1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng phát triển TM Điện tử ở VN

83 419 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực Trạng Phát Triển Thương Mại Điện Tử Ở Việt Nam
Định dạng
Số trang 83
Dung lượng 1,23 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn : Thực trạng phát triển TM Điện tử ở VN

Trang 1

Chương I Những vấn đề lý luận cơ bản về thương mại điện tử………… 6

1 Khái niệm, đặc trưng của thương mại điện tử……… 6

1.1.Khái niệm thương mại điện tử……….6

1.2.Đặc trưng của thương mại điện tử………

2 Nội dung thương mại điện tử.

2.1.Lợi ích của thương mại điện tử

2.2Các phương tiện kỹ thuật của thương mại điện tử

2.3Các hình thức hoạt động của thương mại điện tử

2.4.Các mô hình hoạt động thương mại điện tử

3.Các nhân tố tác động đến sự phát triển của thương mại điện tử.

Chương II Thực trạng phát triển thương mại điện tử ở Việt Nam

1.Tác động kinh tế kỹ thuật của thương mại điện tử.

2.Cơ hội và thách thức của thương mại điện tử Việt Nam trong thời kỳ hội nhập 3.Thực trạng phát triển thương mại điện tử ở Việt Nam.

3.1.Kinh doanh dịch vụ trực tuyến

3.1.1.Tổng quan chung

3.1.2 Quảng cáo trực tuyến

3.1.3 Giải trí trực tuyến

3.1.3.1.Trò chơi trực tuyến

3.1.3.2.Truyền hình trực tuyến và âm nhạc trực tuyến

3.1.4 Đào tạo trực tuyến

3.1.4 Các dịch vụ kinh doanh khác

Trang 2

3.1.1.Báo điện tử

3.1.2Dịch vụ gia tăng cho mạng di động

3.2.Thương mại điện tử trong doanh nghiệp

3.2.1Cơ sở vật chất công nghệ của doanh nghiệp

3.2.2.Tình hình ứng dụng thương mại điện tử

3.2 3.Hiệu quả đạt được

4.Đánh giá về thực trạng phát triển thương mại điện tử.

Chương III Phương hướng và giải pháp phát triển thương mại điện tử ở Việt Nam

1.Mục tiêu và phương hướng phát triển thương mại điện tử ở Việt Nam giai đoạn tới.

2.Giải pháp phát triển thương mại điện tử ở Việt Nam

Kết luận.

Tài liệu tham khảo.

Trang 3

Lời mở đầu

Hiện nay thương mại điện tử là mối quan tâm lớn của thế giới, bởi đâyđược xem như làn sóng văn minh thứ ba của nhân loại Một điều chúng takhông thể phủ nhận đó là thương mại điện tử làm thay đổi phương thức kinhdoanh, thay đổi các mối quan hệ của con người.Andy Grove, tổng giám đốcIntel đã từng tuyên bố chắc nịch“Trong năm năm tới, tất cả các doanh nghiệp sẽ

là các doanh nghiệp trực tuyến“.Tốc độ chi phí thấp và khả năng truy cập vớiInternet làm cho thương mại điện tử trở thành cơ hội cho tất cả các doanhnghiệp trong tương lai Thương mại điện tử sẽ giảm đáng kể chi phí chung, thúcđẩy sự phát triển của lĩnh vực bán lẻ, đảm bảo thanh toán dễ dàng hơn và làmgiảm rủi ro đầu tư nội tại Đây chính là mục tiêu của các doanh nghiệp Trướcđây thì mối quan hệ của con người chỉ bó hẹp trong một khoảng không gian,thời gian nhất định Nhưng với thương mại điện tử thì mối quan hệ của conngười đã thay đổi theo xu hướng không giới hạn về mặt không gian và thờigian Khi chúng ta vào mạng Internet thông qua máy tính PC, chúng ta có thểtrò chuyện hoặc bàn chuyện kinh doanh với bất kỳ ai ở Châu Âu, Châu Mỹ,Châu Phi, các khu vực khác trên thế giới Đây là một sự đổi mới hoàn toàn cáchthức liên lạc truyền thống, ảnh hưởng và tác động của nó nằm ngoài sức tưởngtượng của con người

Mỹ là một nước đi tiên phong trong lĩnh vực thương mại điện tử vànhững thành tựu mà Mỹ gặt hái được không phải là nhỏ Người ta cho rằng xãhội Mỹ với mạng Internet khổng lồ đang tận hưởng trình độ văn minh thươngmại điện tử ở mức cao Nhưng không hoàn toàn như vậy thương mại điện tử trảiđều cỏ hội cho tất cả các quốc gia nào nhận thấy được hiệu quả của nó đối vớinền kinh tế, biết sử dụng nó như một công cụ cạnh tranh lành mạnh thực sự.Đặc biệt đối với các nước đang phát triển thì đây là một cơ hội lớn để đẩy

Trang 4

nhanh tiến trình phát triển kinh tế Nhưng hiệu qủa như thế nào lại còn phải tùythuộc vào mỗi quốc gia

Việt Nam là nước đang phát triển, lại mới trở thành thành viên của tổchức thương mại thế giới, thương mại điện tử là rất cần thiết đó là một cơ hội

to lớn để hòa mình vào nền kinh tế thế giới Thương mại điện tử xuất hiện ởViệt Nam cách đây chưa lâu, khoảng 7 năm nhưng những thay đổi mà nó manglại thì không hề nhỏ Thực tế hiện nay cho thấy thì thương mại điện tử ở ViệtNam đang ở giai đoạn đầu của phát triển Chúng ta còn gặp rất nhiều khó khăn

về công nghệ, tri thức, pháp luật và cả những đề xuất phát triển thương mại điện

tử của các nước phát triển Vậy làm thế nào để thương mại điện tử trở thànhmột công cụ tốt để phát triển kinh tế, đây là bài toán lớn đối với các nước đangphát triển trong đó có Việt Nam

Hiện nay ở Việt Nam thì kinh doanh dịch vụ trực tuyến và tình hình ứngdụng thương mại điện tử vào trong doanh nghiệp đang được chú trọng Trên thếgiới đặc biệt các nước phát triển thì kinh doanh dịch vụ trực tuyến mang lại lợinhuận khá lớn Vì là giai đoạn đầu nên ở Việt Nam các loại hình kinh doanhdịch vụ trực tuyến mới đi vào hoạt động và cũng chưa mang lại nhiều lợi nhuận.Mới chỉ có quảng cáo trực tuyến và Game online là đang được ưa chuộng nhiềunhất và trong thời gian tới theo như giới chuyên môn thì kinh doanh dịch vụtrực tuyến sẽ bùng nổ ở Việt Nam

Hầu hết các doanh nghiệp Việt Nam đã ứng dụng thương mại điện tửvào trong kinh doanh tuy nhiên chưa thực sự sâu rộng Hầu hết các doanhnghiệp đã có website và coi Marketting trực tuyến là công cụ quan trọng Tuynhiên thì các doanh nghiệp vấp phải nhiều trở ngại như nguồn nhân lực, cơ sở

hạ tầng, tình hình an ninh mạng Chính vì vậy mà chưa khai thác được nhiềucác loại hình kinh doanh trực tuyến Xu hướng phát triển sắp tới đó là tạo môitrường tốt để cho thương mại điện tử phát triển

Trang 5

Trong đề án này em chủ yếu đề cập đến thực trạng phát triển của kinhdoanh dịch vụ trực tuyến và ứng dụng thương mại điện tử trong doanh nghiệp.Kiến nghị một số giải pháp thực hiện mục tiêu phát triển thương mại điện tửtrong giai đoạn tới Nội dung của đề án được chia làm ba phần lớn.

Chương I: Những vấn đề lý luận cơ bản về thương mại điện tử.

ChươngII: Thực trạng phát triển thương mại điện tử ở Việt Nam.

Chương III; Mục tiêu phương hướng và giải pháp phát triển thương mại điện

tử Việt Nam.

Tuy đã có nhiều cố gắng nhưng do khả năng và kiến thức còn hạn chếcho nên đề án của em còn nhiều sai sót về nội dung và hình thức Em rất mongđược sực chỉ bảo và giúp đỡ của các thầy cô để đề án của em hoàn chính hơn

Em xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành đến Giáo Sư Tiến Sĩ Đặng Đình Đàotrưởng khoa khoa thương mại đã tận tình hướng dẫn em trong quá trình thựchiện“đề án“ Em xin chân thành cảm ơn

Trang 6

Nội DungChương I Những vấn đề lý luận cơ bản về thương mại điện tử.

1.Khái niệm đặc trưng của thương mại điện tử.

1.1 Khái niệm.

Thương mại điện tử được gọi với nhiều tên khác nhau: Thương mại trựctuyến (online trade), thương mại điều khiển học ( cyber trade), kinh doanh điệntử( electronic business), thương mại không có giấy tờ (paperless commerce),thương mại điện tử (e-commerce)

Hiện nay đã có nhiều định nghĩa về thương mại điện tử được các tổ chức trênthế giới đưa ra song chưa có một định nghĩa nào thống nhất về thương mại điện

tử nhìn một các tổng quát thì các định nghĩa điện tử được chia thành hai nhómtheo nghĩa hẹp và theo nghĩa rộng

Khái niệm thương mại điện tử theo nghĩa hẹp

Thương mại điện tử là việc mua bán hàng hoá và dịch vụ thông qua các phươngtiện điện tử, nhất là Internet và các mạng viễn thông khác

Khái niệm thương mại điện tử theo nghĩa rộng

Thương mại điện tử là toàn bộ chu trình và các hoạt động kinh doanh liên quanđến các tổ chức hay cá nhân Thương mại điện tử là việc tiến hành hoạt độngthương mại sử dụng các phương tiện điện tử và công nghệ xử lý thông tin sốhoá

WTO: Thương mại điện tử bao gồm việc sản xuất, quảng cáo, bán hàng và phânphối sản phẩm được mua bán và thanh toán trên mạng Internet, nhưng đượcgiao nhận có thể hữu hình hoặc giao nhận quan internet dưới

dạng số hóa

OECD: Thương mại điện tử là việc làm kinh doanh thông qua mạng Internet,bán những hàng hoá và dịch vụ có thể được phân phối không thông qua mạnghoặc những hàng hoá có thể mã hoá bằng kỹ thuận số và được phân phối thôngqua mang hoặc không thông qua mạng

Trang 7

AEC (Association for Electronic Commerce): Thương mại điện tử là làm kinhdoanh có sử dụng các công cụ điện tử, định nghĩa này rộng, coi hầu hết các hoạtđộng kinh doanh từ đơn giản như một cú điện thoại giao dịch đến những traođổi thông tin EDI phức tạp đều là thương mại điện tử.

