1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Địa quyển chapter 3 2

30 0 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Suy Thoái Đất
Trường học Trường Đại Học Khoa Học Tự Nhiên
Chuyên ngành Địa Quyển
Thể loại Bài Tiểu Luận
Năm xuất bản 2012
Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 30
Dung lượng 5,65 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hiện nay nhiều nguồn nước thải ở các đô thị, KCN và các làng nghề tái chế kim loại, chứa các kim loại nặng độc hại như: Cd, As, Cr, Cu, Zn, Ni, Pb và Hg …, cùng các hóa chất độc hại, dầu

Trang 1

Chuong 3 – Tuong tac giua con nguoi va moi truong 61

2.2 Địa quyển - 2.2.1 Suy thoái đất

Hoạt động gây suy thoái

+ Khai thác rừng đến cạn kiệt (chiếm tỷ trọng 37%) (gây xói mòn, làm đá ong hoá, làm mất

nước, sạt lở )

+ Chăn thả quá mức (chiếm 34%) khiến gia súc phải tìm mọi nguồn thức ăn có thể, kể cả rễ

cây, đồng thời, lượng nước tiểu và phân gia súc quá lớn không kịp biến đổi sang dạng thích

hợp cho sự phục hồi đất và cây cỏ Nhiều cây gỗ cũng bị khô héo đi do gia súc chăn thả vặt

trụi lá và vỏ cây  các loài cỏ và đất không kịp phục hồi, đất ngày càng bị nén cứng, sa mạc

hóa, xói mòn và giảm độ che phủ của cây cỏ trên đất

+ Hoạt động nông nghiệp (chiếm 28%) như tưới tiêu không hợp lý, dùng quá nhiều phân bón

(urea, (NH4)2SO4, K2SO4, KCl, super photphat) hoặc hoàn toàn không dùng phân bón, dùng

phân hóa học, phân Bắc, phân chuồng tươi, thuốc bảo vệ thực vật, … làm đất bị chua, mặn

hoá thứ sinh, giảm hoạt tính sinh học, xói mòn, ô nhiễm hóa học và sinh học

2.2 Địa quyển - 2.2.1 Suy thoái đất

Hoạt động gây suy thoái

+ Hoạt động công nghiệp (chiếm 1%) như việc sử dụng đất làm bãi thải Hiện nay nhiều

nguồn nước thải ở các đô thị, KCN và các làng nghề tái chế kim loại, chứa các kim loại nặng

độc hại như: Cd, As, Cr, Cu, Zn, Ni, Pb và Hg …, cùng các hóa chất độc hại, dầu mỡ, … bị đổ

thẳng ra môi trường mà không hề được xử lý  đất nông nghiệp ven đô thị, KCN và làng

nghề đã bị ô nhiễm trầm trọng Bụi và khí thải sinh ra từ quá trình đốt nhiên liệu trong công

nghiệp, bay trong không khí sau đó ngưng tụ và quay trở lại mặt đất gây ô nhiễm đất

Nguyên nhân dẫn đến suy thoái đất còn có thể kể đến:

 khai thác nước ngầm thiếu quy hoạch, không kiểm soát, gây ô nhiễm nguồn nước ngầm,

xâm nhập mặn, lún sụt đất;

 khai thác đất, cát trái phép, thiếu kiểm soát  gây sạt lở đất và a/hưởng đến dòng chảy;

 sự cố tràn dầu có khả năng gây ô nhiễm nước, đất trầm trọng,

 chất thải rắn, nhất là nước rỉ của các bãi rác chôn lấp ở ngoại thành

Trang 2

Chuong 3 – Tuong tac giua con nguoi va moi truong 63

2.2 Địa quyển - 2.2.1 Suy thoái đất

Hoạt động gây suy thoái

2.2 Địa quyển - 2.2.1 Suy thoái đất

Hoạt động gây suy thoái

Trang 3

Chuong 3 – Tuong tac giua con nguoi va moi truong 65

2.2 Địa quyển - 2.2.1 Suy thoái đất

32% diện tích đất còn lại được sử dụng với các mục đích khác nhau

 Hiện nay, theo đánh giá của FAO trong diện tích đất trồng trọt thì đất cho năng suất:

cao chiếm 14%, trung bình chiếm 28% , thấp chiếm 58%

 Trong tương lai, có thể khai phá và đưa vào sử dụng nông nghiệp khoảng 15 - 20%, tối đa

khoảng 3200 triệu ha, gấp hơn hai lần diện tích đất đang sử dụng hiện nay

 Tuy nhiên, mỗi năm lại có khoảng 25 tỉ tấn đất mặt bị rửa trôi, 2 tỷ ha đất canh tác và đất

trồng bị suy thoái do bị con người sử dụng thiếu khoa học và không có quy hoạch

2.2 Địa quyển - 2.2.1 Suy thoái đất

Hiện trạng

Đất tốt ít, đất xấu nhiều và quỹ đất ngày càng bị thoái hoá.

