1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá tình hình kinh tế thế giới và thương mại việt nam năm 2008 và đề xuất một số giải pháp nhằm ổn định thương mại của việt nam trong điều kiện biến động của thị trường thế giới

161 690 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh giá tình hình kinh tế thế giới và thương mại Việt Nam năm 2008 và đề xuất một số giải pháp nhằm ổn định thương mại của Việt Nam trong điều kiện biến động của thị trường thế giới
Tác giả Bộ Công Thương Vụ Kế Hoạch
Người hướng dẫn K.S. Lê Văn Được
Trường học Bộ Công Thương
Chuyên ngành Kinh tế và Thương mại
Thể loại Đề tài nghiên cứu khoa học
Năm xuất bản 2009
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 161
Dung lượng 1,44 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Năm 2009, tăng trưởng kinh tế của các nước đang phát triển khó phục hồi do khủng hoảng tài chính toàn cầu đã tác động tới nhiều lĩnh vực như sản xuất, công nghiệp, nông nghiệp, tiêu dùng

Trang 1

BỘ CÔNG THƯƠNG

VỤ KẾ HOẠCH

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

Đề tài: ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH KINH TẾ THẾ GIỚI VÀ THƯƠNG MẠI VIỆT NAM NĂM 2008 VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM ỔN ĐỊNH THƯƠNG MẠI CỦA VIỆT NAM TRONG ĐIỀU KIỆN BIẾN ĐỘNG CỦA THỊ TRƯỜNG THẾ GIỚI

CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI

KS LÊ VĂN ĐƯỢC

751429/9/2009

HÀ NỘI, 8/2009

Trang 2

BỘ CÔNG THƯƠNG

VỤ KẾ HOẠCH

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

Đề tài: ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH KINH TẾ THẾ GIỚI VÀ THƯƠNG MẠI VIỆT NAM NĂM 2008 VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM ỔN ĐỊNH THƯƠNG MẠI CỦA VIỆT NAM TRONG ĐIỀU KIỆN BIẾN ĐỘNG CỦA THỊ TRƯỜNG THẾ GIỚI

CƠ QUAN CHỦ QUẢN

BỘ CÔNG THƯƠNG

54 HAI BÀ TRƯNG - HÀ NỘI

CƠ QUAN CHỦ TRÌ THỰC HIỆN

VỤ KẾ HOẠCH - BỘ CÔNG THƯƠNG

54 HAI BÀ TRƯNG - HÀ NỘI

CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI

KS LÊ VĂN ĐƯỢC

HÀ NỘI, 8/2009

Trang 3

MỤC LỤC

PHẦN THỨ NHẤT: TÌNH HÌNH KINH TẾ THẾ GIỚI NĂM 2008 VÀ TRIỂN

VỌNG NĂM 2009 3

I DIỄN BIẾN TÌNH HÌNH KINH TẾ THẾ GIỚI NĂM 2008 3

II DỰ BÁO KINH TẾ THẾ GIỚI NĂM 2009 9

1 Châu Á 16

2 Châu Âu 23

3 Châu Mỹ 28

4 Châu Phi 32

5 Trung Đông và Bắc Phi 34

PHẦN HAI: MỘT SỐ HÀNG HÓA TRÊN THỊ TRƯỜNG THẾ GIỚI NĂM 2008 VÀ DỰ BÁO NĂM 2009 37

I GẠO 37

1 Diễn biến thị trường thế giới năm 2008 37

2 Dự báo thị trường thế giới năm 2009 39

II CAO SU SU THIÊN NHIÊN 40

1 Diễn biến thị trường thế giới năm 2008 40

2 Dự báo thị trường thế giới năm 2009 41

III CÀ PHÊ 42

1 Diễn biến thị trường thế giới năm 2008 42

2 Dự báo thị trường thế giới năm 2009 43

IV HẠT TIÊU 45

1 Diễn biến thị trường thế giới năm 2008 45

2 Dự báo thị trường thế giới năm 2009 46

V THỦY SẢN 46

1 Diễn biến thị trường thế giới năm 2008 46

2 Dự báo thị trường thế giới năm 2009 51

VI THÉP 53

1 Diễn biến thị trường thế giới năm 2008 53

2 Dự báo thị trường thế giới năm 2009 55

VII SẢN PHẨM DA GIÀY 56

1 Diễn biến thị trường thế giới năm 2008 56

2 Dự báo thị trường thế giới năm 2009 57

VIII HÀNG ĐIỆN TỬ VÀ MÁY TÍNH 58

1 Diễn biến thị trường thế giới năm 2008 58

Trang 4

2 Dự báo thị trường thế giới năm 2009 59

IX DỆT MAY 60

1 Diễn biến thị trường thế giới năm 2008 60

2 Dự báo thị trường thế giới năm 2009 61

X DẦU THÔ 63

1 Diễn biến thị trường thế giới năm 2008 63

2 Dự báo thị trường thế giới năm 2009 63

XI PHÂN BÓN 64

1 Diễn biến thị trường thế giới năm 2008 64

2 Dự báo thị trường thế giới năm 2009 65

PHẦN THỨ BA: THƯƠNG MẠI VIỆT NAM NĂM 2008 VÀ DỰ BÁO NĂM 2009 69

I NHẬN ĐỊNH CHUNG 69

1 Tổng quan về thương mại Việt Nam năm 2008 69

2 Mục tiêu phát triển thương mại Việt Nam năm 2009 72

II THƯƠNG MẠI TRÊN THỊ TRƯỜNG NỘI ĐỊA 73

1 Thị trường nội địa năm 2008 73

2 Mục tiêu phát triển thị trường nội địa năm 2009 75

3 Cung cầu một số mặt hàng trọng yếu năm 2008 và dự báo năm 2009 76

III TÌNH HÌNH XUẤT KHẨU NĂM 2008 VÀ DỰ BÁO NĂM 2009 78

1 Thị trường xuất khẩu 78

2 Mặt hàng xuất khẩu 89

IV TÌNH HÌNH NHẬP KHẨU NĂM 2008 VÀ DỰ BÁO NĂM 2009 105

V CÁN CÂN THƯƠNG MẠI 108

PHẦN 4: MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ 113

I Giải pháp cho hoạt động thương mại nội địa 113

II Giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu, hạn chế nhập siêu 115

1 Các giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu 115

2 Các giải pháp giảm nhập khẩu, kiềm chế nhập siêu 118

Trang 5

PHẦN THỨ NHẤT: TÌNH HÌNH KINH TẾ THẾ GIỚI NĂM 2008 VÀ

TRIỂN VỌNG NĂM 2009

I DIỄN BIẾN TÌNH HÌNH KINH TẾ THẾ GIỚI NĂM 2008

Trong năm 2008, cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đã ảnh hưởng đến hầu hết các quốc gia và khiến cho nền kinh tế thế giới suy thoái mạnh Các nền kinh tế mới nổi, động lực chính của tăng trưởng kinh tế thế giới đang phải vật lộn với suy thoái Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới không chỉ ảnh hưởng đến những nước đang phát triển mà còn tác động không nhỏ tới các nước phát triển, mặc dù đây là những nước có nội lực kinh tế mạnh mẽ, có thể chịu ảnh hưởng ít hơn khi lâm vào khủng hoảng Tình trạng suy thoái do khủng hoảng tài chính toàn cầu gây ra còn kéo dài và có tác động sâu sắc hơn so với những

dự báo trước đây Olivier Blanchard, nhà kinh tế trưởng của IMF cho rằng cuộc khủng hoảng này là “tồi tệ nhất trong vòng 60 năm trở lại đây”

Có thể điểm lại những vấn đề nổi bật của nền kinh tế thế giới năm 2008 như sau :

1 Khủng hoảng tài chính toàn cầu

Khủng hoảng tài chính toàn cầu là vấn đề xuyên suốt, trọng tâm của kinh

tế thế giới năm 2008 Cuộc khủng hoảng này được “châm ngòi” bằng hoạt động cho vay thế chấp quá dễ dãi và thiếu kiểm soát ở Mỹ Số lượng các khoản vay loại này đã tăng lên một cách không kiểm soát nổi trên thị trường địa ốc ở Mỹ, do người đi vay đặt nhiều hy vọng vào việc mua nhà để bán kiếm lời, còn các ngân hàng thì nhận thấy những khoản lợi nhuận quá béo bở Tuy nhiên, điều đáng nói là rủi ro của hoạt động vay nợ này không chỉ trong giới hạn giữa người đi vay và các ngân hàng Danh mục nợ này được các ngân hàng thương mại bán lại cho các ngân hàng đầu tư, để rồi các ngân hàng đầu tư sử dụng nghiệp vụ chứng khoán hóa các khoản nợ địa ốc thành các loại chứng khoán, bán cho các nhà đầu tư khắp thế giới

Khi giá nhà đất ở Mỹ đạt đỉnh và bắt đầu sụt giảm, làm cho tỷ lệ nợ xấu

và vỡ nợ tăng lên, gây sụt giảm mạnh mẽ giá trị của các loại chứng khoán MBS nói trên Tới lúc này, hậu quả xuất hiện theo kiểu hiệu ứng domino, từ người mua nhà, các ngân hàng thương mại, các ngân hàng đầu tư, tới các nhà đầu tư mua vào chứng khoán nợ địa ốc… cùng bị điêu đứng

Sự đổ vỡ dây chuyền trong ngành tài chính Mỹ ở thời kỳ đỉnh điểm giữa tháng 9/2008 đã lan qua Đại Tây Dương, tới châu Âu và gây ra những cơn

“dư chấn” ở châu Á Sau nỗi hoảng sợ của cả thế giới là trạng thái đóng băng tín dụng gần như trên phạm vi toàn cầu Các ngân hàng trước kia dễ dãi trong việc cho vay bao nhiêu, thì tới nay, họ lại dè dặt bấy nhiêu Tình trạng đóng băng tín dụng, vốn là “nguồn nhựa sống” của nền kinh tế đang là một trong

những mối đe dọa lớn nhất hiện nay của kinh tế thế giới (Thống kê của hãng

tin tài chính Bloomberg cho thấy, từ khi khủng hoảng tài chính bắt đầu tới

Trang 6

nay, các tập đoàn tài chính lớn nhất thế giới đã cắt giảm khoảng 240.000 việc làm và báo lỗ cùng thâm hụt tài sản hơn 1.000 tỷ USD)

Trong suốt giai đoạn đầu của cuộc khủng hoảng vào năm 2007, tác động của khủng hoảng tài chính lên các nước đang phát triển là tương đối nhỏ Tuy nhiên khi cuộc khủng hoảng lan rộng vào năm 2008 và đặc biệt kể từ giữa tháng 9 năm 2008, nguy cơ rủi ro đã tăng cao và dòng vốn đổ vào các nước đang phát triển bị thu hẹp lại Kết quả là đồng bản tệ ở các nước đang phát triển bị mất giá nghiêm trọng và giá cổ phiếu tại các thị trường này đã bị giảm mạnh từ năm 2008 Chào bán cổ phiếu lần đầu ra công chúng (IPO) gần như không xuất hiện và các khoản phí rủi ro đã tăng lên hơn 700 điểm cơ bản đối với trái phiếu và tăng lên hơn 1000 điểm cơ bản trên các khoản nợ của các doanh nghiệp tại các nước đang phát triển Gần đây hầu như không thấy dữ liệu về các khoản cho vay của ngân hàng và dòng chảy vốn đầu tư nước ngoài, tuy nhiên các chỉ số cho thấy rằng cả hai dòng chảy này đều đang giảm nhưng ở mức độ nhẹ hơn Tình hình thị trường tài chính xấu đi nghiêm trọng

đã xảy ra ở hầu hết các nước có mức thâm hụt tài khoản vãng lai lớn và những nước có mức tăng trưởng tín dụng quá nóng, không bền vững trước khi cuộc khủng hoảng lan rộng Trong 20 nước phát triển có phản ứng mạnh mẽ đối với sự suy giảm kinh tế (được tính bởi sụt giảm của tỉ giá hối đoái, tăng lãi suất và suy giảm thị trường vốn), có 6 nước thuộc châu Âu và Trung Á và 8 nước thuộc châu Mỹ Latinh và Caribe Tình trạng tín dụng thắt chặt làm cho đầu tư và tăng trưởng GDP giảm mạnh

2 Ba nền kinh tế lớn nhất thế giới đồng loạt suy thoái lần đầu tiên kể

từ Đại chiến Thế giới thứ hai, kinh tế toàn cầu giảm tốc mạnh

Cuộc khủng hoảng tài chính lần này được coi là tồi tệ nhất từ Đại khủng hoảng 1929 tới nay đã đẩy đồng loạt cả ba nền kinh tế lớn nhất thế giới là Mỹ, Nhật Bản và khu vực sử dụng đồng tiền chung châu Âu (Eurozone) vào suy thoái Đây là lần đầu tiên Mỹ, Nhật và Châu Âu cùng suy thoái kể từ năm

1945 tới nay Công nghiệp chế biến của Mỹ, khu vực đồng Euro, Anh, Nhật Bản, Trung Quốc đều suy giảm

Các nhà đầu tư sẵn lòng mua trái phiếu chính phủ Mỹ với lãi suất 0% chỉ nhằm bảo toàn vốn chứ không dám mạo hiểm giữ tiền ở các ngân hàng dễ tổn thương, mua trái phiếu công ty, hay đầu tư vào thị trường chứng khoán đang

đi xuống Tình trạng cạn kiệt thanh khoản và suy giảm nhu cầu đã khiến toàn

bộ ngành công nghiệp ô tô của Mỹ tiến gần tới bờ vực của sự phá sản Các hãng sản xuất ô tô ở Châu Âu, Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc cũng đang tiếp nhận hay yêu cầu sự hỗ trợ từ Chính phủ Mức giảm doanh số bán lẻ

ô tô ở Mỹ trong tháng 11/2008 là thấp nhất trong 30 năm trở lại đây Nền kinh

tế Mỹ cắt giảm hơn nửa triệu việc làm trong tháng 11/2008, đẩy tỷ lệ thất nghiệp lên tới 6,7% và số việc làm bị cắt giảm lên gần 2 triệu kể từ cuối năm

2007 Mặc dù rất khó có thể dự đoán chính xác nhưng hầu hết các nhà kinh tế học đều cho rằng nền kinh tế Mỹ sẽ tăng trưởng âm cho tới cuối năm 2009

Trang 7

hay đầu năm 2010

Tình trạng ảm đạm này không chỉ xuất hiện ở Mỹ Theo dự báo của Bundesbank (Ngân hàng Trung ương Đức) thì nền kinh tế Đức sẽ suy giảm 0,8% trong năm 2009 Nhà kinh tế trưởng của Deutsch Bank cho rằng dự báo này quá lạc quan, đồng thời cho rằng mức độ suy giảm có thể lên tới 4% Dự báo mới nhất của IMF thì nền kinh tế Đức sẽ tăng trưởng ảm đạm, mức suy giảm là 5,6% trong năm 2009 và dần đà phục hồi để giảm mức sụt giảm khoảng 1% trong năm 2010

Tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế Nhật Bản giảm 0,6% trong năm 2008 Theo số liệu thống kê tháng 11/2008, xuất khẩu của Nhật Bản giảm 27% so với cùng kỳ năm trước, đây là một mức giảm kỷ lục