UNCITRAL (UN Conference for International Trade Law ), Luật mẫu vềThương mại điện tử (UNCITRAL Model Law on Electronic Commerce, 1996):Thương mại điện tử là việc trao đổi thông tin thương mại thông qua các phươngtiện điện tử, không cần phải in ra giấy bất cứ công đoạn nào của tòan bộ quátrình giao dịch

“Thông tin” được hiểu là bất cứ thứ gì có thể truyền tải bằng kỹ thuận điện tử,bao gồm cả thư từ, các file văn bản, các cơ sở dữ liệu, các bản tính, các bảnthiết kế, hình đồ hoạ, quảng cáo, hỏi hàng, đơn hàng, hoá

đơn, bảng giá, hợp đồng, hình ảnh động, âm thanh

“Thương mại” được hiểu theo nghĩa rộng bao quát mọi vấn đề nảy sinh từ mọimối quan hệ mang tính thương mại, dù có hay không có hợp đồng Các mốiquan hệ mang tính thương mại bao gồm, nhưng không chỉ bao gồm, các giaodịch sau đây: bất cứ giao dịch nào về cung cấp hoặc trao đổi hàng hoá hoặc dịchvụ; đại diện hoặc đại lý thương mại; uỷ thác hoa hồng; cho thuê dài hạn; xâydựng các công trình; tư vấn; kỹ thuật công trình; đầu tư cấp vốn; ngân hàng;bảo hiểm; thoả thuận khai thác hoặc tô nhượng; liên doanh và các hình thứckhác về hợp tác công nghiệp hoặc kinh doanh; chuyên chở hàng hoá hay hànhkhách bằng đường biển, đường không, đường sắt hoặc đường bộ

1.2 Đặc trưng của thương mại điện tử.

- Thương mại điện tử không thể hiện các văn bản giao dịch trên giấy Tất

cả các văn bản đều có thể thể hiện bằng các dữ liệu tin học, các băng ghi âmhay các phương tiện điện tử khác Đặc trưng này làm thay đổi căn bản văn hóagiao dịch bởi lẽ độ tin cậy không còn phụ thuộc vào cam kết bằng giấy tờ mà

Trang 8

bằng niềm tin lẫn nhau giữa các đối tác Điều này làm giảm đáng kể chi phí vànhân lực để chu chuyển, lưu trữ và tìm kiếm các văn bản khi cần thiết

- Thương mại điện tử phụ thuộc vào công nghệ và trình độ công nghệthông tin của người sử dụng Để phát triển thương mại điện tử cần phải xâydựng và không ngừng nâng cao trình độ công nghệ thông qua phát triển cơ sở

hạ tầng kỹ thuật của thương mại điện tử như mạng máy tính và khả năng tiếpnối của mạng với các cơ sở dữ liệu thông tin toàn cầu Ngoài ra thương mạiđiện tử cần phải có nguồn nhân lực không chỉ thành thạo về công nghệ mà còn

có kiến thức và kỹ năng về quản trị kinh doanh nói chung, về thương mại nóiriêng

-Thương mại điện tử phụ thuộc vào mức độ số hoá Tuỳ thuộc vào mức

độ số hoá của nền kinh tế và khả năng hội nhập số hoá với nền kinh tế toàn cầu

mà thương mại điện tử có thể đạt được các cấp độ từ thấp đến cao Cấp độ thấpnhất là sử dụng thư điện tử đến Internet để tìm kiếm thông tin, đến đặt hàng trựctuyến và dịch vụ trực tuyến đến xây dựng các website cho hoạt động kinhdoanh và cuối cùng là áp dụng các giải pháp toàn diện về thương mại điện tử

- Thương mại điện tử có tốc độ nhanh Nhờ áp dụng kỹ thuật số nên tất

cả các bước của quá trinh giao dịch đều được tiến hành thông qua mạng máytính Ngôn ngữ của công nghệ thông tin cũng cho phép rút ngắn độ dài của cácvăn bản giao dịch Dịch vụ phần mềm ngày càng hoàn hảo, tốc độ đường truyềnnhanh cho phép rút ngắn thời gian soạn thảo, giao tiếp và ký kết các văn bảngiao dịch điện tử Điều này đã làm cho thương mại điện tử đạt tốc độ nhanhnhất trong các phương thức giao dịch tạo nên tính cách mạng trong giao dịchthương mại

2 Nội dung của thương mại điện tử.

2.1 Lợi ích của thương mại địên tử.

Lợi ích đối với các tổ chức.

Trang 9

-Thương mại điện tử mở rộng phạm vi giao dịch trên thị trường toàn cầu.Với một lượng vốn tối thiểu, các doanh nghiệp dễ dàng và nhanh chóng tiếpcận được với nhiều khách hàng, lựa chọn nhà cung ứng tốt nhất và xác địnhđược đối tác kinh doanh phù hợp nhất.

-Thương mại điện tử làm giảm chi phí thu thập xử lý, phân phối, lưu trữ

và sử dụng thông tin Chảng hạn, áp dụng đấu thầu mua sắm điện tử, doanhnghiệp có thể cắt giảm chi phí quản trị mua sắm đến 85% Trong thanh toán,nhờ sử dụng các phương tiện thanh toán điện tử, công ty có thể cắt giảm chi phíphát hành bằng sét bằng giấy

-Thương mại điện tử tạo ra khả năng chuyên môn hoá cáo trong kinhdoanh, đặc biệt là đối với các doanh nghiệp thương mại Nhiều siêu thị điện tửquy mô nhỏ và vừa sẽ chuyên môn hoá một số mặt hàng, chẳng hạn các siêu thị

-Thương mại điện tử góp phần giảm lượng tồn kho và đòi hỏi về cơ sởvật chấtkỹ thuật thông qua việc áp dụng phương pháp quản lý dây chuyền cungứng “kéo” Quá trình này bắt đầu từ đặt hàng của khách hàng và sử dụngphương pháp sản xuất đúng thời hạn Phương pháp kéo thúc đẩy sự tương thíchsâu sắc giữa nhu cầu của khách hàng với sản phẩm và dịch vụ của doanh nghiệp

và tạo ra lợi thế cạnh tranh Markettign trên thị trường

- Thương mại điện tử làm giảm thời gian từ khi thanh toán tiền đến khinhận được hàng hoá hoặc dịch vụ

-Thương mại điện tử kích thích sự sáng tạo và tạo điều kiện để khởi độngnhững dự án kinh doanh mới, tăng khả năng thành công của các phương ánkinh doanh nhờ thay đổi quy trình cho hợp lý, tăng năng suất của người bánhàng, trang bị kiến thức cho người lao động, đặc biệt là lao động quản lý

-Thương mại điện tử làm giảm chi phí viễn thông trong quá trình giaotiếp đàm phán và ký kết các hợp đồng mua bán hàng hoá, dịch vụ

-Thương mại điện tử cũng góp phần cải thiện hình ảnh doanh nghiệp,nâng cao chất lượng dịch vụ khách hàng, tìm kiếm đối tác kinh doanh, đơn giản

Trang 10

hoá quá trình kinh doanh, rút ngắn chu kỳ và thời gian giao nhận hàng hoá, tăngnăng suất, loại bỏ giấy tờ, xử lý thông tin nhanh hơn, giảm chi phí vận chuyển,tăng tính linh hoạt trong kinh doanh của doanh nghiệp.

Lợi ích đối với người tiêu dùng;

-Cho phép khách hàng mua sắm và thực hiện các giao dịch 24/24 giờtrong ngày, tất cả các ngày trong năm không bị giới hạn thời gian địa lý

-Thương mại điện tử cung cấp cho khách hàng nhiều sự lựa chọn hơn.Khách hàng có thể lựa chọn các cơ sở cung cấp khác nhau, từ máy bán hàng tựđộng cho đến siêu thị Lựa chọn các loại sản phẩm khác nhau từ hàng điện tửđến một món quà tặng

_Thương mại điện tử làm giảm chi tiêu cho khách hàng về sản phẩmhàng hoá dịch vụ họ nhận được thông qua việc mua bán không phụ thuộc vào vịtrí địa lý của người cung cấp để có được người cung ứng tốt nhất giá cả phù hợpnhất

_Trong trường hợp đặc biệt là các sản phẩm số hoá thương mại điện tử cókhả năng giao hàng rất nhanh cho khách hàng

_Khách hàng có thể tham gia đấu giá trên mạng

-Thương mại điện tử tạo điều kiện để khách hàng tác độn hỗ trợ lẫn nhaunhăm trao đổi các ý tưởng kinh nghiệp

-Thương mại điện tử thúc đẩy cạnh tranh và từ đó dẫn tới sự giảm giá bềnvững

Lợi ích đối với xã hội.

