BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ - -Ì- - -NHIỆM VỤ KH&CN CẤP THIẾT BÁO CÁO TỔNG HỢP NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG MÔ HÌNH BẢO VỆ VÀ PHÁT TRIỂN NGUỒN LỢI NGHÊU Meretrix lyrata Sowerby,1851, SÒ HUYẾT A
Trang 1BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
- -Ì- -
-NHIỆM VỤ KH&CN CẤP THIẾT
BÁO CÁO TỔNG HỢP
NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG MÔ HÌNH BẢO VỆ VÀ PHÁT
TRIỂN NGUỒN LỢI NGHÊU Meretrix lyrata (Sowerby,1851), SÒ
HUYẾT Andara granosa (Linaeus,1758) Ở
VÙNG CỬA SÔNG VEN BIỂN TIỀN GIANG,
BẾN TRE, TRÀ VINH
Đơn vị thực hiện PHÂN VIỆN QUY HOẠCH THỦY SẢN PHÍA NAM
8877
T/p HCM, 11/2010
Trang 2BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
- -Ì- -
-NHIỆM VỤ KH&CN CẤP THIẾT
BÁO CÁO TỔNG HỢP
NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG MÔ HÌNH BẢO VỆ VÀ PHÁT
TRIỂN NGUỒN LỢI NGHÊU Meretrix lyrata (Sowerby,1851), SÒ
HUYẾT Andara granosa (Linaeus,1758) Ở
VÙNG CỬA SÔNG VEN BIỂN TIỀN GIANG,
BẾN TRE, TRÀ VINH
CHỦ NHIỆM NHIỆM VỤ
Ts NGUYỄN THANH TÙNG
ĐƠN VỊ THỰC HIỆN PHÂN VIỆN QUY HOẠCH THỦY SẢN PHÍA NAM
T/p HCM, 11/2010
Trang 3CÁC THÀNH VIÊN ĐỀ TÀI
Ts Nguyễn Thanh Tùng Chủ nhiệm đề tài
Cn Phan Thị Thu Thư ký đề tài
Ths Lê Đức Liêm Thành viên đề tài
Cn Tống Phước Hoàng Sơn Thành viên đề tài
Ths Trương Thanh Tuấn Thành viên đề tài
Ths Trần Minh Lâm Thành viên đề tài
Ths Trần Hoài Giang Thành viên đề tài
Ks Nguyễn Văn Huy Thành viên đề tài
Ks Vũ Nguyên Anh Thành viên đề tài
Cn Trần Xuân Thành Thành viên đề tài
Cn Nguyễn Thị Xuân An Thành viên đề tài
Cn Võ Thị Xuân Chi Thành viên đề tài
Ks Nguyễn Văn Đoán Thành viên đề tài
Trang 4MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG vi
DANH MỤC HÌNH vii
DANH MỤC BẢN ĐỒ x
CÁC CHỮ VIẾT TẮT xi
PHẦN I 1
GIỚI THIỆU 1
1.1. Mở đầu 1
1.2. Mục tiêu nhiệm vụ 2
1.2.1. Mục tiêu lâu dài 2
1.2.2. Mục tiêu cụ thể 2
1.3. Phạm vi, thời gian, nội dung sản phẩm của nhiệm vụ 2
1.3.1. Phạm vi nghiên cứu nhiệm vụ 2
1.3.2. Thời gian nghiên cứu 3
1.3.3. Nội dung nhiệm vụ 3
1.3.4. Sản phẩm của nhiệm vụ nghiên cứu 4
PHẦN II 7
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 7
2.1. Hệ thống phân loại, phân bố và hình thái của nghêu Bến Tre Meretrix Lyrata (Sowerby, 1851) 7
2.1.1. Hệ thống phân loại 7
2.1.2. Phân bố 7
2.1.3. Hình thái nghêu 9
2.2. Các nghiên cứu sinh học cơ bản về nghêu giống và nghêu bố mẹ 10
2.2.1. Một số chỉ tiêu sinh lý 10
2.2.2. Dinh dưỡng và tăng trưởng 10
2.2.3. Đặc điểm sinh sản của nghêu 11
2.3. Biến động nguồn lợi nghêu - biện pháp bảo vệ và phát triển 13
2.3.1. Sự biến động nguồn lợi nghêu trong những năm gần đây 14
2.3.2. Quá trình phát triển và hiện trạng nghề nuôi nghêu tại ĐBSCL 14
2.3.3. Hiện trạng KTXH ảnh hưởng đến biến động nguồn lợi nghêu 15
2.3.4. Bảo vệ và phát triển nguồn lợi nghêu, sò huyết vùng cửa sông ven biển 15
2.4. Đặc điểm sinh học sò huyết (Anadara granosa) 18
Trang 52.4.1. Hệ thống phân loại sò huyết 18
2.4.2. Đặc điểm phân bố sò huyết 18
2.4.3. Đặc điểm dinh dưỡng sò huyết 20
2.4.4. Đặc điểm sinh trưởng của sò huyết 20
2.4.5. Đặc điểm sinh sản của giống Anadara 21
2.5. Tình hình nuôi nhuyễn thể hai mảnh vỏ trên thế giới và Việt Nam 22
2.5.1. Nuôi nhuyễn thể hai mảnh vỏ trên thế giới 22
2.5.2. Nuôi nhuyễn thể hai mảnh vỏ ở Việt Nam 24
2.5.3. Tình hình đồng quản lý nguồn lợi thủy sản trên thế giới 26
2.6. Tình hình đồng quản lý nghề cá quy mô nhỏ ở Việt Nam 28
2.6.1. Tình hình quản lý, khai thác nguồn lợi nghêu các tỉnh ven biển trong vùng nghiên cứu 28
2.6.2. Đồng quản lý nghề cá ở Việt Nam 29
2.6.3. Tình hình nuôi nghêu ở ĐBSCL 32
2.7. Dự báo thị trường và tiêu thụ nhuyễn thể 33
2.7.1. Thị trường trong nước 33
2.7.2. Thị trường thế giới 35
2.7.3. Cung cầu về nhuyễn thể hai mảnh vỏ 37
PHẦN III 40
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 40
3.1. Nghiên cứu, đánh giá đặc điểm khí tượng thủy văn, động lực, địa hình – địa mạo tại các bãi nghêu, sò huyết vùng cửa sông ven biển Tiền Giang, Bến Tre và Trà Vinh 41
3.1.1 Các phương pháp viễn thám (1) 41
3.1.2 Phân tích thống kê đa biến (Factor Analysis) (2) 43
3.2. Nghiên cứu, đánh giá chất lượng môi trường nước trong vùng nghiên cứu (3) 44
3.2.1. Chỉ tiêu quan trắc 44
3.2.2. Phương pháp thu mẫu 44
3.2.3. Phương pháp phân tích mẫu 44
3.2.4. Phương pháp đánh giá chất lượng môi trường nước 45
3.3. Nghiên cứu đặc điểm địa lý, ước tính trữ lượng, đặc điểm sinh học nguồn lợi nghêu, sò huyết vùng cửa sông ven biển Tiền Giang, Bến Tre và Trà Vinh 45
3.3.1. Điều tra xác định vị trí xuất hiện nghêu, sò huyết giống (4) 45
3.3.2. Xác định sản lượng nguồn lợi nghêu, sò huyết (5) 46
Trang 63.3.4. Ước tính trữ lượng nguồn nghêu, sò bố mẹ (7) 46
3.3.5. Phương pháp thu và phân tích đặc điểm sinh học nghêu, sò huyết (8) 46
3.4. Nghiên cứu, đánh giá thực trạng nuôi trồng, khai thác nguồn lợi nghêu, sò huyết và hiện trạng kinh tế xã hội, chủ trương chính sách, thể chế hiện hành của địa phương cũng như các tác động của chúng đến sự phát triển nguồn lợi nghêu, sò huyết (9) 48
3.4.1 Phương pháp tiếp cận và phân tích 48
3.4.2 Phương pháp thu thập và xử lý số liệu 48
3.5. Nghiên cứu xây dựng bản đồ phân bố nguồn lợi nghêu, sò huyết trong vùng nghiên cứu (10) 50
3.6. Nghiên cứu xây dựng 4 mô hình thực nghiệm khu bảo vệ nguồn lợi nghêu, sò huyết 54
PHẦN IV 56
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 56
4.1. Đánh giá các yếu tố dòng chảy, dòng bồi tích đến sự phân bố và biến động nghêu, sò huyết ở vùng bãi triều tỉnh Tiền Giang, Bến Tre và Trà Vinh 56
4.1.1. Đặc điểm khí tượng trong vùng nghiên cứu 56
4.1.2. Đặc điểm điều kiện thủy văn trong vùng nghiên cứu 58
4.1.3. Chất lượng nước vùng cửa sông ven biển Tiền Giang, Bến Tre và TràVinh 62
4.1.4. Quá trình xói lở bồi tụ, các đặc trưng hình thái địa hình và quá trình động lực trầm tích bãi triều vùng cửa sông trong mối liên quan với sự hình thành các bãi nghêu và sò huyết ở vùng nghiên cứu 64
4.2. Một vài đặc điểm sinh học nghêu, sò huyết phân bố tại vùng cửa sông ven biển Tiền Giang, Bến Tre và Trà Vinh 69
4.2.1. Biến động thành phần loài và mật độ tảo tại các bãi nghêu, sò huyết trong vùng nghiên cứu 69
4.2.2. Tỷ lệ thức ăn trong dạ dày của nghêu, sò huyết trong vùng nghiên cứu 72
4.2.3. Đặc điểm sinh trưởng của nghêu, sò huyết 73
4.2.4. Giới tính của nghêu và sò huyết 76
4.2.5. Nghêu bố mẹ tại các bãi nghêu Tiền Giang 76
4.2.6. Nghêu bố mẹ tại các bãi nghêu tỉnh Bến Tre 78
4.2.7. Nghêu bố mẹ tại các bãi nghêu tỉnh Trà Vinh 79
4.3. Đánh giá trữ lượng nguồn nghêu bố mẹ, nghêu giống, sò huyết giống vùng cửa sông ven biển 3 t nh Tiền Giang, Bến Tre và Trà Vinh 82
4.4. Các yếu tố về tự nhiên và môi trường ảnh hưởng đến sự xuất hiện nghêu, sò huyết giống 83
4.4.1. Gió 83
Trang 74.4.2. Yếu tố nhiệt độ, độ mặn và điều kiện nền bãi 84
4.4.3. Mùa vụ thả giống 86
4.4.4. Mùa vụ thu hoạch 87
4.4.5. Kích cỡ và mật độ thả nuôi 89
4.4.6. Tốc độ sinh trưởng nghêu 91
4.4.7. Mối quan hệ giữa con giống và thời gian nuôi 91
4.4.8. Đánh giá sự ảnh hưởng của các yếu tố lên sự biến động nguồn lợi nghêu, sò huyết 92
4.5. Đánh giá thực trạng nuôi trồng, khai thác nguồn lợi nghêu, sò huyết vùng nghiên cứu 93 4.5.1. Các hình thức tổ chức khai thác nguồn lợi nghêu, sò huyết 93
4.5.2. Các hình thức tổ chức sản xuất thương phẩm nghêu – sò huyết 94
4.5.3. Đánh giá về các hình thức tổ chức sản xuất, khai thác nguồn lợi nghêu, sò huyết 104
4.5.4. Đánh giá chung các mô hình quản lý 110
4.5.5. Đánh giá xu hướng biến động nguồn lợi nghêu – sò huyết 111
PHẦN V 144
XÂY DỰNG MÔ HÌNH THỰC NGHIỆM BẢO VỆ VÀ PHÁT TRIỂN NGUỒN LỢI NGHÊU, SÒ HUYẾT TẠI 3 TỈNH TIỀN GIANG, BẾN TRE VÀ TRÀ VINH .144
5.1. Mục tiêu xây dựng mô hình 145
5.2. Phạm vi xây dựng mô hình 145
5.3. Tiêu chí xây dựng mô hình 145
5.4. Vị trí xây dựng mô hình 146
5.5. Nội dung xây dựng mô hình 146
5.6. Cơ sở khoa học để xác định xây dựng mô hình thực nghiệm bảo vệ nguồn lợi nghêu, sò huyết vùng ven biền 3 tỉnh Tiền Giang, Bến Tre và Trà Vinh 147
5.6.1. Cơ sở khoa học để xác định xây dựng mô hình thực nghiệm bảo vệ nguồn lợi nghêu tỉnh Tiền Giang 147
5.6.2. Cơ sở khoa học để xác định xây dựng mô hình thực nghiệm bảo vệ nguồn lợi nghêu, sò huyết tỉnh Bến Tre 153
5.6.3. Cơ sở khoa học để xác định xây dựng mô hình thực nghiệm bảo vệ nguồn lợi nghêu tỉnh Trà Vinh 164
5.7. Các giải pháp KH&CN áp dụng cho mô hình 166
5.7.1. Khoanh vùng khu vực bố mẹ, khu giống, khu nuôi thương phẩm, định hướng phát triển 166
Trang 85.7.3. Giải pháp kỹ thuật nuôi đối với vùng nuôi sò thương phẩm 171
5.7.4. Xác định giải pháp môi trường phục vụ vùng nuôi 173
5.7.5. Xác định giải pháp về kỹ thuật khai thác và bảo vệ hợp lý nguồn lợi nghêu bố mẹ và nghêu giống 174
5.7.6. Giải pháp tuyên truyền kêu gọi bảo vệ nguồn lợi thủy sản trong đó có nguồn lợi nhuyễn thể 181
5.7.7. Xây dựng các giải pháp quản lý và vận hành mô hình 181
5.8. Đánh giá việc xây dựng mô hình bảo vệ và phát triển nguồn lợi nghêu Meretrix lyrata (Sowerby, 1851), sò huyết Andara granosa (Linaeus, 1758) vùng cửa sông ven biển tỉnh Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh và đề xuất cơ chế chính sách xây dựng mô hình 191
5.8.1. Hiệu quả kinh tế 191
5.8.2. Hiệu quả xã hội 191
5.8.3. Hiệu quả môi trường 192
PHẦN VI 193
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 193
6.1. Kết luận 193
6.2. Kiến nghị 195
TÀI LIỆU THAM KHẢO 197
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 2 1: Dự báo sản lượng thủy sản Việt Nam đến năm 2020 34
Bảng 2.2 Dự báo sản lượng thủy sản thế giới đến năm 2030 35
Bảng 2.3 Dự báo nhu cầu tiêu thụ thủy sản thế giới đến năm 2030 36
Bảng 2.4 Cân đối nhu cầu tiêu thụ thủy sản đến năm 2030 37
Bảng 2.5 Dự báo sản lượng NTHMV thế giới theo đối tượng đến năm 2015 37
Bảng 2.6 Dự báo sản lượng NTHMV thế giới theo quốc gia đến năm 2015 38
Bảng 2.7 Dự báo sản lượng nuôi sò huyết thế giới đến năm 2015 38
Bảng 3.1 Phương pháp phân tích các chỉ tiêu môi trường nước 44
Bảng 4.1 Số giờ nắng trung bình theo ngày và tháng các vùng khảo sát 56
Bảng 4.2 Các đặc trưng thống kê nhiệt độ không khí ở các vùng nghiên cứu 56
Bảng 4.3 Biến trình nhiệt độ nước biển ngày, đêm, biên độ nhiệt ngày – đêm hàng tháng (từ số liệu xử lý ảnh MODIS 2001 – 2009) .59
Bảng 4.4 Hoạt động tài chính của HTX đối với nguồn lợi tự nhiên 94
Bảng 4.5 Tình hình sản xuất nghêu giống trong vùng giai đoạn 2006- 2009 của tỉnh TG .95
Bảng 4.6 Hoạt động tài chính của HTX đối với nguồn lợi nuôi 101
Bảng 4.7 Thông tin về diện tích của một số THT/HTX vùng nghiên cứu 102
Bảng 4.8 Diện tích và sản lượng nuôi nghêu – sò huyết tại Tiền Giang, GĐ 2001-2009 .111
Bảng 4.9 Diện tích và sản lượng nuôi nghêu tại Gò Công Đông, GĐ 2001-2009 113
Bảng 4.10 Diện tích và sản lượng nuôi nghêu tại Bến Tre, GĐ 2001-2009 114
Bảng 4.11 Diện tích và sản lượng nuôi nghêu tại Bình Đại, GĐ 2001-2009 116
Bảng 4.12 Mối quan hệ giữa doanh thu và sản lượng khai thác nguồn lợi tự nhiên tại HTX Rạng Đông và Đồng Tâm, GĐ 2001-2009 119
Bảng 4.13 Diện tích và sản lượng nuôi nghêu tại Ba Tri, GĐ 2001-2009 121
Bảng 4.14 Diện tích và sản lượng nuôi nghêu tại Thạnh Phú, GĐ 2001-2009 123
Bảng 4.15 Diện tích và sản lượng nuôi nghêu tại Trà Vinh, GĐ 2001-2009 125
Bảng 4.16 Diện tích và sản lượng nuôi nghêu tại Duyên Hải, GĐ 2001-2009 128
Trang 10DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1 Vị trí vùng nghiên cứu 2
Hình 1.2 Hình ảnh nghêu và sò huyết 3
Hình 2.1 Vị trí phân bố nguồn lợi nghêu Meretrix lyrata (Sowerby,1851) ở ĐBSCL 8
Hình 3.1 Sơ đồ khối phương pháp luận của đề tài 40
Hình 3.2 Quy trình tổng quát về nhận dạng và phân tích biến động đường mép nước tương ứng từng thời kỳ khác nhau 41