Trung Quốc, nền kinh tế lớn thứ 3 thế giới và là bạn hàng quan trọng của

Mỹ cũng phải chịu cùng một lúc 3 tác động của cuộc khủng hoảng, đó là xuât khẩu vào các nước phát triển giảm, đồng nhân dân tệ lên giá so với đồng USD

và giá thành sản xuất tăng cao Việc đồng đôla mất giá cũng sẽ làm giảm dự trữ ngoại tệ của Trung Quốc, do nước này mua nhiều trái phiếu Mỹ Tốc độ tăng trưởng ngành công nghiệp của Trung Quốc giảm liên tục từ 16% (tháng 6/2008) xuống 8,2% (tháng 10/2008) và 5,4% (tháng 11/2008), mức thấp nhất trong 7 năm qua Kim ngạch xuất khẩu, yếu tố quan trọng tạo đà tăng trưởng cho Trung Quốc chỉ đạt 114,99 tỉ USD (11/2008) Đây là lần đầu tiên trong 7 năm qua, Trung Quốc chứng kiến mức suy giảm xuất khẩu

Năm 2008, tăng trưởng của Trung Quốc đạt 9% (so với 13% năm 2007), tiếp sau là Ấn Độ 7,3% (so với mức 9,3% năm 2007) – đây là 2 nền kinh tế có quy mô dân số lớn nhất thế giới sẽ tạo ra cú hích cho tăng trưởng của các nước đang phát triển Nếu không có sự đóng góp của Trung Quốc và Ấn Độ, các nước đang phát triển sẽ chỉ đạt mức tăng trưởng hơn 5,5% Tốc độ tăng trưởng chung của các nền kinh tế Châu Á đạt 6,1%, đây là tỉ lệ khá cao nhưng vẫn giảm mạnh so với con số 8,3% so với năm 2007

Suy thoái tại các nền kinh tế lớn, đồng thời là thị trường xuất khẩu chủ yếu của các nền kinh tế đang nổi lên - kéo tốc độ tăng trưởng sụt giảm trên phạm vi toàn cầu

3 Sự đổ vỡ hàng loạt của các ngân hàng

Là tâm điểm của khủng hoảng, tại nước Mỹ đã diễn ra nhiều vụ đổ vỡ nhất trong ngành tài chính, ngân hàng Trước hết, phải kể tới sự “biến mất” của mô hình ngân hàng đầu tư độc lập (independent investment bank) của Phố Wall Cả 5 ngân hàng đầu tư độc lập của con phố tài chính này đều trải qua những số phận cay đắng trong năm 2008: Lehman Brothers phá sản, Bear Stearns và Merill Lynch bị thâu tóm, Morgan Stanley và Goldman Sachs phải chuyển đổi sang mô hình ngân hàng tổng hợp (bank holding company) Kế đến là hàng loạt vụ giải thể trong lĩnh vực ngân hàng thương mại của Mỹ Tính tới ngày 15/12, số ngân hàng thương mại của Mỹ phải đóng cửa đã lên

Trang 8

tới con số 25, so với con số 3 ngân hàng bị ngưng hoạt động trong cả năm

2007 Trong số này, phải kể tới những tên tuổi lớn như Washington Mutual, Wachovia, IndyMac…

Sự đổ vỡ của các ngân hàng ở Mỹ ảnh hưởng mạnh tới tâm lý của người dân không chỉ ở nước này mà còn ở các quốc gia khác trên thế giới Các nền kinh tế lớn ở châu Á hầu như không có ngân hàng nào bị đóng cửa trong năm qua Tuy nhiên, vào cuối tháng 9, tại Hồng Kông, do tin đồn thất thiệt, người dân đã đổ xô đi rút tiền gửi ở Ngân hàng Bank of East Asia (BAE)

4 Năm 2008, năm của các kế hoạch giải cứu và kích thích kinh tế

Tính nghiêm trọng của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đã khiến chính phủ các nước không thể không can thiệp Nhiều “đại gia” tài chính của nước Mỹ và Châu Âu có lẽ đã đổ vỡ nếu không có sự can thiệp kịp thời của chính phủ

Tại Mỹ, Chính phủ nước này năm qua đã phải tiếp quản hai tập đoàn tài chính nhà đất khổng lồ là cặp “sinh đôi” Fannie Mae và Freddie Mac, hãng bảo hiểm AIG và ngân hàng Citigroup

Tại Châu Âu, danh sách các ngân hàng được các nhà chức trách can thiệp cũng tương đối dài Nhiều ngân hàng lớn của châu lục này đã bị quốc hữu hóa một phần hoặc toàn bộ như Northern Rock và Bradford & Bingley của Anh, Fortis và Dexia của Bỉ, Hypo Real Estate của Đức; Kaupthing, Landsbanki và Glitnir của Iceland…

Nói về các kế hoạch giải cứu quy mô lớn của Mỹ, cần nhắc tới kế hoạch

700 tỷ USD dành cho ngành tài chính, kế hoạch 800 tỷ USD để “phá băng” thị trường tín dụng, kế hoạch mua thương phiếu để tăng tính thanh khoản cho các doanh nghiệp không thuộc ngành ngân hàng, kế hoạch cứu các con nợ địa

ốc khỏi mất nhà… Hiện Chính phủ Mỹ vẫn đang tìm biện pháp để cứu ngành công nghiệp xe hơi của nước này sau khi một kế hoạch hỗ trợ 14 tỷ USD dành cho các hãng ôtô bị Thượng viện bác bỏ

Bên kia bờ Đại Tây Dương, sau nhiều tranh cãi, các nước sử dụng chung đồng Euro cũng đi tới một kế hoạch giải cứu tập thể cho ngành ngân hàng; nước Anh cũng tung ra một gói giải cứu trị giá 85 tỷ USD cho hệ thống tài chính của mình

Cùng với đó, thế giới cũng chứng kiến sự ra đời của những kế hoạch kích thích kinh tế lớn chưa từng có Mở màn là gói kích thích kinh tế thông qua hoạt động hoàn thuế cho người dân và doanh nghiệp trị giá hơn 150 tỷ USD của Mỹ Tổng thống đắc cử Barack Obama của Mỹ hiện đang có ý định đưa

ra một gói kích thích kinh tế nữa, với trị giá có thể lên tới hơn 1.000 tỷ USD Nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất thế giới Trung Quốc cũng đã tung ra gói kích thích kinh tế trị giá 568 tỷ USD Gần đây nhất, hôm 12/12, Nhật Bản đã công bố kế hoạch kích thích kinh tế trị giá 255 tỷ USD Cùng thời điểm, EU

Trang 9

cũng đưa ra một kế hoạch tương tự trị giá khoảng 267 tỷ USD

5 Nỗi lo lạm phát chuyển sang nỗi lo giảm phát, đói nghèo gia tăng trên toàn thế giới

Ở nửa đầu năm 2008, trong bối cảnh giá dầu thô liên tiếp lập kỷ lục và thiếu chút nữa chinh phục mốc 150 USD/thùng, lạm phát là nỗi lo canh cánh của cả thế giới Tuy nhiên, càng về cuối năm, nỗi lo này càng giảm bớt cùng với sự đi xuống nhanh chưa từng có của giá nhiên liệu Mặc dù vậy, thế giới lại phải đương đầu với một mối đe dọa mới là giảm phát - một vấn đề đáng ngại không kém gì lạm phát

Tại Mỹ, trong tháng 11, CPI giảm với tốc độ kỷ lục 1,7% sau khi đã giảm 1% trong tháng 10 Từ đầu năm tới tháng 11, CPI ở nước này chỉ tăng có 0,7%, so với mức tăng 4,1% trong cả năm 2007

Tại Châu Âu, lạm phát cũng đang giảm mạnh Cơ quan Thống kê EU (Eurostat) cho hay, lạm phát trong tháng 11 của khu vực Eurozone đã giảm từ mức 3,2% trong tháng 10 xuống còn 2,1% - mức thấp nhất trong vòng 14 tháng trở lại đây

Tại Trung Quốc đầu năm còn đặt nhiệm vụ hàng đầu là “giảm nhiệt” tăng trưởng nền kinh tế, lạm phát tháng 11 cũng đã giảm xuống mức thấp nhất trong vòng 22 tháng trước đó Chỉ số CPI trong tháng chỉ tăng có 2,4% so với cùng kỳ năm ngoái, trong khi tháng 10 tăng 4%

Tầng lớp dân nghèo của thế giới là một trong những đối tượng hứng chịu nhiều tác động nặng nề của sự biến động giá cả và khủng hoảng tài chính Tính toán của Tổ chức Nông lương Liên hiệp quốc (FAO) cho thấy, giá lương thực tăng cao và kinh tế suy thoái đã làm số người bị đói năm 2008 tăng thêm

40 triệu, nâng tổng số người thiếu đói toàn cầu lên 960 triệu

Nếu như lạm phát tất yếu đe dọa nghiêm trọng cuộc sống của họ, thì giảm phát cũng có khả năng gây tác động tai hại không kém, vì giá cả lương thực giảm, dẫn tới hạn chế đầu tư phát triển diện tích trồng trọt, dẫn tới nguồn cung

Với chuỗi cắt giảm lãi suất 10 lần kể từ tháng 9/2007 tới nay, FED đã đưa lãi suất đồng USD từ mức 5,25% về khoảng thấp chưa từng có trong lịch sử là

0 – 0,25% ECB, ngân hàng trung ương của khu vực đồng tiền chung châu Âu với mục tiêu số một là chống lạm phát, cũng đã phải giảm mạnh lãi suất đồng

Trang 10

Euro về mức 2,5% sau khi khủng hoảng tấn công mạnh vào Châu Âu Nhật Bản lần đầu tiên hạ lãi suất trong 7 năm trở lại đây, đưa lãi suất đồng Yên về mức 0,3% Trung Quốc cũng liên tục cắt giảm lãi suất đồng Nhân dân tệ Thụy Sỹ trở thành quốc gia đầu tiên tại châu Âu có mức lãi suất dưới 1% khi đưa lãi suất đồng Franc của mình về 0,5% Đáng chú ý, các quốc gia không chỉ tiến hành cắt giảm lãi suất riêng lẻ, mà còn thực hiện những đợt phối hợp cắt giảm lãi suất toàn cầu, mà mở đầu là đợt cắt giảm lãi suất ngày 8/10 do FED, ECB và Ngân hàng Trung ương Anh (BoE) dẫn đầu trong bối cảnh diễn biến khủng hoảng căng thẳng

Cùng với việc hạ lãi suất, các nước cũng liên tục bơm tiền với khối lượng lớn vào hệ thống tài chính và nền kinh tế để tăng cường tính thanh khoản cho thị trường Đến nay chưa có thống kê chính thức, tuy nhiên, số tiền mà Mỹ cam kết để vực dậy kinh tế và hỗ trợ ngành tài chính đã lên tới con số xấp xỉ 7.000 tỷ USD

7 Thị trường hàng hóa đạt đỉnh và tụt dốc

Năm 2008 chứng kiến đỉnh cao và sự thoái trào của hoạt động đầu cơ trên thị trường hàng hoá Hai mặt hàng được quan tâm nhiều là vàng và dầu thô đều cùng đạt đỉnh cao lịch sử trong năm 2008, với mức giá trên 1.030 USD/oz đối với vàng vào thời điểm tháng 3, và mức trên 147 USD/thùng đối với dầu vào giữa tháng 7 Sau đó, giá cả hai mặt hàng này cùng trượt dốc dài Tuy nhiên, với tư cách là một kênh đầu tư an toàn trong khủng hoảng, giá vàng không sụt giảm quá mạnh Trong khi đó, giá dầu, một hàn thử biểu của sức khỏe kinh tế - đã “đánh mất” hơn 70% so với mức đỉnh nói trên

Tựu chung, chỉ số giá Reuters/Jefferies CRB Index của 19 loại hàng hóa, trong đó có vàng và dầu thô, đã giảm mất 38% tính từ đầu năm tới ngày 18/12/2008 Sự thay đổi quá nhanh chóng của bộ mặt và viễn cảnh kinh tế thế giới, từ tích cực sang tiêu cực, là lý do chính dẫn tới sự tụt dốc này

8 Năm chao đảo của thị trường chứng khoán toàn cầu

Khủng hoảng tài chính, kéo theo sự đổ vỡ và nguy cơ đổ vỡ của nhiều tập đoàn lớn trong ngành này, cùng với sự suy thoái của kinh tế toàn cầu, đã khiến thị trường chứng khoán thế giới liên tục rung chuyển trong năm 2008 Cũng theo số liệu của Bloomberg, tính tới ngày 19/12/2008, thị trường chứng khoán thế giới đã sụt giảm 46% giá trị so với hồi đầu năm, còn 32.000 tỷ USD Riêng tại thị trường Mỹ, tính tới ngày 17/12/2008, chỉ số Dow Jones đã giảm 33,47%, chỉ số S&P 500 giảm 38,4%, còn chỉ số Nasdaq giảm 40,45%

9 Bầu cử tổng thống Mỹ, cả thế giới đặt hy vọng vào chính sách kinh tế của ông Barack Obama

Cuộc bầu cử tổng thống Mỹ năm 2008 được xem là một cuộc bầu cử lịch

sử trên nhiều phương diện như tính chất căng thẳng, mức độ tốn kém, tỷ lệ cử tri đi bỏ phiếu… và đặc biệt việc là nước Mỹ đã bỏ phiếu để chọn vị tổng thống da màu đầu tiên trong lịch sử của mình Là người được lựa chọn trong

Trang 11

bối cảnh đất nước đối mặt với nhiều khó khăn chồng chất, ông Obama lãnh sứ mệnh phải tạo ra những thay đổi Trong đó, nhiệm vụ hàng đầu của ông là vực dậy nền kinh tế Mỹ khỏi thời kỳ suy thoái tồi tệ hiện nay và đẩy mạnh các nỗ lực hợp tác chống khủng hoảng trên phạm vi quốc tế Cả nước Mỹ hy vọng và thế giới đang theo dõi các chính sách mà vị Tổng thống Mỹ thứ 44 này sẽ thực thi, nhất là chính sách kinh tế

II DỰ BÁO KINH TẾ THẾ GIỚI NĂM 2009

Trong bối cảnh năm 2008 và những gì đã và đang diễn ra những tháng đầu năm 2009, việc dự báo về nền kinh tế thế giới năm 2009 được đánh giá là rất khó khăn với tất cả các quốc gia, các tổ chức nghiên cứu, tư vấn và các nhà kinh tế hàng đầu thế giới Tăng trưởng kinh tế thế giới năm 2009 được dự báo sẽ ở mức thấp và là mức thấp nhất kể từ sau chiến tranh thế giới lần thứ 2 Tăng trưởng kinh tế của các nước phát triển cũng như các nước đang phát triển đều sút giảm nghiêm trọng Kinh tế thế giới có thể phục hồi dần vào năm sau, với điều kiện là các nước cần phải triển khai một loạt các chính sách đồng bộ để ổn định tình hình tài chính, quy mô lại các hỗ trợ tài chính, từng bước cải thiện tình trạng tín dụng, hạ nhiệt thị trường nhà đất và giảm nhẹ mức độ ảnh hưởng do sự sụt giảm của giá dầu thô và hàng hóa thiết yếu Hiện nay, nhiều chính sách đã được các nước đưa ra, nhưng thời gian phát huy hiệu quả còn ngắn nên tình hình khủng hoảng tài chính vẫn tiếp diễn

và tăng trưởng kinh tế vẫn đang trong chiều hướng đi xuống Kinh tế thế giới chỉ phục hồi bền vững nếu khu vực tài chính được phục hồi và các thị trường chứng khoán được tháo gỡ khó khăn Để đạt được mục tiêu này, nhiều nước

đã đưa ra các chính sách để khoanh vùng các khoản nợ xấu; lựa chọn các công ty tài chính có thể đứng vững trong giai đoạn trung hạn và cung cấp các dịch vụ công để hỗ trợ cho các doanh nghiệp, ngân hàng… bằng cách bơm thêm vốn và chia nhỏ các đối tượng sản xuất Chính sách tài chính, tiền tệ cần được sử dụng linh hoạt để kích cầu, các chiến lược phát triển cần được xây dựng có hiệu quả để đảm bảo sự bền vững của thị trường tài chính trong dài hạn Ngoài ra, để vượt qua cuộc khủng hoảng, các quốc gia trên thế giới đã có những nhóm họp để hợp tác thống nhất quan điểm và đưa ra những giải pháp, định hướng chính sách đúng đắn, đồng thời cùng phối hợp hành động để thực thi những giải pháp, chính sách này có hiệu quả