_Thương mại điện tử cho phép mọi người có thể làm việc tai nhà, giảmthiểu việc mua sắm do đó giảm phương tiện lưu thông trên đường, giảm thiểutai nạn và ô nhiễm môi trường sống

_Thương mại điện tử tăng mức hưởng thụ của người dân

_Thương mại điện tử thúc đẩy việc cung cấp các dịch vụ công cộng nhưchăm sóc sức khoẻ, giáo dục và phân phối các dịch vụ xã hội của chính phủ

Trang 11

2.2 Các phương tiện kỹ thuật của thương mại điện tử.

a.Điện thoại

Điện thoại là một phương tiện phổ thông, dễ sử dụng, và thường mở đầucho các cuộc giao dịch thương mại; một số loại giao dịch có thể cung cấp trựctiếp của điện thoại như dịch vụ bưu điện, hỏi đáp, tư vấn, giải trí, ngân hàng.Ngày nay với sự phát triển của đi động, liên lạc qua vệ tinh, ứng dụng của điệnthoại sẽ ngày càng trở nên rộng rãi

Tuy nhiên điện thoại vẫn có mặt hạn chế đó là chỉ truyền tải được âmthanh, mọi cuộc giao dịch cuối cùng vẫn phải kết thúc bằng giấy tờ, ngoài ra chiphí giao dịch điện thoại vẫn còn cao

b.Máy điện báo và máy Fax

Máy fax có thể thay thể dịch vụ đưa thư và gửi công văn truyền thống,may điện báo chỉ truyền được lời văn Nhưng máy Fax có hạn chế là khôngtruyền tải được âm thanh, hình ảnh động, hình ảnh ba chiều… ngoài ra chi phí

sử dụng còn cao

c.Truyền hình

Truyền hình đóng vai trò quan trọng trong thương mại, nhất là trongquảng cáo hàng hoá, ngày càng có nhiều người mua hàng nhờ xem quảng cáotrên truyền hình Song truyền hình chỉ là một công cụ viễn thông một chiều, quatruyền hình khách hàng không đàm phán được với người bán về các điều khoảnmua bán cụ thể

d.Thiết bị kỹ thuật thanh toán điện tử

Thanh toán điện tử sử dụng rộng rãi các máy rút tiến tự động, thẻ tíndung các loại, thẻ mua hàng, thẻ khôn minh

e.Mạng nội bộ và liên mạng nội bộ

Là toàn bộ mạng thông tin của một tổ chức và cách liên lạc mọi kiểu giữamáy tính điện tử trong đó, công với các liên lạc di động Hệ thống này đòi hỏi

tổ chức phải có cơ sở hạ tầng và tiêu chuẩn thông tin riêng

Trang 12

2.3 Các hình thức hoạt động của thương mại điện tử.

a.Thư tín điện tử

Các doanh nghiệp các cơ quan nhà nước sử dụng hòm thư điện tử để gửucho nhau một cách trực tuyến thông qua mạng gọi là thư điện tử Thông tintrong thư điện tử không phải tuân theo một cấu trúc định trước nào

b Thanh toán điện tử

Thanh toán điện tử là việc thanh toán tiền thông qua thông điệp điện tửthay cho việc giao dịch bằng tiền mặt ví dụ trả lương bằng cách chuyển tiềntrực tiếp vào tài khoản, mua hàng bằng thẻ mua hàng, thẻ tín dụng…… thựcchất cũng là các dạng của thanh toán điện tử Ngày nay với sự phát triển củaTMĐT, thanh toán điện tử đã mở rộng sang các lĩnh vực mới

-Trao đổi dữ liệu điện tử tài chính(FEDI) chuyên phục vụ cho việc thanh toánđiện tử giữa các công ty giao dịch với nhau bằng điện tử

-.Tiền mặt Internet(internet cash) là tiền mặt được mua từ một nơi phát hành( Ngân hàng hoặc một tổ chức tín dụng), sau đó được chuyển đổi tự do sang cácđồng tiền khác thông qua Internet, áp dụng trong phạm vi cả một nước cũngnhư giữa các quốc gia; tất cả đều được thực hiện bằng kỹ thuật số hoá, vì thếtiền mặt này còn có tên gọi khác gọi là “ tiền mặt số hoá”(digital cash), công

Trang 13

nghệ đặc thù luôn phục vụ mục đích này, đảm bảo mục đích của cả người bán

(1) Thanh toán giữa ngân hàng với khách hàng qua điện thoại, tại các điểm bán

lẻ, các kiôt, giao dịch cá nhân tại các gia đình, giao dịch tại trụ sở khách hàng,giao dịch qua Internet, chuyển tiền điện tử, thẻ tín dụng,

thông tin hỏi đáp

(2) Thanh toán giữa ngân hàng với các đại lý thanh toán (nhà hàng, siêu thị).(3)Thanh toán nội bộ một hệ thống ngân hàng

(4) Thanh toán giữa hệ thống ngân hàng này với hệ thống ngân hàng khác c.Trao đổi dữ liệu điên tử

Trao đổi dữ liệu điện tử (electronic data interchange, viết tắt là EDI) làviệc trao đổi các dữ liệu dưới dạng "có cấu trúc" (stuctured form), (có cấu trúcnghĩa là các thông tin trao đổi được với các đối tác thỏa thuận với nhau tuân thủtheo một khuôn dạng nào đó) từ máy tính điện tử này sang máy tính điện tửkhác, giữa các công ty hoặc đơn vị đã thỏa thuận buôn bán với nhau, theo cáchnày sẽ tự động hóa hoàn toàn không cần có sự can thiệp của con người Theo

Ủy ban liên hợp quốc về luật thương mại quốc tế (UNCITRAL), việc trao đổi

dữ liệu điện tử được xác định như sau: "Trao đổi dữ liệu điện tử (EDI) là việc

Trang 14

chuyển giao thông tin từ máy tính điện tử này sang máy tính điện tử khác bằngphương tiện điện tử, có sử dụng một tiêu chuẩn đã được thỏa thuận để cấu trúcthông tin".

d.Giao gửi số hoá các dung liệu

Dung liệu (content) là nội dung của hàng hóa, mà không phải là bản thânvật mang nội dung đó; ví dụ như: Tin tức, nhạc phim, các chương trình phátthanh, truyền hình, các chương trình phần mềm, các ý kiến tư vấn, vé máy bay,

vé xem phim, xem hát, hợp đồng bảo hiểm, v.v

e.Bán lẻ hàng hoá hữu hình

Đến nay, danh sách các hàng hóa bán lẻ qua mạng đã mở rộng, từ hoa tớiquần áo, hoặc ôtô và xuất hiện một loại hoạt động gọi là "mua hàng điện tử"(electronic shopping), hay "mua hàng trên mạng"; ở một số nước, Internet bắtđầu trở thành công cụ để cạnh tranh bán lẻ hàng hữu hình (Retail of tangiblegoods) Tận dụng tính năng đa phương tiện (multimedia) của môi trường Web

và Java, người bán xây dựng trên mạng các "cửa hàng ảo" (virtual shop), gọi là

ảo bởi vì, cửa hàng có thật nhưng ta chỉ xem toàn bộ quang cảnh cửa hàng vàcác hàng hóa chứa trong đó trên từng trang màn hình một Để có thể mua –bán hàng, khách hàng tìm trang Web của cửa hàng, xem hàng hóa hiển thị trênmàn hình, xác nhận mua và trả tiển bằng thanh toán điện tử

2.4 Các mô hình hoạt động thương mại điện tử.

Dựa vào các chủ thể tham gia thương mại điện tử người ta phân thànhcác loại hình ứng dụng thương mại điện tử gồm:

+ Giao dịch giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp-B2B (Business –to- Business)

Trang 15

Theo hội nghị Liên hợp quốc về thương mại và phát triển (UNCTAD),thương mại điện tử B2B chiếm tỉ trọng lớn trong EC (khoảng 90%) Giao dịchtheo B2B chủ yếu được thực hiện trên các hệ thống ứng dụng thương mại điện

tử như mạng giá trị gia tăng (VAN), dây truyền cung ứng hàng hoá, dịch vụ(SCM), các sàn giao dịch thương mại điện tử…

+ Giao dịch giữa doanh nghiệp với khách hàng - B2C (Business Customer)

–to-Doanh nghiệp sử dụng các phương tiện điện tử để bán hàng hoá, dịch vụtới người tiêu dùng Người tiêu dùng thông qua các phương tiện điện tử để lựachọn, mặc cả, đặt hàng, thanh toán, nhận hàng Giao dịch B2C tuy chiếm tỉtrọng ít (khoảng 10%) trong EC nhưng có phạm vi ảnh hưởng rộng Để thamgia hình thức kinh doanh này doanh nghiệp sẽ phải thiết lập website, hình ảnh

cơ sở dữ liệu về hàng hoá, dịch vụ, tiến hành các quy trình tiếp thị, quản cáo,phân phối trực tiếp tới người tiêu dùng

+ Giao dịch giữa các cá nhân (khách hàng) với nhau - C2C to- Customer)

Trang 16

(Customer-Trong loại hình này, khách hàng sẽ bán hàng trực tiếp cho các kháchhàng khác Loại này bao gồm việc bán hàng của các cá nhân: tài sản riêng, xehơi…Mẫu quảng cáo về các dịch vụ cá nhân trên Internet, kiến thức bán hàng

và ý kiến chuyên môn trực tuyến là ví dụ của C2C Thêm vào đó nhiều cuộcbán đấu giá cho phép các cá nhân đưa các vật ra bán đấu giá Cuối cùng, các cánhân sẽ sử dụng các trang web cá nhân cũng như mạng nội bộ để quảng cáo cácvật hoặc các dịch vụ cá nhân

+ Giao dịch giữa doanh nghiệp với nhà nước- B2G (Business- Government)

To-Cơ quan nhà nước đóng vai trò là khách hàng Quá trình trao đổi thôngtin giữa doanh nghiệp với cơ quan nhà nước được tiến hành qua các phươngtiện điện tử Cơ quan nhà nước cũng có thể thiết lập những website, tại đó đăngtải thông tin về nhu cầu mua hàng của các cơ quan nhà nước, tiến hành việc đấuthầu hàng hoá, dịch vụ và lựa chọn nhà cung cấp trên website

+ Giao dịch giữa cơ quan nhà nước với khách hàng (cá nhân) - G2C (Government- To- Customer)

Trang 17

Đây chủ yếu là các giao dịch mang tính hành chính, nhưng có thể mangnhững yếu tố thương mại điện tử Ví dụ, khi người dân đóng tiền thuế quamạng, trả phí khi đăng kí hồ sơ trực tuyến…

3.Các nhân tố tác động đến sự phát triển của thương mại điện tử

a.Hạ tầng cơ sở công nghệ.

Thương mại điện tử hoạt động trên nền tảng một hạ tầng cơ sở công nghệthông tin đủ năng lực Hạ tầng này bao gồm hai nhánh là tính toán(computing)

và truyền thông (communication) Hai nhánh này ngoài công nghệ- thiết bị còncần phải có một nền công nghiệp điện lực vững mạnh làm nền Hiện nay đang

có xu hướng đưa cả công nghệ bảo mật và an toàn vào cở sở hạ tầng công nghệcủa thương mại điện tử Đòi hỏi về hạ tầng cở sở công nghệ bao gồm hai mặt:Một là tính tiên tiến hiện đại về công nghệ và thiểt bị, hai là tính phổ cập vềkinh tế

b Hạ tầng cơ sở nhân lực.