Hình 3.3 Sơ đồ kỹ thuật rút trích đường bờ 42
Hình 4.1 Tần suất (%) các hướng gió theo các tháng trong năm 57
Hình 4.2 Toàn cảnh ĐBSCL năm 1973 (1); 1988 (2); 1998 (3) và 2008 (4) từ các bộ ảnh ghép từ ảnh Landsat MSS, MESSR, VNIR và AVNIR2 65
Hình 4.3 Biến động đường bờ khu vực ven biển Gò Công – Tiền Giang từ năm 1973 đến năm 2008 (từ dữ liệu ảnh viễn thám đa thời gian) .66
Hình 4.4 Biến động đường bờ khu vực ven biển Bến Tre từ năm 1973 đến năm 2008 (từ dữ liệu ảnh viễn thám đa thời gian) 67
Hình 4.5 Biến động đường bờ khu vực ven biển Trà Vinh từ năm 1973 đến năm 2008 (từ dữ liệu ảnh viễn thám đa thời gian) .68
Hình 4.6 Thành phần loài tảo tại các bãi nghêu, sò huyết trong vùng nghiên cứu 69
Hình 4.7 Biến động thành phần loài và mật độ tảo tại các bãi nghêu, sò tỉnh Tiền Giang .70
Hình 4.8 Biến động thành phần loài và mật độ tảo tại các bãi nghêu, sò tỉnh Bến Tre 71
Hình 4.9 Biến động thành phần loài và mật độ tảo tại các bãi nghêu tỉnh Trà Vinh 71
Hình 4.10 Biến động tỉ lệ mùn bã hữu cơ và tảo trong dạ dày nghêu 72
Hình 4.11 Biến động tỉ lệ mùn bã hữu cơ và tảo trong dạ dày sò huyết 73
Hình 4.12 Tương quan giữa chiều dài và trọng lượng của nghêu 74
Hình 4.13.Tương quan giữa chiều dài và trọng lượng của sò huyết 74
Hình 4.14 Chỉ số điều kiện qua các tháng của nghêu ở Tiền Giang 77
Hình 4.15 Biến động các giai đoại phát triển tuyến sinh dục nghêu ở Tiền Giang 77
Hình 4.16 Chỉ số điều kiện qua các tháng của nghêu ở Bến Tre 78
Hình 4.17 Biến động các giai đoại phát triển tuyến sinh dục nghêu ở Bến Tre 79
Hình 4.18 Chỉ số điều kiện qua các tháng của nghêu ở Trà Vinh 79
Hình 4.19 Biến động các giai đoại phát triển tuyến sinh dục nghêu ở Trà Vinh 80
Hình 4.20 Thời gian nghêu giống thường xuất hiện trong năm 80
Hình 4.21 Biến động các giai đoại phát triển tuyến sinh dục sò huyết ở Tiền Giang và Bến Tre 81
Trang 11Hình 4.22 Thời gian sò huyết giống thường xuất hiện trong năm 82
Hình 4.23 Thời gian xuất hiện gió chướng trong năm 83
Hình 4.24 Thời gian có nhiệt độ cao trong năm 84
Hình 4.25 Thời gian bãi thường bị lấp bùn trong năm 85
Hình 4.26 Thời gian nghêu – sò thường chết trong năm 86
Hình 4.27 Thời điểm thả giống và thu hoạch nghêu ở Tân Thành 87
Hình 4.28 Thời gian thu hoạch nghêu tốt trong năm 87
Hình 4.29 Thu hoạch nghêu thương phẩm 88
Hình 4.30 Thời gian thu hoạch sò tốt trong năm 89
Hình 4.31 Các bãi nuôi sò huyết Bến Tre và Trà Vinh 91
Hình 4.32 Mối quan hệ giữa thời gian nuôi và kích cỡ giống 91
Hình 4.33 Sơ đồ cơ cấu tổ chức BQL Cồn bãi ở Tân Thành – Tiền Giang 93
Hình 4.34 Sơ đồ ương nghêu giống trong bạt, ao đất 96
Hình 4.35 Mô hình phân chia bãi nuôi nghêu 97
Hình 4.36 Sơ đồ về hệ thống quản lý khai thác và nuôi nghêu tại Tiền Giang 98
Hình 4.37 Sơ đồ mô tả phương thức nuôi nghêu tư nhân ở Tân Thành (năm 2009) 99
Hình 4.38 Mô hình và mạng lưới quản lý khai thác và nuôi nghêu ở Bến Tre năm 2009 .100
Hình 4.39 Sơ đồ về hệ thống quản lý khai thác và nuôi nghêu 102
Hình 4.40 Xu hướng biến động diện tích và sản lượng nghêu tại Tiền Giang GĐ 2001-2009 112
Hình 4.41 Xu hướng biến động diện tích và sản lượng sò huyết tại Tiền Giang GĐ 2001-2009 113
Hình 4.42 Xu hướng biến động diện tích và sản lượng nghêu tại Gò Công Đông GĐ 2001-2009 114
Hình 4.43 Xu hướng biến động diện tích và sản lượng nghêu tại Bến Tre, GĐ 2001-2009 115
Hình 4.44 Xu hướng biến động diện tích và sản lượng sò huyết tại Bến Tre, GĐ 2001-2009 116
Hình 4.45 Xu hướng biến động diện tích và sản lượng nghêu tại Bình Đại, GĐ 2001-2009 117
Hình 4.46 Xu hướng biến động diện tích và sản lượng nghêu tại Bình Đại, GĐ 2001-2009 120
Hình 4.47 Xu hướng biến động diện tích và sản lượng nghêu tại Ba Tri, GĐ 2001-2009 121
Hình 4.48 Xu hướng biến động diện tích và sản lượng sò huyết tại Ba Tri, GĐ
Trang 12Hình 4.49 Xu hướng biến động diện tích và sản lượng nghêu tại Thạnh Phú, GĐ
Hình 5.1 Hình thái địa hình, hiện trạng sử dụng đất và các vị trí sò giống (xử lý từ ảnh
vệ tinh AVNIR2 ngày 28/8/2008 kết hợp số liệu khảo sát hiện trường) 148
Hình 5.2 Các vị trí nghêu giống, sò giống, nghêu bố mẹ (xử lý từ ảnh vệ tinh AVNIR2 ngày 28/8/2008 kết hợp số liệu khảo sát hiện trường) 149
Hình 5.3 Địa hình bãi nghêu Tân Thành và Cồn Ngang năm 2003 chiết tách từ tư liệu ảnh vệ tinh Landsat ETM+ đa thời gian 151
Hình 5.4.Các vị trí nghêu, sò giống, nghêu bố mẹ ở Bình Đại – Bến Tre (xử lý từ ảnh vệ tinh AVNIR2 ngày 28/8/2008 kết hợp số liệu khảo sát hiện trường) 154
Hình 5.5 Bãi nghêu giống rộng lớn của HTX nghêu Rạng Đông (ảnh khảo sát thực địa, chụp ngày 19/6/2008) 155
Hình 5.6 Mùn bã hữu cơ từ rừng ngập mặn là một nguồn thức ăn quan trọng cho nghêu con (ảnh khảo sát thực địa ở gần bãi nghêu, chụp ngày 19/6/2008) 156
Hình 5.7 Biến động của hình thái bãi ở Bình Đại theo thời gian 157
Hình 5.8 Dự báo về xu thế bồi lấp và tôn cao bãi Thới Thuận dẫn đến các bãi Nghêu bị thu hẹp diện tích đáng kể trong 10 – 15 năm tới 158
Hình 5.9 Các vị trí nghêu, sò giống, nghêu bố mẹ ở Ba Tri – Bến Tre (xử lý từ ảnh vệ tinh AVNIR2 ngày 28/8/2008 kết hợp số liệu khảo sát hiện trường) 159
Hình 5.10 Địa hình bãi triều Ba Tri năm 2003 chiết tách từ tư liệu ảnh vệ tinh Landsat ETM+ đa thời gian đối sánh với tài liệu ảnh viễn thám năm 2008 cho thấy vị trí bãi bùn hiện tại có bề dày khoảng 2,5 – 3,0 m có thể thích hợp cho nuôi sò 160
Hình 5.11 Các vị trí nghêu, sò giống, nghêu bố mẹ ở Thạnh Phú – Bến Tre (xử lý từ ảnh
vệ tinh AVNIR2 ngày 28/8/2008 kết hợp số liệu khảo sát hiện trường) 162
Hình 5.12 Các vị trí nghêu, sò giống, nghêu bố mẹ ở Trà Vinh (xử lý từ ảnh vệ tinh AVNIR2 ngày 28/8/2008 kết hợp số liệu khảo sát hiện trường) 165
Hình 5.13 Ngư cụ khai thác nghêu giống và nghêu thương phẩm 175
Hình 5.14 Các bên tham gia đồng quản lý nguồn lợi nghêu khu bảo tồn của HTX 182
Hình 5.15 Sơ đồ về tổ chức quản lý và hoạt động điều hành của HTX xây dựng mô hình 188
Trang 13DANH MỤC BẢN ĐỒ
Bản đồ Mô hình bảo vệ và phát triển nguồn lợi nghêu, sò huyết vùng cửa sông ven biển
Tiền Giang sau trang 152 Bản đồ Mô hình bảo vệ và phát triển nguồn lợi nghêu, sò huyết vùng cửa sông ven biển
Bến Tre sau trang 163 Bản đồ Mô hình bảo vệ và phát triển nguồn lợi nghêu, sò huyết vùng cửa sông ven biển
Trà Vinh sau trang 165
Trang 14CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BVNLTS Bảo vệ nguồn lợi thủy sản
QCCT Quảng canh cải tiến
QLDVCĐ/ĐQL Quản lý dựa vào cộng đồng/Đồng quản lý QSD Quyền sử dụng
SXKD Sản xuất kinh doanh
TCTD Tổ chức tín dụng
THT Tổ hợp tác
THT/HTX Tổ hợp tác/Hợp tác xã
Viện NCNTTS II Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản II VSATTP Vệ sinh an toàn thực phẩm
XK Xuất khẩu
Trang 15PHẦN I GIỚI THIỆU
1.1 Mở đầu
Trong những năm gần đây, nuôi động vật thân mềm ở vùng ven biển Việt Nam đang có xu hướng phát triển mạnh, đặc biệt là nuôi nghêu, ngao, sò huyết, ốc hương, vẹm xanh, hầu, vọp Hàng chục năm qua nghề nuôi nghêu ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) đã góp phần giải quyết công ăn việc làm cho hàng chục ngàn cư dân nghèo ven biển Từ khi nghêu được thị trường quốc tế công nhận đạt tiêu chuẩn an toàn vệ sinh thì nhu cầu chế biến xuất khẩu tăng mạnh, sản lượng nghêu không đủ cung cấp.Giá nghêu thương phẩm tăng lên và nhu cầu nuôi nghêu được mở rộng Tại các địa phương ven biển, hình thành nên hàng trăm các cơ sở sản xuất kinh doanh trong ngành hàng nghêu theo nhiều hình thức như: tư nhân, nhóm cá thể, tổ hợp tác, hợp tác xã Nghề nuôi nghêu đã đem lại lợi nhuận đáng kể cho người dân, góp phần xóa đói giảm nghèo và cải thiện đời sống của cộng đồng dân cư ven biển Giải quyết việc làm và tăng thu nhập cho hàng vạn người lao động nhất là những người nông dân nghèo sống ở vùng ven biển Tuy nhiên cũng từ đó phát sinh tình trạng “trộm nghêu” tràn lan, có nơi tập trung hàng ngàn người khai thác vô tội vạ, đe dọa hủy diệt bãi nghêu, ảnh hưởng đến an ninh trật tự cuộc sống an lành của cư dân vùng ven biển
Diện tích tiềm năng để phát triển 2 đối tượng nghêu và sò huyết của 3 tỉnh Tiền Giang, Bến Tre và Trà Vinh là rất lớn nhưng khai thác đưa vào nuôi trồng rất thấp so với tiềm năng, lý do rất quan trọng là nguồn giống không cung cấp đủ nhu cầu nuôi, khâu quản lý các bãi nghêu, sò giống và bố mẹ chưa được quản lý chặt chẽ, dẫn đến các bãi này bị xâm hại ảnh hưởng đến nguồn lợi quí giá này
Sản lượng và diện tích nuôi nghêu vùng ven biển ĐBSCL ngày càng một tăng cao, không những các tỉnh vùng ĐBSCL mà các tỉnh ven biển miền Trung, miền Bắc đã
vào Nam di giống loài nghêu Bến Tre Meretrix lyrata (Sowerby) ra nuôi tại các tỉnh phía
Bắc đã thành công cho sản lượng cao, góp phần cải thiện đời sống của người dân nơi đây
Tuy nhiên, do mỗi vùng có những đặc thù riêng về điều kiện tự nhiên, khả năng tổ chức điều hành sản xuất, nguồn vốn, khả năng tiếp cận khoa học kỹ thuật và thị trường nên việc phát triển còn rất khác nhau ở từng vùng, thậm chí cả trong nội vùng của một tỉnh việc phát triển này cũng chưa tương xứng với tiềm năng và lợi thế hiện có
Để góp phần tìm ra được mô hình quản lý nuôi nghêu và sò huyết vừa mang tính hiệu quả trong khai thác, vừa mang tính bảo tồn, vừa mang tính sản xuất nuôi trồng tối
ưu, cần đánh giá đúng xu hướng nguồn lợi hiện tại, cách tổ chức quản lý khai thác ra sao
để rút ra bài học cho việc xây dựng mô hình quản lý hiệu quả Được sự nhất trí và cung cấp kinh phí của Bộ Khoa học và Công nghệ, đơn vị thực hiện Phân viện Quy hoạch Thủy sản phía Nam đã phối hợp các địa phương trong vùng nghiên cứu, các Viện, Trường trong khu vực phía Nam thực hiện nhiệm vụ: “Nghiên cứu xây dựng mô hình
bảo vệ và phát triển nguồn lợi nghêu Meretrix lyrata (Sowerby,1851), sò huyết Andara
granosa (Linaeus,1758) ở vùng cửa sông ven biển Tiền Giang, Bến Tre và Trà Vinh”
Trang 161.2 Mục tiêu nhiệm vụ
1.2.1 Mục tiêu lâu dài
Bảo vệ và phát triển hợp lý nguồn lợi, bảo tồn nguồn giống nghêu Meretrix lyrata
(Sowerby,1851), sò huyết Andara granosa (Linaeus,1758) góp phần phát triển bền vững
nguồn lợi thủy sản vùng bãi bồi, tạo công ăn việc làm và ổn định thu nhập cho cư dân địa phương ven biển 3 tỉnh Tiền Giang, Bến Tre và Trà Vinh
1.3 Phạm vi, thời gian, nội dung sản phẩm của nhiệm vụ
1.3.1 Phạm vi nghiên cứu nhiệm vụ
Phạm vi nghiên cứu của nhiệm vụ là vùng cửa sông ven biển 3 tỉnh Tiền Giang, Bến Tre và Trà Vinh trên những vùng phân bố nguồn lợi nghêu, sò huyết
Hình 1.1 Vị trí vùng nghiên cứu
Trang 17Đối tượng nghiên cứu: nghêu và sò huyết
Sò huyết Andara granosa (Linaeus,1758) Nghêu Meretrix lyrata (Sowerby,1851)
Hình 1.2 Hình ảnh nghêu và sò huyết
1.3.2 Thời gian nghiên cứu
Từ tháng 6/2008-11/2010
1.3.3 Nội dung nhiệm vụ
(i) Nghiên cứu đặc điểm địa lý, môi trường sinh thái của các vùng phân bố tự nhiên của nguồn lợi (nghêu và sò huyết) và sự biến động của các đặc điểm này đến sự biến động nghêu và sò huyết trong vùng nghiên cứu
- Nghiên cứu các yếu tố môi trường, sa cấu nền đáy vùng phân bố nguồn lợi nghêu,
sò, khí tượng thủy văn ảnh hưởng đến sự phân bố của nghêu, sò huyết trong vùng nghiên cứu
- Nghiên cứu đánh giá tác động của các yếu tố (dòng chảy, thủy triều, dòng bồi tích) đến sự phân bố và biến động nghêu, sò ở bãi triều ven biển tỉnh Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh
- Nghiên cứu đánh giá nguồn lợi nghêu, sò huyết ở vùng cửa sông ven biển tỉnh Tiền Giang, Bến Tre và Trà Vinh: trữ lượng, sản lượng, mùa vụ xuất hiện, kích cỡ
và thời điểm khai thác, nghiên cứu các ngư cụ trong việc khai thác nguồn lợi 2 đối tượng này
- Nghiên cứu đặc điểm sinh học nghêu và sò huyết: Đặc điểm sinh trưởng, dinh dưỡng, sinh sản
- Xây dựng bản đồ phân bố nguồn lợi nghêu, sò huyết trong vùng nghiên cứu