Tỷ lệ tăng trưởng tiếp tục đi xuống 1

Theo dự báo của IMF thì kinh tế toàn cầu năm 2009 được dự báo sẽ

giảm xuống mức -1,3%, đây là mức tăng trưởng thấp nhất trong vòng 60 năm qua Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) dự báo các nền kinh tế phát triển trên thế giới

sẽ tăng trưởng âm 3,8% trong năm 2009, trong đó dự kiến kinh tế Mỹ tăng trưởng âm 2,8%, Nhật Bản tăng trưởng âm 6,2%, Eurozone tăng trưởng âm 4% Nền kinh tế toàn cầu được dự báo sẽ từng bước phục hồi vào năm 2010

Trang 12

với mức tăng trưởng có thế đạt 1,9% nhờ các nỗ lực để giảm nhiệt thị trường tín dụng cũng như việc phát huy các chính sách về tài chính tiền tệ Tuy nhiên triển vọng này không được đảm bảo chắc chắn, và thời gian cũng như tốc độ phục hồi phụ thuộc nhiều vào các biện pháp chính sách mạnh mẽ1

Biểu 1: Dự báo của IMF về tốc độ tăng trưởng GDP

Theo số liệu dự báo của Ngân hàng Thế giới (WB) thì tốc độ tăng

trưởng chung của kinh tế thế giới trong năm 2009 khả quan hơn số liệu trên của IMF, với mức khoảng 0,9%, tuy nhiên, đây cũng là mức thấp nhất kể từ năm 1970 đến nay Ở các nước công nghiệp hóa, tốc độ này chỉ còn 0,1%, trong khi tại các nước đang phát triển là 4,5%, khu vực các nước Trung Đông

và Bắc Phi cũng bị giảm từ 5,8% xuống còn 3,9% Năm 2009, tăng trưởng kinh tế của các nước đang phát triển khó phục hồi do khủng hoảng tài chính toàn cầu đã tác động tới nhiều lĩnh vực như sản xuất, công nghiệp, nông nghiệp, tiêu dùng và xuất khẩu Xuất khẩu giảm kéo theo sự sụt giảm của nhiều ngành sản xuất khác và làm tăng tỉ lệ thất nghiệp cũng như số người nghèo Tăng trưởng của các nước đang phát triển sẽ giảm còn 4,6% (2009) so với mức dự báo trước đây là 6,4% Kinh tế Châu Á năm 2009 sẽ tăng trưởng chậm lại, giảm còn 6,0% (so với mức dự đoán trước đây là 7,1%), kim ngạch xuất khẩu của các nền kinh tế mới nổi châu Á sẽ giảm 20% Tuy nhiên, nhiều nhà phân tích dự đoán rằng, kinh tế Châu Á vẫn có triển vọng sáng sủa, đóng vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế toàn cầu Giá hàng hóa và xăng dầu giảm mạnh trên thị trường thế giới đã làm dịu lạm phát của khu vực, đặc biệt đối với một số quốc gia Đông Nam Á – là những nước phụ thuộc rất nhiều vào năng lượng và gạo nhập khẩu Xu hướng này sẽ còn tiếp tục giảm trong năm 2009, giúp giảm gánh nặng trợ cấp lương thực, thực phẩm và xăng dầu

1 Theo Dự báo phát triển kinh tế toàn cầu IMF (tháng 1 năm 2009)

Emerging and developing economies: Các nước đang phát triển

Advanced economies: Các nước phát triển

Trang 13

của Chính phủ các nước Đông Nam Á Các nhà phân tích cho rằng nền kinh

tế thế giới sẽ thoát khỏi khủng hoảng trong năm 2009, song tốc độ tăng trưởng 0,9% dự báo còn nhiều bất ổn đang chờ đợi, khi mà tốc độ gia tăng

dân số toàn cầu trong giai đoạn 2005-2010 ở mức 1,1%

Thị trường tài chính vẫn trong giai đoạn khó khăn

Tình hình thị trường tài chính vẫn còn rất khó khăn trong dài hạn mặc dù một loạt các biện pháp, chính sách để hỗ trợ thêm vốn và giảm các rủi ro tín dụng đã được triển khai Khi dự báo kinh tế sụt giảm, thị trường vốn ở các nước phát triển và các nước mới nổi đều tăng trưởng chậm chạp, thậm chí là không tăng Nhìn chung, đối với các nước phát triển, tình hình sẽ tiếp tục khó khăn cho đến khi các chính sách nhằm tái cơ cấu lại khu vực tài chính, giải quyết sự bất ổn đối với các khoản nợ phát huy tác dụng

Trước tình hình tăng trưởng sụt giảm và sức ép lạm phát ngày càng dịu

đi, ngân hàng trung ương ở các nước mới nổi đang triển khai các biện pháp để thực hiện việc cắt giảm lãi suất và tăng cung tín dụng Lãi suất thị trường trong ngắn hạn năm 2009 ở các nước này có thể đạt mức 0,75% điểm, thấp hơn Mỹ, khu vực đồng Euro, Anh và phù hợp với mong đợi của thị trường

Để đối phó với sự sụt giảm, Chính phủ nhiều nước đã công bố các gói kích thích tài chính để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Cụ thể là gói kích thích tài chính của nhóm nước G-20 năm 2009 sẽ vào khoảng 1,5% tổng GDP Thâm hụt ngân sách cũng được dự báo sẽ tăng do việc triển khai các công cụ

ổn định tự động; tổng doanh thu giá cả tài sản và mức tăng chi phí cho khu vực tài chính có sự suy giảm

Thị trường thế giới tác động nặng nề lên các nhóm nước đang phát triển, mới nổi, thu nhập thấp

Tại các nước đang phát triển cũng như các nước có thu nhập thấp, tăng trưởng tiếp tục bị ảnh hưởng bởi cuộc khủng hoảng tài chính, giá cả hàng hóa thấp, cầu nhập khẩu giảm và kéo theo là nhu cầu nội địa cũng giảm Tăng trưởng trong năm 2009 tại các nước này rất thấp trước khi phục hồi dần vào năm 2010, dự báo tăng trưởng sẽ ở mức 1,6% trong 20091 và phục hồi mức tăng trưởng 4% trong năm 2010.Các nước đang phát triển ở Châu Phi và một

số khu vực khác được chuẩn bị tốt để đối mặt với các thách thức khi thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô hiện đại Tuy nhiên châu lục này sẽ vẫn trong tình trạng kém phát triển hơn các khu vực khác do tình trạng nghèo đói và phải dựa chủ yếu vào xuất khẩu hàng hóa

Các nước đang phát triển ít tiếp xúc với thị trường tài chính quốc tế, vì thế sự suy thoái tác động lên nền kinh tế của họ theo cơ chế gián tiếp Trước hết cơ hội xuất khẩu hàng hóa của họ sẽ bị giảm sút nhanh chóng do các nước

có thu nhập cao giảm thiểu nhu cầu nhập khẩu (trong năm 2009, tốc độ giảm nhập khẩu ở những nước này khoảng 8,8% so với mức tăng 10,9% trong năm

Trang 14

2008), các khoản tín dụng xuất khẩu bị cạn kiệt và phí bảo hiểm trở nên đắt

đỏ hơn Hậu quả là sản xuất bị đình đốn, nhiều doanh nghiệp bị phá sản, người lao động bị mất việc, thị trường nội địa ế ẩm…

Các nền kinh tế mới nổi và các nước đang phát triển đang trải qua thời

kỳ kinh tế suy giảm nghiêm trọng Xuất khẩu trong năm 2009 dự báo sẽ giảm 6,4%, sụt giảm nghiêm trọng so với mức tăng trưởng xuất khẩu 6% năm

2008 Nguyên nhân này là do cầu xuất khẩu giảm và tình trạng căng thẳng của thị trường tài chính quốc tế, đặc biệt là đối với những nước có thâm hụt cán cân thanh toán vãng lai lớn Cơ cấu kinh tế vững mạnh ở các nước mới nổi giúp cho các chính sách phát huy được hiệu quả, hỗ trợ tăng trưởng, giúp giảm thiểu tác động của những cú sốc từ bên ngoài Do đó, mặc dù những nước này sẽ phải chịu những ảnh hưởng nghiêm trọng, dự báo tăng trưởng (dự báo đạt 1,6%) của họ sẽ vẫn duy trì ở mức hiện tại hoặc thâm chí cao hơn trong suốt thời kỳ sụt giảm của tăng trưởng kinh tế toàn cầu (dự báo giảm 1,3%) Điều này là bởi các nước có thu nhập thấp tham gia ít hơn vào thị trường vốn thế giới nên khủng hoảng kinh tế sẽ ảnh hưởng tới các nước này thông qua cơ chế gián tiếp, bao gồm giảm kim ngạch xuất khẩu, giá hàng hoá thấp, và giảm dòng tiền ngoại tệ

Các nền kinh tế phát triển đang trải qua giai đoạn tăng trưởng thấp nhất kể từ sau Chiến tranh thế giới thứ II

Các nước phát triển cũng sẽ chịu ảnh hưởng khủng hoảng sâu rộng trong năm 2009 Nhóm nước G-7 được dự báo là sẽ trải qua thời kỳ tăng trưởng ở mức khiêm tốn Với đà tăng trưởng âm, các biện pháp chính sách để giải quyết những khó khăn của khu vực tài chính đến nay đã cho thấy những tác động đối nghịch trong nền kinh tế vĩ mô, và triển vọng hồi phục kinh tế trước giữa năm 2010 đang bị lùi lại Đây là giai đoạn sụt giảm mạnh nhất kể từ sau Chiến tranh thế giới thứ II, với mức thiệt hại về giá trị sản lượng cộng dồn có thể so sánh với giai đoạn 1974-75 và 1980-82 Cuộc khủng hoảng tài chính được cho là bắt đầu vào giữa năm 2008 tại châu Âu, Nhật và gần đây là từ

Mỹ Cuộc khủng hoảng được dự báo sẽ lan rộng trong năm 2009 kéo theo sự sụt giảm GDP ở các nước có thu nhập cao sụt giảm khoảng 3,8% vào năm

2009 và lấy đà phục hồi mức 0% năm 2010 Tuy nhiên, nếu các nước phát triển tích cực thực hiện các biện pháp đồng bộ và toàn diện để từng bước hỗ trợ, bình thường hóa thị trường tài chính, đồng thời thực thi các chính sách điều chỉnh quy mô và cắt giảm lãi suất, dự báo kinh tế sẽ hồi phục vào cuối năm 2009 và tăng trưởng 1% vào năm 2010

Sự ổn định của thị trường nhà đất ở Mỹ cũng sẽ phần nào củng cố khả năng phục hồi kinh tế trong thời kỳ này Khi tình hình thị trường tài chính dần được cải thiện vào giữa quý 2 năm 2009 và việc thực thi các chính sách và kế hoạch có tính thuyết phục để phục hồi khu vực tài chính và các biện pháp hỗ trợ kích cầu, thì tăng trưởng được dự báo sẽ khả quan hơn trong quí 3 năm

2010

Trang 15

Tại khu vực đồng Euro, suy thoái kinh tế năm 2009 phản ánh rõ khi cầu nhập khẩu giảm Tại Nhật, ảnh hưởng của khủng hoảng đã làm cho xuất khẩu, đầu tư doanh nghiệp và tiêu dùng cá nhân cùng giảm Khu vực tài chính, mặc

dù không phải trung tâm của cuộc khủng hoảng cũng sẽ chịu ảnh hưởng nặng

nề và tăng trưởng chậm

Sản lượng và thương mại toàn cầu tụt dốc vào cuối năm 2008 1

Thương mại quốc tế được dự báo sẽ giảm mạnh với tổng kim ngạch xuất khẩu toàn cầu giảm 11% năm 2009, phá vỡ mức đáy mức 1,9% của năm

1975 Cơ hội xuất khẩu của các nước đang phát triển sẽ giảm nhanh chóng do khủng hoảng tại các nước có thu nhập cao và do các khoản tín dụng xuất khẩu đang cạn dần cùng với bảo hiểm xuất khẩu đắt đỏ Tăng trưởng chậm ở các nước thu nhập cao ước tính sẽ làm giảm dòng ngoại tệ vào các nước đang phát triển từ 2% xuống 1,8% GDP của các nước này Tại các quốc gia, mức sụt giảm chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của sự biến động tỷ giá

Cuộc khủng hoảng tài chính vẫn tiếp diễn và dường như các chính sách đều chưa đẩy lùi được cuộc khủng hoảng này Đây là nguyên nhân dẫn đến sự sụt giảm giá trị tài sản ở cả những nước phát triển và những nước đang phát triển, làm giảm sự thịnh vượng của khu vực tư nhân, từ đó tạo sức ép lên tổng cầu Tình hình bất ổn về kinh tế khiến cho các doanh nghiệp và các hộ gia đình tạm dừng chi tiêu, giảm nhu cầu tiêu dùng và mua sắm hàng hóa có giá trị lớn Cùng thời điểm, sự sụp đổ tín dụng lan rộng cũng đã ảnh hưởng đến tiêu dùng của các hộ gia đình, từ đó làm cho sản lượng sản xuất và thương mại giảm theo Sản xuất của một số nền kinh tế lớn nhất thế giới sẽ suy giảm trong năm 2009, kéo theo sự suy giảm kinh tế toàn cầu Kim ngạch thương mại quốc tế, các dòng vốn và đầu tư sẽ thu hẹp Hộ gia đình sẽ cắt giảm tiêu dùng và doanh nghiệp sẽ cắt giảm đầu tư khi ngân hàng không muốn cho vay

do đang thua lỗ lớn

Tình trạng tín dụng thắt chặt, dòng vốn yếu hơn tới các nước có thu nhập trung bình và sự sụt giảm nghiêm trọng về cầu nhập khẩu của toàn cầu đều được dự báo là các nhân tố chính ảnh hưởng đến tăng trưởng của các nước đang phát triển Nhu cầu nhập khẩu dự đoán sẽ giảm còn 12,1% tại các nước

có thu nhập cao trong năm 2009, trong khi dòng chảy vốn tới các nước đang phát triển sẽ giảm từ 1000 tỷ USD trong năm 2007 xuống khoảng 530 tỷ USD trong năm 2009, hay từ 7,7% xuống còn 3% tổng GDP của các nước đang

phát triển

Giá cả tiếp tục biến động và lạm phát 2

Năm 2008, giá nhiều mặt hàng tăng đột biến, trong đó giá lương thực có lúc tăng hơn 100% và giá dầu thô lên đến 147 USD/thùng Hậu quả của tình trạng này là người tiêu dùng tại các nước đang phát triển phải chi thêm 680 tỉ

1 Dự báo Tăng trưởng kinh tế toàn cầu của IMF (tháng 4/2009)

Trang 16

USD trong năm 2008, đẩy thêm 130 đến 155 triệu người vào cảnh nghèo đói Cũng từ đó đã phát sinh tình trạng lạm phát Ở hầu hết các nước đang phát triển, tỷ lệ lạm phát từ 5% trở lên và hơn 50% trong số đó có tỷ lệ lạm phát lên đến hai con số Sức ép lạm pháp đang lắng xuống Tuy nhiên, sang năm

2009, tình hình giá cả hàng hóa có biến động giảm đã làm dịu sức ép lạm phát Tại các nước phát triển, lạm phát dự báo sẽ giảm từ mức 3,25% năm