Thương mại điện tử đòi hỏi phải có một nguồn nhân lực có kỹ năn thực

tế ứng dụng công nghệ thông tin một cách có hiệu quả, có thói quen làm việctrên mạng máy tính, và cần phải có một chuyên gia thông tin đủ mạnh

c.Bảo mật an toàn.

Thương mại điện tử có thể bị thiệt hại bởi sự đột nhập từ bên ngoài bởicác Hacker để ăn cắp dữ liệu, mạo quan hệ, phá hỏng hệ thống thanh toán,chiểm dụng tiền.v v Việc giả mạo địa chỉa Internet để mua hàng bất hợp pháp,

Trang 18

phong tỏa các dịch vụ làm mất khả năng cung ứng và sử dụng dịch vụ có hiệuqủa thường xảy ra trong thương mại Vì vậy đặt ra vấn đề bảo mật an toàn cao.

d.Hệ thống thanh toán tự động

Phương thức thanh toán là vấn đề quan trọng và rất nhạy cảm trong giaodịch thương mại Thương mại điện tử chỉ có thể thực hiện thực tế và có hiệuquả khi tồn tại một hệ thống thanh toán tài chính ở mức độ phát triển đủ cao,cho phép tiến hành thanh toán tự động mà không phải dùng đến tiền mặt

e.Bảo vệ sở hữu trí tuệ.

Do chất xám của con người ngày càng chiếm giá trị cao trong sản phẩm,bảo vệ tài sản cuối cùng sẽ trở thành bảo vệ sở hữu trí tuệ Trong thương mạiđiện tử vì thế nổi lên vấn đề đăng ký tên miền, bảo vệ sở hữu chất xám và bảnquyền của các thông tin, ở các khía cạnh phức tạp hơn nhiều so với việc bảo vệ

sở hữu trí tuệ trong nền kinh tế vật thế Một trong các khía cạnh đó là mâuthuẫn giữa tính phi biên giới của không gian thương mại điện tử và tính chấtquốc gia của quyền sở hữu trí tuệ

f.Bảo vệ người tiêu dùng.

Trong thương mại điện tử thì khi mua, khách hàng không có điều kiện đểđánh giá trực quan sản phẩm hàng hóa hay dịch vụ Những thông tin về hànghóa và dịch vụ mà người mua nhận được đều nhận được từ phía người bán Vìvậy vấn đề đặt ra là phải bảo vệ lợi ích của người tiêu dùng Các tổ chức quyđịnh bảo vệ người tiêu dùng ở các khía cạnh; chất lượng hàng hóa dịch vụ,thông tin khách hàng….tăng độ tin cậy ở phía khách hàng

g.Hành lang pháp lý.

Hành lang pháp lý có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển thương mạiđiện tử của mỗi quốc gia Nó góp phần đảm bảo tính pháp lý sở hữu trí tuệ vàchuyển giao công nghệ, bảo đảm các bí mật cá nhân của người tham gia giaodịch thương mại điện tử Hạ tầng cơ sở pháp lý cũng bao gồm các vấn đề xử lý

Trang 19

các hành vi phá hoại, những hành vi cản trở hoặc gây thiệt hại cho hoạt độngthương mại quốc tế.

Chương II Thực trạng phát triển thương mại điện tử ở Viêt Nam.

1.Tác động kinh tế kỹ thuật của thương mại điện tử.

“Giống như đường sắt, thương mại điện tử đem tới sự tác động mới,nhanh chóng làm thay đổi nền kinh tế, xã hội và chính trị”(Peter Drucker-Ngườiđứng đầu cộng đồng HinĐu) Thương mại điện tử đánh dấu sự bắt đầu của một

hệ thống tạo ra của cải vật chất mới Nó là một cơ hội thươngmại tuyệt vời đểphát triển kinh tế, chính vì vậy mà có rất nhiều người đổ tiền vào khai thácthương mại điện tử

Những tác động của thương mại điện tử dưới đây sẽ cho chúng ta thấyđược phần nào giá trị về lợi ích mà thương mại đem lại

1.1.Phá vỡ giới hạn của không gian và thời gian.

Để thấy sự phá vỡ các giới hạn của không gian và thời gian thì chúng taxét một vài ví dụ điển hình sau

Như chúng ta biết một hiệu sách lớn nhất thế giới có thể chứa được 17.000 cuốnsách, nhưng chúng ta có thể xem hàng triệu cuốn sách của Amazon trênInternet Hơn nữa nó còn tăng theo thời gian,vì nó không bị hạn chế về mặtkhông gian và thời gian

Một điều nữa đó là hầu hết các hiệu sách đều bị giới hạn giờ mở cửa.Mặc dù đã xuất hiện một vài hiệu sách mở cửa 24h nhưng chúng vẫn rất ít vàchúng ta vẫn phải đi ra khỏi nhà, vẫn phải mất thời gian và công sức để tìmsách, thậm chí chúng ta không tìm thấy cuốn sách mà chúng ta mong muốn.Nhưng với cửa hàng sách trực tuyến thì khác Mở cửa 24h chúng ta có thể ở nhàhay ngồi bất cứ đâu chỉ cần một cái máy tính nối mạng, ban ngày thậm chí banđêm chúng ta chỉ cần nhấp chuột sẽ tìm thấy cuốn sách mà mình cần Bạnkhông bị giới hạn về mặt không gian và thời gian Và có lẽ đến một lúc nào đócác cửa hàng sách trực tuyến còn rất ít

Trang 20

Một ví dụ điển hình khác mà chúng ta thấy đó là siêu thị trực tuyến Mộtcửa hàng tạp hoá và một siêu thị điều khác nhau có lẽ rõ nhất đó là mặt sốlượng hàng hoá Một cửa hàng tạp hoá cỡ lớn có thể bày bán từ 9000 đến 10000mặt hàng và thậm chí một cửa hàng cỡ lớn nhất có thể chứa tới 20000 đến

40000 mặt hàng Còn các siêu thị nhiều tầng có thể chứa từ 80000 dến 120000mặt hàng, siêu thị lớn nhất thế giới đó là Wal-Mart có thể bày bán tới 200000mặt hàng Điều đó có vẻ khá đủ song có rất nhiều vấn đề, với một khối lượnghàng lớn như vậy để tìm được mặt hàng chúng ta cần thì lại là một vấn đề Đãbao giờ chúng ta tính vào một siêu thị cỡ lớn, tìm một mặt hàng mình yêu thíchmất bao nhiêu thời gian và đôi khi chúng ta có thể nắm hết được các thông tinliên quan đến sản phẩm Nhưng với Internet thì khác Do nội dung không hạnchế tất cả các sản phẩm chúng ta cần sẽ được hiện thị và bên cạnh đó là cácthông tin liên quan đến sản phẩm để chúng ta có thêm thông tin lựa chọn hàng

1.2 Quan hệ trực tiếp giữa nhà cung cấp và người tiêu dùng.

Tác động thứ hai là nhà cung cấp có thể có quan hệ trực tiếp tới ngườitiêu dùng, do đó bỏ qua được các khâu trung gian

Cuộc cách mạng về hệ thống bán lẻ

Trước đây, nhà cung cấp và người tiêu dùng có mối liên hệ còn chưanhiều Ngay cả với phương thức đặt hàng trực tiếp qua thư từ được gửi đi từtrước khi tìm được đúng khách hàng Mặt khác, nhà cung cấp không biết phảitìm các thông tin của khách hàng ở đâu Internet quy tụ mọi người và cửa hàngvớinhau nên các nhà cung cấp có thể có quan hệ trực tiếp với người sử dụng

Trang 21

Điều này mở ra một chương mới trong cuộc cách mạng về hệ thống bán lẻ Nólàm đơn giản hóa toàn bộ tiến trình thương mại và đem lại hiệu quả sản xuất.

Thay đổi vai trò từ đại lý sang người mua

Theo truyền thống, các sản phẩm từ một nhà máy phải đi qua một sốkhâu trung gian trước khi đến được với người tiêu dùng Đó chính là hệ thốngbán lẻ mà chúng ta đã biết Tuy nhiên, các nhà máy bây giờ có thể bán sảnphẩm của họ trực tiếp cho người tiêu dùng, bỏ qua các khâu trung gian Mộtcách tự nhiên, điều này đã cách mạng hóa hệ thống bán lẻ Một người chỉ phảigửi thư điện tử tới một nhà máy có sản phẩm mà anh ta muốn và sau đó nhậnsản phẩm đó tại nhà mình Một hệ thống giao dịch đơn giản như vậy sẽ dần dầnthay thế các đại lý và cửa hang bán lẻ hiện nay

Các đại lý và người bán lẻ sẽ dần dần trở thành người mua hàng bởi vì họ biếtkhách hàng muốn gì và có thể tìm ra cái mà họ muốn Họ có thể cho kháchhàng những lời khuyên và cung cấp dịch vụ tư vấn chuyên nghiệp Khi kháchhàng đã có một quyết định, họ sẽ gửi một lệnh đặt hàng lên Internet trong vaingười mua Đây là tác động thứ hai

1.3 Tính chính xác trong điều tra nhu cầu.

Một nội dung quan trọng và đầu tiên của thương mại truyền thống đó làtìm hiểu nhu cầu và phân tích thị trường từ đó đưa ra những phỏng đoán chínhxác nhất, nhà máy cũng phỏng đoán

Độ chính xác trong phỏng đoán có khi là rất chính xác nhưng đôi khi lại

là một rủi ro rất cao vì nhận được thông tin không chính xác

Tuy nhiên với thương mại điện tử thì khác, ở đây có một mối liên hệ trực tiếpgiữa khách hàng với người sản xuất hoặc với người cung cấp sản phẩm Kháchhàng có thể nói họ muốn sản phẩm gì, như thế nào, giá cả…v.v.Và như vậy họkhông phải đi ra ngoài để mua hàng, nó còn đáp ứng nhu cầu trực tiếp củakhách hàng Điều này giúp cho người sản xuất biết chính xác khách hàng cần

Trang 22

gì, hay là thị trường cần gì Nó giúp cho nhà sản xuất và người cung cấp sảnphẩm đạt được độ chính xác cao trong điều tra nhu cầu.