(ii) Nghiên cứu, đánh giá thực trạng nuôi trồng, khai thác nguồn lợi nghêu, sò huyết, hiện trạng kinh tế xã hội, chủ trương chính sách, thể chế hiện hành của địa phương và tác động của chúng đến sự phát triển nguồn lợi nghêu, sò huyết
- Đánh giá thực trạng nuôi trồng và khai thác nghêu, sò của vùng nghiên cứu diễn biến qua các năm 2001-2009
- Nghiên cứu đánh giá các hoạt động kinh tế của cộng đồng cư dân địa phương
Trang 18- Nghiên cứu đặc điểm tình hình văn hóa (học vấn, văn hóa địa phương) và cơ cấu lao động Trên cơ sở đánh giá sự nhận thức của người dân trong việc khai thác và bảo vệ nguồn lợi nghêu, sò trong vùng nghiên cứu
- Nghiên cứu đánh giá vai trò của cộng đồng trong việc bảo vệ, phát triển nguồn lợi
- Nghiên cứu các vấn đề ngoại cảnh tác động đến vùng nghiên cứu
• Các ngành kinh tế trong khu vực vùng nghiên cứu
• Các dự án đang và sẽ được thực hiện trong nghiên cứu
• Các tác động tự nhiên của vùng ven bờ đến vùng nghiên cúu
- Nghiên cứu chính sách, thể chế tại địa phương có liên quan đến các khu bảo vệ:
(iii) Nghiên cứu xây dựng 4 mô hình thực nghiệm khu bảo vệ nguồn lợi nghêu, sò huyết cụ thể:
- Tại Bến Tre: Xây dựng mô hình thực nghiệm khu bảo vệ nguồn lợi nghêu và sò huyết
- Tại Tiền Giang và Trà Vinh: Xây dựng mô hình thực nghiệm khu bảo vệ nguồn lợi nghêu
- Nội dung xây dựng mô hình:
+ Xác định quy mô: diện tích vùng lõi, vùng đệm, vùng phát triển;
+ Xác định các giải pháp KH&CN áp dụng cho mô hình;
+ Xây dựng các giải pháp quản lý và vận hành mô hình;
+ Sơ bộ đánh giá hiệu quả KT-XH của mô hình
1.3.4 Sản phẩm của nhiệm vụ nghiên cứu
Báo cáo tổng hợp khoa học kỹ thuật của đề tài
Báo cáo tóm tắt tổng hợp khoa học kỹ thuật của đề tài
Báo cáo chuyên đề:
1 Cơ sở khoa học xây dựng mô hình khu bảo vệ nguồn lợi nghêu, sò huyết vùng ven biển tỉnh Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh
2 Đánh giá chất lượng môi trường nước, đặc điểm khí tượng thủy văn trong vùng nghiên cứu
3 Đánh giá các điều kiện dòng chảy, chất đáy, sự bồi lắng, xói lở trong vùng nghiên cứu
4 Đánh giá nguồn lợi, trữ lượng, sự phân bố đặc điểm sinh học nghêu, sò huyết giống và bố mẹ trong vùng nghiên cứu
5 Đánh giá hiện trạng nuôi trồng, khai thác, xu thế biến động, tình hình quản lý
và các thể chế chính sách tác động đến việc bảo vệ, khai thác, phát triển nguồn lợi nghêu, sò huyết trong vùng nghiên cứu
6 Bản đồ hiện trạng vùng nghiên cứu và bản đồ xây dựng các khu bảo vệ tại vùng nghiên cứu
Trang 197 Phân tích, dự báo thị trường tiêu thụ sản phẩm nghêu, sò huyết trong nước và thế giới
8 Chuyên đề mô hình xây dựng khu bảo vệ nguồn lợi nghêu Meretrix lyrata
(Sowerby,1851) vùng cửa sông ven biển tại Bến Tre
9 Chuyên đề mô hình xây dựng khu bảo vệ nguồn lợi sò huyết Andara granosa
(Linaeus,1758) vùng cửa sông ven biển tại Bến Tre
10 Chuyên đề mô hình xây dựng khu bảo vệ nguồn lợi nghêu Meretrix lyrata
(Sowerby,1851) vùng cửa sông ven biển tại Tiền Giang
11 Chuyên đề mô hình xây dựng khu bảo vệ nguồn lợi nghêu Meretrix lyrata
(Sowerby,1851) vùng cửa sông ven biển tại Trà Vinh
12 Tập hình ảnh thực hiện đề tài: Nghiên cứu xây dựng mô hình bảo vệ và phát
triển nguồn lợi nghêu Meretrix lyrata (Sowerby,1851), sò huyết Andara
granosa (Linaeus,1758) ở vùng cửa sông ven biển Tiền Giang, Bến Tre, Trà
Vinh
Sản phẩm phụ của đề tài
- Dựa trên kết quả của đề tài, 6 học viên cao học của các trường Đại học Cần Thơ,
Đại học Nha Trang và Đại học Nông Lâm T/p Hồ Chí Minh làm luận án tốt nghiệp Cao học thành công
(1) Tên luận án: Đánh giá thực trạng khai thác, nuôi và phát triển nguồn lợi nghêu
Meretrix lyrata (Sowerby, 1851) ở vùng ven biển tỉnh Trà Vinh
+ Học viên: Lê Hoàng Bảo + Cơ sở đào tạo: Đại Học Cần Thơ + Năm bảo vệ: 2010
+ Điểm bảo vệ: 9,4 điểm
(2) Tên luận án: Một số yếu tố môi trường của hệ sinh thái bãi nghêu Meretrix lyrata
(Sowerby, 1851) ở cồn Ông Mão và Cồn Ngang tỉnh Tiền Giang
+ Học viên: Văn Ngọc Tuấn + Cơ sở đào tạo: Đại Học Cần Thơ + Năm bảo vệ: 2010
+ Điểm bảo vệ: 8,9 điểm
(3) Tên luận án: Nâng cao hiệu quả đồng quản lý nguồn lợi nghêu Meretrix lyrata
(Sowerby, 1851)
+ Học viên: Lê Đức Liêm + Cơ sở đào tạo: Trường ĐH Nông Lâm T/p.HCM + Năm bảo vệ: 2010
+ Điểm bảo vệ: 8,8 điểm
Trang 20(4) Tên luận án: Phân tích những thất bại của thị trường nghêu trắng ở tỉnh Tiền Giang
+ Học viên: Trần Hoài Giang + Cơ sở đào tạo: Trường ĐH Nông Lâm T/p.HCM + Năm bảo vệ: 2011
+ Điểm bảo vệ: 9,1 điểm
(5) Tên luận văn: Phân tích các nguồn lực phát triển nghề nuôi nghêu Meretrix lyrata
(Sowerby, 1851) bền vững tại tỉnh Trà Vinh
+ Học viên: Nguyễn Thị Thu Thảo + Cơ sở đào tạo: Trường ĐH Nông Lâm T/p.HCM + Năm bảo vệ: 2011
+ Điểm bảo vệ: 8,9 điểm
(6) Tên luận án: Hiện trạng, tiềm năng và các giải pháp bảo vệ, phát triển bền vững
nguồn lợi nghêu Meretrix lyrata (Sowerby, 1851) huyện Bình Đại –
tỉnh Bến Tre
+ Học viên: Phan Song Toàn + Cơ sở đào tạo: Trường ĐH Nha Trang, Năm bảo vệ: 2010 + Điểm bảo vệ: 8 điểm
• Bài báo, tạp chí và phim tài liệu khoa học:
- Tạp chí Bộ NN&PTNT số ra quí 1/2009 đăng trọn 1 bài báo cáo kết quả nghiên
cứu giải pháp phát triển nguồn lợi nghêu Bến Tre (32 trang)
- Một bài báo sẽ được đăng tạp chí quốc tế, đã chấp nhận sẽ đăng vào tháng 5/2011,
tên bài “The Relationship between Conditions and the formation and Development of Clam Grounds (Meretrix lyrata) in the Mekong delta” (33 trang)
- Bài đăng sách “Ứng dụng công nghệ GIS và viễn thám trong việc xây dựng mô
hình bảo vệ và phát triển nguồn lợi nhuyễn thể ven bờ vùng ĐBSCL, sẽ được in trong quyển sách “Chính sách ngành thủy sản Việt Nam, Fisheries policies Viet Nam”, 5/2011 Viện KT&QHTS, Tổng Cục TS, Bộ NN&PTNT, NXB Nông Nghiệp (19 trang)
- Một bộ phim khoa học “Bảo tồn nguồn lợi nhuyễn thể vùng đất bồi ven biển” thời
lượng 30 phút, đã phát sóng trên kênh VTC14 Đài truyền hình Việt Nam lúc 20h30’, ngày 18/05/2011
Trang 21PHẦN II TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Hệ thống phân loại, phân bố và hình thái của nghêu Bến Tre Meretrix Lyrata (Sowerby, 1851)
Loài Nghêu: Meretrix lyrata (Sowerby, 1851)
Tên tiếng Anh: Lyrate Asiatic Hard Clam
Tên địa phương: Nghêu Bến Tre, nghêu
Loài nghêu Bến Tre Meretrix lyrata (Sowerby, 1851) đã được Bộ Thủy sản Việt
Nam xếp vào danh mục các loài thủy sản có giá trị kinh tế cao ở Việt Nam
2.1.2 Phân bố
Theo Nguyễn Chính (1996) thì vùng phân bố của nghêu là ở vùng biển ấm Tây Thái Bình Dương từ biển Đài Loan đến Việt Nam, trong đó vùng có sản lượng cao nhất
là ven biển thuộc tỉnh Tiền Giang và tỉnh Bến Tre
Cũng theo Nguyễn Chính (1996), ở Việt Nam hiện nay có khoảng 6 loài thuộc họ
Veneridae trong đó có hai loài thuộc giống Meretrix, 1 loài thuộc giống Cyclina, 2 loài
thuộc giống Anomalocardia và 1 loài thuộc giống Ktelisia Ở ĐBSCL chỉ có loài
Meretrix lyrata (Sowerby, 1851) là phân bố với mật độ cao, các loài khác như Meretrix meretrix phân bố với mật độ rất thấp
Cụ thể hơn, theo Nguyễn Hữu Phụng (1996), ở ĐBSCL, loài nghêu Meretrix
lyrata (Sowerby, 1851) phân bố ở Cần Giờ (T/p.HCM), Gò Công Đông (Tiền Giang),
Bình Đại, Ba Tri, Thạnh Phú (Bến Tre), Cầu Ngang, Duyên Hải (Trà Vinh), Vĩnh Châu (Sóc Trăng), Bạc Liêu, Vĩnh Lợi (Bạc Liêu), Ngọc Hiển (Cà Mau)
Theo một số tài liệu về sinh học vùng triều (Nybakken, 1997), phân bố của nhiều sinh vật thường hình thành đai theo độ cao bãi triều Kết quả đo đạc vùng có nghêu con
phân bố vào năm 1998 trong khảo sát vùng phân bố nghêu giống Meretrix lyrata
(Sowerby, 1851) ở Gò Công Đông của Võ Sĩ Tuấn (1999) cho thấy chúng tập trung ở độ cao từ khoảng 0,8 - 1,5m so với cao độ hải đồ
Trang 22Các đặc trưng phân bố của nghêu cũng đã được một số tác giả nghiên cứu cho thấy nghêu phân bố ở vùng triều thấp, thời gian phơi bãi từ 2 - 8 giờ/ngày Độ sâu cực đại tìm thấy nghêu lúc nước ròng là 1,5 - 2,5 m Nghêu phân bố ở vùng có nền đáy cát mịn đến cát trung có pha lẫn bùn lỏng (10-18%), vào mùa mưa bùn lỏng bao phủ nền đáy bãi nghêu (1,5 - 2,5 cm) Độ mặn từ 7 - 25‰, nhiệt độ là 26 - 32oC, các yếu tố môi trường đặc trưng của bãi nghêu biến đổi theo mùa rõ rệt, chúng đều phụ thuộc vào lượng
mưa lũ tràn qua vùng rừng ngập mặn đổ ra các bãi nghêu (Nguyễn Tác An và Nguyễn
Văn Lục, 1994) Nghêu thích hợp sinh sống ở những vùng có nền đáy cát bùn với tỉ lệ cát
từ 60-90%, cát bùn có cấp hạt từ 0,062 - 0,25mm Phân bố chủ yếu ở vùng trung triều và dưới triều, nơi có độ dốc tương đối bằng phẳng, ít dốc, cấu trúc nền đáy hơi xốp để thuận lợi cho việc vùi mình của nghêu Trong tự nhiên, chưa thấy nghêu phân bố ở vùng đáy
bùn hay đất sét (Nguyễn Hữu Phụng (1996a))
Hình 2.1 Vị trí phân bố nguồn lợi nghêu Meretrix lyrata (Sowerby,1851) ở ĐBSCL
Các nghiên cứu về nền đáy tại vùng phân bố nghêu tự nhiên
Theo nghiên cứu của Viện NCNTTS II (1999), thành phần cơ giới đất ở các bãi
nghêu ở ĐBSCL chủ yếu là cát mịn (68- 75%); thành phần cơ giới phù sa chủ yếu là cát (65- 72%); thành phần hóa học của đất nền bãi và phù sa không có sự khác biệt lớn Căn
cứ vào các kết quả phân tích thành phần cơ giới và hóa học của đất nền bãi và phù sa, tác giả đưa ra nhận xét rằng: cơ cấu nền bãi nghêu giống và nghêu thương phẩm chủ yếu được cấu tạo do sự bồi lắng phù sa Không có sự khác biệt nhau nhiều trong thành phần hóa học của đất nền bãi và phù sa tại các khu vực khảo sát khác nhau Các yếu tố kim loại tuy có biến động theo thời gian thu mẫu nhưng các yếu tố dinh dưỡng như Nitơ và Photpho thì tương đối ổn định theo thời gian
Dựa vào các kết quả quan trắc và phân tích (2 đợt khảo sát vào mùa mưa và 1 đợt khảo sát vào mùa khô), sau khi so sánh hàm lượng C hữu cơ, N hữu cơ và P tổng số ở
Trang 23Nam cồn Ông Mão và Cồn Ngang (Gò Công Đông – Tiền Giang) vào 2 thời điểm (tháng
8/1997- không có nghêu con và tháng 7/1998- nhiều nghêu con), Võ Sĩ Tuấn (1999) đưa
ra nhận định sơ bộ rằng nghêu con thích nghi với nền đáy có độ chọn lọc tương đối cao, cấp hạt cát nhỏ và cát rất nhỏ chiếm ưu thế tuyệt đối, ít bùn sét, đồng thời cũng đặt ra giả thiết rằng nghêu con phát triển thuận lợi trong điều kiện chất đáy có hàm lượng N hữu cơ
và P tổng số thấp hơn
Theo Trương Quốc Phú (1999) thì vùng phân bố tự nhiên của nghêu ở khu vực
gần cửa sông có chất đáy là cát bùn, trong đó cát chiếm 80- 90% và bùn chiếm 9- 14%
Các yếu tố khí tượng thủy văn tại vùng phân bố
Chế độ dòng chảy vùng triều ven biển nơi nghêu phân bố là sự kết hợp động lực của quá trình mưa lũ và thủy triều Cấu trúc dòng chảy khá phức tạp ở vùng giao thoa giữa sông và biển, chúng đã tạo nên vùng giáp nước có đặc trưng riêng về động lực Vùng giáp nước thường có cấu trúc dòng biến đổi theo độ sâu, dòng chảy giảm dần từ mặt xuống và có hướng ngược với tầng mặt Hiện tượng này tạo ra cho vùng giáp nước
là nơi tích tụ vật chất từ sông đưa ra và từ biển đưa vào Đó chính là nơi hình thành các bãi nghêu giống ở cửa sông Ba Lai, Hàm Luông, Cổ Chiên, Cung Hầu Xu thế chung của dòng chảy cho thấy các bãi nghêu ở cửa sông Ba Lai sẽ mở rộng và lấn dài ra biển, các bãi ở cửa Hàm luông có xu hướng kéo dài ra biển và mở rộng lên phía Bắc, các bãi ở Thừa Đức sẽ dịch chuyển và bồi dần về phía Nam
Qua các số liệu quan trắc của đài khí tượng thủy văn khu vực Nam Bộ thì nhiệt độ không khí trung bình cao nhất ở Mỹ Tho (Tiền Giang) và Ba Tri (Bến Tre) trong năm
1998 là 29,8oC vào tháng 5 với biên độ nhiệt trong tháng này dao động từ 24,3oC đến
36oC Nhiệt độ không khí trung bình ở mức thấp xuất hiện vào tháng 12 và tháng Giêng (26,6oC) với nhiệt độ thấp nhất trong tháng này là 21,8oC
Tốc độ gió trung bình trong năm dao động từ 1- 3 m/s Tốc độ gió lớn nhất ghi nhận được là 17m/s vào tháng 11 tại Ba Tri (Bến Tre), trong khi đó ở Mỹ Tho (Tiền Giang) không có biểu hiện qui luật rõ rệt