2008 xuống mức kỷ lục 0,25% năm 2009, trước khi tăng lên mức 0,75% năm

2010 Hơn nữa, một số nước phát triển được dự báo đang trải qua thời kỳ giá

cả hàng hóa tăng thấp (thậm chí là âm) Tại các nước mới nổi và nước đang phát triển, lạm phát cũng được dự báo giảm từ mức 9,5% năm 2008 xuống 5,75% năm 2009 và 5% năm 2010,

Tăng trưởng toàn cầu sụt giảm làm đảo ngược xu thế bùng nổ giá cả hàng hóa Sự đình trệ của tổng cầu đã làm giảm giá cả hàng hóa Mặc dù cho cắt giảm sản xuất và những căng thẳng chính trị, giá dầu đã giảm khoảng 60%

so với mức đỉnh đạt hồi tháng 7 năm 2008, mặc dù vẫn còn ở mức cao so với những năm 1990 Dự báo của IMF về mức giới hạn của giá xăng dầu sẽ điều chỉnh xuống mức 50 USD/thùng vào năm 2009, (theo Worldbank là mức bình quân 75 USD/thùng) 60 USD/thùng vào năm 2010 và có thể ở mức thấp hơn Năm 2009, do sự giảm tốc của nền kinh tế Mỹ làm cho quan hệ cung – cầu dầu mỏ đỡ căng thẳng, song nhiều yếu tố làm tăng giá dầu khác vần còn, nên giá dầu mỏ vẫn có thể tăng đột biến và bấp bênh Giá dầu giảm trong những tháng cuối năm 2008 chỉ là tạm thời; xu hướng tăng giá vẫn tồn tại do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, do việc khai thác dầu trở nên khó khăn hơn và những hạn chế về công nghệ cũng làm giảm nguồn cung Theo đánh giá trữ lượng dầu mỏ trên thế giới chỉ đủ khai thác trong khoảng

40 năm nữa Do vậy, những biến động giá dầu mỏ sẽ còn tiếp tục ảnh hưởng đến kinh tế toàn cầu Giá kim loại và thực phẩm được đánh giá là sẽ thấp hơn mức tăng trưởng gần đây, giảm xuống 23% và 26% so với mức năm 2008 (theo dự báo của Worldbank) Các mức giá này đã tác động đến triển vọng tăng trưởng ở một loạt nước xuất khẩu hàng hóa Tuy nhiên giá cả hàng hoá

sẽ duy trì ở mức ổn định tương đối thấp nhất của những năm 1990 Giá hàng hoá thấp sẽ giảm thiểu gánh nặng lên một khu vực người nghèo (đáng chú ý là khu vực nông thôn) nơi sức mua đã giảm mạnh do giá thực phẩm và nguyên liêu tăng cao Giá cả thấp cũng hỗ trợ giảm thiểu lạm phát Theo đó giá thực phẩm và giá năng lượng tăng nhanh trong suốt năm 2007 và quý I năm 2008

là nguyên nhân khiến cho lạm phát tăng cao trên toàn cầu Một số dấu hiệu hồi phục sẽ xuất hiện khi thị trường nhà ở tại Mỹ đi dần đến ổn định, có những tiến bộ trong việc dàn xếp nợ vay giữa các nước chủ nợ và con nợ, các điều kiện về tín dụng được nới lỏng nhờ các khoản tiền khổng lồ được các Chính phủ tung ra để cứu vãn nền kinh tế Thách thức đối với các nhà hoạch định chính sách kinh tế không chỉ là việc ngăn ngừa khủng hoảng kinh tế và làm giảm nhẹ đà suy thoái, mà còn phải đảm bảo được vị trí tái xuất phát thuận lợi khi nền kinh tế bắt đầu hồi phục Đối với các nước đang phát triển, điều này có nghĩa là phải phản ứng một cách nhanh chóng và linh hoạt hơn

Trang 17

trước những dấu hiệu suy yếu của hệ thống ngân hàng trong nước và nếu cần, phải viện đến sự hỗ trợ quốc tế Mặt khác, với đà gia tăng dân số ảnh hưởng mạnh đến tốc độ tăng trưởng chưa kịp hồi phục, các nước đang phát triển cũng cần có kế hoạch nâng cao sản lượng nông nghiệp bằng cách mở rộng đường sá nông thôn, gia tăng các nỗ lực nghiên cứu và phát triển nông nghiệp

Triển vọng về sự bất ổn, bất thường

Nguy cơ sụt giảm vẫn tiếp tục thống trị, khi mà quy mô và tốc độ của cuộc khủng hoảng tài chính vẫn đang đẩy nền kinh tế toàn cầu vào dòng chảy bất ổn Chỉ khi các biện pháp tài chính thắt chặt mạnh mẽ hơn thì mới đủ tiềm lực để giải quyết các bất ổn có ảnh hưởng tiêu cực đến tăng trưởng toàn cầu Ngoài ra, nguy cơ giảm phát đang gia tăng ở các nước phát triển, trong khi khu vực doanh nghiệp của các nước mới nổi có thể bị ảnh hưởng nặng nề do

bị hạn chế trong việc tiếp cận nền tài chính bên ngoài Hơn nữa, trong khi các chính sách tài chính nhằm hỗ trợ ngắn hạn, việc công khai các khoản nợ ngày càng gia tăng cũng có thể gây ra những phản ứng trái chiều của thị trường, trừ phi Chính phủ xác định chiến lược để duy trì ổn định dài hạn

Bên cạnh đó cũng có yếu tố khả quan hơn Cụ thể là, tình hình thị trường tài chính toàn cầu có thể cải thiện nhanh hơn dự đoán nhờ các biện pháp, chính sách mạnh mẽ Điều này sẽ thúc đẩy tiêu dùng và niềm tin của khu vực doanh nghiệp, từ đó giảm nhẹ sức ép tín dụng và làm cho tăng trưởng toàn cầu được cải thiện

Các nỗ lực chính sách bổ trợ và mạnh mẽ cần được triển khai

Các nỗ lực chính sách đến nay đã giải quyết những nguy cơ bất ổn của thị trường tài chính trước mắt, nhưng vẫn còn quá nhỏ bé để có thể giải quyết những bất ổn về khả năng thanh toán trong dài hạn của các thể chế tài chính Quá trình xem xét về các khoản nợ và tái cấu trúc các khoản nợ xấu vẫn chưa được hoàn thành Do đó, chính sách tài chính cần tập trung hơn để thúc đẩy quá trình xác định những khoản nợ tín dụng và hỗ trợ cho các thể chế tài chính Cụ thể, cần phải có biện pháp với các ngân hàng mất khả năng thanh toán, thành lập các cơ quan công lập để giải quyết các khoản nợ xấu, tiếp cận các ngân hàng non yếu và bảo vệ các tài sản công

Chính sách tiền tệ vẫn là chính sách quan trọng Các ngân hàng trung ương ở một số nước đang sử dụng lãi suất 0% để kích cầu tiêu dùng và đầu

tư Việc này có tính hỗ trợ nhất định đối với tăng trưởng thế giới

Mặc dù suy giảm kinh tế toàn cầu có thể kéo dài, nhưng người ta cũng nhận thấy có một số yếu tố tích cực có thể giúp hồi phục kinh tế trong thời gian tới Các yếu tố này bao gồm động thái ổn định khu vực nhà ở tại Mỹ; các biện pháp tích cực để giải quyết các khoản nợ và đẩy mạnh cân đối giữa ngân hàng và các hộ gia đình; các gói hỗ trợ tín dụng của Chính phủ được triển khai và các nhà đầu tư bắt đầu quay trở lại thị trường vốn; khoản thu nhập cá

Trang 18

nhân tăng (bù đắp bởi giá thực phẩm và giá nguyên liệu thấp) với xu hướng tiêu dùng; và chính sách tài chính tiền tệ cũng như các biện pháp giảm lạm phát, chi tiêu của Chính phủ nhằm hỗ trợ giá lương thực và khí đốt

Cụ thể tình hình phát triển của các khu vực kinh tế trên thế giới như sau:

1 Châu Á

1.1 Đông Á – Thái Bình Dương

Theo World Bank, những biến động của tình hình kinh tế thế giới đã tác động mạnh mẽ đến nền kinh tế các nước Đông Á và khu vực Châu Á Thái Bình Dương trong năm 2008, khiến tốc độ tăng trưởng GDP giảm đi nhanh chóng, từ 10,5% năm 2007 xuống 8,5% năm 2008 Sự biến động lên xuống liên tục của giá dầu và các loại hàng hoá khác đã ảnh hưởng sâu rộng với nhiều mức độ khác nhau đối với các quốc gia trong khu vực này, từ những nước xuất khẩu khoáng sản như Indonesia, Malaysia, Papua New Guinea và Việt Nam, đến những nước xuất khẩu nông sản như Thái Lan, Philipin, Indonesia và Malaysia Kinh tế Mỹ suy thoái cùng với nhu cầu nhập khẩu của Nhật Bản giảm bắt đầu ảnh hưởng tới tăng trưởng xuất khẩu của khu vực và đẩy thương mại các nước trong khu vực vào một giai đoạn tồi tệ

Cuộc khủng hoảng tài chính ở Mỹ bắt đầu từ tháng 8 năm 2007 liên quan tới nhà đất đã lan rộng thành cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu từ tháng 10 năm 2008, làm nảy sinh những nguy cơ lớn đối với nền kinh tế các nước thuộc khu vực Đông Á Thị trường chứng khoán bị tác động nặng nề, khoản

nợ các công ty ngày càng tăng lên, tỉ giá hối đoái giảm nhanh chóng, luồng vốn đầu tư trong khu vực giảm đi một nửa trong suốt 9 tháng đầu năm 2008

Sự suy giảm của đầu tư kéo theo sự suy giảm về sản xuất, việc làm, thu nhập của các hộ gia đình và tăng trưởng GDP

Tăng trưởng GDP của các nước trong khu vực cũng khác biệt nhau Trung Quốc tăng trưởng chỉ 9,0% so với 13% năm 2007, trong đó đầu tư và xuất khẩu giảm sút rõ rệt Các quốc gia thuộc ASEAN5 gồm Indonesia, Malaysia, Philipin, Thái Lan và Việt Nam có mức tăng trưởng trung bình là 4,9% trong năm 2008 so với 6,3% năm 2007 Tăng trưởng của Việt Nam giảm 2 điểm % xuống còn 6,2% do giá dầu và các hàng hoá phi dầu mỏ sụt giá đột biến Chỉ một vài quốc gia khác có mức tăng trưởng thấp hơn từ 3,7%

- 5,1% như Papua New Guinea và Fiji do hưởng lợi từ hoạt động xuất khẩu dầu mỏ

Ngay cả trước khi cuộc khủng hoảng tài chính diễn ra thì đã có những dấu hiệu cho thấy kinh tế trong khu vực sẽ rơi vào giai đoạn khó khăn Ở Trung Quốc, tăng trưởng GDP trong quý 3 năm 2008 chỉ đạt 9% so với 11,2

% cùng kỳ năm 2007 và là quý thứ 5 suy giảm liên tiếp Tình hình của Malaysia và Thái Lan còn tồi tệ hơn thế Từ quý 4 năm 2007 đến quý 2 năm

2008, tăng trưởng GDP của Thái Lan giảm từ 7,1% xuống còn 2,9%; của

Trang 19

Malaysia giảm từ 6,7% xuống còn 4,2% chủ yếu do hoạt động xuất khẩu và tiêu dùng cá nhân giảm sút Tuy nhiên, Indonesia lại tăng trưởng đôi chút nhờ doanh thu từ xuất khẩu hyđrocacbon, gryxelin và dầu mỏ với giá cao

Dự kiến, tốc độ tăng GDP trong khu vực chỉ đạt 3,3% trong năm 2009, còn tồi tệ hơn giai đoạn khủng hoảng năm 1997 – 1998: xuất khẩu giảm từ 8,3% năm 2008 xuống còn 2,6%: đầu tư giảm nhẹ xuống còn 7% (do tăng trưởng của Trung Quốc)

Các nước Đông Á (trừ Trung Quốc) được hưởng lợi từ việc giá nhiên liệu, lượng thực tăng cao từ năm 2005 đến giữa năm 2008 Trong khoảng thời gian này, hoạt động ngoại thương của Việt Nam tăng lũy kế 10,3%, của Indonesia tăng 4% và Malaysia là 4,8%

Giá nhiên liệu và lương thực tăng mạnh đã khiến cho lạm phát leo thang

từ 5,7% năm 2007 lên 11,9% vào tháng 7 năm 2008 Chỉ số lạm phát 8,2% trong tháng 9 cho thấy giá hàng tiêu dùng đang giảm dần và hoạt động ngoại thương có chuyển biến tích cực từ giữa năm 2008 Lạm phát giá tiêu dùng ở Trung Quốc cũng giảm đáng kể từ 8,5% trong tháng 4 xuống 4% trong tháng

10 năm 2008

Cuộc khủng hoảng lan rộng từ Mỹ đến Nhật Bản và khu vực Châu Âu trong suốt quý II năm 2008 bắt đầu ảnh hưởng tới hoạt động xuất khẩu của các nước trong khu vực, trong đó Trung Quốc giảm 20% vào tháng 10, thấp hơn 10% so với đầu năm 2007 Xuất khẩu của Hồng Kông cũng chịu ảnh hưởng của Trung Quốc, giảm đi một nửa xuống còn 5% Đài Loan, Singapore cũng lâm vào tình trạng tương tự do nhu cầu về các sản phẩm công nghệ cao giảm sút Do suy thoái của các nước thuộc tổ chức OECD ngày càng nghiêm trọng, khối lượng xuất khẩu của các nước Đông Á năm 2009 có khả năng giảm mạnh, trong đó Trung Quốc chịu ảnh hưởng nặng nề nhất chỉ đạt 4.2%

so với mức 10,1% năm 2008

Cũng theo IMF, cán cân thanh toán của các nước trong khu vực sẽ mất cân bằng do giá cả hàng hóa nhập khẩu tăng cao và xuất khẩu tăng chậm trong bối cảnh vốn và tỉ giá hối đoái biến động phức tạp Dòng vốn đổ vào Trung Quốc vẫn duy trì ở mức khá, trong khi dòng vốn đổ vào các quốc gia khác lại không ổn định Đồng tiền các quốc gia cũng chịu áp lực nặng nề khiến các ngân hàng Trung ương phải can thiệp hỗ trợ (ví dụ như Việt Nam) Đồng Won của Hàn Quốc mất giá do thâm hụt cán cân thanh toán, hậu quả của tình trạng khó khăn trong hoạt động ngoại thương Biến động của tỉ giá hối đoái danh nghĩa tác động tới tỉ giá hối đoái thực tế, theo đó đồng nhân dân

tệ của Trung Quốc và đồng tiền các quốc gia Đông Nam Á liên tục tăng giá Tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 2008 của khu vực chỉ đạt 6,8% năm

2008 Cầu thị trường xuất khẩu giảm làm ảnh hưởng tới xuất khẩu nhưng trong một số trường hợp có thể giảm thiểu tác động bằng các chính sách vĩ

mô và các biện pháp giảm giá tiền tệ Đầu tư chỉ đạt mức khiêm tốn chủ yếu

do triển vọng xuất khẩu xấu đi, tiêu dùng giảm do giá nhiên liệu và lương

Trang 20

thực vẫn ở mức cao Triển vọng trong tương lai tình hình có nhiều dấu hiệu khả quan hơn

Trong nửa đầu năm 2008 chỉ số giá cả tăng cao, chủ yếu do giá lương thực và nhiên liệu Những dấu hiệu gần đây cho thấy, áp lực lạm phát đã giảm

đi đáng kể Ở Trung Quốc chỉ số giá cả giảm nhẹ, do các điều kiện về cung của mặt hàng lương thực đã được bình thường hóa Mặc dù giá lương thực và nhiên liệu có xu hướng giảm dần trong những tháng tới và tăng trưởng sẽ ổn định thì về ngắn hạn, lạm phát vẫn giữ ở mức cao Năm 2008, chỉ số lạm phát của khu vực là 7,25%, dự kiến năm 2009 sẽ giảm xuống mức 6%