Trang 4

Chuong 3 – Tuong tac giua con nguoi va moi truong 67

2.2 Địa quyển - 2.2.1 Suy thoái đất

Hiện trạng

 Theo Worldometers, thế giới đã mất hơn 3,6 triệu ha đất canh tác do xói mòn trong bảy

tháng đầu của năm 2011

 Tại Mỹ, tốc độ rửa trôi 2,5 cm lớp đất bề mặt nhanh hơn 17 lần tốc độ tạo thành chúng (200

đến 1000 năm) Tốc độ rửa trôi này còn nhanh gấp nhiều lần ở châu Á, Phi, Nam Mỹ

 Sa mạc Sahara hiện nay đang tiến dần về phía nam với tốc độ 45 km/năm

 Ô nhiễm đất là 1 vấn nạn nghiêm trọng tại Trung Quốc:

 Hiện nay nước này có gần 2.000 vạn ha đất canh tác bị ô nhiễm kim loại nặng, chiếm gần

20% tổng diện tích đất canh tác – ng.nhân thông thường là do tưới tiêu bằng nước ô nhiễm

 Sau mỗi đợt lũ lụt, đất ruộng và lưu vực sông ở các tỉnh Quảng Tây và Vân Nam đều bị ô

nhiễm nặng do kim loại nặng nồng độ cao tràn xuống từ các khu khai khoáng

2.2 Địa quyển - 2.2.1 Suy thoái đất

Trang 5

Chuong 3 – Tuong tac giua con nguoi va moi truong 69

2.2 Địa quyển - 2.2.1 Suy thoái đất

Hiện trạng – Việt Nam

 Thống kê năm1999, nước ta có diện tích tự nhiên gần 33 triệu ha, trong đó:

 diện tích đang sử dụng là 22.226.830 ha (68,83% tổng quỹ đất)

10.667.577 ha đất chưa sử dụng, (33,04% diện tích đất tự nhiên)

 đất nông nghiệp ít, chỉ có 8,146 triệu ha, (26,1% diện tích tự nhiên)

 có trên 50% diện tích đất (3,2 triệu ha) ở vùng đồng bằng và trên 60% diện tích đất (13

triệu ha) ở miền núi có những vấn đề liên quan tới suy thoái đất

 Do đặc điểm đất đồi núi chiếm ¾ toàn lãnh thổ, độ dốc cao lại nằm trong vùng nhiệt đới,

mưa nhiều và tập trung 4 – 5 tháng trong mùa mưa, chiếm tới 80% tổng lượng mưa năm,

nhiệt độ không khí cao, các quá trình khoáng hoá diễn ra rất mạnh trong đất nên dễ bị rửa trôi,

xói mòn, nghèo chất hữu cơ và chất dinh dưỡng dẫn đến thoái hoá đất

 Ngoài yếu tố địa hình tự nhiên, việc phá rừng, đốt rừng bừa bãi, sử dụng đất không bền

vững qua nhiều thế hệ (du canh, du cư, độc canh, quãng canh…) đã làm đất bị thoái hoá

nghiêm trọng, nhiều nơi mất khả năng SX và khả năng hoang mạc hoá ngày càng phát triển

2.2 Địa quyển - 2.2.1 Suy thoái đất

Hiện trạng – Việt Nam

 Các dải cát hẹp trải dài dọc theo bờ biển miền Trung, từ Quảng Bình đến Bình Thuận là nơi

có diện tích sa mạc hóa lớn nhất cả nước

 Mất trên 100.000 ha đất nông nghiệp loại tốt/năm, chủ yếu là đất lúa ở các tỉnh đồng bằng

giới (đứng thứ 159 thế giới từ năm 2002)