Chế độ mưa có đôi chút khác biệt giữa 2 vùng Tiền Giang và Bến Tre Tổng lượng mưa trong tháng cao nhất ở Thạnh Phú (Bến Tre) là 425 mm vào tháng 8, trong khi ở Tân Thành (Gò Công Đông) lại xuất hiện vào tháng 7 với mức 419,1mm Lượng mưa ngày lớn nhất được ghi nhận ở tháng 11 với trên 100 mm/ngày ở cả 2 vùng nghiên cứu
Chế độ thủy triều ghi nhận được tháng 11 là tháng có mức nước cao nhất trong năm Cụ thể là 176cm ở Tân Thành (Tiền Giang) và 190cm ở Thạnh Phú (Bến Tre) và tháng có mức nước thấp nhất trong năm là tháng 6 với 91cm ở Tiền Giang và 109cm ở Bến Tre
2.1.3 Hình thái nghêu
Đã có nhiều tác giả nghiên cứu về hình thái cấu tạo của nghêu như D.B Quayle
và G.F Newkirk (1989) mô tả cấu tạo họ Veneridae Trong công trình nghiên cứu của
Nguyễn Chính (1996) đã mô tả hình thái ngoài của loài nghêu vùng ĐBSCL như sau:
Vỏ thuộc dạng lớn, dày và nặng Phần trước vỏ có gờ sinh trưởng thô hơn phần sau Mặt nguyệt và mặt thuẫn không rõ, da vỏ màu trắng, phía sau lưng có vân màu tím nâu
Trương Quốc Phú (1999) đã mô tả chi tiết hình thái cấu tạo ngoài của nghêu
Trang 24bọc bởi 2 mảnh vỏ bằng nhau có dạng hình tam giác (gần tròn), cạnh trước ngắn hơn (chỉ bằng 2/3 chiều dài cạnh sau) Hai vỏ gắn vào nhau bằng 1 bản lề, ở mặt lưng có dây chằng cấu tạo bằng chất sừng đàn hồi để khép mở vỏ Bên ngoài vỏ có màu trắng ngà, trên mặt vỏ có nhiều vòng sinh trưởng đồng tâm, các đường sinh trưởng này chạy song song và thưa dần về phía mặt bụng, ở gần cạnh trước gồ lên rất rõ, cạnh sau tương đối nhẵn bóng Phía trước đỉnh vỏ là một mặt nguyệt nhỏ có hình viên đạn, màu trắng, xung quanh mép mặt nguyệt có một viền màu nâu nhạt Mặt thuẫn có màu nâu đen, to hơn mặt nguyệt, nằm ở sau đỉnh vỏ kéo dài hết cạnh sau của vỏ Mặt bụng mép vỏ cong tròn Bên trong vỏ, dưới đỉnh vỏ và bản lề có mặt khớp và răng khớp Mặt trong vỏ có màu trắng,
có các vết in của cơ khớp vỏ trước và sau, vết in của cơ màng áo và vết in của cơ điều khiển ống hút thoát nước Vết cơ khớp vỏ trước hơi nhỏ hơn vết cơ khớp vỏ sau và có hình bán nguyệt, vết cơ khớp vỏ sau hình tròn
2.2 Các nghiên cứu sinh học cơ bản về nghêu giống và nghêu bố mẹ
2.2.1 Một số chỉ tiêu sinh lý
+ Khả năng chịu đựng độ mặn
Theo nghiên cứu của Trương Quốc Phú (1999), khả năng chịu đựng nồng độ
muối thấp của nghêu lớn cao hơn nghêu nhỏ Độ mặn 4‰ là giới hạn thích nghi dưới của Nghêu và 15‰ là độ mặn thích hợp và an toàn cho hoạt động sống của nghêu
+ Khả năng chịu đựng ô nhiễm
Cũng theo nghiên cứu của Trương Quốc Phú (1999), khả năng chịu đựng của
nghêu trong môi trường có nhiều chất thải kém Nghêu chết (50%) trong môi trường có hàm lượng chất thải tương ứng với hàm lượng chất thải NH3 là 0,0256- 0,0425 mg/l do bản thân thải ra sau khoảng thời gian từ 14- 19h
2.2.2 Dinh dưỡng và tăng trưởng
+ Tính ăn và thức ăn của nghêu
R.D Purchon (1977) cho rằng thức ăn giai đoạn ấu trùng của nhóm Bivalvia là vi
khuẩn, tảo silic, mùn bã hữu cơ, nguyên sinh động vật có kích thước nhỏ khoảng 10µm hoặc nhỏ hơn Giai đoạn trưởng thành thức ăn của chúng thường là vụn hữu cơ lơ lửng trong nước và phiêu sinh thực vật
Theo Thái Trần Bái (1978), hoạt động bắt mồi của Bivalvia là theo cách ăn lọc nhờ
vào hoạt động của các tấm mang trong quá trình hô hấp hút nước vào mang Quá trình bắt mồi xảy ra liên tục nhưng với cách bắt mồi này nghêu chỉ bắt mồi thụ động, chúng chỉ có thể chọn lọc kích thước hạt thức ăn chứ không chọn lọc theo tính chất thức ăn
Khảo sát điều kiện môi trường, sinh thái và khả năng phát triển nghêu Meretrix
lyrata (Sowerby,1851) ở vùng Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang, qua kết quả phân tích
112 mẫu Nghêu, Võ Sĩ Tuấn (1999) nhận xét rằng thành phần thức ăn chủ yếu của nghêu
là mùn bã hữu cơ, chiếm đến 90% lượng thức ăn Các thành phần sinh vật phù du bắt gặp trong ống tiêu hóa của nghêu khoảng 10% và đã ghi nhận được 61 loài sinh vật phù du trong đó lớp tảo Silic chiếm đa số
Một số giống có nhiều loài thường bắt gặp trong ống tiêu hóa của nghêu phải kể
đến: Coscinodiscus (9 loài), Pleurosigma (3 loài), Cyclotella (3 loài), Rhizosolenia (3 loài)
Trang 25Nghiên cứu này cũng cho thấy mật độ tế bào thực vật phù du tại vùng biển Gò Công tương đối cao; tuy nhiên mật độ phân bố không đồng đều và biến động rất lớn theo mùa, điều này có ảnh hưởng khả năng bắt mồi và sự tăng trưởng của nghêu Mùa khô mật độ thực vật phù du tăng vọt so với mùa mưa, lượng thức ăn dồi dào, điều này góp phần củng cố nhận định của nhiều tác giả rằng nghêu tăng trưởng nhanh trong mùa khô hơn là trong mùa mưa
+ Sự tăng trưởng và chỉ số độ no của nghêu
Độ no của nghêu cao hay thấp phụ thuộc vào các yếu tố như môi trường sống, lượng thức ăn trong môi trường, ngoài ra còn phụ thuộc vào bản chất, tình trạng sức khỏe hay khả năng lọc thức ăn của nghêu ở các nhóm kích thước khác nhau Theo Nguyễn Ngọc Lâm và cs (1994), khả năng lọc thức ăn tốt nhất thuộc về nhóm nghêu có kích thước nhỏ, nghêu càng lớn thì khả năng lọc thức ăn càng kém
Qua nghiên cứu chỉ số độ no của nghêu thương phẩm ở ĐBSCL, Nguyễn Văn Hảo
và ctv (1999) cho rằng nghêu bắt mồi kém vào mùa mưa khi nồng độ muối giảm thấp
Trong mùa khô thì khả năng bắt mồi của Nghêu tăng với số lượng nghêu no chiếm tỉ lệ rất cao, ở thời kỳ này nghêu tăng trọng rất nhanh
Trương Quốc Phú (2001) cũng cho rằng, sự tăng trọng của nghêu khác nhau theo
mùa và vào mùa mưa nhanh hơn mùa khô
2.2.3 Đặc điểm sinh sản của nghêu
+ Sự phát triển tuyến sinh dục của nghêu
Nghiên cứu đặc điểm sinh học sinh sản của nghêu, Nguyễn Văn Hảo và ctv (1999) nhận xét: sự phát triển tuyến sinh dục ở nghêu Meretrix lyrata (Sowerby,1851) là vấn đề
khá mới mẻ và lý thú với sự biến đổi đa dạng trong quá trình phát triển Qua 3 năm nghiên cứu, có thể nhận thấy hiện tượng lưỡng tính ở nghêu, trước khi có một kết luận cuối cùng cần có những nghiên cứu dài hạn tiếp theo, tuyến sinh dục với nhiều phần khác nhau và ở mỗi phần là các giai đoạn khác nhau của cùng một phase phát triển của tế bào sinh dục Đây chính là dẫn cứ cho kết luận cá thể nghêu chỉ đẻ 1 lần trong mùa sinh sản Bên cạnh đó, chính do sự phát triển tuyến sinh dục không đồng đều giữa các cá thể khác nhau sẽ góp phần giải thích sự xuất hiện giống quanh năm
+ Mùa vụ sinh sản của nghêu
Nguyễn Đinh Hùng (2000) nghiên cứu các điều kiện sinh thái môi trường ảnh
hưởng đến quá trình nuôi nghêu Meretrix lyrata (Sowerby,1851) ở vùng ven biển Tiền
Giang, Bến Tre, Trà Vinh cho rằng, mùa vụ chính xuất hiện nghêu giống bắt đầu vào tháng 6 đến tháng 9 hàng năm với mật độ nghêu giống khá cao Bên cạnh đó nghêu giống còn xuất hiện trong mùa phụ vào các tháng 12 đến tháng 2 năm sau nhưng với mật
độ thấp hơn nhiều so với vụ chính (tháng 6 đến tháng 9) Thời gian xuất hiện của nghêu giống xác định mùa sinh sản của chúng, nghĩa là mùa sinh sản chính từ tháng 5 đến tháng 7, ở giai đoạn thời tiết chuyển tiếp từ mùa khô sang mùa mưa, và mùa sinh sản phụ
là từ tháng 11 đến tháng 1 năm sau (có năm không thấy mùa phụ) với mật độ nghêu giống xuất hiện thấp hơn Việc nghêu giống xuất hiện ồ ạt vào tháng 6- tháng 8/1998 cho thấy yếu tố môi trường giữ vai trò quyết định so với các yếu tố khác như nguồn nghêu bố
mẹ, vị trí và cấu tạo nền bãi
Trang 26Nghiên cứu của Nguyễn Văn Hảo và ctv (1999) cho thấy, mùa vụ sinh sản của
nghêu thường bắt đầu vào thời điểm giao mùa từ mùa khô chuyển sang mùa mưa, tức khoảng thời gian từ tháng 6 hoặc tháng 7 hàng năm Đây là thời điểm mà các yếu tố môi trường nước cũng như khí hậu thay đổi rất lớn, chính sự biến động này đã kích thích nghêu
bố mẹ sinh sản, nguồn nghêu giống xuất hiện chủ yếu tại 2 tỉnh Bến Tre và Tiền Giang
+ Các yếu tố ảnh hưởng đến sinh sản của nghêu bố mẹ
Theo D.B Quayle và G.F Newkirk (1989), mùa vụ sinh sản của các loài 2 mảnh
vỏ có liên quan đến yếu tố môi trường, thời tiết như nồng độ muối, thủy triều, dòng chảy… đặc biệt là nhiệt độ và độ mặn Ở vùng ôn đới, Bilvavia thường sinh sản vào mùa xuân (quá trình thành thục sinh dục liên quan đến sự tăng dần nhiệt độ vào mùa xuân) và
sự sinh sản phụ thuộc chủ yếu vào nhiệt độ vì nồng độ muối vùng ôn đới thường tương đối ổn định và không có ảnh hưởng nhiều đến sinh sản Ngược lại, vùng nhiệt đới nhiệt
độ cao và tương đối ổn định còn độ mặn có sự biến động, chính sự biến động này là một nhân tố kích thích quá trình sinh sản của Bivalvia, dẫn đến hiện tượng là Bivalvia vùng nhiệt đới sinh sản kéo dài và kém tập trung hơn Bivalvia vùng ôn đới
Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Văn Hảo và ctv (1999) cho thấy, sự biến động nồng
độ muối tại các vùng khảo sát có liên quan chặt chẽ với nhiệt độ và chế độ mưa lũ hàng năm Biến động độ mặn vào mùa mưa năm 1997 và mùa khô năm 1998 cao hơn nhiều so với mùa mưa năm 1998 và mùa khô năm 1999 Cùng với kết quả điều tra sự xuất hiện của nghêu giống, tác giả nhận định rằng sự biến động lớn nồng độ muối (giảm mạnh độ muối) và nhiệt độ (giảm nhiệt độ) vào thời điểm đầu mùa mưa là nguyên nhân chính kích thích nghêu sinh sản
Qua nhiều nghiên cứu về mùa vụ sinh sản của nghêu, chúng ta có thể thấy rằng quá trình sinh sản của nghêu có liên quan chặt chẽ với chế độ thời tiết khí hậu, ở đây đặc biệt là vào các giai đoạn chuyển mùa Tính chất mùa vụ có liên quan chặt chẽ với các yếu tố như nhiệt độ, độ mặn Chính việc thay đổi nhiệt độ và độ mặn ở các giai đoạn chuyển mùa đã kích thích tuyến sinh dục nghêu thành thục và hình thành mùa vụ sinh sản của nghêu
+ Các yếu tố ảnh hưởng đến sự xuất hiện nghêu giống
Theo Nguyễn Tác An và Nguyễn Văn Lục (2001), các bãi triều ven biển Bến Tre là
hệ bãi triều châu thổ, biên độ triều tương đối lớn, bị chia cắt mạnh bởi các nhánh sông lớn và hệ lạch triều Trong đó các bãi nghêu thuộc loại bãi triều cát mịn - trung, nền đáy
bở xốp và không chắc, nước mặn lợ Đặc trưng chung của các bãi triều này là xu thế mở rộng và bồi tụ nhanh về phía biển, thường tạo thành các doi cát, cồn cát ở phía cửa sông, môi trường trầm tích mang tính khử ở mức độ khác nhau, thường giàu C và P, nghèo N Khu vực trung triều (có thời gian ngập bãi 16 - 20 giờ/ngày-đêm, cao trình từ 1 - 2,5 m) nghêu phân bố rất phong phú; khu vực hạ triều (có thời gian ngập bãi 20 - 24 giờ/ngày-đêm, cao trình từ 3- 4 m) nghêu phân bố chủ yếu là nhóm có kích thước lớn
Báo cáo của Nguyễn Đinh Hùng (2000) đề cập: theo ngư dân cho biết, ở những khu
vực nước sâu khoảng 8- 10m tại bãi Thới Thuận, Bình Đại, Bến Tre, nguồn nghêu bố mẹ phân bố khá dày đặc và nguồn lợi này ít bị tác động bởi sự khai thác của ngư dân do chúng phân bố ở khu vực nước khá sâu, mặt khác nguồn nghêu nuôi thương phẩm cũng góp phần bổ sung khá đáng kể Điều này chứng tỏ rằng nguồn Nghêu bố mẹ trong tự nhiên không thiếu, vậy nhân tố còn lại ảnh hưởng đến sự hình thành nghêu giống là các
Trang 27tác nhân môi trường (chế độ mưa lũ, độ mặn, dòng chảy…) và còn ảnh hưởng đến sự phát triển của ấu trùng nghêu
Như các loài động vật thân mềm hai mảnh vỏ khác, quá trình phát triển của nghêu phải trải qua các giai đoạn ấu trùng Giai đoạn đầu là ấu trùng phù du (Trochophore) sống trôi nổi trong nước, sau đó là giai đoạn sống bám trên nền đáy và cuối cùng là giai đoạn trưởng thành - lúc này nghêu đã phát triển chân đầy đủ nên có thể chui rút xuống nền đáy dễ dàng Do đó tác động của các yếu tố môi trường đến sự xuất hiện nghêu giống thể hiện rõ rệt nhất trong giai đoạn ấu trùng sống trôi nổi và giai đoạn chuyển sang sống đáy
a/ Các yếu tố môi trường:
Theo D.B Quayle và G.F Newkirk (1989), trong giai đoạn ấu trùng sống trôi nổi thì dòng nước ảnh hưởng rất lớn đến đời sống của chúng, dù có khả năng bơi lội thì ấu trùng cũng không đủ sức cưỡng lại dòng nước, điều này có ảnh hưởng đến sự phân bố