1.4.Thương mại quốc tế giữa các cá nhân

Trong quá khứ, bất cứ khi nào chúng ta nói về TMĐT, chúng ta thườngnghĩ đến máy tính PC và Internet Mọi người nghĩ rằng chỉ có các công ty lớnhoặc các cá nhân làm việc trong các lĩnh vực công nghệ cao mới triển khaiTMĐT Điều đó không đúng Trong thời đại mạng, thương mại quốc tế có thểxảy ra giữa các cá nhân với nhau

Hình thức thương mại quốc tế này sẽ phát triển và nền kinh tế toàn cầu sẽtăng trưởng Sẽ đến lúc có sự phân phối bình đẳng của cải vật chất bởi vì chẳngbao lâu nữa chúng ta sẽ không còn nằm trong tầm khống chế của một số ít tậpđoàn khổng lồ hoặc những công ty môi giới đầy quyền lực Hình thức thươngmại quốc tế C đến C có thể được triển khai qua TMĐT

1.5.Cuộc cách mạng tiếp thị sản phẩm và dịch vụ số hoá.

Bất cứ điều gì có thể truyền qua đường dây điện thoại dưới dạng tín hiệu

số được gọi là một sản phẩm số hóa Tất cả các dạng thông tin đã được số hóa.Nội dung của một cuốn sách đã được số hóa và truyền qua đường dây điệnthoại Cuốn sách này có thể là một sản phẩm số hóa Ngược lại, một chiếc máythu hình không thể được truyền qua các đường dây điện thoại Do đó, nó khôngphải là một sản phẩm số hóa

Trong tương lai, tất cả các sản phẩm thông tin sẽ được số hóa quaInternet Các quyển sách, băng âm thanh, băng video sẽ được số hóa Mặt hàngđược nhiều người ưa thích bây giờ là MP3, một dạng tệp máy tính số hóa âmnhạc và cho phép chúng ta lấy nhạc từ Internet Hình thức này đã làm chongành âm nhạc thua lỗ hơn 10 tỷ USD một năm

Sự biến đổi tiền mặt là tác động rõ ràng nhất Trong quá khứ, tiền là vàngtrước khi nó biến đổi thành dạng tiền giấy Bây giờ nó đang biến thành dạng

Trang 23

tiền số hóa Khi bạn mua hàng ở một siêu thị, tất cả những gì chúng ta cần là trảtiền bằng thẻ tín dụng Không hề có sự trao đổi tiền mặt nào cả.

Nhưng cái thực sự đáng kinh ngạc là dịch vụ số hóa Hãy nghĩ kỹ về nó Mộtlượng lớn tiền mua bán các cổ phiếu có thể được truyền qua Internet trong mộtgiây Dịch vụ này đã cách mạng hóa chu trình bán lẻ Chúng ta đang thực sựsống trong thời đại đầy sáng tạo

1.6 Sự biến đổi của các ngân hàng truyền thống

Tác động tiếp theo của thương mại điện tử là sức ép cải tổ các ngân hàng truyền thống.

Để thấy sự ra đời và suy thoái của ngân hàng, chúng ta phải xem xét lịch

sử của đồng tiền Chúng ta xem tivi, xem phim thấy rõ người xưa sử dụng vàng,bạc và các kim loại khác làm đồng tiền như thế nào Tôi sợ rằng ngày naykhông ai bán cho chúng ta hàng hoá, dịch vụ của họ nếu chúng ta trả họ bằngnhững thỏi vàng thay cho những đồng tiền Tuy nhiên, khi đồng tiền giấy mớixuất hiện không ai muốn dùng nó cả Bây giờ, ai đó còn dùng vàng để giao dịchthì sẽ bị chê cười

Chức năng của ngân hàng truyền thống là cất giữ và giao nhận tiền.

Khi xuất hiện đồng tiền giấy, một tổ chức mới gọi là ngân hàng đượcthành lập Các ngân hàng mới phổ biến trong vòng vài thế kỷ trở lại đây Cácngân hàng truyền thống giữ tiền cho chúng ta Giữ, phát hành, quản lý và giaonhận tiền là chức năng của một ngân hàng truyền thống Trong thời gian đầu,ngành tài chính chỉ là cơ quan cất giữ tiền của mọi người, nhưng sau đó ngânhàng còn làm chức năng tín dụng Các chi nhánh ngân hàng và sau này là cácmáy rút tiền tự động (ATM) được đặt khắp nơi trên thế giới để tạo thuận lợi hơncho việc rút tiền

Chức năng của các ngân hàng trực tuyến; bảo vệ tiền điện tử và đảm bảo sử dụng đồng tiền có hiệu quả.

Trang 24

Các ngân hàng trực tuyến xuất hiện thì chúng ta bước vào kỷ nguyên tiềnđiện tử Trong kỷ nguyên mới này, tiền mặt thể hiện dưới dạng một tín hiệu số

có thể truyền tới mọi nơi trên thế giới Nếu bạn đi tới ngân hàng gửi500.000USD tới Mỹ thì người nhận sẽ có được số tiền đó trong ngày hôm sau.Tiền nhận được không phải là tiền mặt mà là một thông báo xác định rằng tiền

đã sẵn sàng có thể rút được Nó cũng giống như việc thanh toán tiền bằng thẻtín dụng ở một siêu thị vậy

Nếu tiền trở thành một tín hiệu thì chúng ta chẳng cần tiền giấy nữa Vớibối cảnh như thế, các ngân hàng truyền thống sẽ mất đi lợi thế của chúng Nếuvấn đề bảo an tiền điện tử được giải quyết thì hầu hết nếu không phải là tất cảcác ngân hàng sẽ phải tiến hành cải tổ

Trước thực tế còn có nhiều tin tặc và virus máy tính, nhiều người đặt vấn

đề nghi vấn về độ tin cậy của các tín hiệu số Trong thời gian đầu, chúng ta đãtừng có sự nghi ngờ về đồng tiền giấy Bây giờ chúng ta sẽ không bao giờ trảtiền mua cái gì bằng thỏi bạc nữa Điều đó là vì giao dịch bằng tiền giấy thật dễdàng và chúng ta có thể phân biệt được tiền giả Tương tự như vậy, lòng tin vàtính bảo an của tiền điện tử cũng sẽ vượt qua đồng tiền giấy Chúng ta vẫn còndùng tiền giấy bởi vì việc dùng tiền điện tử chưa thực sự thuận lợi Nếu tất cả

xe taxi đều có một máy đọc để bạn có thể đưa thẻ tín dụng của mình thì mọingười sẽ sẵn lòng sử dụng tiền điện tử

Cũng thế, hãy nghĩ tới khoản tièn lãi cộng thêm thu được Nếu một ngườilái xe taxi gửi số tiền kiếm được vào ngân hàng ngày hôm sau thì anh ta sẽ bịmất tiền lãi của một ngày Nếu anh ta có thể kiếm được tiền lãi ngày vào lúc thẻtín dụng được đọc thì đó không chỉ là sự thuận tiện mà còn là sự khai thác tối đađồng tiền Với tiền điện tử, chúng ta thường phải tuân thủ các thủ tục thườngxuyên của ngân hàng để đưa tiền của chúng ta vào năm khoản tiền đặt cọc khácnhau Một khi chúng ta bắt đầu thanh toán từ tài khoản xuống mức tiền lãi thấpnhất Lợi ích của tiền điện tử sẽ buộc các ngân hàng truyền thống phải cải tổ

Trang 25

2.Cơ hội và thách thức của thương mại điện tử Việt Nam trong thời kỳ hội nhập.

Thương mại điện tử là một cơ hội cho các nước đang phát triển có thểđấy nhanh quá trình phát triển kinh tế Việt Nam là một trong số đó, lợi thế hiệnnay mà Việt Nam có được đó là VN đã là thanh viên của WTO điều này tạo chonền kinh tế VN cũng như thương mại điện tử VN có một bước phát triển mới.Các cam kết của Việt Nam trong lĩnh vực thương mại điện tử đã có nhiều tácđộng sâu sắc đến sự phát triển của thương mại điện tử Việt Nam

Tốc độ phát triển thương mại điện tử trên thế giới diễn ra khá mạnh mẽ.Đặc biệt với sự phát triển của Internet và đường truyền Internet ngày càng cao,các sản phẩm phần mềm giá rẻ dễ sử dụng làm cho số người sử dụng ngày càngtăng nên Theo thống kê số người sử dụng Internet trên thế giới tính đến nay đãtrên con số 1.2 tỷ người chiếm hơn 18% dân số thế giới Số người sử dụngInternet ở các Châu lục cũng tăng khá nhanh Tính đến hết 6 tháng đầu năm

2007 thì số người sử dụng Internet ở Châu Mỹ là 342616896 người chiếm38.44% dân số, Châu Âu là 321853477 người chiếm 39.75% dân số, Chấu Á là

456297462 người chiếm 11.68% dân số

Kinh doanh thương mại điện tử là một lĩnh vực hết sức mới mẻ ở ViệtNam Phần lớn các doanh nghiệp trong nước là những doanh nghiệp mới thànhlập thiếu vốn, thiếu nguồn nhân lực có chất lượng cao và có những ý tưởng sángtạo mang tính đột phá Mặc dù một số doanh nghiệp nắm bắt được cơ hội và cóthể tăng trưởng nhanh, đối với phần lớn doanh nghiệp thì đây là lĩnh vực có độrủi ro cao Do đó các nhà đầu tư nước ngoài có thể đầu tư vào Việt Nam thì là

cơ hội tốt cho các doanh nghiệp tiếp cận với nguồn vốn cần thiết trong giaiđoạn thúc đẩy sự phát triển của thương mại điện tử

Thương mại điện tử là một lĩnh vực cần cơ sở hạ tầng, trang thiết bị hiệnđại, việc đầu tư của các doanh nghiệp nước ngoài sẽ cung cấp nhiều tiến bộkhoa học cho phát triển thương mại điện tử ở nước ta

