Thổ),
Thân Dậu (Kim), Tuất (Thổ) Hợi (Thủy)
Trang 32NGO HANH CỦA PHƯƠNG VỊ
Bến chính vị của 24 sơn là dựa vào khẩu quyết sắp xếp 12 địa chỉ của Tiên thiên La kinh Tứ chính đó là : chính Bắc, chính Nam, chính Đông, chính Tây Địa chi Tý (hành Thúy) ở bên dưới của đồ hình, vì Thủy trong giới tự nhiên ở dưới Hỏa, bên trên là Thái Dương thuộc Hỏa, mà Ngọ Hỏa chính ở vị trí này Mão thuộc Mộc ở phương Đông, Dâu thuộc Kim ở phương Tây, nguyên lý tương xung Mão Dâu, cũng là lý do hai cái đối nhau, một ở Đông một ở Tây
La kinh có 24 cách Xin quý độc giả lưu ý quy luật giữa chúng với nhau
: 12 địa chi sắp xếp theo hướng thuân chiều kim đồng hồ, căn cứ vào 12 tiết của tháng, bắt đầu từ Dân, Dân Mão Thìn ở phương Đông, Ty Ngọ Mùi ở phương Nam, Thân Dậu Tuất ở phương Tây, Hợi Tý Sứu ở phương Bắc Sau khi đem 12 địa chỉ điển vào vị trí trong cung, quý vị sẽ dễ dàng hiểu được cách sắp xếp cơ bản của 24 sơn cùng quan hệ đối xung của 12 địa chi Có 6 |
tô hợp xung sau đây :
28
Trang 33Ty Ngọ xung nhau
Mão Dậu xung nhau Thìn Tuât xung nhau Sứu Mùi xung nhau Đần Thân xung nhau
Ty Hợi xung nhau
Xin lưu ý sắp xếp 24 sơn trên la
kinh, ngoài 12 dia chi, còn có 10 thiền
can sắp xếp bền trên Cách thức sắp xếp 10 thiên can được quyết định bởi
thuộc tính của Ngũ Hành, Âm Dương :
Giáp là Dương Mộc, Ất là Âm
Ê Mộc, phương Đông thuộc Mộc, nên Giáp Ất ở phương Đông Giáp là Dương nên đóng bên trái Mao, At la
Âm nên đóng bên phải Mão
Bính là Dương Hảa, Định là Âm Hóa, phương Nam thuộc Hóa, nên bic _ Bính Binh ở phương Nam Bính là Dương nên ở bên trái Ngọ, Định là Âm nên ở bên phải Ngọ
Mậu là Dương Thổ, Kỷ là Âm Thổ, trung cung (trung tâm) thuộc Thổ, nên
Mậu Ky thuộc trung cung
Canh là Dương Kim, Tân là Âm Kim, phương Tây thuộc Kim, nên Canh Tân ở phương Tây Canh là Dương nên ở bên trái Dậu, Tân là Âm nân ở bên phải Dậu
Nhâm là Dương Thúy, Quý là Âm Thủy, phương Bắc thuộc Thủy, nên Nhâm
Quý ở phương Bắc Nhâm là Dương nên ở bên trái Tý, Quý là Âm nên ớ bên
phải Tý
39
Trang 34Vì sao Dương can lại xếp bên trái điạ chỉ và Âm can lại xếp bên phải địa chi ? Là vì Dương luôn dịch chuyển về bên trái (thuận chiều kim đồng hỗ) và
Am luôn địch chuyến về bên phải (ngược chiều kim đồng hồ)
Thiên Can có 4 tổ hợp xung đối sau :
SỰ SẮP XẾP CỦA CÁC QUÁI (QUẺ)
NAM
“Thanh Nang Tự” viết “Hậu thiên lại dùng Can và Duy” Can là chỉ Thiên
Can, Duy là chỉ Tứ Duy
Hình bên trái chi về “Tứ Chính”, hình bân phải là chỉ “Tứ Duy”
Điền các quể của Tứ Duy vào những chỗ trống trong đô hình ta đã hoàn chỉnh xong 24 sơn Lại hỏi vì sao chi ding qué của Tứ Duy để điền vào 24 sơn ? La vi vi tri qué của Tứ Chính trùng với vị trí của
4 địa chị Tý Ngọ Mão Dậu, nên 4 địa chỉ này còn được gọi là Tứ Chính Sau khi sắp xếp xong 24 sơn, lại đem 8 phương chia lam 24 phương vị (xem hình ở dưới)
24 sơn biểu thị rõ ràng, tinh tế tọa hướng của Âm Dương trạch, phương vị của sơn thủy gần đó cùng phương vị của phòng,
ma)
Trang 35cửa, bếp, từ đó phối hợp với trạch vận mà luận đoán Hơn thế nữa, 24 sơn này còn có thế dùng cho việc chọn ngày lành tháng tốt Ví dụ như muốn chọn ngày lành để đọn nhà, cho Dương trạch Tọa Ngọ hướng Tý, thì không nên chọn ngày
Tý, bởi ngày Tý xung với tọa sơn Ngọ Nếu đã hiểu và tỉnh thông mối liên hệ nội tại của 24 sơn thì bất luận học môn thuật số nào cũng sẽ nhanh chóng thành câng
4 CACH SAP XEP LA BAN HUYEN KHONG PHI TINH
Trước hết ta cần phải hiểu được quỹ đạo của Lạc Thư (tức Lường Thiên xích
ở đầu cuốn sách này) cùng tên gọi của Cửu tỉnh
DANH XUNG CUA CUU TINH
Số 1 thay thé cho sao (tinh) Nhat Bach, hanh Thay
Số 2 thay thế cho sao Nhị Hác, hành Thổ
Đố 3 thay thế cho sao Tam Bích, hành Mộc