 Tại TP HCM, kết quả phân tích hiện trạng ô nhiễm KLN trong đất vùng trồng lúa khu vực

phía Nam thành phố cho thấy hàm lượng đồng, kẽm, chì, thuỷ ngân, crôm trong đất trồng lúa

chịu ảnh hưởng trực tiếp của nước thải công nghiệp phía nam thành phố đều tương đương

hoặc cao hơn ngưỡng cho phép (TCVN 7209:2002) đối với đất sử dụng cho mục đích nông

nghiệp Trong đó hàm lượng cadimi vượt quá TCCP 2,3 lần; kẽm vượt quá 1,76 lần

Trang 6

Chuong 3 – Tuong tac giua con nguoi va moi truong 71

2.2 Địa quyển - 2.2.1 Suy thoái đất

Hiện trạng – Việt Nam

Xâm nhập mặn ở ĐBSCL những năm gần đây trở nên gay gắt hơn

Đường ranh giới xâm nhập mặn ngày càng lùi sâu vào trong đất liền:

 Ở tỉnh Bến Tre, trên sông Hàm Luông, Cổ Chiên, Cửa Đại, ranh

mặn 4‰ vào sâu trong đất liền 30 - 40km

 Tại Kiên Giang, mặn xâm nhập sâu vào các cửa sông từ 10 – 40

km với độ mặn đo được là: 0,9‰ trên sông Cái Lớn (huyện Gò

Quao), 13,5‰ tại Rạch Giá, 4,7‰ tại Tắc Cậu (huyện Châu

Thành)…

 Sông Tiền và sông Hậu (đoạn qua tỉnh Trà Vinh), nước mặn xâm

nhập vào đất liền hơn 30 – 40 km Ranh mặn 3 - 4‰ đến cống Cần

Chông (huyện Tiểu Cần) và cống Láng Thé (huyện Càng Long),

tại TX Trà Vinh là 4,9‰, xã Định An (huyện Trà Cú) là 13,4‰

Độ mặn t.bình của nước biển?

nước ngọt?

2.2 Địa quyển - 2.2.1 Suy thoái đất

Hiện trạng – Việt Nam

TP.HCM có hơn 200.000 giếng khoan (~100 giếng/km2) với tổng c.suất khai thác > 1 triệu

m3/ngày đêm, gấp 5 lần so với quy hoạch được Thủ tướng phê duyệt

Mặt đất đang bị biến dạng

nhiều khu vực tại TP đang bị lún cục bộ, tốc độ

tr.bình 10 mm/năm Những khu vực đô thị hóa

nhanh thuộc các quận 2, 6, 7, 8, 9, 12, Tân Phú,

Bình Thạnh, Thủ Đức và các huyện Bình

Chánh, Hóc Môn, Nhà Bè có tốc độ lún trên 15

mm/năm Điển hình như Q.6 (lún 5-20

cm/năm), Q.Bình Tân (14 cm/năm), thị trấn An

Lạc - Q.Bình Tân (12 cm/năm)

Trang 7

Chuong 3 – Tuong tac giua con nguoi va moi truong 73

Tài nguyên khoáng sản gồm:

• Khoáng sản kim loại

– Kim loại đen: Fe, Mg, Cr, Ti, Co, Ni, Mo, W

– Kim loại màu: Cu, Zn, Pb, Sn, As, Hg, Al

– Nhóm kim loại quý: Au, Ag, Bạch kim (Pt)

– Nhóm nguyên tố phóng xạ: Ra, U

– Kim loại hiếm và đất hiếm: Zr, Ga, Ge…

• Khoáng sản phi kim: Kim cương, Đá quý, thạch anh kỹ thuật, sét…

• Khoáng sản cháy: Than bùn, than nâu, than đá, dầu mỏ, khí đốt, đá dầu.

Tài nguyên khoáng sản

• Khoáng sản là nguồn tài nguyên không tái tạo, và trung bình trữ lượng của nó

chỉ có thể đáp ứng cho con người 40 năm

• Giá trị tài nguyên luôn gắn với mức độ khan hiếm của nó.