Các nước đối phó với tình hình lạm phát theo những cách khác nhau Một số quốc gia thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt bằng cách tăng tỉ lệ lãi suất (như In-đô-ne-si-a, Phi-lip-pin, Thái Lan, Đài Loan và Việt Nam), tăng cường tỉ lệ dự trữ bắt buộc (như Cam-pu-chia và Việt Nam) và tạo ra các điều kiện để tăng biên độ của tỉ giá hối đoái (như Sing-ga-po) Gần đây, Ngân hàng Trung ương Trung Quốc đã hạ thấp biên độ lãi suất cho vay và giảm tỉ lệ

dự trữ bắt buộc do quan ngại về tăng trưởng kinh tế chậm lại Hàn Quốc cũng can thiệp vào thị trường hối đoái bằng cách củng cố đồng tiền của mình Một

số quốc gia cũng thực hiện nới lỏng chính sách tài khoá và điều này cho thấy việc trợ cấp đối với nhiên liệu tăng lên Mặc dù một số quốc gia tăng giá phân phối nhiêu liệu như Trung Quốc, Malaysia, và Việt Nam) nhưng giá nhiên liệu vẫn không tăng nhiều (trừ Việt Nam) so với mức tăng chung của thế giới Một số quốc gia xuất khẩu gạo trong khu vực như Cam-pu-chia, Trung Quốc

và Việt Nam đã đưa ra những biện pháp như quota xuất khẩu, hạn chế xuất khẩu hay thuế để tăng cung và hạ giá mặt hàng lương thực cho thị trường nội địa, khiến cho áp lực giá cả các mặt hàng này trên thị trường thế giới càng tăng

Khó khăn chủ yếu trong chính sách của các quốc gia là làm sao có thể vừa giải quyết những khó khăn trước mắt của nền kinh tế và tài chính thế giới vừa phải tính đến những rủi ro về lạm phát Những ưu tiên trong chính sách

đã có những thay đổi đáng kể, mặc dù vẫn còn có sự khác biệt giữa thực trạng các quốc gia trong khu vực

Tóm lại, cầu nội địa của hầu hết các quốc gia trong khu vực đều giảm đi nhanh chóng và một số chính sách thắt chặt đã được đưa ra áp dụng Tuy nhiên, việc áp dụng các biện pháp tài khoá khi cần thiết cũng phải áp dụng một cách cẩn trọng, bởi kinh nghiệm trong quá khứ cho thấy những chính sách này phải cần có thời gian và đôi khi không đem lại kết quả như mong muốn

Một số quốc gia dự kiến có tăng trưởng kinh tế vững mạnh hơn thì các chính sách vĩ mô cũng vẫn cần phải thực thi theo hướng thắt chặt (như In-đô-nê-xia và Việt Nam) Chính sách tiền tệ thắt chặt là ưu tiên hàng đầu để hạn chế lạm phát và trong một số trường hợp cần phải kết hợp với tính linh hoạt của tỉ giá hối đoái và các chính sách tài khoá Việc hạn chế tài khoá sẽ giúp

Trang 21

giảm áp lực lạm phát đặc biệt ở các quốc gia tăng mức trợ cấp cho lương thực

và nhiên liệu

- Nhật Bản:

Mặc dù trong quý I năm 2008, kinh tế Nhật Bản có tăng trưởng đôi chút, song giá hàng hoá tiêu dùng tăng và nhu cầu của các thị trường xuất khẩu giảm đã đặt gánh nặng lên toàn bộ nền kinh tế Trong quý 2 năm 2008, tốc độ tăng trưởng kinh tế dự kiến chỉ đạt 3% và trên thực tế, chỉ đạt dưới 1% trong suốt 4 quý qua Nền kinh tế Nhật suy giảm trong thời gian qua, chủ yếu do tiêu dùng và đầu tư, trong khi hoạt động xuất khẩu rơi vào giai đoạn tồi tệ Những dấu hiệu gần đây cho thấy tình hình kinh tế Nhật trong thời gian tới còn ảm đạm hơn rất nhiều Nhu cầu nhập khẩu từ các thị trường lớn như

Mỹ, Châu Âu giảm sút mạnh; chi phí đầu vào gia tăng và những kỳ vọng về lợi nhuận hầu như không có, đã ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động đầu tư của các doanh nghiệp Thêm vào đó, giá lương thực thực phẩm và năng lượng tăng cao, cùng với mức lương ngày càng đi xuống, đã làm chi tiêu của người dân giảm xuống mức thấp nhất Mặc dù so với các nước khác, Nhật Bản đã sớm tiến hành những điều kiện tài chính thắt chặt, song cũng không ngăn được sự sụt giảm của thị trường chứng khoán, do những quan ngại về triển vọng kinh tế tương lai

Mức lạm phát năm 2008 cao hơn năm 2007 trên 2%, chủ yếu do giá lương thực, thực phẩm và năng lượng tăng cao Tuy nhiên, nếu không tính giá lương thực, thực phẩm và năng lượng thì lạm phát chỉ là 0% Về ngắn hạn, lạm phát dự kiến sẽ tăng cao hơn, nhưng về dài hạn, thì sẽ hoàn toàn được kiểm soát

So với các quốc gia phát triển khác, thì hoạt động ngoại thương của Nhật Bản giảm sút mạnh nhất Một số yếu tố có thể được xem xét để tác động tích cực tới ngoại thương của Nhật Bản Trước tiên, hoạt động xuất khẩu mạnh mẽ sang thị trường các quốc gia mới nổi và đang phát triển sẽ phần nào bù đắp sự giảm sút của ngoại thương Nhật Bản Thứ hai, mặc dù Nhật Bản không phụ thuộc vào việc nhập khẩu dầu mỏ, song nước này cũng phải tính đến tính hiệu quả của loại dầu mỏ được sử dụng trong nước Và cuối cùng, các điều kiện về tài chính tiền tệ, cũng cần phải được xem xét và điều chỉnh

Tốc độ tăng trưởng kinh tế của Nhật trong năm 2008 giảm 0,6%, thấp hơn nhiều so với kỳ vọng và dự kiến năm 2009 sẽ tiếp tục suy giảm với mức 6,2% Về ngắn hạn, Nhật Bản sẽ tiếp tục phải đối mặt với những khó khăn, như dân số già đi và nợ của dân chúng tiếp tục tăng lên Hơn thế nữa, Chính phủ Nhật lại có vẻ hơi chậm trong việc thực hiện các chính sách nhằm củng

cố tài khoá trong bối cảnh kinh tế thế giới suy giảm liên tục, ngân sách Chính phủ thâm hụt và việc trì hoãn thực hiện tăng thuế tiêu dùng Vào cuối tháng 8 năm 2008, Chính phủ Nhật đã tiến hành thực hiện Gói kích thích kinh tế, nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Tuy nhiên, quy mô còn hạn chế và việc xây dựng một chính sách tài khoá thích hợp nhằm đáp ứng chi tiêu chính phủ

Trang 22

ngày một tăng lên, do áp lực về tiền lương hưu cho người lao động vẫn phải

là một ưu tiên hàng đầu trong chính sách kinh tế trung hạn Những kế hoạch của Chính phủ Nhật hiện nay cần phải được thực thi hiệu quả hơn nhằm hạn chế tình trạng vay nợ của dân chúng và đạt được sự cân bằng về tài khoá tới năm 2010

Như hầu hết các quốc gia khác, kinh tế Úc và New Zealand cũng suy giảm đáng kể sau một thời gian dài phát triển do bùng nổ thị trường nhà đất

và hàng tiêu dùng Lạm phát lên cao tới mức kỷ lục Chính phủ hai quốc gia này phải đối phó tình trạng khó khăn bằng cách thực hiện các chính sách tiền

tệ thắt chặt, nhờ đó áp lực về cầu nội địa giảm đi đáng kể Tốc độ tăng trưởng GDP thực tế của Úc xuống dưới mức dự kiến, chỉ đạt 2,1% năm 2008 so với mức 4,0% năm 2007 và dự kiến sẽ giảm 1,4% năm 2009 Việc điều hoà cầu thị trường nội địa và thắt chặt điều kiện tín dụng đã khiến Ngân hàng dự trữ của Úc và New Zealand phải nới lỏng chính sách tiền tệ

tố chính khiến đồng tiền các quốc gia trong khu vực bị mất giá, trong đó đồng tiền của Ấn Độ, Pakistan và Nepal giảm tương ứng là 21%, 30% và 21% so với đồng đô la Mỹ, kể từ tháng 11 năm 2008 Đồng Rupee của Sri Lanka mất giá gần 2% khi Ngân hàng Trung ương cho phép neo giá theo đồng đô la Mỹ

và bắt đầu điều chỉnh từ cuối tháng 10 năm 2008 Ngược lại, đồng taka của Bangladesh lại tăng giá nhẹ (khoảng 2%) cùng thời gian này

Trong khi đó, ngành ngân hàng của các nước trong khu vực lại nằm ngoài cuộc khủng hoảng Đánh giá những tác động của cuộc khủng hoảng tài chính lên toàn bộ nền kinh tế khi tài chính của các doanh nghiệp, các khoản vay của hộ gia đình và tín dụng đối với xuất khẩu đã trở thành những vấn đề khó có thể kiểm soát, cho thấy đã có những dấu hiệu nhu cầu của thị trường

Trang 23

nội địa và thị trường xuất khẩu đều giảm sút Xuất khẩu trong tháng 10 của

Ấn Độ giảm 12% so với cùng kỳ năm ngoái, đánh dấu sự suy giảm liên tục từ 27% trong tháng 8 xuống còn 10% trong tháng 9 Xuất khẩu của Sri Lanka cũng giảm mạnh (- 9,4% trong tháng 9), ngược với mức tăng 24,1% và 16,6% trong tháng 7 và 8

Cán cân thương mại thâm hụt do ảnh hưởng của giá dầu và các hàng hóa tiêu dùng khác tăng cao trên phạm vi toàn cầu và lên tới đỉnh điểm vào giữa năm 2008 Điều này ảnh hưởng đáng kể tới tăng trưởng kinh tế của khu vực

và là yếu tố chính khiến cho cán cân thanh toán của khu vực thâm hụt nặng

nề Giá hàng hóa tăng cũng tạo áp lực về lạm phát Giá các mặt hàng tăng, đặc biệt là lương thực, thực phẩm, dầu mỏ, năng lượng chi phối lớn đến chi tiêu của các hộ gia đình, trong đó những hộ có thu nhập thấp bị ảnh hưởng nhiều nhất Chính phủ của một số quốc gia đã nỗ lực giảm thiểu tác động của giá cả hàng hóa tới nền kinh tế bằng cách trợ cấp cho thị trường nội địa và điều này

đã đặt gánh nặng lên chính sách tài khóa Các điều kiện tín dụng thắt chặt, cầu giảm, giá hàng hóa tăng và niềm tin của dân chúng giảm sút đã khiến cho tiêu dùng và đầu tư giảm sút Tốc độ tăng trưởng đầu tư đã suy giảm một con số sau thời gian tăng trưởng mạnh mẽ trong những năm gần đây Ở Ấn Độ tốc

độ tăng trưởng của tất cả các ngành, các lĩnh vực kinh tế đều suy giảm do chính sách kinh tế tiền tệ thắt chặt, lạm phát gia tăng, thâm hụt tài khóa và cán cân thanh toán Khủng hoảng kinh tế toàn cầu đã tác động mạnh mẽ tới thị trường chứng khoán của Ấn Độ và khiến cho đồng Rupee mất giá Nhiều nhà đầu tư nước ngoài đã rút khỏi Ấn Độ

Ở Pakistan kinh tế suy giảm trầm trọng trong suốt năm 2008 với mức lạm phát rất cao và thâm hụt cán cân thanh toán nặng nề Thêm vào đó, những rối loạn về chính trị và những quan ngại về tình hình an ninh sau đó là những nhân tố tác động tới kinh tế của Pakistan Trước khi đạt được thỏa thuận với IMF về một khoản tín dụng vào giữa tháng 11 năm 2008, Pakistan gần như rơi vào tình trạng khủng hoảng về thanh toán Nền kinh tế của nước láng giềng Afganistan cũng trên đà suy thoái, do sản lượng nông nghiệp giảm sút, giá lương thực trên thị trường quốc tế tăng mạnh và chính sách hạn chế xuất khẩu lúa mỳ do chính quyền Parkistan áp đặt Tốc độ tăng trưởng GDP của Bhutan đạt 14,4% năm 2008, giảm nhẹ so với mức 17% năm 2007 do tác động của dự án năng lượng TALA

Trái ngược với các nước khác trong khu vực, Bangladesh có tốc độ tăng trưởng khá do nhu cầu nội địa tăng mạnh và xuất khẩu dệt may tăng trong nửa đầu năm 2008 Tăng trưởng của Sri Lanca khá ổn định nhờ sản lượng nông sản và xuất khẩu chè tăng mạnh Trong khi thị trường chứng khoán bị tác động nặng nề bởi cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu thì đồng Rupee của Sri Lanca vẫn không bị mất giá so với đồng USD

Dòng FDI vẫn duy trì ở mức khá trong nửa đầu năm 2008 ở khu vực này

Ở Ấn Độ, FDI chiếm 3% GDP trong năm 2008 cao hơn mức 1,4% năm 2007

Trang 24

FDI vào Pakistan vẫn đạt mức 3,7% như năm 2007 nhưng có khả năng sẽ suy giảm FDI của Sri Lanca và Bangladesh đạt 1,7 và 1% GDP

Thâm hụt tài khóa của các nước trong khu vực Nam Á nhìn chung đều lớn hơn mức 4,5% GDP, dự kiến đạt 8,5% ở Ấn Độ, 7,5% ở Pakistan và Sri Lanca Thâm hụt ngân sách năm 2008 ở khu vực khá lớn Ở một số quốc gia như Ấn Độ, Bangladesh và Pakistan chính sách trợ cấp đã làm thay đổi quan điểm của các Chính phủ theo hướng phải củng cố chính sách tài khóa Theo

đó, các nước trong khu vực bắt đầu cắt giảm các khoản chi tiêu

Với mức lãi suất thấp, thậm chí ở mức âm, chính sách tiền tệ đã trở thành vấn đề nóng bỏng ở các quốc gia ở khu vực Nam Á Trước khi cuộc khủng hoảng tài chính diễn ra, một số quốc gia đã thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt bằng cách tăng mức lãi suất (Ấn Độ) hay cắt giảm tín dụng (Sri Lanca) nhằm giảm thiểu áp lực lạm phát Tuy nhiên, khi những khó khăn về tín dụng

lộ rõ, các cơ quan chuyên trách về tiền tệ của các nước trong khu vực đã nhanh chóng tăng cường tính thanh khoản của hệ thống ngân hàng bằng một loạt các biện pháp, trong đó có việc giảm tỉ lệ dự trữ bắt buộc và lãi suất

Triển vọng trung hạn

Xét về trung hạn, tình hình kinh tế của các nước trong khu vực còn nhiều bất ổn Dự kiến tăng trưởng GDP năm 2009 của khu vực chỉ đạt 4,3%, giảm nhẹ so với mức 7,0% của năm 2008 Trong đó, GDP của Ấn Độ, Pakistan và Bangladesh lần lượt là 4,5%; 2,5% và 5,0%