của ấu trùng Một nghiên cứu trên ấu trùng của loài Hầu Ống Crassostrea gigas cho thấy
rằng ấu trùng có thể bị dòng nước đưa đi xa ít nhất 80km tính từ nơi nó sinh ra trong suốt giai đoạn ấu trùng (25 ngày) Tuy nhiên, D.B Quayle (1989) quan sát thấy rằng ấu trùng Bivalvia có hiện tượng di chuyển lên xuống trong tầng nước theo chiều thẳng đứng và phụ thuộc vào chu kỳ thủy triều (khi triều lên ấu trùng di chuyển lên tầng mặt và khi triều xuống ấu trùng lại di chuyển xuống đáy), đây là căn cứ giải thích cho việc ấu trùng
có thể tồn tại ở khu vực gần cửa sông mà không bị cuốn trôi ra biển
b/ Chất đáy:
Chất đáy là yếu tố sinh thái quan trọng ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển của sinh vật thông qua sự phụ thuộc của sinh vật đó với đặc trưng của nền đáy mà nó thích ứng Theo Odum (1963), động vật thân mềm thường chọn nền đáy cát bùn làm nơi sinh sống, nhóm sống trong cát và trên bề mặt cát là nhóm ăn lọc các chất lơ lửng trong nước, trong khi các loài sống trong bùn thường ăn các mùn bã hữu cơ trong bùn Từ đó đưa ra nhận định rằng mỗi loài sinh vật sống đáy phân bố theo một loại chất đáy riêng
Chất đáy có ảnh hưởng quan trọng đến tỷ lệ sống của nghêu, nhất là trong giai đoạn ấu trùng Sau giai đoạn sống phù du, ấu trùng nghêu chuyển sang sống đáy và bám lên các vật bám trên nền đáy, lúc này ấu trùng rất cần điều kiện nền đáy bằng phẳng và những vật bám như cát to, sỏi…
2.3 Biến động nguồn lợi nghêu - biện pháp bảo vệ và phát triển
Có thể nói, nguồn lợi nghêu giống ở các huyện ven biển Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh là rất lớn và sự xuất hiện, sinh trưởng và phát triển của chúng phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên cũng như sự quản lý chăm sóc của người dân và chính quyền địa phương
Hiện nay, nghề nuôi nghêu ở các tỉnh Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh gần như phụ thuộc hoàn toàn vào nguồn nghêu giống tự nhiên, điều này không chỉ giải thích sự biến động diện tích và sản lượng nuôi mà kéo theo đó là tổng sản lượng nghêu nuôi thu được không ổn định Dù diện tích tiềm năng nuôi nghêu ở 3 tỉnh này là khá lớn nhưng do khan hiếm con giống nên việc mở rộng diện tích và tăng sản lượng nuôi gặp nhiều khó khăn Như vậy, muốn gia tăng sản lượng nghêu thu hoạch qua việc gia tăng diện tích nuôi thì trước hết phải giải quyết vấn đề con giống Qua phân tích cho thấy, việc tăng cường các
Trang 28Tuy nhiên, trong điều kiện hiện nay khi đang nghiên cứu hoàn thiện quy trình sản xuất giống nhân tạo, việc bảo vệ và phát triển nguồn lợi nghêu ở địa phương cũng là một vấn đề quan trọng cần chú ý
2.3.1 Sự biến động nguồn lợi nghêu trong những năm gần đây
Nguyễn Đinh Hùng (2000) báo cáo trong 10 năm trở lại đây, nghêu giống xuất
hiện với sinh lượng rất cao vào năm 1992, năm 1993 và năm 1998 vào những thời điểm mực nước lũ rất thấp Các năm khác (mức lũ > 4m) thì nguồn nghêu giống rất ít Nghiên cứu nguồn lợi nghêu giống trong 3 năm cho thấy rằng nghêu giống xuất hiện và sinh trưởng rất tốt trong năm 1998 nhưng trong các năm 1997 và 1999 thì lượng nghêu giống xuất hiện giảm xuống còn rất thấp
Theo nghiên cứu của Viện NCNTTS II (1999), kết quả thống kê từ năm 1990 đến nay cho thấy nghêu giống xuất hiện với mật độ cao ở những vùng ven biển Tiền Giang Bến Tre và Trà Vinh vào các năm 1992 - 1993 và 1998 Đối chiếu với số liệu quan trắc môi trường tương ứng của trạm quan trắc lũ sông Tiền và sông Hậu thì thấy rằng mức lũ
ở những năm này là thấp nhất Điều này cho thấy có sự liên quan giữa chế độ lũ và sự xuất hiện nghêu giống Tác giả đặt ra câu hỏi: phải chăng nghêu vẫn sinh sản hàng năm nhưng vào những năm lũ lớn, một mặt do dòng chảy xiết, một mặt do độ mặn giảm xuống rõ rệt làm ấu trùng nghêu trôi dạt ra xa bờ hoặc đến những nơi có nền đáy không thích hợp cho sự phát triển của chúng trong giai đoạn chuyển sang sống đáy Chính vì thế, trong năm 1997 và 1999, chúng ta vẫn bắt gặp sự xuất hiện của nghêu giống nhưng với mật độ và sinh khối thấp hơn nhiều so với năm 1998
Từ đó, tác giả lý giải rằng có thể những năm lũ lớn nghêu vẫn sinh sản nhưng ấu trùng của chúng tồn tại và phát triển kém do độ mặn giảm, do tốc độ dòng chảy vùng cửa sông vào những năm có lũ lớn tương đối cao làm cho ấu trùng nghêu trôi dạt ra xa bờ, sau
đó khi chuyển sang giai đoạn sống đáy thì chúng không có nền đáy thích hợp để phát triển Cũng trong nghiên cứu này, kết quả nghiên cứu cũng cho thấy biến động các yếu
tố như nhiệt độ và nồng độ muối trong năm 1998 có nhiều ưu thế tạo nên sự bội thu giống hơn so với năm 1997 và năm 1999 Nguyễn Văn Hảo và ctv (1999) cho rằng, sự khác biệt về biến động chế độ nhiệt và nồng độ muối theo chu kỳ mùa mưa năm 1997 và mùa khô năm 1998 so với mùa mưa năm 1998 và mùa khô năm 1999 là một trong những nhân tố dẫn đến sự khác biệt lớn về nguồn lợi nghêu giống năm 1998 (nghêu giống rất nhiều) so với năm 1999 (không thấy nghêu giống xuất hiện) Nhìn chung, ở từng giai đoạn trong năm 1998, các yếu tố môi trường có nhiều thuận lợi cho sự thành thục (nhiệt
độ cao), sự sinh sản của nghêu (biên độ dao động nhiệt và dao động độ mặn lớn trong khoảng tháng 6- tháng 8) và sự phát triển của nghêu giống ở giai đoạn phù du cũng như giai đoạn sống đáy (nhiệt độ ổn định trong mùa mưa, độ mặn tương đối cao và mức lũ thấp) hơn so với năm 1997 và năm 1999
Tác giả đưa ra nhận định tổng hợp rằng, yếu tố môi trường giữ vai trò quyết định nhất so với các yếu tố khác như nguồn nghêu bố mẹ, vị trí và cấu tạo nền bãi (bãi đáp chính của ấu trùng)
2.3.2 Quá trình phát triển và hiện trạng nghề nuôi nghêu tại ĐBSCL
Hiện trạng kinh tế xã hội có ảnh hưởng rất đáng kể đến nguồn lợi thủy sản nói chung và nguồn lợi nghêu nói riêng Khi nghiên cứu về kinh tế - xã hội, về khía cạnh kinh tế điều cần quan tâm là làm thế nào để sản xuất phát triển bền vững, gắn liền với
Trang 29hiệu quả và tăng trưởng ổn định trong thời gian dài; về mặt xã hội cần phải ổn định công
ăn việc làm, ổn định thu nhập, góp phần xây dựng phúc lợi xã hội…
Nghêu là một trong những nguồn lợi quan trọng ở vùng cửa sông ven biển ĐBSCL với diện tích phân bố khoảng 10.000 - 11.500 ha suốt dải ven biển từ Cần Giờ (Tp.HCM) đến Bạc Liêu, Cà Mau Trong đó, Tiền Giang, Bến Tre và Trà Vinh là vùng phân bố tự nhiên tập trung với diện tích lên đến 7.800 - 8.800 ha và mật độ trung bình là 33-60 con/100m2 Trữ lượng tự nhiên được ước tính khoảng 670 - 710 tấn Nguồn lợi tự nhiên này đã được khai thác từ lâu phục vụ cho nhu cầu tại chỗ Những năm cuối của thập kỷ 80, nhu cầu tăng lên và nguồn lợi tự nhiên không còn đáp ứng được thị trường
Vì vậy việc quản lý các bãi triều, khoanh vùng nuôi nghêu đang phát triển ở nhiều địa phương như thế nào nhằm khai thác tốt vùng bãi triều ven biển vùng ĐBSCL là vấn đề cần quan tâm, đặc biệt việc đặt ra ở đây là làm như thế nào bảo vệ tốt các vùng phân bố nguồn lợi nghêu, sò huyết giống và bố mẹ để phát triển tốt nguồn lợi cho hiện tại và tương lai một cách bền vững
2.3.3 Hiện trạng KTXH ảnh hưởng đến biến động nguồn lợi nghêu
Ngoài tác động của các nhân tố khách quan là những yếu tố môi trường như đã nêu trên, hiện trạng kinh tế xã hội cũng có ảnh hưởng không nhỏ đến biến động nguồn lợi nghêu Mặc dù nghề nuôi nghêu ở ĐBSCL hiện nay hầu như lệ thuộc hoàn toàn vào nguồn giống tự nhiên nhưng việc quản lý nguồn lợi ở các địa phương lại chưa được chặt chẽ và ý thức bảo vệ nguồn lợi tự nhiên của người dân chưa cao Chính vì thế nên nguồn nghêu giống cũng như sản lượng nghêu thu hoạch biến động rất thất thường, chưa khai thác hết tiềm năng hiện có của vùng cửa sông ven biển mà ngược lại còn làm ảnh hưởng xấu đến môi trường và nguồn lợi nhuyễn thể tự nhiên
Để nghề nuôi nghêu đạt hiệu quả hơn, đáp ứng nhu cầu tiêu thụ nội địa và xuất khẩu, góp phần cải thiện đời sống và nâng cao thu nhập cho người dân sống vùng ven biển, việc nghiên cứu đánh giá về hiện trạng, tiềm năng và kinh tế xã hội nghề nuôi nghêu tập trung ở các tỉnh ĐBSCL là hết sức cần thiết Qua nhiều nghiên cứu của các tác
giả trong nước như Nguyễn Văn Hảo và ctv (1999), Trương Quốc Phú (1999), Võ Sĩ
Tuấn (1999), Nguyễn Hữu Phụng (1996), Nguyễn Thanh Tùng (2007)… đã cho thấy hiện
trạng nghề nuôi nghêu ở các tỉnh ĐBSCL nói chung và các tỉnh Tiền Giang, Bến Tre và Trà Vinh nói riêng có nhiều tiềm năng phát triển nhưng cũng gặp không ít thách thức trong khâu quản lý khai thác, bảo vệ và phát triển bền vững nguồn lợi nghêu vùng cửa sông ven biển
2.3.4 Bảo vệ và phát triển nguồn lợi nghêu, sò huyết vùng cửa sông ven biển
Nghêu (Meretrix lyrata) và sò huyết (Anadara granosa) thuộc ngành nhuyễn thể
hai mảnh vỏ, sinh sản và phát triển ở vùng cửa sông và ven biển Từ lâu, các loài nhuyễn thể có vỏ nói riêng, và các loài giáp xác nói chung (tên tiếng Anh là shellfish), được xem
là một nguồn lợi thủy sản tự nhiên ven biển quan trọng Tuy nhiên, ở Việt Nam cũng như nhiều nước khác trên thế giới, đang tồn tại nhiều vấn đề phức tạp trong việc quản lý, khai thác, phục hồi, phát triển, cũng như vấn đề về quyền lợi của cộng đồng dân cư ven biển liên quan đến nguồn lợi tự nhiên này
Công tác bảo vệ và phát triển nguồn lợi nhuyễn thể ven biển nói riêng không chỉ đơn giản là các công tác kỹ thuật và quản lý thông thường, mà thực chất là một chương
Trang 30liên tục và lâu dài, được phối hợp bởi các cấp chính quyền, các nhà khoa học và cộng đồng dân cư ven biển Vì tính chất phức tạp đó, Tổ chức Nông lương Thế giới (FAO) đã
phát hành tài liệu “Enhancing or restoring the productivity of natural populations of
shellfish and other marine invertebrate resources” (Tăng cường và phục hồi năng suất
các quần thể tự nhiên của nhóm sinh vật có vỏ và sinh vật không xương sống khác), của nhóm tác giả J.F Caddy, O Defeo Tài liệu này được xem là cẩm nang cho các nước có quyền lợi liên quan đến nguồn lợi nhuyễn thể tự nhiên, với nội dung phân tích một số kỹ thuật khác nhau hỗ trợ việc nâng cao sản lượng nhuyễn thể Các kỹ thuật được đề cập bao gồm: (1) các phương pháp đánh giá, theo dõi tình trạng và phục hồi nguồn giống, (2)
so sánh các công cụ quản lý không gian khác nhau, (3) các chiến lược trong việc nâng cao chất lượng nguồn giống, (4) phân tích các vấn đề về môi trường sinh thái liên quan đến nguồn lợi (môi trường sống, địch hại ), (5) các hướng dẫn trong việc quản lý và đánh giá chương trình bảo vệ và nâng cao nguồn giống, (6) các vấn đề về chính sách quản lý của địa phương, sự hợp tác của cộng đồng dân cư ven biển Ngoài ra, tài liệu còn bàn về các mô hình nuôi, thử nghiệm sản xuất giống, những khó khăn trong công tác quản lý liên quan đến đặc tính sinh học của mỗi loài nhuyễn thể
Với mục đích hỗ trợ công tác quản lý các nguồn lợi ven biển nói chung, Hội nghị Quốc tế về đới bờ Châu Á -Thái Bình dương Coastal Zone Asia-Pacific (CZAP) được tổ chức nhằm trao đổi các kinh nghiệm, mô hình quản lý giữa các nước Hội nghị CZAP lần thứ 2 được tổ chức tại Brisbane vào tháng 09 năm 2004 với chủ đề ”Quality of life” (”Chất lượng cuộc sống”) với việc nhấn mạnh đến các vấn đề cải thiện tình trạng nghèo đói ven biển, phương thức sinh kế bền vững, và bảo vệ các di sản văn hóa Một báo cáo được tổng hợp sau hội nghị bởi nhóm tác giả Timothy F Smith, Don Alcock, Dana C
Thomsen, Ratana Chuenpagdee với tên gọi “Improving the Quality of Life in Coastal
Areas and Future Directions for the Asia-Pacific Region” (”Nâng cao chất lượng cuộc
sống các vùng ven bờ và các định hướng tương lai cho khu vực Châu Á Thái Bình Dương”) Báo cáo này tổng hợp được 122 sáng kiến khác nhau, từ việc thiết lập một đơn
vị phản hồi việc quản lý lưu vực sông và ven biển, chịu trách nhiệm bởi chính quyền tỉnh Thừa Thiên-Huế (Vietnam); đến dự án “on-ground livelihoods” (Các phương thức sinh