2.2 Địa quyển - 2.2.2 Cạn kiệt khoáng sản

2.2 Địa quyển - 2.2.2 Cạn kiệt khoáng sản

Hoạt động gây cạn kiệt

 Nhu cầu sử dụng kh/sản ngày càng tăng cao dẫn đến tốc độ khai thác quá ồ ạt của các

thành phần kinh tế, các quốc gia

Ví dụ: Trung Quốc đang muốn chuyển đổi nhanh nên có khát khao không giới hạn về các

nguồn t/nguyên và đang dần thôn tính nguồn kh/sản của các nước khác Hiện tại, các DN

Tr.Quốc tiến hành thu mua chủ yếu TNTN (chiếm 97% trong chiến dịch đầu tư của Tr.Quốc)

 Cấp giấy phép khai thác khoáng

sản tràn lan hiện nay dẫn đến tình

trạng lãng phí tài nguyên và tàn phá

môi trường

Ở Việt Nam xuất hiện nhiều

“danh từ” mới: quặng tặc, thiếc

tặc, cát tặc, …

Trang 8

Chuong 3 – Tuong tac giua con nguoi va moi truong 75

2.2 Địa quyển - 2.2.2 Cạn kiệt khoáng sản

Hoạt động gây cạn kiệt

 Chưa có một chiến lược dài hạn, xuyên suốt nhằm bảo vệ, quản lý, khai thác, chế biến và

xuất khẩu khoáng sản với hiệu quả tối ưu cho sự phát triển kinh tế và bảo vệ tài nguyên;

chưa có những giải pháp mạnh mẽ, quyết liệt để ngăn chặn việc phung phí tài nguyên

Ví dụ: Tổng bí thư Nông Đức Mạnh đã nhiều lần yêu cầu chấn chỉnh việc khai thác

khoáng sản, hạn chế xuất khẩu tài nguyên thô, nhưng thực tế diễn ra ngược lại Việc

khai thác, chế biến cũng như xuất khẩu khoáng sản vẫn diễn biến theo chiều hướng xấu

Cuối năm 2009, Bộ Công Thương đã có văn bản đề nghị Thủ tướng cho xuất khẩu

400.000 tấn tinh quặng sắt, 84.000 tấn magnetit, 18.000 tấn mangan, 44.000 tấn kẽm

Như vậy, số lượng khoáng sản xuất khẩu năm 2010 sẽ còn nhiều hơn năm 2009 Theo

số liệu của Hải quan Trung Quốc, lượng tinh quặng sắt nhập từ Việt Nam năm 2009 là

1,81 triệu tấn, trị giá trên 100 triệu đô la

2.2 Địa quyển - 2.2.2 Cạn kiệt khoáng sản

Hiện trạng

 Trên bình diện chung toàn thế giới, trữ lượng sắt, nhôm, titan, crôm, magiê, vanadi…

được đánh giá là còn khá lớn, chưa có nguy cơ cạn kiệt; trữ lượng bạc, đồng, bismut, thủy

ngân, amian, chì, kẽm, thiếc, molipden… không lớn và đang ở mức báo động, còn trữ

lượng barit, fluorit, graphit, gecmani, mica…còn rất nhỏ và có nguy cơ cạn kiệt hoàn toàn

 Hiện nay, để giải quyết nhu cầu sử dụng khoáng sản người ta đã tiến hành khai khoáng ở

biển, một phần là do ở lục địa 1 số loại khoáng không có hoặc trở nên hiếm (iot, brôm, dầu

mỏ, khí đốt…), phần khác, người ta đã khai thác khoáng dưới các dạng “đa kim”; một số

khoáng có hàm lượng tập trung cao (mangan, sắt, niken, côban, đồng và các nguyên tố

phóng xạ) Chỉ tính riêng dầu mỏ và khí đốt, ở trên thế giới đã có đến hơn 400 điểm và có

trữ lượng 1400 tỷ tấn đã được phát hiện

Trang 9

Chuong 3 – Tuong tac giua con nguoi va moi truong 77

2.2 Địa quyển - 2.2.2 Cạn kiệt khoáng sản

Hiện trạng

Việt Nam

 Do nằm trên bản lề của vành đai kiến tạo và sinh khoáng cở lớn của thế giới: Thái Bình

Dương và Địa Trung Hải  khoáng sản nước ta khá phong phú về chủng loại, đa dạng về

nguồn gốc

 Hiện nay chúng ta đã biết có hơn 5000 mỏ và điểm quặng của 80 loại khoáng sản, trong