Trang 26

Tranh chấp trong lĩnh vực thương mại điện tử vẫn là vấn đề khá lớn đối với cácluật sư Việt Nam vì vậy đây là cơ hội cho các luật sư của các nước có kinhnghiệp trong vấn đề này vào Việt Nam Qua đó nâng cao chất lượng dịch vụpháp lý, gián tiếp giải quyết các tranh chấp thương mại điện tử giữa các đối táctrong nước và với nước ngoài

Thương mại điện tử là một môi trường hoàn hảo để tiến hành mua báncác sản phẩm vô hình, đặc biệt là các sản phẩm số hóa- khi mà toàn bộ chu trìnhmua bán có thể tiến hành hoàn toàn trực tuyến Điều này tạo điều kiện thuận lợicho các loại hình giao dịch B2B, B2C, C2C phát triển Các doanh nghiệp vàkhách hàng trong nước được tiếp cận với những mặt hàng hoàn toán mới và cóthể giao dịch mua hàng qua mạng Các sản phẩm có hàm lượng chất xám caohay những tiến bộ khoa học vượt bậc chúng ta có cơ hội để tiếp cận Đồng thờicác sản phẩm trong nước cũng được các nước biết đến một cách dễ dàng vànhanh chóng, cơ hội để các công ty mạnh mở rộng thị phần của mình

Một loại hình kinh doanh trực tuyến hiện nay đang bắt đầu phát triển ởViệt Nam, đó là đào tạo trực tuyến Đây là cơ hội cho các học viên có thể tiếpcận được với hình thức đào tạo tiên tiến nhất của thế giới

Có thể thấy được lợi ích mà thương mại điện tử mang lại là rất lớn, đây là cơhội để cho các nước đang phát triển vươn lên, là một công cụ tốt để phát triểnnền kinh tế

Thương mại điện tử vào Việt Nam được 7 năm, đây mới là giai đoạn đầucủa thương mại điện tử cho nên chúng ta vẫn còn gặp rất nhiều khó khăn vềnhiều mặt khi mà chúng ta là thanh viên của tổ chức thương mại thế gịới(WTO)

Khả năng cạnh canh của các doanh nghiệp trong nước còn rất yếu, chính

vì vậy nguy cơ bị bóp chết của các doanh nghiệp trong nứoc là rất cao khi màcác doanh nghiệp lớn mạnh của các nước phát triển xâm nhập vào Việt Nam

Trang 27

Cơ sở pháp lý của ta về thương mại còn nhiều yếu kém đặc biệt là các tranhchấp thương mại điện tử thì chúng ta lại chưa có kinh nghiệm nhiều, dễ dàngphần thiệt thòi sẽ thuộc về phía ta khi có tranh chấp xảy ra.

Cơ sở hạ tầng về thương mại điện tử còn yếu chính vì vậy khó để tiếp thuhết được các tiến bộ khoa học kỹ thuật tiên tiến của thế giới Bên cạnh đó lànguồn nhân lực của thương mại điện tử còn yếu kém, chúng ta chưa thực sự đầu

tư cho thương mại điện tử nhiều điều này làm cho các công ty nước ngoài gặpkhó khăn khi đầu tư các công nghệ tiên tiến vào Việt Nam

Một vấn đề nổi bật nhất ở nứơc ta đó là tình trạng vi phạm bản quyền, màthương mại điện tử có quan hệ mật thiết với các sản phẩm dễ bị vi phạm bảnquyền nhất Các sản phẩm số hoá và các sản phẩm có hàm lượng trí tuệ caođược mua bán với tỷ trọng lớn trên mạng Đó là những sản phẩm như phầnmềm máy tính, phim, nhạc, sách, máy tính cá nhân, điện thoại di động, v.v Thứ hai, việc thực thi bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ trong thương mại điện tửphức tạp hơn trong thương mại truyền thống rất nhiều Việc phát tán nhạc,phim, phần mềm máy tính hay sách trên môi trường Internet có thể diễn ra cựcnhanh trên phạm vi cả nước, thậm chí trên qui mô toàn cầu, trong khi rất khóthu thập được chứng cứ về hành vi vi phạm hay định danh chính xác thủ phạm

là một trở ngại nghiêm trọng đối với thương mại điện tử

Có thể thấy rằng cơ hội và thách thức của thương mại điện tử Việt Nam

là rất lớn tuy nhiên cơ hội mang lại cho chúng ta là nhiều hơn Chính vì vậy hộinhập là một bước ngoặt lớn cho phát triển kinh tế cũng như thương mại điện tửcủa Việt Nam

3.1.Kinh doanh dịch vụ trực tuyến.

3.1.1.Tổng quan chung.

Trong vòng mấy năm gần đây dịch vụ trực tuyến đã phát triển sôi độngtrên thế giới đặc biệt là các nước có hạ tầng cơ sở công nghệ thông tin và viễnthông phát triển Việt Nam hình thức kinh doanh dịch vụ trực tuyến mới phát

Trang 28

triển trong hai năm gần đây nhưng nó đã đạt được nhiều thành tựu nổi bật Xéttrong bối cảnh phát triển thương mại điện tử hiện nay thì kinh doanh dịch vụtrực tuyến đem lại khá là nhiều lợi nhuận đặc biệt đối với các nước có cơ sở hạtầng công nghệ thông tin và các thành tựu khoa học trong nghành phát triển.Việt Nam là một nước có vị trí địa lý thuận lợi, là nước thuộc khu vực năngđộng nhất thế giới về công nghệ thông tin Bên cạnh đó số người sử dụngInternet tăng khá là nhanh cùng với khả năng thích ứng tốt cũng như khả năngtíêp thu trình độ khoa học công nghệ điều này giúp cho doanh nghiệp trongnước có những lợi thế cạnh tranh khi kinh doanh các dịch vụ tiềm năng này.Theo thống kê tháng 10/2007, cả nước đạt 860 nghìn thuê bao Internet, tươngđương 4.92 triệu thuê bao qui đổi, đạt mật độ 5.7 thuê bao trên 100 dân; sốngười sử dụng dịch vụ Internet là 17.5 triệu người chiếm gần 21% dân số Theo

dự kiến của bộ TT&TT, năm 2010 số người sử dụng Internet ở Việt Nam đạt35-40% dân số Chính vì vậy mà số người dùng các dịch vụ trực tuyến nước ta

là không nhỏ So với các nước trong khu vực và một sô nước trên thế giới sốngười dùng truy cập vào các Website tin tức và giải trí Việt Nam khá cao Tuynhiên một điều đáng tiếc là các dịch vụ trực tuyến ở Việt Nam còn khá nghèonàn, đa phần chỉ tập trung vào 2 lĩnh vực: tin tức và giải trí còn các dịch vụkhác hầu như bỏ ngỏ Vấn đề này một phần vì do tổng doanh thu tử trực tuyếncủa Việt Nam chưa đủ hấp dẫn Với cùng một công đầu tư thì 2 lĩnh vực kể trênnhanh chóng thu hút đông người sủ dụng Các dịch vụ khác dường như chưa códoanh thu

Theo nhận định từ các chuyên gia, mặc dù 100% các trường đại học, việnnghiên cứu, bệnh viện trung ương, 98% số trường trung học, 92% số doanhnghiệp vừa và nhỏ đã có Internet Tuy nhiên đại đa số các sinh viên vẫn chưađược hưởng thụ thành quả từ Internet

Hai năm trở về đây thì ngày càng có nhiều doanh nghiệp nhảy vào kinh doanhdịch vụ trực tuyến Từ tin tức, âm nhạc sang game, mạng xã hội, video, thương

Trang 29

mại điện tử….với một số thành công đáng ghi nhận Như VnExpres.net lọt vàotop 100 website được truy cập nhiều nhất thế giới đến thành công hàng trăm tỷđồng của Võ Lâm Truyền Kỳ-VinaGame và những gặt hái lớn của VTC, 24htrên thị trường quản cáo trực tuyến… đang tạo nên một làn sóng mới về dịch vụInternet tại Việt Nam.

Bên cạnh đó thì đầu tư vào lĩnh vực trực tuyến đã tăng đáng kể Với sốvốn đầu tư lên đến hàng trăm triệu đô la, quỹ đầu tư mạo hiểm IDG Ventures đãkhai hoả phong trào đầu tư “dot com” tại Việt Nam Hơn 20 công ty CNTT đãđược IDG rót vốn, trong đố có VinaGame, Vega, Cyworld.vn,Yeuamnhac.com, chodientu.com, baamboo.com… Không hề chậm chân,VinaCapital cũng lên tiếng bằng việc đầu tư 2 triệu USD cho hệ thốngTimnhanh.com, nhiều quỹ và cá nhân khác đang tìm kiếm những tiềm năng trênInternet

Thêm vào đó, tỷ lệ sở hữu laptop và máy tính cá nhân, các dòng điệnthoại cao cấp có tính năng truy cập Internet, cộng với sự phát triển của ADSL,WIFI, WIMAX, 3G đang phát triển nhanh chóng mở ra một thị trường rộnglớn đầy tiềm năng cho nghành dịch vụ trực tuyến

3.1.2.Quảng cáo trực tuyến.

Quảng cáo trên Internet là một xu hướng hiện nay của hầu hết các chiếnlược kinh doanh, các chuyên gia đã đánh giá rất cao về sự phát triển của hệthống truyền thông hiện nay Trên thế giới hiện nay thì quảng cáo trực tuyến rấtphát triển: ở Mỹ doanh số năm 2007 đã tăng 27% so với năm 2006 và hơn 25.5

tỷ USD đã chạy vào tài khoản của các đại gia trực tuyến Trong đó Googleđứng đầu với 23.7% thị phần tiếp theo là Yahoo với 11.4% thị phần, Microsoftđứng thứ ba với 5.6% và tiếp ngay sau là AOL với 5.2% So với Mỹ, thị trườngQuảng cáo trực tuyến tại Châu Âu còn thua xa về giá trị, nhưng vượt mặt thịtrường số 1 thế giới về tốc độ tăng trưởng Hãng nghiên cứu Forrester cho rằng,thị trường Quảng cáo trực tuyến Châu Âu sẽ đạt doanh số 22 tỉ USD vào năm

Trang 30

2012, với mức tăng hơn 100% so với năm 2006 Khi đó, thị phần Quảng cáotrực tuyến sẽ chiếm 18% thị trường quảng cáo, tăng gần gấp đôi so với hiệnnay.