Những bất ổn của khu vực tài chính sẽ làm nảy sinh những rủi ro tiềm

ẩn, làm ảnh hưởng tới triển vọng FDI, đặc biệt là ở Ấn Độ và Pakistan Đồng thời các yếu tố này cũng làm cho đầu tư tư nhân giảm sút Giá chứng khoán đi xuống cũng tác động xấu tới tài sản của các nhà đầu tư, đặc biệt là ở Ấn Độ với mức vốn hóa thị trường đạt 160% GDP năm 2007 và 90% năm 2006, và thị trường nhà đất bắt đầu giảm nhiệt

Nhu cầu của thị trường nước ngoài đang suy giảm sẽ làm cho xuất khẩu của các nước trong khu vực tăng trưởng chậm lại, bao gồm cả lĩnh vực dịch

vụ Sự bất ổn của ngành công nghệ thông tin và truyền thông sẽ ảnh hưởng lan tỏa tới các hoạt động của khu vực tài chính, sự bất ổn của nguồn thu từ xuất khẩu quần áo và hoạt động du lịch sẽ ảnh hưởng tới chi tiêu

Tuy nhiên, giá cả hàng hóa thế giới dự kiến sẽ giảm, sẽ có lợi cho các hộ gia đình và chính phủ, đồng thời làm giảm chi phí nhập khẩu, thúc đẩy hoạt động ngoại thương Thâm hụt cán cân thanh toán của khu vực dự kiến sẽ thu hẹp Thêm vào đó việc giảm giá của đồng tiền các nước so với đồng USD như

ở Ấn Độ, Pakistan và Nepal sẽ nâng cao tính cạnh tranh của hoạt động xuất khẩu

Để giải quyết những khó khăn do khủng hoảng tài chính gây ra, Chính phủ các nước Nam Á đang theo đuổi các biện pháp linh hoạt Các chính sách tiền tệ luôn được coi là yếu tố chủ chốt để đối phó với cuộc khủng hoảng

Trang 25

Chính phủ các nước có thể nâng cao hiệu quả của các khoản đầu tư công thông qua một loạt các chương trình nhằm tác động trực tiếp đến thu nhập của người nghèo Thêm vào đó, nếu hiệu quả của các chính sách tiền tệ và tài khóa bị hạn chế, có thể thực hiện các chương trình cải cách, đổi mới về cơ cấu nhằm kích thích tăng trưởng kinh tế trong trung và dài hạn, ví dụ như: nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về khu vực công, đẩy mạnh đầu tư vào những ngành có thể góp phần ổn định nền kinh tế và cải thiện cơ sở hạ tầng của nền tài chính Việc tiếp tục các chương trình đầu tư hiện tại sẽ góp phần khuyến khích các hoạt động đầu tư và tạo ra cơ hội để phục hồi nền kinh tế

2 Châu Âu

Châu Âu bị ảnh hưởng nặng nề bởi một loạt các yếu tố và cú sốc, đặc biệt là cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu Chỉ số GDP không tăng mà thậm chí ở một số quốc gia còn giảm sút rõ rệt, đặc biệt là Anh và một số quốc gia Bắc Âu Một số chuyên gia dự báo cho rằng các quốc gia ngày càng đi sâu vào khủng hoảng Cùng lúc đó, giá dầu và giá lương thực thực phẩm tăng cao khiến cho lạm phát leo thang

So với năm 2007, giá dầu trong nửa đầu năm 2008 tăng tới hơn 40% cùng với giá lương thực thực phẩm tăng đột biến đã tác động mạnh mẽ tới tiêu dùng, làm cho tốc độ tăng tiêu dùng chậm lại Mặc dù giá dầu đã tăng gấp

7 lần trong giai đoạn từ năm 1999 đến năm 2008, mức lương hầu như không thay đổi nhiều Cùng với nguy cơ về thất nghiệp ngày càng tăng, những yếu

tố này sẽ tiếp tục kìm hãm mức lương trong một vài năm tới Vì vậy, trong khi lạm phát mục tiêu là 3-4% ở một số quốc gia, thì lạm phát thực tế (trừ lương thực, thực phẩm và năng lượng) ở khu vực này sẽ dưới 2% Một số chuyên gia cho rằng lạm phát vẫn được kiểm soát tốt, trong đó, Anh sẽ có mức lạm phát thấp hơn các nước khác trong khu vực

Giá dầu và giá lương thực tăng cao đã ảnh hưởng lớn đến chi tiêu của người dân, các điều kiện tài chính nhanh chóng được thắt chặt Các ngân hàng

ở Châu Âu đang rơi vào tình thế rất khó khăn bởi các khoản vay liên quan tới nhà đất của Mỹ và chất lượng các khoản tín dụng đang giảm đi nhanh chóng

kể từ năm 2007 Niềm tin đối với khu vực này giảm sút rõ rệt Các ngân hàng đang cố gắng duy trì ngân quỹ của mình khi mối quan ngại về rủi ro cán cân thanh toán ngày càng tăng lên Tính thanh khoản trên tài sản cần phải được cải thiện và có thể thực hiện bằng cách giảm các khoản cho vay

Những gia đình và công ty hoạt động trong lĩnh vực bất động sản đang phải lâm vào cảnh nợ nần chồng chất, đặc biệt là ở I–re-land, Tây Ban Nha và Anh – nơi các khoản vay nhà đất có mối liên hệ chặt chẽ với lãi suất ngắn hạn Mặc dù so với Mỹ, việc kinh doanh bất động sản ở Châu Âu chiếm một

tỷ lệ lớn hơn trong các hoạt động kinh doanh, nên việc mở rộng các hoạt động đầu tư kinh doanh bất động sản gần đây cũng ít được công bố rộng rãi, trừ Phần Lan, Hy Lạp, Ireland, Tây Ban Nha và Anh Hơn nữa, các quốc gia này

ít chịu ảnh hưởng của các biến động về tài chính ở Mỹ; tiết kiệm của các hộ

Trang 26

gia đình nhìn chung tăng hơn và nợ giảm đi; tỉ lệ khoản vay trên giá trị tài sản đang được cải thiện Tuy nhiên, sự suy giảm của ngành bất động sản cũng sẽ

có ảnh hưởng đáng kể trong ngắn hạn tới một số quốc gia (như Ireland, Tây Ban Nha và Anh), trừ các nước như Áo, Đức và Thuỵ Sĩ

Trở lại với các công ty phi tài chính, cán cân thanh toán có nhiều dấu hiệu khả quan hơn đầu năm 2001-02 và điều này sẽ hạn chế ảnh hưởng của khu vực tài chính tới hoạt động đầu tư Tuy nhiên, khi căng thẳng tài chính càng kéo dài thì các chỉ tiêu như lợi nhuận, đầu tư và cán cân thanh toán ở các

tổ chức này sẽ có nguy cơ bị ảnh hưởng nhiều hơn

Cán cân thương mại của khu vực nhìn chung gần ở mức cân bằng như năm 2007 Hoạt động xuất khẩu chậm lại do nhu cầu của thế giới giảm, cán cân thanh toán có khả năng xấu đi, chủ yếu do hoạt động ngoại thương giảm sút Tỉ giá hối đoái thực tế có triển vọng tăng lên, bất chấp những suy giảm trong thời gian gần đây Tuy nhiên, ở Anh, cán cân thanh toán rơi vào tình trạng thâm hụt nghiêm trọng, trong đó đồng Bảng Anh giảm tới 10% khi những rối loạn trên thị trường bắt đầu

Trong bối cảnh đầy khó khăn này, ngân hàng trung ương các nước đang

nỗ lực giảm thiểu những áp lực về tính thanh khoản, bao gồm cả việc thông qua tính thanh khoản của đồng đô la Mỹ, và một số Chính phủ (như Bỉ, Pháp, Đức, Lúc – xăm – bua, Hà Lan và Anh) đang từng bước cải thiện tính thanh khoản của các định chế tài chính (như Dexia và Fortis) bằng cách tăng mức hạn chế bảo hiểm tiền gửi và tăng cường sự bảo đảm cho bên cho vay (như Ireland) hoặc cam kết những bảo đảm rõ ràng cho người gửi (ví dụ như Đức

và Anh) Tuy nhiên, ngay cả khi có giải pháp toàn diện để giải quyết những mối lo ngại đang ngày càng tăng thì cũng cần phải dành thời gian để đánh giá lại những nguy cơ tiềm ẩn

Triển vọng kinh tế trong năm tới sẽ suy giảm đáng kể và sẽ dần phục hồi vào nửa cuối năm 2009 Tốc độ tăng trưởng của các nước thuộc khu vực sẽ giảm từ 2,6% năm 2007 xuống 1,3% năm 2008 và 0,2% năm 2009, sau đó sẽ dần hồi phục với mức tăng 1,4% năm 2010 Ở Anh, tốc độ tăng GDP thực tế giảm từ 3,0% năm 2007 xuống 0,7% năm 2008

Tình hình tài khoá của các nước Châu Âu khác biệt nhau rõ rệt Một số quốc gia đã có những bước đi đáng kể nhằm củng cố chính sách tài khoá kể từ đợt suy giảm năm ngoái Nhìn chung, thâm hụt tài khoá của các quốc gia trong khu vực đồng tiền chung Châu Âu sẽ ở mức trung bình là 1,75% GDP, giảm 1,25 điểm % so với giai đoạn 2003-2004 Mặc dù vậy, thâm hụt tài khoá của các nước như Pháp, Hy Lạp, Ireland, Ý và Tây Ban Nha vẫn còn xa so với mục tiêu trung hạn của các nước này Với mức thâm hụt tài khoá 3,5% GDP năm 2008, Anh được đánh giá là nước có mức thâm hụt lớn và suy giảm nhiều hơn so với cuộc khủng hoảng trước

Những quy tắc của Hiệp ước tăng trưởng và ổn định đã tạo điều kiện cho các quốc gia điều chỉnh mục tiêu về tài khoá trong bối cảnh kinh tế có nhiều

Trang 27

biến động Các biện pháp nhằm xoa dịu thị trường không còn phát huy được nhiều tác dụng, khi niềm tin của công chúng đối với thị trường tài chính đã suy giảm nặng nề Do vậy, cần phải có các biện pháp khác để ổn định khu vực tài chính Nói một cách khái quát, trong bối cảnh những thách thức đi liền với việc dân số già đi, thì chính sách tài khoá cần phải thống nhất với các mục tiêu trung hạn Trong năm 2009, 2010 các kế hoạch chi tiêu trung hạn đã được thống nhất cần được thực thi theo đúng kế hoạch và các yếu tố ổn định tự động sẽ phát huy đầy đủ tác dụng xung quanh mục tiêu điều chỉnh đó

Trong 6 tháng cuối năm, chính sách lãi suất hầu như không thay đổi Các ngân hàng trung uơng chủ yếu tập trung nâng cao tính thanh khoản ở các thị trường trọng điểm Ngân hàng trung ương Châu Âu tăng lãi suất cơ bản thêm

25 điểm, đạt 4,25% trong tháng 7 năm 2008 Đây là động thái đầu tiên của ngân hàng kể từ tháng 6 năm 2007, trong khi Ngân hàng trung ương Anh vẫn giữ nguyên lãi suất ở mức 5% kể từ tháng 4 năm 2008 Kế hoạch đặt ra là lạm phát thực tế sẽ giảm xuống dưới mức 2% ở khu vực đồng tiền chung Châu Âu

và ở Anh vào cuối năm 2009 Ưu tiên hàng đầu của các ngân hàng trung ương

là phải bình ổn thị trường tài chính bằng cách tiếp tục nâng cao tính thanh khoản khi cần thiết Tuy nhiên, triển vọng kinh tế ảm đạm, lạm phát ở mức vừa phải và các điều kiện tài chính thắt chặt sẽ góp phần điều hòa các vấn đề tiền tệ ở cả khu vực đồng tiền chung Châu Âu và Anh

Những bất ổn trên thị trường tài chính đang tiếp diễn, trong đó có sự liên quan và ảnh hưởng lan tỏa giữa các nước, đã đặt ra những thách thức đối với chính sách trên rất nhiều phương diện Bên cạnh đó cũng xuất hiện những quan ngại đối với các nước EU Khó khăn càng thể hiện rõ khi những chính sách được đưa ra ở một số quốc gia nhằm đối phó với những căng thẳng về tài chính lại có những tác động trái ngược lên các thể chế tài chính ở các quốc gia khác Việc giải quyết những vấn đề do ảnh hưởng lan tỏa gây ra đòi hỏi phải

có sự liên kết trách nhiệm nhằm ổn định tài chính, đặc biệt nhằm ngăn chặn nguy cơ khủng hoảng và phải phù hợp với những cam kết của Hội đồng các

bộ trưởng tài chính vào tháng 5 năm 2008 Tuy nhiên, điều quan trọng là các chính sách vừa phải hạn chế những tổn hại do bất ổn tài chính gây ra, vừa phải quan tâm tới những thách thức về cơ cấu Sau 10 năm áp dụng đồng tiền chung Châu Âu, khó khăn trong trung hạn đối với các quốc gia sử dụng đồng tiền này là làm sao liên kết kinh tế thành công như liên kết về tiền tệ Tốc độ tăng sản xuất bị suy giảm ở một số quốc gia phát triển và sự khác biệt lớn giữa cán cân thanh toán của các nước đã đặt ra những yêu cầu cần thiết đối với việc điều chỉnh cơ chế trong liên minh tiền tệ Theo đó, việc cải cách cơ cấu cần phải phù hợp và được thực thi theo hướng thống nhất nhằm thu hẹp khoảng cách, khác biệt giữa các nước trong khu vực Việc đổi mới có thể đem lại các kết quả khả quan, góp phần tạo ra công ăn việc làm và nâng cao hiệu quả sản xuất Những khuyến nghị về cải cách theo chương trình nghị sự Lisbon đã chỉ ra rằng, các quốc gia sử dụng đồng tiền chung Châu Âu cần phải chú trọng đến việc đẩy mạnh đổi mới, tái cơ cấu thị trường dịch vụ và

Trang 28

hội nhập về tài chính Khuyến nghị cho thấy các quốc gia cần phải có sự phối hợp về chính sách nhằm bảo đảm sự thống nhất trong các chương trình cải cách khôi phục lại kinh tế trong nước và của toàn khu vực

2.1 Các quốc gia mới nổi

Chịu ảnh hưởng chung của khủng hoảng toàn cầu, nền kinh tế của các quốc gia mới nổi ở Châu Âu cũng suy giảm do cầu của các thị trường nước ngoài giảm, đặc biệt là của các nước Tây Âu Điều kiện tài chính thắt chặt tại các nước này đã tạo những áp lực lên đầu tư và xuất khẩu, đồng thời tiêu dùng

cá nhân cũng giảm sút do giá hàng hóa và nhiên liệu tăng cao Tuy nhiên, việc nâng cao năng lực sản xuất và linh hoạt trong việc cung cấp các khoản vay dành cho khu vực tư nhân của các ngân hàng nước ngoài (đặc biệt là ở Bungaria và Rumania) đã khuyến khích cầu nội địa Các nước vùng Baltics, đặc biệt là Estonia và Latvia cũng đang tiến hành những thay đổi mạnh mẽ do

có sự mất cân bằng giữa thị trường trong và ngoài nước Khi thu nhập thực tế

bị ảnh hưởng bởi lạm phát và các ngân hàng nước ngoài mở rộng việc cho vay do quan ngại về tình trạng mất cân bằng, thì tiêu dùng cá nhân và đầu tư