kế của người dân) hợp tác giữa các tổ chức phi chính phủ, chính quyền, các cơ quan tài chính trong việc quản lý vùng ven biển, tài trợ bởi Ngân hàng Phát triển Châu Á Tuy nhiên, các tác giả cho rằng, vẫn còn 2 thách thức chủ chốt cho việc quản lý tổng hợp vùng bờ (ICM – Intergeted Coastal Management) Các thách thức này liên quan đến việc tích cực theo dõi và đánh giá các sáng kiến ICM, cũng như áp dụng các sáng kiến ICM này đến những khu vực đang nguy cấp Theo đó, báo cáo cũng đề ra các vấn đề khẩn cấp trong quản lý vùng bờ, có thể kể ra như: cộng đồng ven biển, phương thức sinh kế, chính sách và kế hoạch tổng hợp, kèm theo đó là các ưu tiên trong hành động nhằm giải quyết các vấn đề trên
Như vậy, công tác quản lý nguồn lợi ven biển nói chung, và công tác bảo vệ, phát triển nguồn lợi nhuyễn thể có vỏ nói riêng bao gồm nhiều nội dung khác nhau: kỹ thuật (mô hình), quản lý (chính quyền, cộng đồng ), chính sách Mỗi nội dung được thực hiện theo nhiều phương thức khác nhau, phụ thuộc vào từng quốc gia, từng địa phương, từng đối tượng cụ thể Tuy nhiên, có thể học được nhiều bài học quý giá, rút được nhiều kinh nghiệm từ các mô hình thành công, cũng như chưa thành công của các nước trên thế giới, nhằm xây dựng nên một quy trình tốt hơn cho công tác bảo vệ nguồn lợi tại địa phương nghiên cứu
Trang 31Về mô hình kỹ thuật, có thể xem xét một hình mẫu về quản lý bền vững đối với việc nuôi đa đối tượng nhuyễn thể ở các vịnh ven biển Mô hình này được áp dụng tại vịnh Sanggou (140 km2), phía Bắc Trung Quốc từ khoảng năm 1980, với các đối tượng
nuôi: Sò (scallop) Chlamys farreri, Hàu (Pacific oyster) Crassostrea gigas, Rong (kelp)
Laminaria japonica Mô hình nuôi đa đối tượng này được xem khá bền vững, với sản
lượng trung bình hàng năm của Sò là 60.000 tấn/năm, của Hàu là 13.000 tấn/năm, và Rong là 40.000 tấn/năm Các nhà khoa học J.P Nunes a, J.G Ferreira , F Gazeau, J Lencart-Silva, X.L Zhang, M.Y Zhu, J.G Fang khi nghiên cứu mô hình này từ năm
1983 đến 2000 về các đặc tính lý (ánh sáng, nhiệt độ, địa hình), hóa (DIN-dissolved inorganic nitrogen) và sinh học (phytoplankton ) đã đưa ra kết luận về tính bền vững
của mô hình Các thí nghiệm và kết quả được trình bày trong báo cáo ”A model for
sustainable management of shellfish polyculture in coastal bays”, theo đó các đối tượng
được chọn nuôi đã có sự tác động lẫn nhau trong quá trình phát triển, đồng thời tận dụng tối đa các chất dinh dưỡng, cũng như khả năng giữ vững và làm sạch môi trường
Một mô hình kỹ thuật khác, đó chính là hình mẫu của việc quản lý nguồn lợi theo
mô hình trang trại thủy sản Một báo cáo khoa học của nhóm tác giả J.G Ferreira, A.J.S
Hawkins, S.B Bricker, mang tên “Management of productivity, environmental effects and
profitability of shellfish aquaculture-the Farm Aquaculture Resource Management (FARM) model”, theo đó việc quản lý sản lượng, các tác động môi trường cũng như ích lợi
của việc nuôi nhuyễn thể có vỏ được đánh giá trên mô hình FARM (quản lý nguồn lợi thông qua trang trại thủy sản) Việc quản lý này chủ yếu được giao cho các nông-ngư dân
và được kiểm soát bởi những người điều chỉnh (regulator) Báo cáo nêu ra 3 nội dung chính của mô hình: (1) các phân tích về vị trí nuôi và lựa chọn loài nuôi, (2) các phương pháp nuôi tối ưu về sinh lý và kinh tế (thời gian, kích cỡ thả giống và thu hoạch, mật độ…), (3) đánh giá về môi trường (liên quan đến các tác động về dinh dưỡng…) Có 5 đối
tượng được chọn nuôi trong mô hình này: Hàu Thái Bình Dương Crassostrea gigas, Vẹm xanh Mytilus edulis, Vẹm Manila Tapes phillipinarum, Sò (cockle) Cerastoderma edule and Sò Trung Quốc (scallop) Chlamys farreri, và thí nghiệm được thực hiện ở nhiều trang
trại có vị trí khác nhau, cũng như các phương pháp nuôi khác nhau tác động như thế nào đối với sản lượng Kết quả cho thấy mật độ thả giống tác động rõ ràng lên sản lượng, cụ thể (i) sản lượng trung bình giảm khi tăng mật độ, kéo theo lợi nhuận giảm, (ii) việc tăng sản lượng nhiều khi phải đánh đổi với chi phí cho môi trường (như sự sụt giảm nghiêm trọng lượng ôxy hòa tan) Báo cáo này khẳng định, mô hình FARM cũng là một phương
án tốt cho việc quản lý dinh dưỡng tổng hợp vùng bờ
Ngoài vấn đề kỹ thuật, chính sách quản lý nguồn lợi của địa phương cũng tác động không nhỏ đến công tác bảo vệ và phát triển nguồn lợi ven biển Một mô hình điển hình là nghề nuôi Vẹm Geoduck, với giá trị ước tính xấp xỉ 40 triệu đôla Canada 1 năm, là nghề nuôi nhuyễn thể có giá trị nhất tại British Columbia Nghề nuôi này được hợp tác bởi Cục Nghề cá và Đại dương Department of Fisheries and Oceans (DFO) và Hội những người khai thác biển Underwater Harvesters Association (UHA) từ năm 1989 Các chính sách kiểm soát “đầu vào” trước đó (như nỗ lực điều hòa, thiết lập mùa vụ và đăng ký khai thác) hoạt động không hiệu quả hơn 10 năm, kết quả là tình trạng đánh bắt vượt quá giới hạn, khai thác quá mức, suy giảm giá trị kinh tế và các hoạt động đánh bắt không an toàn Về sau, chính sách kiểm soát “đầu ra”, tiêu biểu là hệ thống hạn ngạch nhuyễn thể (IVQ), về mặt quy mô, chứng minh được sự thành công trong việc cải thiện thu nhập, kiểm soát được
Trang 32quyết định mấu chốt Tuy nhiên, sự quan tâm của cộng đồng người dân hiện nay là nguồn tài sản chung này đang có nguy cơ bị nắm giữ chỉ bởi một vài người có đăng ký với UHA Ngoài ra, kết quả của việc phân hạn ngạch (IVQ) chính là vấn đề mất việc làm, cũng như
là vấn đề về phân phối và sự công bằng Những vấn đề này được theo dõi và nghiên cứu
trong báo cáo khoa học “Sustainability Challenges in the Geoduck Clam Fishery of British
Columbia: Policy Perspectives” của tác giả Ahmed Khan
Cuối cùng, một mô hình quản lý nguồn lợi cần được quan tâm, đó chính là bài học kinh nghiệm từ Quản lý tổng hợp vùng bờ (ICM- Intergrated Coastal Management) tại Philippine Năm 1991, chính phủ Philippine chuyển giao nhiều trách nhiệm về quản lý ven biển cho chính quyền địa phương và khuyến khích sự tham gia của địa phương trong việc quản lý nguồn tài nguyên này Với việc được trao quyền quản lý, nhiều chính quyền địa phương đã thành công trong việc nâng cao nhận thức cộng đồng về các vấn đề quản
lý tổng hợp vùng bờ Những thách thức tiếp theo, đó là vấn đề về tính bền vững, luật pháp yếu và thiếu, thiếu sự hợp tác và liên kết Đề giải quyết các thử thách này, hệ thống chứng chỉ Quản lý Nguồn lợi ven biển (CRM- Coastal Resource Manament) được phát triển với chiến lược động viên nhiều hơn nữa các chính quyền địa phương tham gia ủng
hỗ ICM Các tiêu chuẩn cần cho chứng chỉ CRM ở giai đoạn một là: Nguồn ngân sách được cung cấp, liên hệ đến các tổ chức quản lý nguồn lợi đang hoạt động, các kế hoạch quản lý nguồn lợi đã và đang tiến hành, có nhiều hơn 2 phương thức đang được thực hiện trong việc quản lý vùng bờ Các thực thi này đang cung cấp cho cộng đồng những lợi ích thiết thực thông qua việc cải thiện sản lượng thủy sản, thu lợi từ những người sử dụng, và thông qua việc học cách trao đổi ý kiến và tham gia vào các quyết định, niềm tự hào của
cộng đồng sẽ nâng cao (báo cáo khoa học “Integrated Coastal Management in
Philippine Local Governance: Evolution and Benefits”, của nhóm tác giả Alan White,
Evelyn Deguit, William Jatulan, Liza Eisma-Osorio)
2.4 Đặc điểm sinh học sò huyết (Anadara granosa)
2.4.1 Hệ thống phân loại sò huyết
Sò huyết A.granosa là một loài sò trong họ Arcidae được phân loại từ rất lâu đời
nhờ các nhà phân loại học Trong danh mục các loài động vật không xương sống, động vật biển của các tác giả như Linne (1758), Larmak (1819), Reeve (1852)… đều có mô tả
và định loại về loại này IICA (1987) đã liệt kê mộ số tên tiếng Anh của sò huyết A
granosa như Bloody Clam, Cocker Granulated Shell, Chest Shell Hệ thống phân loại
của sò huyết trong ngành động vật thân mền được sắp xếp như sau:
2.4.2 Đặc điểm phân bố sò huyết
Sò huyết A granosa phân bố ở Ấn độ Dương, Thái Bình Dương, ở các nước
Malaysia, Trung Quốc, Philippin, Thái Lan, Úc… Ở Malysia có ở Perlic, Kedah, Penang,
Trang 33Perak, Selangon, Malacca; Johore… Thái Lan có ở Sammutsakhon, Phetchabuti, Chumphon, Puket, Ranong… Chúng phân bố chủ yếu ở vùng trung triều hoặc hạ triều, chất đáy là bùn, bùn pha cát với nồng độ muối từ 23‰ trở lên (Broom, 1985)
Hầu hết các loài thuộc Anadara phân bố ở vùng triều hoặc hạ triều Theo Squie và
cộng sự (1975) loài Anadara turbereculosa ở Nam và Trung Mỹ là loài trung triều điển hình Hai loài A surberenata và A broughtoni phân bố khá nhiều ở vùng hạ triều ở vùng
biển Nhật Bản và Hàn Quốc (Cahn, 1951; Kusukabe, 1959; Kamo, 1966) Ở vùng biển
phía Đông Úc, theo Sullira (1960) loài A trapezia sống ở trung triều thấp đến hạ triều, tuy nhiên, ở Tây phi, Okera tìm thấy loài A.serilispbs phân bố từ trung triều cao đến cao
triều Song, sự phân bố này chưa xác định được hiện tượng tự nhiên hay do hoạt động đánh bắt quá mức ở các mực nước khác nhau (Broom, 1985)
Theo Marther (1993b), loài thuộc giống Anadara đó là A granosa; A.cornea; A
antiquata; A.piluta; A inflata; A nodifera đều phân bố ở đáy bùn, bùn cát, cát san hô,
nhưng ở những nơi đáy mềm chúng phân bố nhiều hơn Theo Tanaka (1971) và Kano
(1966), cho rằng A braunghtoni phân bố ở vùng đáy biển điển hình
Ting và cộng sự (1972), cũng có kết luận tương tự với loài A.subcrenata, tuy
nhiên, tất cả các loài thuộc Anadara đều thích nghi với chất đáy mềm Ở biển Ấn độ -
Thái Bình Dương loài A antiquata thường sống ở rạn đá san hô vùng cao triều, còn Lim (1966) đã tìm thấy A inaequiralis ở vùng cát cao triều Có lẽ sự thích nghi với nền đáy
liên quan đến sự phát triển của tơ chân (Broom, 1985)
Các loài thuộc giống Anadara là các loài rộng muối Theo Cahn (1951), Yolaye (1975), Okera (1970), đều cho rằng A senilis sống ở vùng cửa sông, đầm phá nơi ảnh hưởng nước ngọt Yankson (1982), xác định rằng A.senilis có ở những vùng cửa sông có
độ mặn cao vào mùa khô Sullivan (1960), tìm thấy A trapezia ở vùng cửa sông, chúng
thích nghi tốt và sinh sản trong nước có độ mặn 22‰ và cũng thích ứng ở độ mặn 12‰, nhưng không phát triển ở độ mặn thấp hơn
Nhiệt độ thích hợp của các loài trong giống Anadara biến đổi theo vùng địa lý,
các loài sống ở vùng ôn đới, nhiệt đới thích ứng với nhiệt độ khác nhau Theo Squier và
cộng sự (1975), đã phát hiện ra nhiệt độ trong đất bùn mà A.tuberculoca ở Colombia lên xuống từ 26 – 37,5°C Theo Ting và cộng sự (1972), thì cho rằng vùng nước mà A
subcrenata sinh sống có thể biến đổi từ 6°C vào tháng giêng đến 27°C vào tháng 9
Khả năng thích nghi với sự dao động hàm lượng oxy trong môi trường của các loài thuộc giống Anadara là rất lớn Kết quả thí nghiệm của Anon (1980), đã xác định ở
độ bão hòa oxy 80% không có sò chết, ở độ bão hòa 14,6% có đến 60% sò chết, và dưới 14,6% tất cả đều chết trong thời gian thí nghiệm
Theo Nguyễn Chính (1996), ở nước ta sò huyết phân bố rộng khắp từ Quảng Ninh đến Cà Mau, sự phân bố này không liên tục mà hình thành các bãi sò lớn như ở Hà Cối, Tuần Châu Quảng Ninh, Lạch Trường, Hoằnh Phụ (Thanh Hóa), Lăng Cô (Huế), Đầm Thị Nại (Bình Định), Đầm Ô Loan (Phú Yên), Đầm Nại (Ninh Thuận), Đầm Nha Phu, Đầm Thủy Triều (Khánh Hòa), Lạch Nùng (Kiên Giang), Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, Tiền Giang
Nơi sống của sò huyết là từ vùng bãi triều đến độ sâu 4 m, cửa sông hoặc các đầm phá, nền đáy là bùn hoặ bùn cát có độ mặn 20 – 30‰ (Nguyễn Tác An, 1994)
Trang 34Theo Trương Sỹ Kỳ và Bùi Hữu Hoàng (1994), sò huyết phân bố ở vùng triều thấp đến nơi có độ sâu vài mét nước, thích hợp nhất ở vùng bãi triều có thời gian phơi bãi 6 – 10 giờ/24 giờ, chất đáy là bùn dày, giàu chất hữu cơ, tốt nhất là nền đáy bùn cát mịn, sò huyết có khả năng thích nghi với sự biến đổi nồng độ muối 14 – 31‰