Số 4 thay thế cho sao Tứ Lục, hành Mộc
Số 5 thay thế cho sao Ngũ Hoàng, hành Thổ
Số 6 thay thế cho sao Lục Bạch, hành Kim
Số 7 thay thé cho sao Thất Xích, hành Em
Số 8 thay thế cho sao Bát Bạch, hành Thổ
Cửu tỉnh (9 sao này) căn cứ theo số thứ tự của Lạc Thư,
31
Trang 36Quỹ đạo của phi tỉnh khởi điểm từ trung cung (trung tâm), sau đó chiếu theo số thứ tự của Lạc Thư mà dịch chuyển, vì thế quỹ đạo của phi tình còn gọi là quỹ đạo của Lạc Thư (Lạc Thư bộ pháp)
Can
(#
3 Tiếp theo địch chuyển phi tĩnh từ 7 sang 8,
từ Đoài sang Cấn, từ chính Tây sang Đông Bắc
( # )aoà
( $%) Can
4 Tiép dén dich chuyén phi tinh tir 8 sang 9,
từ Cấn sang Ly, từ Đông Bắc sang chính Narn
Trang 37(*#) 6 Dịch chuyển phi tỉnh từ 1 sang 2, từ Khảm
sang Khôn, từ chính Bắc sang Tây Nam
Trang 38ee)
Tén Khôn từ Tốn về trung cung, tức từ Đông Nam về trung
tâm Đến đây chấm đứt quỹ đạo
NHẬP TRUN& CUNG VA CHUYỂN THUẬN, CHUYỂN NGHỊCH
Quỹ đạo dịch chuyển của Cửu tỉnh trong chín cung ở trên đã nói tới Nay chúng tôi muốn giải thích về một vài biến hóa của nó :
Thứ nhất : Nói về “Nhập trung cùng” chính là căn cứ theo yêu cầu mà đem các sao chuyển vào trung cung (trung tâm), sau đó chiếu theo số thử tự của Lạc Thư mà dịch chuyển vị trí theo các cung Ví dụ : Khi sao Nhất Bạch nhập trung cung, chúng ta ghi sế Ì vào trung cung, sau đó theo quỹ đạo của Lạc Thư mà địch chuyển đến cung Càn, trong cung Càn ta viết số 2 của sao Nhị Hác Các
số còn lại cũng lần lượt ghi theo quy tắc trên
Thú hai : Vì sao có chuyển thuận và chuyển nghịch ? Vì sau khi sao đã nhập trung cung thì chia ra chuyển thuận và chuyển nghịch Chuyển thuận tức là số thứ tự của các sao dịch chuyển từ nhỏ đến lớn, nghĩa là nếu nhập trung cung là 1 thì chuyển sang cung Càn là 2, sang Đoài là 8 : chuyển nghịch thì ngược lại, tức là nếu 1 nhập trung cung thì số ở cung Càn sẽ là 9, sang Đoài là số 8
Trang 39Sao Thất Xích nhập trung thuận nghịch
VẬN BẢN, HƯỚNG BÀN VÀ SƠN BAN
Sa5 Cứu Từ nhập trung thuận nghịch
La bàn trạch mệnh là do chín cung vị hợp thành, mỗi một số viết lớn (đậm) trong cung là thiên tình của mỗi vận, gọi là vận bàn Số viết nhỏ ở bên trái là phi tỉnh của sơn bàn, số viết nhỏ ở bên phải là phi tính của hướng bàn
Trang 40TAM NGUYEN CUU VAN
Ta sé thường thấy hình thức của trạch mệnh bàn (còn gọi là phi tỉnh
bàn) như sau ;
Trong một la bàn có 9 cung thường có ba tinh bàn : Vận bàn, Sơn
bàn và Hướng bàn Trước khi giới
thiệu cách thức tính ba tỉnh bàn này,
chúng ta cần nắm rõ sự sắp xếp về Âm Dương của Tam Nguyên Long của 24 son va 3 nguyén 9 van (Tam nguyên Cửu van)
Tuong truyén từ thời Hoàng Đế đã bắt dau sử dụng Lục thập Giáp Tý can chi dé tính lịch, đến nay đã có 78 hoa giáp, mỗi hoa giáp có 60 năm, 60 năm
lã một nguyên, 3 nguyên tống cộng 180 năm
Trong Huyền Không phong thủy, 500 năm được gọi là 1 đại nguyên, 180 năm được gọi là 1 chính nguyên, mỗi chính nguyên phân thành 3 đơn nguyên,
đó là Thượng, Trung, Hạ nguyên, mỗi đơn nguyên lại chia làm 3 vận, 20 năm
la I vận Hiện tại chúng ta đang ở trong chính nguyên cuối cùng của một đại 'nguyên, tức là từ năm 1864 đến năm 2043 (180 năm)
Còn về phương diện tiểu vận thì chia thành 9 vận : Nhất Bạch, Nhị Hắc, Tam Bích, Tứ Lục, Ngũ Hoàng, Lục Bạch, Thất Xích, Bát Bach, Cứu Tử, mãi
ludn chuyển không ngừng Dưới đây là bảng Tam nguyên cửu vận
Vận 1: Năm 1864 - 1883 ThƯỢỜnH — Van 2: NAm 1884 - 1903
Vận 3: Năm 1904 - 1923
Van 4: Nam 1924 - 1943 Trung Van 5: Nam 1944 - 1963
nguyén
Van 6: Nam 1964 - 1983
36
(Năm GIAP TY - QUY MUI)
(Nam GIAP THAN - QUY MAO)
(Năm GIJAP THIN - QUY HGI)
(Năm GIAP TY - QUY MUI)
(Năm GIÁP THÂN - QUY MAO) (Nam GIAP THIN - QUÝ HỢI)