đã tăng nhẹ và thâm hụt cán cân thanh toán cũng giảm đi Do thị trường lao động rất khó khăn, giá hàng hóa và nhiên liệu cao nên lạm phát vẫn là vấn đề gay gắt Vào tháng 6 năm 2008, lạm phát thực tế ở phần lớn các quốc gia trong khu vực đều gấp đôi so với một năm trước đó, lên tới 2 con số ở các nước vùng Baltics (đặc biệt là Latvia), Bulgaria và Thổ Nhĩ Kỳ Lạm phát danh nghĩa cũng leo thang do lương tăng (như ở Balan và công hòa Slovak)

và áp lực cầu tăng, đặc biệt là ở Bulgaria, Rumania và Thổ Nhĩ Kỳ Với mức lạm phát vượt quá biên độ dự kiến, các quốc gia Trung và Đông Âu (CEE) đã thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt, đặc biệt là ở Rumania và Thổ Nhĩ Kỳ Tuy nhiên, những nước thực hiện chính sách tỉ giá hối đoái cố định như Baltic

và Bulgaria lại có ít cơ hội để thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt như Rumania và Thổ Nhĩ Kỳ Việc các đồng tiền suy yếu cũng khiến lạm phát tăng lên dù lãi suất cũng đã tăng Ở Estonia, Hungaria và Latvia áp lực lạm phát có xu hướng giảm trong quá trình điều chỉnh kinh tế

Dự kiến tốc độ tăng trưởng kinh tế của các nước này vẫn tiếp tục giảm,

do dòng vốn vào giảm và những căng thẳng về tài chính ngày càng gay gắt Ở các nước CEE, tăng trưởng kinh tế năm 2008 đạt 2,9% (giảm so với mức 5,4% năm 2007) và dự kiến giảm 3,7% năm 2009 Cầu của các nước Tây Âu giảm sẽ làm cho xuất khẩu và đầu tư giảm, đồng thời lạm phát cao sẽ tác động tới thu nhập thực tế và tiêu dùng Tăng trưởng ở các quốc gia Nam và Đông Nam Châu Âu (CEE) và Thổ Nhĩ Kỳ cũng chậm lại do giá hàng hóa ở thị trường nước ngoài vẫn còn cao Các nước vùng Baltic vẫn tiếp tục điều chỉnh kinh tế và tăng trưởng năm 2008 giảm 0,7% (giảm mạnh so với mức tăng 8,7%% năm 2007) và dự kiến tiếp tục suy giảm với mức 10,6% năm 2009 Giá nhà đất giảm ở một số quốc gia khiến các ngân hàng càng trở nên bất

ổn do những rủi ro về tín dụng Các khoản vay bằng ngoại tệ tăng lên ở cả các

Trang 29

quốc gia áp dụng tỉ giá hối đoái cố định ( ví dụ: ở các nước Baltic các khoản vay đều bằng đồng Euro) và các quốc gia áp dụng tỉ giá hối đoái thả nổi (ví dụ: ở Hungaria và Rumania các khoản vay bằng ngoại tệ chiếm 60% tổng các khoản vay của hộ gia đình năm 2007)

Tóm lại, ở các nước CEE, rủi ro đối với vấn đề lạm phát và tăng trưởng

là như nhau, do đó cần phải thực thi chính sách tiền tệ như hiện nay Các vấn

đề về tài khóa được bình ổn do các nguồn thu tăng và hạn chế trong chi tiêu Việc củng cố chính sách tài khóa sẽ làm giảm bớt áp lực đối với chính sách tiền tệ Tài chính công cần phải phù hợp với chiến lược dài hạn nhằm đối phó với tình trạng dân số già đi và những ảnh hưởng do hội nhập với khu vực đồng tiền chung châu Âu gây ra, đặc biệt là ở Cộng hòa Slovak – quốc gia sẽ bắt đầu sử dụng đồng euro vào tháng 1 năm 2009

Ở các quốc gia tiểu vùng Baltics, việc điều chỉnh chính sách vĩ mô cần thực hiện theo đúng kế hoạch Đồng thời cũng cần có kế hoạch để các thể chế tài chính có thể đối phó được trước việc mất các khoản vay Điều này đòi hỏi phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa chính quyền trong và ngoài nước

Ở các nước SEE, cần phải thực thi các động thái cần thiết trong bối cảnh mất cân bằng giữa trong và ngoài nước Chi tiêu công có thể được điều hành bằng cách giữ mức tăng lương song song với mức tăng sản xuất và thu hẹp quy mô Chính phủ, phù hợp với quá trình cải cách nhằm nâng cao tính hiệu quả của khu vực nhà nước

2.2 Cộng đồng các quốc gia độc lập (CISs)

Theo IMF, tốc độ tăng GDP thực tế ở khu vực này giữ ở mức khá do cầu nội địa tăng mạnh nhờ hiệu quả của các chính sách vĩ mô Tuy nhiên, trước mắt tốc độ tăng trưởng sẽ giảm do ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính toàn cầu, đặc biệt là ở Kazakhstan và gần đây là Nga Cầu của các đối tác ngoài nước giảm cũng tác động xấu tới tăng trưởng

Giá lương thực và nhiên liệu của thế giới tăng đã tạo ra những áp lực lạm phát Do lương thực vẫn chiếm phần lớn chi tiêu của các hộ gia đình nên lạm phát tăng cao nhanh chóng trong nửa đầu năm 2008, đạt gần 15% vào giữa năm Do đó, một số nhà phân tích đã bày tỏ sự quan ngại về tình trạng quá nóng của nền kinh tế các nước này với sản lượng tăng liên tục, cao hơn cả dự kiến và thị trường lao động vẫn căng thẳng Trong khu vực, các chính sách tiếp tục được triển khai rộng rãi, tỉ lệ lãi suất vẫn ở mức âm, trong khi chi tiêu Chính phủ tiếp tục tăng Giá hàng hoá quốc tế tăng tiếp tục thúc đẩy cân bằng ngoại thương ở các nước xuất khẩu Các nước như Azerbaijan, Nga, Turkmenistan và Uzbekistan được hưởng lợi từ hoạt động ngoại thương, trong khi các nước như Armenia, Moldova và Tajikistan thì ngược lại

Do cầu của thị trường ngoài nước giảm và áp lực tài chính ngày càng tăng lên, nên GDP thực tế năm 2008 của khu vực sẽ chỉ đạt 5,5% (giảm so với mức 8,6% năm 2007) và dự kiến sẽ giảm với mức 5,1% năm 2009 Trong đó,

Trang 30

Ukraina có mức giảm nhiều nhất là 8,0% Ở Nga, tăng trưởng kinh tế năm

2008 khả quan hơn dự kiến, đạt 5,6% nhưng sẽ giảm với mức 6,0% năm

2009 Tuy nhiên, trong tương lai dự kiến sẽ giảm đi đáng kể do cầu thế giới giảm và các điều kiện tài chính thắt chặt Ở Kazakhstan, tốc độ tăng trưởng vẫn duy trì ở mức hiện tại

Trong tương lai, các rủi ro đối với nền kinh tế sẽ giảm đi Những bất ổn

về tài chính vẫn là vấn đề quan tâm hàng đầu, đặc biệt ở các quốc gia bị thâm hụt cán cân thanh toán như Ukraine và những quốc gia phụ thuộc lớn vào dòng vốn đầu tư bên ngoài Mặc dù trong nửa cuối năm 2008, các chính sách

về tài khoá và tiền tệ được thực thi, song về ngắn hạn ảnh hưởng đối với các hoạt động kinh tế và lạm phát không đáng kể

Lạm phát của khu vực là 15,5% năm 2008 và dự kiến 12,5% năm 2009 (cao hơn số dự báo tháng 4 năm 2008) Hiệu quả của các chính sách tiền tệ còn hạn chế do cơ chế tỉ giá hối đoái kém linh hoạt, mặc dù ở Ukranie đã được xác định lại với biên độ rộng hơn Chính phủ các quốc gia CISs đã phải

sử dụng một loạt chính sách tài khoá và công cụ thương mại để làm dịu áp lực lạm phát và giảm thiểu các tác động xã hội khi giá hàng hoá tăng Các biện pháp bao gồm giảm hoặc xoá bỏ thuế nhập khẩu và các rào cản đối với những mặt hàng lương thực trọng yếu, giảm thuế tiêu dùng nội địa và nâng cao trợ cấp đối với lương thực và nhiên liệu, đưa ra mức giá trần một số mặt hàng lương thực trọng yếu, áp đặt thuế và hạn ngạch xuất khẩu Một số quốc gia đã

có những biện pháp điều chỉnh cung trong ngắn hạn, chủ yếu là trợ cấp cho lĩnh vực nông nghiệp Tuy nhiên, chi phí của các biện pháp này cũng khá lớn, tạo nên sự quan ngại về bất ổn tài khoá

Các quốc gia cần phải đưa ra những chính sách mạnh mẽ hơn nhằm giải quyết vấn đề lạm phát Một chính sách hiệu quả là một chính sách kết hợp giữa thắt chặt tiền tệ và một cơ chế tỉ giá hối đoái linh hoạt cùng với một quan điểm về tài khoá sáng suốt

Về dài hạn, các quốc gia trong khu vực sẽ tiếp tục phải đối phó với những cú sốc về giá hàng hoá Do đó, các nước cần phải nỗ lực hơn nữa để cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao khả năng cạnh tranh, đẩy mạnh hệ thống tài chính trong nước và tiếp tục thiết lập các thể chế tài chính nhằm giảm thiểu các bất ổn

3 Châu Mỹ

3.1 Mỹ

IMF nhận định Mỹ nằm ở tâm điểm của cuộc khủng hoảng tài chính tiền

tệ toàn cầu với nền kinh tế đang suy giảm nhanh chóng Tăng trưởng GDP của Mỹ trong quý 2 năm 2008 tăng 2,8% do xuất khẩu ròng tăng và thuế giảm

đã khuyến khích tiêu dùng và hạn chế được ảnh hưởng của bất ổn tài chính, nhà đất và giá hàng hoá cao

Trang 31

Trong 3 quý cuối năm tăng trưởng trung bình GDP đạt 1,025% thấp hơn mức dự kiến Tính chung cả năm 2008, GDP của Mỹ tăng 1,1%

Hơn nữa những chỉ số gần đây cho thấy triển vọng kinh tế sẽ u ám hơn,

do niềm tin của người dân và các nhà đầu tư suy giảm và những ảnh hưởng tiêu cực của thị trường tài chính tới tín dụng Những yếu tố này làm cho nền kinh tế Mỹ tiếp tục suy giảm từ cuối năm 2008 đến đầu năm 2009 Từ giữa năm 2007 đầu tư nhà đất thua lỗ là nhân tố chính khiến giao dịch nhà đất giảm, lượng hàng hóa tồn kho tăng, tiêu dùng giảm sút Tuy nhiên, có 2 nhân

tố cho thấy khả năng phục hồi của nền kinh tế Mỹ Trước hết, xuất khẩu ròng tiếp tục tăng đóng góp 1,05% điểm cho tăng trưởng (mặc dù giá dầu cao làm cho thâm hụt cán cân thanh toán ở mức khoảng 5% GDP) Thứ hai, mặc dù nền kinh tế suy giảm và các điều kiện tín dụng thắt chặt nhưng các công ty của Mỹ vẫn đứng vững nhờ được hưởng lợi từ lợi nhuận và cầu xuất khẩu Với tình trạng suy thoái có khả năng trầm trọng hơn, việc xem xét mức suy thoái đến đâu và khi nào sẽ hồi phục và hồi phục như thế nào là vấn đề mấu chốt Yếu tố quyết định trong ngắn hạn là những hành động có hiệu quả của Chính phủ nhằm ổn định thị trường tài chính cũng như hành vi của các hộ gia đình với những áp lực khủng hoảng kinh tế gia tăng và mức độ tác động của lạm phát đối với chính sách tiền tệ

Để đối phó với khủng hoảng tài chính ngày càng lan rộng một cách nhanh chóng, Chính phủ Mỹ đã có những biện pháp nhằm ổn định hệ thống

và mua lại những tài sản đóng băng trong các ngân hàng, mặc dù điều này mất nhiều thời gian Cần phải có một thời gian dài để xác định được các khoản lỗ, vốn hóa lại các ngân hàng và để niềm tin của thị trường được củng

cố Những điều kiện cho vay chặt chẽ giờ đây đang có tác động đáng kể tới những khoản vay mới và tín dụng thắt chặt tiếp tục được duy trì trong suốt năm 2009 Những hộ gia đình là đối tượng chịu ảnh hưởng nhiều nhất

Trong khi tiêu dùng tiếp tục tăng mạnh trong những tháng gần đây, các

hộ gia đình ở Mỹ phải đối mặt với tình trạng thiếu tiền mặt và những căng thẳng về khả năng thanh toán Thu nhập giảm sút do mất việc làm kể từ đầu năm 2008, tỉ lệ thất nghiệp cao chưa từng thấy, lương hưu bị trì hoãn và giá nhiên liệu vẫn giữ ở mức cao Giá nhà đất giảm và thị trường nhà đất suy yếu làm cho thu nhập của các hộ gia đình so với GDP giảm đi 10%, hơn nữa việc tiếp cận các khoản tín dụng trở nên khó khăn, không chỉ trong lĩnh vực nhà đất mà còn trong lĩnh vực tiêu dùng Tiêu dùng cho thấy rõ ràng nhất những dấu hiệu của tình trạng suy thoái Theo dự đoán, tiêu dùng giảm trong nửa cuối năm 2008 và đầu năm 2009 sẽ dần hồi phục trong những tháng còn lại nhờ hạn chế sử dụng tiền mặt và thực hành tiết kiệm

Những khó khăn của các hộ gia đình phần nào phản ánh sự suy giảm liên tục trên thị trường nhà đất Giá nhà đất tụt giảm từ 5-17% trong năm 2008, là mức giảm chưa từng thấy kể từ cuộc Đại suy thoái Kết quả là hơn 10 triệu hộ gia đình nợ tiền mua nhà và số tiền này còn cao hơn giá trị thực trên thị

Trang 32

trường của chính các ngôi nhà đó Những giao dịch nhà đất giảm đột biến với mức hơn 60%

Theo dự kiến, giá nhà đất sẽ chạm sàn trong năm 2009 sau 4 năm điều chỉnh Nhận định này dựa trên mức giảm 10% của giá nhà đất vào cuối năm

2008 và các điều kiện thị trường; hơn nữa tỉ lệ đầu tư vào nhà đất trong GDP thấp nhất trong vòng 40 năm qua và giá nhà đất giảm làm cho những căn nhà mới không thể bán được Biện pháp giải quyết là làm sao để hồi phục nền tài chính nhà đất với những bảo hiểm và bảo đảm rằng công ty Fannie Mae và Freddie Mac, công ty do nhà nước góp vốn, chiếm 80% các khoản vay nhà đất trong những năm gần đây, sẽ tiếp tục cung cấp những khoản vay liên quan đến nhà đất

Về vấn đề lạm phát, giá nhiên liệu cao làm cho lạm phát tiêu dùng thực

tế lên tới 4,6% vào tháng 8 năm 2008 trong khi lạm phát danh nghĩa là 2,6%

Do những điều chỉnh gần đây của giá dầu mỏ thế giới, lạm phát thực tế có xu hướng giảm, đồng thời lương và sản lượng tăng nhẹ sẽ góp phần kiềm chế lạm phát

Do những yếu tố trên, hoạt động kinh tế dự kiến sẽ chậm lại trong đầu năm 2009, sau đó sẽ ổn định vào quý II và dần phục hồi vào những tháng tiếp theo Tăng trưởng kinh tế năm 2009 dự kiến giảm 2,8% và sẽ phục hồi trở lại vào năm 2010 Những rủi ro được đẩy lùi và vấn đề quan ngại chính là khó khăn về tín dụng sẽ làm hạn chế các hoạt động đầu tư, việc điều chỉnh giá nhà đất sẽ kéo dài tới năm 2010 và những áp lực lạm phát có thể kéo dài làm hạn chế hiệu quả các biện pháp của cục dự trữ liên bang