Tại Châu Á, doanh thu Quảng cáo trực tuyến năm 2007 của thị trường đông dânnhất thế giới đạt 985,3 triệu USD, tăng gần 54% so với năm 2006 (hơn 640triệu USD) Đây là con số ấn tượng mới được Analysys International công bốngày 20.2, kết quả này vượt qua doanh số 861 triệu USD do chính hãng dự báo

TQ sẽ đạt được vào năm 2008

Điều này cho thấy được tương lai bùng nổ quảng cáo trực tuyến ở ViệtNam trong thời gian tới Hiện nay thì hầu hết các công ty đã quan tâm đếnphương thức quảng cáo trực tuyến và nó đang dần trở thành công cụ hữu hiệu

để cạnh tranh

Năm 2006 thị trường quản cáo trực tuyến Việt Nam chưa có nhiều biếnđộng tuy nhiên đã có những bước chuyển biến đáng kể Đáng chú ý nhất làchiến lược tiếp cận thị trường của các công ty nước ngoài Các công ty lớn nhưYahoo và Google đã có những động thái rõ ràng nhằm chuẩn bị cho việc thâmnhập vào thị trường Việt Nam Cả Yahoo và Google đã đưa ra các dịch vụbằng tiếng Việt với mục tiêu thu hút người sử dụng Việt Nam, từ đó đẩy doanhnghiệp trong nước tham gia quản cáo tại các trang thông tin điện tử hoặc cácdịch vụ quảng cáo của công ty này

Bên cạnh các công ty lớn, chuyên nghiệp mang tầm quốc tế, những tiến

bộ của doanh nghiệp trong nước cũng khá rõ nét Phần lớn các website hiện naycủa Việt Nam đều cung cấp dịch vụ quảng cáo trực tuyến Số lượng doanhnghiệp cung cấp website tin tức và báo điện tử tham gia kinh doanh quảng cáotrực tuyến ngày một tăng Hầu hết báo điện tử có được một phần doanh thuthương mại từ cung cấp dịch vụ quảng cáo trực tuyến Ngoài ra, dịch vụ quảngcáo cũng đa dạng hơn, giúp doanh nghiệp dễ dàng lựa chọn kiểu quảng cáo trựctuyến phù hợp với năng lực của đơn vị mình Hình thức quảng cáo đặt banner

Trang 31

vẫn là phổ biến nhất nhưng được biến thể theo nhiều dạng với mức chi phí khácnhau Ngoài ra, quảng cáo bằng cách đặt logo dẫn đến trang thông tin riêng củadoanh nghiệp cũng là một phương thức mới

Trang 32

Bảng1:Một số Website lớn cung cấp dịch vụ quảng cáo trực tuyến

8 Công ty cổ phần Quảng cáo DV trực

tuyến

www.24h.com.vn

9 Công ty truyền thông đa phương tiện www.vtc.com.vn

Phần lớn các địa chỉ thu hút quảng cáo trực tuyến tại Việt Nam vẫn chưanhiều chủ yếu vẫn tập trung ở các báo điện tử lớn như Vnexpress, Vietnamnet,Dan tri….Và khách hàng quản cáo thường xuyên và chiếm diện tích lớn nhấttrên các website chủ yếu là các công ty đa quốc gia như Ford, Toyota, Nokia,Samsung, LG và các công ty lớn trong lĩnh vực viễn thông như Tổng công tyviễn thông Việt Nam (VNPT), Công ty cổ phần viễn thông quân đội(Viettel),Công ty cổ phần viễn thông Sài Gòn (S-Phone)…… Mặc dù đối tượng thamgia quảng cáo trực tuyến hiện nay chủ yếu là các công ty lớn nhưng với sự đadạng cũng như những ưu điểm của mình, quảng cáo trực tuyến sẽ ngày càngđược phổ cập Hơn thế nữa, với nhu cầu quảng cáo ngày một lớn trong thời đạihội nhập kinh tế sâu rộng, số lượng doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệpvừa và nhỏ, tham gia sử dụng quảng cáo trực tuyến sẽ ngày một tăng nhanh Doanh số ước tính của quảng cáo trực tuyến năm 2006 chiếm 1,2% thị phầntoàn ngành Cơ cấu thị phần của quảng cáo trực tuyến dự tính tăng lên từ 1,8%

Trang 33

đến 2% vào năm 2007 Với xu thế phát triển của báo điện tử và các dịch vụ trựctuyến, tốc độ tăng trưởng của thị trường quảng cáo trực tuyến ước đạt 70 –100%/năm.2010 Như vậy, thị phần của quảng cáo trực tuyến tuy còn nhỏ so vớitoàn ngành nhưng tốc độ tăng trưởng dự đoán là khá cao Với nhịp độ này,quảng cáo trực tuyến sẽ nhanh chóng phổ biến và được nhân rộng trong thờigian tới, giúp nâng cao doanh thu cho các nhà cung cấp dịch vụ Theo TổngGiám đốc Công ty ACNielsen Việt Nam, “năm 2006 là năm quan trọng củaquảng cáo trực tuyến Trong vòng 5 đến 10 năm tới quảng cáo trực tuyến sẽ cókhả năng tăng trưởng thị trường gấp nhiều lần hiện nay” VietnamNet vàVnExpress, hai báo điện tử có lượng độc giả lớn nhất hiện nay, cho biết doanhthu quảng cáo tăng trưởng mạnh theo từng năm, nhất là hai năm trở lại đây.Năm 2004, doanh thu quảng cáo trực tuyến của VietnamNet không bao gồmcác chuyên trang, phụ trương là 3,8 tỷ đồng; năm 2005 là 4,35 tỷ đồng, dự kiếnnăm 2006 là 4,6 tỷ Doanh thu của VnExpress năm 2004 là 11,1 tỷ đồng, năm

2005 khoảng 20,25 tỷ đồng, dự kiến năm 2006 là 31,7 tỷ đồng, gấp 3 lần so vớinăm 2004 Dựa theo kết quả kinh doanh như trên của VnExpress thì doanh sốquảng cáo của báo là khá tốt so với các tờ báo và tạp chí lớn

Hình 1

Trang 34

Doanh thu từ quảng cáo trực tuyến của Vnexpress và Vietnamnet

0 5 10 15 20 25 30 35 40 45 50

Vnexpress Vnn

Theo thống kê thì số lượng người sử dụng Internet ở Việt Nam có xu hướngtăng khá nhanh tính đến hết năm 2007 là 18913492 người Điều nay tạo ra nhucầu lớn về quảng cáo trực tuyến và trong thời gian tới thì quảng cáo trực tuyến

Trò chơi trực tuyến Việt Nam có xuất phát điểm vào đầu năm 2003, khicác phiên bản chưa được cấp phép của trò chơi MU lưu hành rộng trong giớitrẻ Đến năm 2005 việc các công ty lớn chuyên khai thác trò chơi trực tuyếnnhư FPT, Vinagame, VTC Game đồng loạt mua bản quyền trò chơi nước ngoài,đưa dịch vụ vào khai thác một các bài bản và chính thống hơn đã tạo nên mộtdiện mạo mới cho lĩnh vực này tại Việt Nam

Ngày 01/06/2006, Thông tư liên tịch số BBCVT-BCA về quản lý trò chơi trực tuyến của Bộ Văn hóa Thông tin, BộBưu chính Viễn thông và Bộ Công an được ban hành nhằm điều chỉnh việc sản

Trang 35

60/2006/TTLT-BVHTT-xuất, cung cấp và sử dụng dịch vụ trò chơi trực tuyến tại Việt Nam Thông tưđưa ra quy định về điều kiện cung cấp cũng như trách nhiệm của từng đối tượngtham gia trò chơi trực tuyến khá cụ thể Sự ra đời của văn bản quy phạm phápluật này là viên gạch đầu tiên đặt nền móng cho khung pháp lý về trò chơi trựctuyến

Theo báo cáo thương mại điện tử năm 2005 thì mới chỉ có 5 nhà cungcấp dịch vụ trò chơi trực tuyến nhưng năm 2006 đã có khoảng 10 nhà cung cấp,năm 2007 là trên 15 nhà cung cấp tập trung chủ yếu tại thành phố Hồ Chí Minh

và Hà Nội Số lương doanh nghiệp tăng nhanh phản ánh nhu cầu của thị trường

về game online đang tăng rất nhanh Số lượng trò chơi trên thị trường rất pháttriển, các doanh nghiệp trong nước luôn cố gắng đưa trò chơi mới, đa dạng hoáthể loại để thu hút người tham gia Số lượng trò chơi đã tăng lên gấp ba so vớicon số 7 trò chơi trực tuyến cung cấp năm 2005

Bảng2;Một số trò chơi trực tuyến tiêu biểu

www.rovietnam.com.vn www.cuulong.com.vn

Trang 36

Đã có 10 sản phẩm tham gia bao gồm cả trò chơi cho điện thoại đi động Tuykhông đuợc bằng với trò chơi ngoại nhập xong đã được ban tổ chức đánh giákhá cao.

Theo VINASA, mục tiêu của chiến lược phát triển thị trường trò chơitrực tuyến nội địa là đạt 83 công ty làm trò chơi, mỗi công ty có tối thiểu mộttrò chơi lưu hành trên thị trường với doanh số 1 triệu USD vào năm 2010 Theo

đó, Việt Nam sẽ đạt doanh thu ít nhất 83 triệu USD từ trò chơi nội địa trongnăm 2010 Đến thời điểm đó, trò chơi trong nước sẽ chiếm khoảng 25% thịphần Hiện có khoảng 10 công ty với 300 cán bộ đang tham gia phát triển cáctrò chơi trực tuyến Việt Nam

Như vậy trong một thời gian ngăn sắp tới trò chơi của trực tuyến Việt Nam pháttriển khá rầm rộ và một khối lượng doanh thu khá lớn tử Game online mà cácdoanh nghiệp sẽ thu được

3.2.3.2.Truyền hình trực tuyến và âm nhạc trực tuyến.