đó hơn 32 loại và trên 270 mỏ đã được đưa vào khai thác hoặc thiết kế khai thác

 Những khoáng có trữ lượng lớn là đá vôi, apatit, cao lanh, than, trong đó than được đánh

giá khoãng 3 tỷ tấn, bôxít vài tỷ tấn, thiếc hàng chục ngàn tấn Sắt có trữ lượng khá lớn có

thể đến hàng trăm triệu tấn (với 2 mỏ lớn nhất nước là Thạch Khê và Quý Xa – đều thuộc

loại trữ lượng trung bình so với thế giới)

 Những khoáng vật quý như vàng, đá quý, đá ngọc, kẽm, ăngtimoan, các nguyên tố phóng

xạ… cũng rất có triển vọng

 Dầu mỏ và khí đốt tập trung ở đồng bằng ven biển và thềm lục địa, trữ lượng được đánh

giá vào khoảng 1500 triệu tấn

2.2 Địa quyển - 2.2.2 Cạn kiệt khoáng sản

Hiện trạng

Việt Nam

 Do điều kiện kinh tế còn thấp, kỹ thuật còn

lạc hậu  công nghiệp mỏ nước ta không chỉ

gây sự lãng phí về tài nguyên, mà còn hủy

hoại môi trường một cách nghiêm trọng

Ví dụ: khu mỏ Quảng Ninh, trong hơn 100 năm qua đã khai thác hơn khoảng 200 triệu tấn

than  triệt hạ gần như hầu hết rừng tự nhiên + thải ra khoảng hơn 1.600 triệu tấn đất

đá  tạo nên những “núi” chất thải cao hàng trăm mét, những bãi thải rộng hàng nghìn

ha Mặt đất bị đào bới nham nhở; các sông suối bị bồi lấp; tắc nghẽn; bãi triều bị xâm lấn;

rừng ngập mặn bị tàn lụi; nước bị ô nhiễm bởi cám than; nhiều loài động vật trên cạn và

dưới nước vốn có trong vùng cũng được thay thế bằng những loài khác hoặc biến mất

Trang 10

Chuong 3 – Tuong tac giua con nguoi va moi truong 79

2.2 Địa quyển - 2.2.2 Cạn kiệt khoáng sản

Hiện trạng

Việt Nam

 Nếu tiếp tục khai khoáng và xuất khẩu tinh quặng sắt như hiện nay thì các nhà máy luyện

thép lò cao ở Việt Nam được đầu tư hàng ngàn tỉ đồng sẽ thiếu nguyên liệu trầm trọng trong

tương lai gần (chỉ riêng ba công ty sản xuất thép lớn nhất nước ta, mỗi năm cũng cần tiêu thụ

hơn 2 triệu tấn tinh quặng sắt)

“Một nghịch lý là tập đoàn Than và Khoáng sản Việt Nam đã báo động rằng từ năm 2013, Việt

Nam sẽ phải nhập than đá nhưng cũng chính tập đoàn này trong năm 2009 đã xuất khẩu 29

triệu tấn than đá và năm 2010 lại đề nghị xuất khẩu tiếp 18 triệu tấn! Có phải vì lợi ích cục bộ

của chính tập đoàn này?!”

 Chiếm 71% diện tích bề mặt trái đất

 Chứa đựng rất nhiều tài nguyên quý giá:

• ~ 400 tỉ tấn dầu mỏ và khí đốt

• Trữ lượng sắt, magan, vàng, kim cương, các kim loại cao hơn đất liền ~ 900 lần

• Sóng biển thuỷ triều là nguồn năng lương vô tận

Tài nguyên biển

 Cung cấp nguồn dinh dưỡng, thực phẩm dồi dào cho con người (rong, cá…)

 Chi phối, điều hòa thời tiết khí hậu trên hành tinh

Việt nam

• Với 3260 km đường bờ biển, Việt nam có khoảng 1 tr km2biển

• Sản lượng đánh bắt hải sản năm 1995 là 1,5 triệu tấn

• Lượng dầu đã x/định được ở biển Đông (khoảng 3,5 tr km2) 1,2 tỉ km3, ~ 7500 tỉ km3khí

• Sản lượng dầu trên biển Việt nam: ~ 2,4 tỉ thùng (2005) (hạng 30/thế giới)

Trang 11

Chuong 3 – Tuong tac giua con nguoi va moi truong 81

Hoạt động gây ảnh hưởng

Công ước Luật biển năm 1982 đã chỉ ra 5 nguồn gây ô nhiễm biển:

- Các hoạt động trên đất liền: chất thải (nước thải và chất thải rắn) do hoạt động sinh hoạt

và sản xuất (công nghiệp, nông nghiệp, du lịch, dịch vụ…) của con người theo các dòng chảy

sông suối ra biển Ước tính khoảng 80% nguồn ô nhiễm ở các biển và đại dương đến từ các

hoạt động trên đất liền

Ví dụ: khu công nghiệp Vân Phong (Khánh Hòa), Hòn Na (Quảng Bình), Cà Mau (Cà Mau)

hình thành và đi vào hoạt động trong năm 2004 đã và đang gây sức ép lớn cho môi trường

biển ven bờ của các tỉnh thành đó

Hàng năm có tới 10% trong số 260 triệu tấn chất dẻo sản xuất ra trôi nổi trên các đại dương

sau khi đã qua sử dụng, phần lớn số này tập trung ở những vùng xoáy rác như vùng rác Đông

Thái Bình Dương chẳng hạn

Hoạt động gây ảnh hưởng

- Do hoạt động thăm dò và khai thác tài nguyên (dầu khí, thủy sản…) trên thềm lục địa và

đáy đại dương

Ví dụ: Năm 2000, nước ta có 9766 tàu đánh bắt xa bờ với tổng công suất gần 1,4 triệu mã

lực Sang đến năm 2004, số tàu lên tới 20.071 chiếc với công suất hơn 2,64 triệu mã lực

Dàn khoan dầu khí và rất nhiều hệ lụy tiềm tàng kèm theo

Trang 12

Chuong 3 – Tuong tac giua con nguoi va moi truong 83

Hoạt động gây ảnh hưởng

- Thải các chất độc hại ra biển một cách có hoặc không có ý thức: trong nhiều năm, biển

sâu là nơi đổ các chất thải độc hại như chất thải phóng xạ, đạn dược, bom mìn…của nhiều

quốc gia trên thế giới

Ví dụ: Từ năm 1946 và 1970, ước tính đã có khoảng 47.800 thùng chứa chất thải hạt nhân đã

đổ ra bờ biển của đảo Farallon (San Francisco, USA)

Các vị trí thải bỏ chất thải hạt nhân trong lòng đại dương

Hoạt động gây ảnh hưởng

- Hoạt động giao thông vận tải biển: rò rỉ dầu, sự cố tràn dầu của các tàu thuyền trên biển

thường chiếm 50% nguồn ô nhiễm dầu trên biển Bên cạnh đó, các tàu thuyền thường xuyên

thải dầu cặn trực tiếp xuống biển

Ví dụ: Các tàu chở dầu chuyên chở 60% (xấp xỉ 2 tỷ tấn) dầu tiêu thụ trên thế giới Trong

thập niên vừa qua, trung bình mỗi năm có 600.000 thùng dầu đã bị đổ ra biển do các tai nạn

tràn dầu từ các tàu biển, tương đương 12 lần so với mức thảm hoạ tràn dầu từ tàu dầu

Prestige năm 2002

- Ô nhiễm không khí: Nồng độ CO2cao trong không khí sẽ làm lượng CO2hòa tan trong

nước biển tăng, đồng nghĩa với việc tăng tính acid của nước biển Nhiều chất độc hại và bụi

kim loại nặng được không khí mang ra biển Sự gia tăng nhiệt độ không khí do hiệu ứng nhà

Trang 13

Chuong 3 – Tuong tac giua con nguoi va moi truong 85

Hiện trạng

 Các khoa học thời gian gần đây, nhận thấy những hiện tượng thể hiện rằng các đại dương

trên thế giới ngày càng bị ô nhiễm nghiêm trọng, thậm chí trong một số trường hợp, môi

trường sống nơi biển cả suy thoái tới mức các thủy sinh vật chết dần mòn, chẳng hạn có nơi,

các loài cá tôm và san hô bị nhiễm rất nhiều thứ bệnh hoặc nơi nhiều giống san hô như ở

biển Caribbe bỗng biến mất

 Vấn đề rác plastic trên đại dương đang được quan tâm bởi các nhà khoa học trong những

năm gần đây Năm 1997, Charles Moore đã phát hiện sự tồn tại của một vùng biển rộng lớn

tập trung toàn rác thải plastic và gọi chúng là “Thùng rác lớn Đông Thái Bình Dương” Mới