Nguyễn Tác An và cộng sự (1994), đã nghiên cứu mật độ phân bố sò huyết tự nhiên ở Trà Vinh trên diện tích 180 – 200 ha, sò huyết có sản lượng ước tính khoảng 50 – 70 tấn/năm
2.4.3 Đặc điểm dinh dưỡng sò huyết
Sò huyết bắt mồi thụ động bằng cách tạo ra dòng nước nhờ hoạt động của mang, đưa nước qua mang lọc lấy thức ăn Thức ăn lọc được nhờ các rãnh tiên mao của sợi mang đưa đến xúc biện vào miệng Cường độ bắt mồi của sò huyết phụ thuộc vào nhiệt
độ, trong phạm vi nhiệt độ thích hợp, nhiệt độ càng cao bắt mồi càng mạnh Do đó, tính bắt mồi của sò huyết có quan hệ mật thiết với các mùa (Trần Hoàng Phúc, 2001)
Cũng như các loài ăn lọc khác, nguồn thức ăn của sò huyết hoàn toàn phụ thuộc vào mật độ thức ăn trong nước Sò huyết không lựa chọn thức ăn, nói đúng hơn chỉ có khả năng chọn lọc theo độ lớn của mồi Sò huyết giống có thể ăn các mồi nhỏ dưới 10µ, còn
sò huyết lớn có thể ăn các loại mồi có độ lớn khoảng 10 – 100 µ (Ngô Anh Tuấn, 2000) Thành phần thức ăn của sò huyết là tảo khuê và các mùn bã hữu cơ, vi sinh vật và một số luân trùng Do đó thành phần thức ăn thay đổi tùy theo ngoại cảnh, phụ thuộc vào từng mùa, từng nơi (Broom, 1985)
Theo Nguyễn Ngọc Lâm và Đoàn Như Hải (1996), thức ăn của sò huyết bao gồm mùn bã hữu cơ và các vi tảo đơn bào sống đáy Kết quả phân tích trong 92 và 45 mẫu ống ruột của sò huyết ở khu vực Động Cao và Mỹ Long Nam cho thấy thành phần thức
ăn chủ yêu của Sò hyết là mùn bã hữu cơ chiếm 93% Sinh vật phù du có khả năng làm thức ăn chiếm tỉ lệ 7%, trong đó thực vật phù du chiếm ưu thế, với 102 loài (92%) Thành phần loài sinh vật phù du làm thức ăn còn thay đổi theo thời gian và không gian Nhìn chung, trong cả 2 vùng nghiên cứu thì mùa khô có thành phần thức ăn phong phú hơn mùa mưa Theo Trần Hoàng Phúc khi phân tích 50 mẫu sò huyết ở khu vực bãi Sò ở cửa sông Tiền, và 70 mẫu sò huyết ở cá bãi cửa sông Hậu ở tỉnh Trà Vinh cũng cho kết quả tương tự
2.4.4 Đặc điểm sinh trưởng của sò huyết
Theo các tác giả Pathansali, Soong và Broon (1985), thì tốc độ sinh trưởng của các
loài thuộc giống Anadara phụ thuộc vào môi trường sống, mật độ và kích cỡ con giống
Theo Ting và ctv (1972), xác định khả năng tăng trưởng của 2 nhóm theo kích cỡ A.Subcrenata trong 1 năm cho thấy nhóm có kích cỡ 5 – 12 mm tăng trưởng đạt đến 12 –
37 mm/năm và nhóm có kích cỡ 31 – 32 mm tăng trưởng đạt đến 46 – 49 mm/năm Theo
Squies và ctv (1975), cho rằng A tuberculosa sinh trưởng chậm ở nhóm có kích thước từ
34 – 64 mm, tăng 1mm/tháng
Tốc độ sinh trưởng của sò huyết phụ thuộc vào môi trường sống, mật độ và điều kiện tự nhiên Sò huyết sống trong môi trường tự nhiên gần 6 tháng tăng trưởng về chiều dài 4 – 5 mm (Broom, 1982), trong điều kiện nuôi nhân tạo lấy giống tự nhiên hơn 1 năm tăng trưởng về chiều dài là 30 mm (Broom, 1980) Theo Pathasali và Soong (1958);
Pathasali (1966) cũng có báo cáo tương tự về tốc độ sinh trưởng của A granosa
Trang 35Giống như các động vật nhuyễn thể khác tốc độ sinh trưởng của sò huyết chịu các ảnh hưởng của tuổi, tốc độ tăng trưởng tỉ lệ nghịch với tuổi Theo Lương Đình Trung, Ngô Trọng Lư, Ngô Thị Kim Cúc thì sò huyết lớn nhanh ở năm đầu và năm thứ 2, từ năm thứ 3 thì lớn chậm, sò sống được 7 – 8 năm Sò nuôi ở vùng hạ triều thì lớn nhanh hơn so với vùng trung triều do nguồn thức ăn nhiếu hơn, thời gian lọc mồi ăn nhiều hơn Theo Trần Hoàng Phúc (2001), nhận thấy sò huyết có tốc độ tăng trưởng trung bình là 3 mm/tháng, giai đoạn có chiều dài 6 – 10 mm tăng trưởng nhanh nhất là 5 mm/tháng, giai đoạn tăng trưởng chậm nhất đối với sò có chiều trên 30 mm
2.4.5 Đặc điểm sinh sản của giống Anadara
Các loài thuộc giống Anadara có thể lưỡng tính hoặc phân tính Theo Ting và ctv (1995), đã xác định A.Subcrenata có tuyến sinh dục tại thời điểm cơ thể có chiều dài 15
mm, tỉ lệ đực cái là 1:1
Yologe (1974) và Yankson (1982), đã kết luận về giới tính của A senilis như sau:
Trước 5 tháng tuổi thì tất cả đều là con đực, từ 6 tháng tuổi vài cá thể xuất hiện lưỡng tính và đến cuối năm đầu tiên tỉ lệ đực/cái là 3,08:1 và tỉ lệ này thay đổi thường xuyên trong quần thể trưởng thành Theo Yankson (1982), thì tuyến sinh dục bắt đầu phân biệt khi cơ thể có chiều dài đạt 10 – 12 mm và đẻ lần đầu tiên khi cơ thể đạt chiều dài 20 mm Mùa vụ đẻ của A senilis thường xảy ra quanh năm, nhưng có mùa sinh sản rộ
nhất Sự thay đổi của nồng độ muối, nhiệt độ ảnh hưởng tới mùa vụ đẻ trứng Kasukabe (1959) khẳng định sò đẻ trứng khi nhiệt độ nước 25°C – 27°C và Cahn (1951) cũng có kết luận tương tự
Sò thành thục sinh dục thường lúc có thể đạt chiều dài 18 – 20 mm, Broom (1982a; 1982b), Pathansali (1966) và Narasimham(1969) đều khẳng định sự thành thục xuất hiện khi chưa được 1 năm tuổi, khoảng 6 – 7 tháng tuổi
Theo Pathansali (1966), Narasimham(1969) và Broom (1983) cho rằng sò huyết
A granosa đẻ trứng quanh năm Ở Malaysia, Thái Lan sò huyết đẻ trứng theo mùa
Nguyên nhân đẻ trứng theo mùa chưa biết chắc chắn, nhưng sự thay đổi nồng độ muối theo mùa được coi là nguyên nhân quan trọng Broom (1982a, 1983c) cũng đã chỉ ra tại Kuala Selangon 1977 có sự giảm rõ rệt nồng độ muối trên bề mặt tháng 10 và 11 và xảy
ra với mùa vụ sinh sản chính
Mùa vụ sinh sản tùy từng vùng biển mà có sự thay đổi khác nhau Ở ven biển đông mùa đẻ trứng là tháng 7 – 9, đẻ rộ vào cuối tháng 7, đầu tháng 8 Ở Trung Quốc mùa đẻ hạ tuần từ tháng 6 – tháng 8, đẻ rộ vào tháng 9 – hạ tuần tháng 10 (Lương Đình Trung, 1995)
Broom (1983), Pathansali và Soong (1985) đều đưa ra kết quả tỉ lệ đực cái của Sò
huyết là 1:1 Sức sinh sản của sò huyết A granosa là Sò tuồi 1+ đẻ được 100.000 trứng,
Sò tuồi 2+ đẻ được 1.000.000 trứng, Sò tuồi 3+ đẻ được 4.000.000 trứng
Sò huyết phóng trứng và tinh trùng ra ngoài môi trường nước và thụ tinh ở ngoài môi trường nước Sò huyết khi tuyến sinh dục thành thục bao trùm toàn bộ phần nội tạng, tuyến sinh cái cái có màu hồng, màu cỏ úa, số ít màu vàng nhạt Tuyến sinh dục đực có
mà vàng nhạt và màu trắng sữa (Lương Đình Trung, 1995)
Theo Trương Sỹ Kỳ, Đỗ Hữu Hoàng (1994) đã xác định ở huyết ở Trà Vinh đẻ
Trang 36mùa mưa Sò huyết thành thục khá sớm, sò 1 năm tuổi đã tham gia sinh sản, thành thục lần đầu tiên ở nhóm có chiều cao lớn hơn 22 mm
Theo Trương Sĩ Kỳ và ctv (1996), nhận thấy tỉ lệ đực/cái là 59,5:40,9 Sò huyết có sức sinh sản khá cao, dao động từ 518.413 – 2.312.213 trứng /con cái Theo Nguyễn Thị Xuân Thu và ctv (1999) đã nghiên cứu đặc điểm sinh học sinh sản của sò huyết Khánh Hòa và đưa ra kết quả: Sò huyết có khả năng thành thục quanh năm, song mùa sinh sản tập trung từ tháng 2 – tháng 9, đỉnh cao sinh sản xuất hiện vào tháng 3, 4, 8, 9 hàng năm
Cơ cấu giới tính trong quần thể sò huyết phân bố tự nhiên khác nhau theo nhóm kích thước và theo nhóm trong năm Tỉ lệ đực/cái trong quần đàn tính trung bình cho các nhóm kích thước là 1: 2,3 đặc biệt nhóm sò có kích thước hơn 50 mm có tỉ lệ đực /cái là 1:4 (Nguyễn Thị Xuân Thu, 1999)
Sức sinh sản của sò huyết tương đối cao, sức sinh sản tuyệt đối trung bình là 806.000 trứng/cá thể Sức sinh sản tương đối là 35.900 trứng/g trọng lượng cả vỏ và 164.000 trứng/g trọng lượng phần mềm (Nguyễn Thị Xuân Thu, 1999)
2.5 Tình hình nuôi nhuyễn thể hai mảnh vỏ trên thế giới và Việt Nam
2.5.1 Nuôi nhuyễn thể hai mảnh vỏ trên thế giới
Trong vòng 20 năm trở lại đây, nghề nuôi bắt đầu phát triển, kỹ thuật nuôi hai mảnh vỏ (Bivalvia) đã được áp dụng rộng rãi cho các nước Tây Âu, Bắc Mỹ, Australia, Nhật Bản và một số nước vùng Đông Nam Á (Laing và Millican, 1991)
Một số quốc gia đã áp dụng mô hình nuôi thâm canh với trình độ kỹ thuật cao Từ trước đến nay có nhiều công trình nghiên cứu kỹ thuật nuôi hàu, đã được công bố: nghiên cứu sinh học và kỹ thuật nuôi hầu ở vịnh Bacoor, Luzon, Philippines (Blanco, Villalus và Montaban, 1951); nghiên cứu phương pháp nuôi hầu bằng cọc ở đầm Dagatdagatan, Philippines (Blanco, 1956); nuôi hầu ở Maritimes, Canada (Medcof, 1961); nuôi hầu ở New Zealand (Curtin, 1971); nuôi hầu ở Sabah (Chin và Limb, 1977); phương pháp nuôi hầu vùng nhiệt đới (Quayle, 1980); phát triển công nghệ nuôi hầu ở Nhật Bản (Ventilla,1984); nuôi hầu ở Bristish Colombia (Quayle, 1988)…
Ngoài ra, đã có các công trình nghiên cứu kỹ thuật nuôi của một số đối tượng khác như: tổng kết các công trình nghiên cứu sinh học và kỹ thuật nuôi điệp (Mottet, 1979); những khía cạnh kinh tế của nghề nuôi vẹm (Korringa, 1979); những nghiên cứu ban đầu về phương pháp nuôi vẹm xanh Perna viridis bằng bè ở Singapore (Cheong và Chen, 1980); nuôi trai tai tượng Tridacna ở Châu Á (Heslinga, 1984) và (Copland, 1988); sinh học và kỹ thuật nuôi sò Anadara (Broom, 1985); sinh học và kỹ thuật nuôi vẹm Perna viridis (Vakily, 1989)…
Nghêu (Meretrix lyrata) thuộc ngành nhuyễn thể hai mảnh vỏ, sinh sản và phát
triển ở vùng cửa sông và ven biển Từ lâu, các loài nhuyễn thể có vỏ nói riêng, và các loài giáp xác nói chung (tên tiếng Anh là shellfish), được xem là một nguồn lợi thủy sản
tự nhiên ven biển quan trọng Tuy nhiên, ở Việt Nam cũng như nhiều nước khác trên thế giới, đang tồn tại nhiều vấn đề phức tạp trong việc quản lý, khai thác, phục hồi, phát triển, cũng như vấn đề về quyền lợi của cộng đồng dân cư ven biển liên quan đến nguồn lợi tự nhiên này
Theo Nunes, Ferreira and Gazeau (1983), và Silva, Zhang, and Fang (2000), khẳng định mô hình nuôi đa đối tượng được xem khá bền vững, với sản lượng trung bình
Trang 37hàng năm của sò là 60.000 tấn/năm, của hàu là 13.000 tấn/năm và rong là 40.000 tấn/năm ở Trung Quốc, Nhật Bản, Úc và các nước Tây Âu
Ngoài vấn đề kỹ thuật, chính sách quản lý nguồn lợi của địa phương cũng tác động không nhỏ đến công tác bảo vệ và phát triển nguồn lợi ven biển Một mô hình điển hình là nghề nuôi vẹm Geoduck, với giá trị ước tính xấp xỉ 40 triệu đôla Canada 1 năm,
là nghề nuôi nhuyễn thể có giá trị nhất tại British Columbia Nghề nuôi này được hợp tác bởi Cục Nghề cá và Đại dương Department of Fisheries and Oceans (DFO) và Hội những người khai thác biển Underwater Harvesters Association (UHA) từ năm 1989 Các chính sách kiểm soát “đầu vào” trước đó (như nỗ lực điều hòa, thiết lập mùa vụ và đăng ký khai thác) hoạt động không hiệu quả hơn 10 năm, kết quả là tình trạng đánh bắt vượt quá giới hạn, khai thác quá mức, suy giảm giá trị kinh tế và các hoạt động đánh bắt không an toàn Về sau, chính sách kiểm soát “đầu ra”, tiêu biểu là hệ thống hạn ngạch nhuyễn thể (IVQ), về mặt quy mô, chứng minh được sự thành công trong việc cải thiện thu nhập, kiểm soát được việc vượt quá giới hạn đánh bắt, thành công trong việc điều hòa, và can thiệp vào các quyết định mấu chốt (DFO and UHA, 1989)
Sản lượng nhuyễn thể (đánh bắt và nuôi) thế giới tăng nhanh chóng trong 5 thập
kỷ qua từ 1,1 triệu tấn năm 1950 đến 14,9 triệu tấn năm 2000; trong đó, sản lượng nhuyễn thể nuôi chiếm 65,5% (Nguyễn Thị Xuân Thu, 2005)
Theo FAO (2010), cho thấy tổng sản lượng và giá trị sản lượng nhuyễn thể nuôi thế giới giai đoạn 1998 - 2008 tăng với tốc độ bình quân 5,5%/năm về sản lượng và 6,5%/năm về giá trị là thấp hơn so với tốc độ tăng chung hàng năm của các loại thủy sản nuôi trên thế giới Trung Quốc là nước dẫn đầu về sản lượng nhuyễn thể nuôi trên thế giới Năm 1998, sản lượng nhuyễn thể nuôi của Trung Quốc đạt 6.343,2 nghìn tấn, chiếm (74,7%), năm 2003 tăng lên 8.781,2 nghìn tấn (77,3%) và năm 2008 đạt 10.313,5 nghìn tấn chiếm 78%