Với tốc độ sử dụng Internet ở Việt Nam thì truyền hình trực tuyến và âmnhạc trực tuyến không nằm ngoài lĩnh vực có tốc độ phát triển trong tương laitới Và nó ngày càng trở nên quen thuộc với giới trẻ

Trang 37

a.Truyền hình Internet

Truyền hình Internet là một công cụ truyền thông hiệu quả do không bịhạn chế về thời gian và không gian Hơn nữa truyền hình Internet có khả nănglưu trữ tư liệu giống như một thư viện thông tin dễ dàng tra cứu tham khảo.Trên thế giới truyền hình Internet không còn xa lạ nhưng với Việt Nam thì đây

là một cải tiến mới của ngành công nghiệp truyền hình và người tiêu dùng vìvậy hiện nay hầu hết các kênh truyền hình trực tuyến đều phát hành miễn phínhằm đưa kênh truyền thông này tiếp cận với đông đảo khán giả

Bản3: Một số kênh truyền hình trực tuyến

1 www.vnntelevision.n

et

Công ty điện toán và truyền thông số liệu (VDC)

Cung cấp toàn bộ nội dung các chương trình truyền hình trên đài truyền hình Việt Nam (VTV) bao gồm các video clip

về thời sự, kinh tế, thể thao, giải trí, chương trình thiếu nhi,

3 www.htv.com.vn/

truyền hình

Đài truyền hình tp.Hồ Chí Minh

Bao gồm hầu hết các chương trình được chiếu trên Đài truyền hình HTV

4 www.tv.vietnamnet.v

n

Công ty phần mềm và truyền thông VÁC

Chương trình thời sự tin tức giải trí

Trang 38

Truyền hình trực tuyến được coi như một cuộc cách mạng trong lĩnh vựctruyền thông đại chúng Ngoài khả năng tương tác với khán giả và cho phép lựachọn nội dung linh hoạt, truyền hình trực tuyến còn mở ra khả năng truyền pháttrên toàn cầu Một ưu thế của truyền hình Internet so với các loại truyền hìnhtheo yêu cầu là không phải đầu tư quá nhiều về chi phí hạ tầng Truyền hìnhInternet có thể sử dụng mạng lưới điện thoại cố định sẵn có để triển khai kết nốiInternet ADSL Đây có thể là một kênh cập nhật thông

tin nhanh và tiện lợi nhất

b.Phim truyện, âm nhạc trực tuyến

Theo tổ chức âm nhạc quốc tế IFPI, nhạc trực tuyến đã chiếm 10% tổngdoanh thu toàn cầu năm qua Thị trường Châu Âu vẫn đứng đầu thế giới khichiếm 20% doanh thu toàn cầu, phổ biến nhất tại Anh, Pháp, Đức, Italy và TâyBan Nha Năm ngoái, số lượng ca khúc đựơc cung cấp qua mạng cũng tăng gấpđôi lên thành hơn 4 triệu thông qua 498 dịch vụ online ở hơn 40 quốc gia

Việt Nam thì lĩnh vực này vẫn chưa mang lại lợi nhuận nhiều và tình trạng viphạm bản quyền vẫn còn diễn ra khá nhiều Số lượng trang website cung cấpdịch vụ phim và âm nhạc trực tuyến vẫn chưa có nhiều

- soncamedia.com của Công ty truyền thông Sơn Ca là website âm nhạc

trực tuyến đầu tiên ký thỏa thuận mua bản quyền với Trung tâm Bảo vệ quyềntác giả âm nhạc Việt Nam theo hình thức mỗi ngày tuyển chọn một bài hát mới

và được ưa thích trên thị trường ca nhạc đưa lên trang web (được nghe và tải vềmáy tính cá nhân) Sơn Ca sẽ mua bản quyền ca khúc Việt Nam phát trênwebsite liên tục trong ba năm (tổng cộng khoảng 1.095 bài hát)

- http://nhacso.net của công ty Viễn thông FPT cũng là một website âm

nhạc Việt Nam đã ký kết hợp tác với Trung tâm Bảo vệ quyền tác giả âm nhạcViệt Nam Đây không chỉ là một website âm nhạc thông thường mà được xâydựng với quy mô hệ thống âm nhạc trực tuyến bao gồm nhiều nhạc phẩm cóbản quyền của hơn 700 nhạc sỹ, các hãng băng đĩa lớn, đồng thời liên kết các

Trang 39

website âm nhạc trực tuyến khác trong nước và thế giới Dự kiến trong thờigian tới, website sẽ cung cấp dịch vụ tải bài hát thu phí Hình thức trả phí có thểthông qua thẻ trả trước hoặc thẻ tín dụng.

- http://tv.fpt.net của Công ty Cổ phần Viễn thông FPT cung cấp miễn phí

300 bộ phim có bản quyền cho khách hàng sử dụng dịch vụ ADSL từ15/7/2006 Sau thời gian thử nghiệm, chương trình Phim theo yêu cầu (VoD -Video on Demand) sẽ chính thức thu phí Trước mắt, chỉ có thuê bao ADSL củacông ty mới có thể xem phim từ trang tv.fpt.net

Số lượng các trang website cung cấp phim và nhạc trực tuyến có mua bảnquyền còn rất ít so với hơn 20 website đang hoạt động trên thị trường Tuynhiên đây cũng là tiến bộ bước đầu của doanh nghiệp trong nước về vấn đề bảo

vệ quyền tác giả và tài sản trí tuệ trong kinh doanh dịch vụ trực tuyến Điều nàycũng đánh dấu một tương lai không xa của kinh doanh truyền hình và âm nhạctrực tuyến

3.2 Đào tạo trực tuyến.

Đào tạo trực tuyến là phương thức khá mới mẻ ở Việt Nam xong nó cũngthu hút được khá nhiều học sinh, sinh viên và các đối tượng khác tham gia Cáctrường đại học cũng bắt đầu đào tạo trực tuyến hệ chính quy hoặc tại chức Cácdoanh nghiệp cũng nhanh chóng tham gia nhằm đáp ứng nhu cầu của xã hội

Theo điều tra sơ bộ của vụ Công nghiệp và Công nghệ thông tin, Bộ bưuchính viễn thông hiện có trên 50 công ty đăng ký sản xuất, kinh doanh các sảnphẩm về học tập điện tử và khoảng 30 trang thông tin điện tử cung cấp giáodục Như cổng Elearning của Bộ Giáo Dục và Đào Tạo, trang web của một sốtrường đại học, trang web của một số công ty cung cấp dịch vụ

Các sản phẩm, dịch vụ chính mà đơn vị, doanh nghiệp cung cấp là:

-Cung cấp bài giảng trực tuyến, tài liệu trực tuyến học tập trực tuyến

-Luyện thị đại học, thi ngoại ngữ

-Các chương trình vừa học vừa chơi của học sinh tiểu học

Trang 40

-Các bài học, bài tập của học sinh từng trình độ khác nhau.

Ở một số trường đại học đào tào trực tuyến đang đi vào giai đoạn đầu.Khoa CNTT Đại Học Mở Hà Nội là đơn vị đầu tiển đào tạo trực tuyến có cấpbằng đại học cho sinh viên Từ năm 2001, trung tâm công nghệ đào tạo trựctuyến của khoa đã thành lập một nhà trường ảo “FIHOU CYBERSCHOOL” đặttrên website http:// www.fithou.net.vn và bắt đầu tuyển sinh viên ngành CNTT.Khoá đầu tiên có 150 sinh viên dự học Đến nay, trường có hơn 1000 sinh viêntheo học CNTT trực tuyến, với mức học phí bằng 1/3 so với học trực tiếp

Đào tạo trực tuyến xuất hiện ở Việt Nam từ năm 2001 đến nay đã có 10trường đại học tham gia đào tạo trực tuyến: ĐH Quốc Gia Hà Nội, ĐH Sư Phạm

Hà Nội, ĐH Đà Nẵng, ĐH Y Tế Công Cộng.v v…

Hình thức đa phần là đào tạo bán trực tuyến nhưng số môn học, số giờ học trực

tuyến ngày càng chiếm tỷ lệ cao Các thủ tục đăng ký nhập học, thủ tục thu nộphọc phí tại các đơn vị này hầu hết vẫn diễn ra theo phương thức truyền thống docác công cụ hỗ trỡ như thanh toán trực tuyến, chữ ký số còn thiếu Do đó, vậnhành một khoá học đào tạo trực tuyến từ khâu tổ chức dến khâu giảng dạy còngặp nhiều khó khăn Ngoài ra người học cũng chưa thực sự làm quen với mộtkhoá học đào tạo trực tuyến hoàn toàn Chính vì vậy xu hướng chính là đào tạobán trực tuyến đáp ứng nhu cầu hiện tại

Cấp bậc đào tạo không chỉ bó gọn ở hình thức cấp chứng chỉ đào tạo ngắn hạn

mà còn mở rộng sang hệ đào tạo cử nhân chính quy Hầu hết các đơn vị đều bắtđầu con đường đào tạo trực tuyến bằng các chương trình đào tạo chứng chỉngắn hạn Đây là bước khởi đầu an toàn, đồng thời giúp các đơn vị có thể địnhhình được nhu cầu của học viên cũng như có kinh nghiệm khi triển khai cáckhoá học dài hạn phức tạp và khó khăn hơn Ngoài ra, hình thức đào tạo cấpchứng chỉ là một kênh hiệu quả để tiếp thị, thu hút sô lượng học viên tham giacác khoá học dài hạn chính quy sau này Tính đến nay, chiến lược đào tạo như

Ngày đăng: 25/12/2012, 15:00

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình số liệu tương tác - Thực trạng phát triển TM Điện tử ở VN
Hình s ố liệu tương tác (Trang 45)
Hình 3 cho thấy thị phần cung cấp dịch vụ giá trị gia tăng cho mạng điện  thoại di động còn phân chia chưa đồng đều - Thực trạng phát triển TM Điện tử ở VN
Hình 3 cho thấy thị phần cung cấp dịch vụ giá trị gia tăng cho mạng điện thoại di động còn phân chia chưa đồng đều (Trang 47)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w