đây, Hiệp hội Giáo dục Biển (SEA) - Mỹ, đã chứng tỏ sự tồn tại của một “thùng rác khổng

lồ” tương tự ở Bắc Đại Tây Dương Một bản đồ rác trên biển đã được lập ra, trong đó chỉ ra

rằng khu vực tập trung nhiều rác nhất ở Bắc bán cầu, kéo dài từ vĩ tuyến 22 đến 38

Hiện trạng

Minh họa các hướng đi của rác nhựa (màu vàng) Vị trí 5 đảo rác trôi nổi trên các đại dương

 Diện tích của bãi rác ở phía bắc Thái Bình Dương có thể to hơn cả Mỹ, nó dao động từ 700

nghìn tới 15 triệu km2và có thể chứa tới hơn 100 triệu tấn rác

 Chưa thể đánh giá chính xác mức độ nguy hiểm của hàng trăm triệu tấn nhựa phế thải trên

các đại dương, bởi nhựa mới chỉ được sử dụng rộng rãi trong khoảng 50 năm Nhưng trước

mắt, theo các nhà khoa học, hơn một triệu chim biển và 100.000 động vật có vú cũng như rùa

biển trên toàn thế giới chết mỗi năm do bị vướng hoặc ăn phải những mảnh chất dẻo

Trang 14

Chuong 3 – Tuong tac giua con nguoi va moi truong 87

 Đã có khoảng 150 "vùng chết" ven bờ - với diện tích dao động từ 1 tới 70.000km2/vùng do

sự bùng nổ tảo độc từ hiện tượng phú dưỡng trong môi trường biển (do ni-tơ từ phân bón

nông nghiệp theo các dòng sông đổ ra biển, tích luỹ với nồng độ lớn sẽ tạo nên hiện tượng

khử ô-xy trong nước biển)

 Các dải san hô nhiệt đới, bao bọc đáy bờ của 109 quốc gia, phần lớn đã kém phát triển Sự

suy thoái rõ rệt của các rạn san hô xuất hiện ở 93 quốc gia Năm 1998, 75% dải san hô trên

thế giới bị ảnh hưởng bởi hiện tượng tẩy trắng san hô (có 16% san hô bị chết)

 Gần 60% các dải san hô còn sót lại trên thế giới đang đối mặt với nguy cơ biến mất trong

30 năm tới do sự phát triển ven bờ của con người, do trầm tích, do các hoạt động đánh bắt cá

mang tính huỷ diệt và hoạt động du lịch, do ô nhiễm, và do cả sự ấm hoá toàn cầu

Trang 15

Chuong 3 – Tuong tac giua con nguoi va moi truong 89

Hiện trạng

Nam đại dương:

Lạnh hơn ~ 0,1oC

Độ mặn giảm 0,015 ppt

Những thay đổi này lớn gấp 50 lần

so với các vùng biển xung quanh

 Màu xanh của các đại dương trên thế giới đã nhạt đi hơn 40% kể từ năm 1950 Tốc độ nhạt

màu đang diễn ra ngày càng nhanh hơn do biến đổi khí hậu Nguyên nhân việc màu xanh của

nước biển nhạt đi do hầu hết sinh vật phù du thường sống trên bề mặt các đại dương, thực

phẩm nuôi sống của các loài sinh vật biển, đã giảm mạnh do sự nóng lên của lớp nước bề mặt

các đại dương

 Biến đổi khí hậu làm tăng nhiệt độ của các đại dương lên 0,2 C trong thập kỷ qua đã đẩy

nhanh sự phân tầng nước với quy mô rộng hơn trên các đại dương Tiến trình này đã làm mất

dần môi trường sống của các sinh vật phù du ở độ sâu 100-200m dưới mặt nước

 Hai hiểm họa nữa làm suy kiệt nguồn phù du sinh vật là sự xuất hiện ngày càng nhiều, diện

tích ngày càng lớn các khu vực chết với lượng oxy hòa tan quá thấp, không thích hợp với sự

sống trên các đại dương và tình trạng các đại dương ngày càng bị acid hóa do mỗi ngày phải

hấp thụ tới 30 triệu tấn khí thải CO2

Ngày đăng: 29/03/2023, 10:15

w