Cũng theo FAO (2010), mười quốc gia dẫn đầu về sản lượng nhuyễn thể nuôi giai đoạn 1998-2008 chủ yếu là các nước như: Việt Nam, Trung Quốc, Mỹ, Thái Lan, Tây Ban Nha, New Zealand, Hàn Quốc, Nhật, Pháp và Chilê, chiếm 64% tổng sản lượng và 64,2% tổng giá trị, trong đó Trung Quốc chiếm 77,5% về sản lượng và 66,9% tổng giá trị; Nhật Bản đứng hàng thứ hai và sau đó là Hàn Quốc Nếu tính về tỷ lệ tăng trưởng trung bình hàng năm thì Việt Nam vẫn đứng hàng thứ nhất (24,9%) kế tiếp là Chilê (20,9%) và Thái Lan đứng hàng thứ ba (15,2%) (bảng 2.2)
Theo công bố của FAO, hiện nay người ta đã nuôi khoảng 60 loài nhuyễn thể 2
vỏ, thuộc 2 bộ, 13 họ Tuy nhiên, trong thương mại các sản phẩm nhuyễn thể 2 vỏ, người
ta chỉ xếp các đối tượng này vào 4 nhóm đại diện: 1/ Hàu; 2/ Vẹm; 3/ Điệp; 4/ Nghêu,
Sò NTHMV được nuôi để phục vụ cho nhiều mục đích như thực phẩm, cấy ngọc, thu
vỏ, chiết các chất vi lượng (trong “Tiêu chuẩn quốc tế phân loại thống kê thủy sinh vật” của FAO, trích bởi Trung tâm tin học-Bộ Thủy sản, 2006)
Cùng với việc phát triển nuôi thì thị trường sản phẩm nhuyễn thể hai mảnh vỏ (NTHMV) đang ngày càng được mở rộng Theo FAO (2007), Chilê là nước xuất khẩu hàng đầu với 75 nghìn tấn trong năm 2005 và sẽ còn tiếp tục tăng, dự kiến năm 2010 Chilê xuất khẩu khoảng 150 nghìn tấn Thị trường nhuyễn thể của Chilê ở Pháp tăng từ 25% năm 2005 lên 32% năm 2006 và 60% năm 2005 lên 75% năm 2006 ở Tây Ban Nha Tuy nhiên, năm 2006 thị phần của Chilê ở Ý chỉ còn 34% so 43% năm 2005 Thị trường Châu
Trang 38biến hơn đông lạnh nguyên con Giá hàng năm còn tùy thuộc khá lớn vào sản lượng sản xuất nhuyễn thể tại chổ của các nước Châu Âu Tuy nhiên, không có thống kê nào tách riêng Nghêu trắng hay Nghêu lụa
Theo FAO (2010), trong 10 nước dẫn đầu thế giới về sản lượng nhuyễn thể nuôi thì Việt Nam đứng đến hàng thứ tám nhưng so về tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm thì Việt Nam là nước có tốc độ tăng trưởng cao nhất (24,9%/năm) Năm 1998, sản lượng nhuyễn thể nuôi của Việt Nam chỉ đạt 21.300 tấn đến năm 2003 đạt được 100.000 tấn và năm 2008 đạt 170.000 tấn
2.5.2 Nuôi nhuyễn thể hai mảnh vỏ ở Việt Nam
Nghề nuôi nhuyễn thể hai mảnh vỏ ở Việt Nam đã có cách đây khá lâu Trước
những năm 1990, ở miền Bắc có nuôi Hầu Cửa sông Ostrea rivularis (sông Bạch Đằng, Quảng Ninh và Lạch Trường, Thanh Hóa), Vẹm Mylilus viridis (Thừa Thiên), Ngao dầu
Meretrix meretrix (Thái Bình), trai ngọc biển Pinctada (Quảng Ninh, Hải Phòng, Phú
Yên và Nha Trang) và trai ngọc nước ngọt Hyriopsis (Hồ Tây, Hà Nội) Ở miền Nam chủ yếu là nuôi nghêu ở Tiền Giang, Bến Tre và sò huyết ở Kiên Giang (Trương Quốc Phú, 1999)
Từ sau hội nghị toàn quốc về nuôi thủy sản vào tháng 10 năm 2006 nhà nước mới
có chủ trương cụ thể cho chiến lược phát triển nuôi biển và hội nghị đã thống nhất chọn 4 đối tượng nuôi biển chính là: cá giò, nghêu, rong sụn và tôm hùm từ đó mới có nhiều công trình cấp bộ và địa phương để nghiên cứu quy hoạch vùng nuôi, khu bảo tồn nguồn lợi giống tự nhiên và nhiều đề tài khác nghiên cứu về: Môi trường, đặc điểm sinh học, dinh dưỡng và sinh sản nhân tạo
Khai thác: Tổng sản lượng khai thác tự nhiên ở biển và ven biển các loài nhuyễn thể có vỏ thuộc hai lớp chân bụng và NTHMV ước đạt 300.000 - 350.000 tấn/năm Trong đó, sản lượng nghêu (50.000 - 60.000 tấn/năm) và sò huyết (40.000 - 50.000 tấn/năm)
Nuôi: Theo FAO (2010), trong 10 nước dẫn đầu thế giới về sản lượng nhuyễn thể nuôi thì Việt Nam đứng đến hàng thứ tám nhưng so về tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm thì Việt Nam là nước có tốc độ tăng trưởng cao nhất (24,9%/năm) Năm 1998, sản lượng nhuyễn thể nuôi của Việt Nam chỉ đạt 21,3 nghìn tấn đến năm 2003 đạt được
100 nghìn tấn và năm 2008 đạt 170 nghìn tấn, với nhiều đối tượng nhuyễn thể nuôi khác nhau như: hàu, nghêu, trai ngọc, sò huyết, ốc hương, bào ngư vành tai, vẹm xanh và tu hài Hình thức nuôi cũng khá đa dạng: Nuôi bãi triều, nuôi lồng bè, nuôi dàn Nguồn con giống chủ yếu vẫn dựa vào tự nhiên nhưng gần đây đã sản xuất nhân tạo thành công giống một số loài như trai ngọc, ốc hương, điệp, bào ngư, nghêu, sò huyết mở ra triển vọng rất lớn để phát triển nuôi NTHMV ở Việt Nam trong những năm sắp tới
Trong các loài nhuyễn thể nuôi ở Việt Nam hiện nay nghêu là một đối tượng nuôi đang phát triển mạnh và được nhiều địa phương ở vùng ven biển đặc biệt quan tâm Nguyên nhân là do dễ nuôi, chi phí thấp, giá bán cao hơn gấp đôi chi phí, có thị trường tiêu thụ trong
và ngoài nước đang lớn mạnh Từ hoạt động khai thác tự nhiên trước năm 1980 chỉ khoảng
300 - 400 tấn/năm lên đến 700 - 800 tấn/năm trong các năm 1982 - 1986 Đầu những năm
2000, tổng sản lượng nghêu của khu vực ven biển phía Đông của Nam bộ (ĐBSCL và TP HCM) đã đạt 70 - 80 nghìn tấn/năm Từ một đối tượng hải sản được xem như nguồn thực phẩm phụ, bổ sung vào bữa ăn cho dân nghèo những lúc khan hiếm thức ăn, gần đây Nghêu
Trang 39đã trở thành một mặt hàng xuất khẩu chủ lực đứng hàng thứ hai sau tôm sú ở một số tỉnh
vùng ven biển ĐBSCL (Lê Xuân Sinh và ctv., 2007) Bên cạnh đó, các tỉnh Nam Định và
Thái Bình miền Bắc đã và đang trở thành một trong những địa phương phát triển mạnh nghề nuôi Nghêu trắng có nguồn gốc Bến Tre Năm 2005, Nam Định đã thả nuôi 1.300 ha, sản lượng đạt 15 đến 17 nghìn tấn; Thái Bình thả nuôi 1.500 ha, sản lượng đạt 30 nghìn tấn (Thái Phương, 2010) Bên cạnh đó, có thể kể đến là trong mấy năm gần đây việc khai thác Nghêu lụa đã cung cấp một sản lượng khá lớn cho các nhà máy chế biến nhất là Bình Thuận,
Kiên Giang và Cà Mau (Lê Xuân Sinh và ctv., 2007)
Cùng với việc phát triển nuôi, chế biến và thị trường xuất khẩu nghêu trắng có nguồn gốc Bến Tre đang ngày càng được mở rộng Thị trường tiêu thụ nghêu mạnh nhất
là Mỹ và Nhật, sản lượng nhập khẩu hàng năm của hai quốc gia này khoảng 120 nghìn tấn từ các nước Đông Nam Á (gần đây có Việt Nam), đem lại nguồn ngoại tệ khoảng 300
- 400 triệu USD mỗi năm cho khu vực đang phát triển này Nghêu được xuất khẩu ở nhiều dạng: tươi sống, đông lạnh và sấy khô Ngoài nghêu, Việt Nam còn xuất khẩu nhiều loài nhuyễn thể khác
Trong bối cảnh các mặt hàng xuất khẩu chủ lực như tôm, cá tra, cá ngừ, hàng khô, mực và bạch tuộc của Việt Nam năm 2009 gặp rất nhiều khó khăn trong xuất khẩu và đều suy giảm do tác động của suy thoái kinh tế và những yêu cầu nghiêm ngặt về ATTP thì xuất khẩu mặt hàng nghêu lại khá thuận lợi và tăng mạnh so với cùng kỳ năm 2008 (Phạm Yến, 2009)
Theo số liệu của Tổng cục Hải quan Việt Nam, từ 1/1 - 15/11/2009, xuất khẩu (XK) nghêu của cả nước đạt 17.624 tấn, trị giá trên 37,2 triệu USD, tăng 49,6% về khối lượng và 50,3% về giá trị so với cùng kỳ năm 2008 Giá xuất khẩu trung bình đạt 2,11 USD/kg
Một số doanh nghiệp XK nghêu Việt Nam cho biết, sản phẩm nghêu ngày càng được người tiêu dùng thế giới ưa chuộng không chỉ bởi giá trị dinh dưỡng trong con Nghêu mà còn bởi đây là sản phẩm sạch, đạt tiêu chuẩn ATTP của EU - thị trường nhập khẩu Nghêu lớn nhất của Việt Nam (chiếm 73,8% thị phần XK)
Tính đến hết ngày 15/11/2009, XK nghêu của Việt Nam sang EU đạt 13.590 tấn, trị giá 27,476 triệu USD, tăng 70,2% về khối lượng và 75,5% về giá trị so với cùng kỳ năm
2008 Trong thời gian này, XK Nghêu sang một số thị trường khác như Mỹ, ASEAN, Canađa, Trung Quốc và Hồng Kông cũng đạt mức tăng trưởng dương toàn diện cả về khối lượng và giá trị xuất khẩu Cụ thể, XK sang Mỹ tăng 28,4% về khối lượng và 32,7% về giá trị, sang ASEAN tăng 16,8% về khối lượng và 49,8% về giá trị, sang Canađa tăng 8,9% về khối lượng và 12,3% về giá trị, sang Trung Quốc và Hồng Kông tăng 509,5% về khối lượng và 286,6% về giá trị Bên cạnh đó, giá xuất khẩu trung bình nghêu cũng tăng nhẹ so với cùng kỳ năm trước
Không dừng lại ở những kết quả xuất khẩu đã đạt được, các doanh nghiệp chế biến xuất nghêu Việt Nam còn ngày càng quan tâm và chú trọng hơn đến thương hiệu và
uy tín của con nghêu Việt Nam trên trường quốc tế Các doanh nghiệp, Hiệp hội, các địa phương cùng các cơ quan chức năng trong cả nước đã và đang tăng cường việc quản lý phát triển bền vững nguồn lợi nghêu tại các vùng ven biển, đặc biệt là Bến Tre, tỉnh có diện tích nuôi nghêu và bãi nghêu giống tự nhiên lớn nhất khu vực ĐBSCL và cả nước
Trang 402.5.3 Tình hình đồng quản lý nguồn lợi thủy sản trên thế giới
Tổ chức phi chính phủ của Philipin là CERD tiến hành chương trình quản lý nguồn lợi ven biển có sự tham gia của cộng đồng (CBCRM) tại Calatagan, tỉnh Batangas vào năm 1992 Nông dân, ngư dân, giáo viên, sinh viên và chính quyền địa phương đã tham dự cuộc họp và đã nhất trí rằng việc đánh bắt cá bất hợp pháp là nguyên nhân chính của nghèo đói tại Vịnh Pagaspas và họ đã nhất trí đồng quản lý để giải quyết vấn đề này
(Aleroza et al., 2003)
Dự án Sinh kế khai thác Vẹm xanh Sokhulu ở Nam Phi năm 1998 đã xảy ra xung đột giữa các bên chia sẻ nguồn lợi Các nhân viên quản lý cảm nhận rằng không nên để tình trạng tiếp diễn và cộng đồng Sokhulu nên được tiếp cận để tìm ra một giải pháp Cuối cùng đưa ra giải pháp đồng quản lý, những nghi ngờ và xung đột ban đầu đã được giải quyết Những thỏa thuận được hình thành để xây dựng một hệ thống thu hoạch bền vững và để tăng cường năng lực cho các thành viên của cộng đồng nghề cá tham gia vào quá trình ra quyết định quản lý Việc ra quyết định trong một khu vực sinh kế là một sự
cố gắng mang tính phối hợp, với việc những người thu lượm vẹm được tham gia vào các
quyết định về các quy chế cũng như hạn ngạch thu lượm (Harris et al., 2003)
Để lựa chọn một cộng đồng có tiềm năng nhằm thực hiện thành công đồng quản
lý Theo Ostrom (1990, 1992), Pomeroy et al (2001), McConney et al (2003b), Sverdrup-Jensen and Nielsen (1998) và Sowman et al (2003) thì cộng đồng cần có
những đặc điểm sau: Xác định ranh giới rõ ràng; tính đồng nhất cộng đồng/nhóm; phụ thuộc cao vào nguồn lợi đang bị đe dọa; sự ràng buộc cao của cộng đồng vào biển và nguồn lợi; khuyến khích các cá nhân tham gia do sinh kế đang bị đe dọa; quyền hợp pháp
để tổ chức; sự tồn tại của phân quyền; kiến thức địa phương về nguồn lợi; chính quyền khuyến khích khả năng lãnh đạo của cộng đồng; xác định quyền sở hữu nguồn lợi
Đảo San Salvador, với diện tích 380 ha, thuộc một phần của khu tự trị Masinloc tỉnh Zambales, về phía Tây bờ biển Luzon, cách thủ đô Manila khoảng 250 km Một người tình nguyện của Tổ chức Hòa bình đã đến San Salvador vào năm 1987 đã đưa ra khái niệm Dự án Bảo tồn Biển cho San Salvador, một dự án quản lý nguồn lợi ven biển dựa vào cộng đồng về tái tạo rạn san hô Năm 1989, một tổ chức Phi chính phủ tại địa phương này đã có dự án thành lập Khu bảo tồn biển Tổ chức này cũng trợ giúp về phát
triển cách thức lãnh đạo, lập kế hoạch và giáo dục về môi trường (Katon et al., 1999)
Tại xã Kampong Por, Pursat, các tổ chức phát triển hộ gia đình Campuchia (CFDS) đã giúp cải thiện các điều kiện sống của người nghèo và nỗ lực thực hiện quyền hợp pháp của mình Pursat là một trong 6 tỉnh ven Hồ Tonle Sap Chương trình CFDS là một cơ hội để họ và cộng đồng tốt hơn cùng với Cục Thủy sản Pursat và quan chức địa phương tìm kiếm hợp tác trong tương lai về hỗ trợ nghề cá cộng đồng có được kiến thức,
kỹ năng và thái độ cần thiết đối với việc quản lý hiệu quả và bền vững các nguồn lực của cộng đồng (Rivera – Guieb, 2004)
Theo IIRR (1998), việc lập bản đồ nguồn lợi là một phương pháp không thể thiếu giúp thành viên cộng đồng xác định, định vị và phân loại được tình trạng nguồn lợi hiện tại và trong quá khứ, phân bổ, sử dụng ngư cụ và để có thể tìm ra những yếu tố quan trọng Điều đó cho phép thiết lập mối quan hệ giữa xây dựng thông tin và xác định vị trí không gian Lập bản đồ có thể ứng dụng cho toàn bộ hệ sinh thái của cộng đồng và phạm
vi của những bản đồ này có thể được điều chỉnh phụ thuộc vào mức độ chi tiết yêu cầu