Trong khi biện pháp cấp bách là ổn định thị trường tài chính, các nhà lập pháp phải bảo đảm rằng chính sách vĩ mô phải được thực thi một cách có hiệu quả và phù hợp, bao gồm cả những nỗ lực để đối phó với những phản ứng tiêu cực của tài chính vi mô Chính sách tiền tệ phù hợp cũng phải được thực thi nghiêm túc nếu xu hướng suy giảm kinh tế còn tiếp tục, mặc dù hiệu quả của nó sẽ bị hạn chế bởi những căng thẳng tài chính kéo dài và Cục dự trữ liên bang Mỹ phải tiếp tục quan tâm sâu sát tới vấn đề lạm phát Các chính sách cần thực thi theo hướng trung lập khi kinh tế phục hồi và điều kiện tài chính được nới lỏng Về tài khoá, mặc dù gói giải cứu được đưa ra đúng thời hạn nhưng thâm hụt tài khoá vẫn tăng lên và dự kiến ở mức 4,05% GDP trong năm 2009, cao nhất trong nhóm G7 Do đó, trong bối cảnh áp lực về chi tiêu trung hạn và những khó khăn dài hạn do dân số và chi phí chăm sóc sức khoẻ tăng lên, cần phải củng cố chính sách tài khoá và thực hiện các điều chỉnh để

Trang 33

ương Canada đã hạ thấp tỉ lệ lãi suất xuống 150 điểm cơ bản trong thời gian

từ tháng 12 năm 2007 đến tháng 4 năm 2008 Lạm phát vẫn giữ ở mức cao phần lớn do tiền tệ tăng giá Nhìn chung các ngân hàng sớm hay muộn đều có thể giải quyết được những khó khăn tài chính và tình hình sản xuất suy giảm

3.3 Các nước Mỹ La Tinh

Cũng như các khu vực khác trên thế giới, nền kinh tế các nước Mỹ La Tinh đang phải đối mặt với sự suy giảm trong mọi hoạt động và lạm phát vẫn giữ ở mức cao Sau 4 năm phát triển nhanh, tốc độ tăng trưởng kinh tế của các nước trong khu vực đã chậm lại từ nửa đầu năm 2008 chủ yếu do xuất khẩu giảm sút Cầu nội địa vẫn tăng mạnh trong năm 2008, và phần nào chịu ảnh hưởng do các điều kiện về ngoại thương có lợi cho xuất khẩu Tuy nhiên, trong thời gian tới, hoạt động xuất khẩu có xu hướng chậm lại do suy giảm kinh tế toàn cầu và các chính sách tiền tệ thắt chặt nhằm kiềm chế lạm phát Các quốc gia trong khu vực cũng phải đối mặt với những điều kiện khách quan khó khăn hơn Mỹ La Tinh ngày càng chịu nhiều ảnh hưởng của rối loạn trên thị trường tài chính với giá chứng khoán giảm mạnh trên quy mô lớn và tỉ giá hối đoái chịu nhiều áp lực, đặc biệt là các quốc gia xuất khẩu hàng hoá sẽ đối mặt với việc giá hàng hoá ngày càng giảm đi

GDP năm 2008 của toàn khu vực tăng 4,2%, giảm nhẹ so với mức 5,7% năm 2007 và dự kiến giảm 1,5% năm 2009, trong đó Mexico có mức giảm nhiều nhất là 3,7% Sự suy giảm trong năm 2009 đã được dự báo trước vào tháng 7 năm 2008 Tốc độ tăng trưởng kinh tế của Brazil còn thấp hơn mức trung bình của khu vực và kinh tế của Mexico cũng rơi vào tình trạng tương

tự do xuất khẩu giảm sút Tăng trưởng kinh tế ở Trung Mỹ và vùng Ca-ri-bê cũng giảm nhẹ, cho thấy tác động của suy giảm kinh tế Mỹ và chi phí nhiên liệu cao đối với ngoại thương, du lịch

Lạm phát thực tế của khu vực tăng lên 8% trong tháng 8, mức cao nhất trong vòng 5 năm qua, và dự kiến sẽ giữ ở mức vừa phải vào nửa cuối năm

2008 và 2009 do giá hàng hoá có xu hướng giảm nhẹ và các điều kiện tiền tệ thắt chặt Tuy nhiên, ở một số quốc gia, lạm phát vẫn giữ mức hai con số như Bolivia, Paraguay và Cộng hoà Venezuela và một số nước Trung Mỹ khác Một số nhà phân tích cho rằng lạm phát ở Argentina còn cao hơn mức công

bố tháng 8 là 9,0% Các quốc gia như Brazil, Chile, Colombia, Mexico và Peru, lạm phát cũng tăng cao, thậm chí cao hơn mức dự kiến nhưng vẫn trong giới hạn kiểm soát tốt hơn các nước khác trong khu vực Trên thực tế đã có những dấu hiệu cho thấy lạm phát dần giảm đi

Để đối phó với tình hình này, ngân hàng trung ương các nước đã tăng tỉ

lệ lãi suất cơ bản, nhất là với một số quốc gia mà việc tăng tỉ giá hối đoái có thể góp phần giảm áp lực lạm phát Ở Brazil, chính sách tiền tệ thắt chặt được củng cố bởi thặng dư tài khoá với mức thặng dư trong năm 2008 là ½ điểm % GDP

Trang 34

Cán cân thanh toán của khu vực ở mức thâm hụt năm 2008 và dự kiến tiếp tục kéo dài đến 2009 Nhìn chung, những biến động của cán cân thanh toán trong khu vực công sẽ giảm xuống và tỉ lệ tín dụng sẽ tăng lên – Brazil

và Peru đều đạt được tỉ lệ đầu tư khá trong những tháng qua Tuy nhiên, các điều kiện đối với việc sử dụng đồng đô la Mỹ đã được thắt chặt, với một số quốc gia trong nhiều tháng qua cùng với sự giảm giá của hàng hoá sẽ góp phần tăng cường hiệu quả của các chính sách vĩ mô

Chính quyền các nước trong khu vực cần phải sẵn sàng thực thi những chính sách khi cần thiết nhằm duy trì sự ổn định của kinh tế vĩ mô và tạo ra sự tăng trưởng về dài hạn Việc quản lý một tỉ giá hối đoái linh hoạt sẽ góp phần đem lại sự phục hồi nhanh chóng trước tình hình các luồng ngoại hối đổ vào mang đầy rủi ro và biến động

4 Châu Phi

Theo IMF, tăng trưởng kinh tế của các nước Châu Phi cũng chậm lại trong bối cảnh khủng hoảng tài chính toàn cầu và giá lương thực, nhiên liệu leo thang Tăng trưởng GDP của toàn khu vực năm 2008 là 5,2%, giảm 1% so với năm 2007 và dự kiến sẽ tiếp tục giảm xuống mức 2,0% năm 2009 và dần hồi phục với mức tăng 3,9% năm 2010

Tuy nhiên, có sự khác biệt trong tăng trưởng giữa các quốc gia trong khu vực Tốc độ tăng trưởng GDP của khu vực Maghreb là 4,0%, tăng nhẹ so với mức 3,5% năm 2007 và dự kiến đạt 3,0% năm 2009.Tốc độ tăng trưởng kinh

tế năm 2008 của các nước thuộc tiểu vùng Sahara (SSA) là 5,5%, giảm nhẹ so với mức 6,9% năm 2007 Tốc độ tăng trưởng kinh tế của các nước xuất khẩu dầu mỏ giảm từ 7,5% năm 2007 xuống 5,9% năm 2008, trong khi các nước nhập khẩu dầu chỉ giảm nhẹ từ 5,4% năm 2007 xuống 4,7% năm 2008 do giá dầu cao được bù đắp bởi giá xuất khẩu các mặt hàng như đồng, cà phê, ca cao

và bông Tuy nhiên tại những nước bị ảnh hưởng nhiều nhất (như Benin, Gambia, Kenya, Madagascar, Rwanda,và Sierra Leone) hoạt động ngoại thương giảm 20% Ở vùng Nam Phi, nơi kinh tế phát triển nhất, việc thiếu điện vào đầu năm 2008 và nhu cầu tăng 500 điểm cơ bản trong chính sách tỉ giá từ giữa năm 2006 nhằm kiềm chế lạm phát đã khiến tốc độ tăng trưởng chậm lại từ 5% năm 2007 xuống 3,8% năm 2008 và 2009 Những rủi ro đối với những triển vọng kinh tế trong khu vực chủ yếu liên quan tới cầu thế giới sụt giảm hơn dự kiến và các dòng vốn đầu tư vào ít đi Việc tăng giá lương thực và nhiên liệu gần đây đã gây ra những khó khăn đối với việc ổn định giá

ở các nước SSA Lạm phát tăng từ 7% năm 2007 lên gần 12% năm 2008 và

dự kiến giảm xuống 9,5% năm 2009 Tuy nhiên con số này rất khác biệt giữa các quốc gia Tăng giá lương thực là nhân tố chủ yếu gây ra lạm phát ở các nước SSA, điều này cho thấy lương thực thực phẩm chiếm tỉ lệ nhiều nhất trong tiêu dùng

Ảnh hưởng của giá lương thực cao đối với vấn đề nghèo đói trong khi lạm phát tăng, là mối quan tâm chính của các nước trong khu vực Các nước

Trang 35

SSA phụ thuộc lớn vào việc nhập khẩu nhiên liệu và lương thực và vấn đề nghèo đói luôn khiến những quốc gia này bất ổn khi giá các mặt hàng này tăng Người dân ở các quốc gia này hầu như không có lựa chọn nào trước bối cảnh giá lương thực tăng và tầng lớp người nghèo ở nông thôn bị ảnh hưởng nhiều nhất IMF dự báo rằng, giá lương thực thực phẩm tăng sẽ tác động sâu sắc tới vấn đề nghèo đói của Gambia, Ghana, Mauritania và Swaziland do những nước này phụ thuộc chủ yếu vào nhập khẩu Một số quốc gia áp dụng chính sách tiền tệ thắt chặt để giảm áp lực lạm phát, một số khác giảm thuế nhập khẩu và thuế giá trị gia tăng đối với mặt hàng lương thực hoặc áp thuế xuất khẩu và các rào cản khác Các nước nhập khẩu dầu mỏ đang gánh chịu nhiều áp lực vì giá nhập khẩu nhiêu liệu và lương thực tăng Thâm hụt cán cân thanh toán tăng từ 5% năm 2007 lên 5,75% năm 2008 và dự kiến 6,25% GDP năm 2009 Các nước thuộc khu vực Nam Phi thâm hụt cũng ở mức cao 7,25% GDP trong nửa cuối năm 2008 Ngược lại, cán cân thanh toán của các nước xuất khẩu dầu mỏ lại thặng dư từ 8,8% năm 2007 lên 13,5% năm 2008

và dự kiến đạt 8% năm 2009 Thách thức chủ yếu của các nước trong khu vực

là làm thế nào để đối phó với những cú sốc về giá hàng tiêu dùng và đẩy mạnh các dòng vốn vào Các nước nhập khẩu dầu mỏ cần phải điều chính chính sách tiền tệ, tài khóa và thu nhập Nếu không thực hiện các chính sách này thì sẽ nảy sinh những rủi ro đối với sự ổn định kinh tế vĩ mô và ảnh hưởng tới những thành quả đổi mới chính sách và cơ chế gần đây

- Các nước thực hiện tỉ giá hối đoái cố định cần thắt chặt chính sách tiền

tệ bằng cách tăng lãi suất hoặc đẩy mạnh các biện pháp quản lý nhằm ngăn ngừa lạm phát, nâng cao khả năng thanh toán Việc cắt giảm các khoản vay của khu vực công và một cơ chế tỉ giá hối đoái linh hoạt hơn sẽ góp phần thắt chặt tiền tệ và giảm áp lực đối với khả năng thanh toán

- Những biện pháp về tài khóa như trợ cấp cũng rất cần thiết để bảo vệ người nghèo Các biện pháp này phải được thực thi từng bước để bảo vệ ngân sách trong dài hạn Việc kiểm soát giá các mặt hàng lương thực có thể sẽ không hiệu quả và chủ yếu gây ra tình trạng thiếu hụt lương thực hơn là giảm lạm phát

- Vấn đề tài trợ cũng rất cần thiết nhằm giảm thiểu tác động của khủng hoảng tài chính đối với các quốc gia có tỉ lệ nghèo đói cao, cơ hội tiếp cận các khoản vay quốc tế bị hạn chế, mức dự trữ thấp và nợ nước ngoài cao Việc tài trợ sẽ giúp các quốc gia này thanh toán chi phí nhập khẩu cao và có các khoản trợ cấp của Chính phủ dành cho người nghèo Về dài hạn, các hoạt động tài trợ nhằm phát triển ngành nông nghiệp trong nước và mang lại ổn định xã hội Các nước xuất khẩu dầu mỏ phải quản lý những lợi ích từ giá nhiên liệu cao một cách hiệu quả hơn so với thời gian qua Thặng dư cán cân thanh toán và vấn đề lạm phát phải có sự phối hợp chặt chẽ hơn giữa chính sách tiền tệ và tài khóa Việc tiết kiệm một phần doanh thu từ dầu mỏ sẽ góp phần kiềm chế lạm phát, đồng thời củng cố nền tảng tài chính nhằm giải quyết các vấn đề về

Trang 36

hạ tầng cơ sở, y tế và các vấn đề xã hội khác Chính sách thắt chặt tiền tệ và tỉ giá hối đoái danh nghĩa cao hơn sẽ góp phần kiểm soát lạm phát

Theo World Bank, kinh tế các nước Châu Phi tăng 5,4% năm 2008, mặc

dù hầu hết các nước trên thế giới đều lâm vào tình trạng suy thoái Đây là lần đầu tiên trong vòng 45 năm các nước này có mức tăng trưởng trên 5% trong 5 năm liên tục Các nước nhập khẩu dầu mỏ (trừ Nam Phi) tăng trưởng 5,2% năm 2008, giảm nhẹ so với 5,8% năm 2007, trong khi các quốc gia xuất khẩu dầu mỏ tăng tưởng hơn 7,5%/ năm

5 Trung Đông và Bắc Phi

Khu vực Trung Đông và Bắc Phi chịu ảnh hưởng nặng nề từ xu hướng phát triển của thương mại thế giới 3 năm qua, đặc biệt là năm 2008, trong đó

có tình hình tăng, giảm thương mại, dự trữ ngoại tệ xuất khẩu, và yêu cầu của nguồn tài chính bên ngoài Tuy nhiên, khu vực này vẫn giữ được mức tăng trưởng GDP khá tốt trong năm 2008 (5,9% so với 2007) Biến động giá cả hàng hóa ảnh hưởng rất lớn tới khu vực Trung Đông và Bắc Phi Đây là khu vực phải chịu nhiều ảnh hưởng của xu thế biến động của giá cả hàng hóa thế giới trong suốt những năm vừa qua, đặc biệt là sự tăng đều trong giá dầu thô, thực phẩm (đặc biệt là ngũ cốc) và giá nguyên liệu thô từ năm 2007 đến giữa năm 2008 Cuộc khủng hoảng tài chính và dự báo tăng trưởng kinh tế toàn cầu thấp đã đẩy giá dầu trượt từ giá đỉnh 150$/thùng xuống còn gần 65$/thùng vào tháng 10 năm 2008 Theo đó, các nước xuất khẩu dầu trong khu vực bị giảm doanh thu Những nền kinh tế chuyển đổi (như Jordan, Lebanon, Moroco và Tunisia) ngày càng phụ thuộc vào việc nhập khẩu xăng dầu, cũng như lương thực, thực phẩm mà đáng chú ý là lúa mỳ và ngũ cốc Thị trường chứng khoán của toàn khu vực liên tục sụt giảm mạnh, các nhà đầu tư nước ngoài (kể cả nhà đầu tư trong nước) đều rút vốn khỏi thị trường Tổng lượng vốn đầu tư vào các nước trong khu vực này đều giảm và ngày càng yếu Từ tháng 1 đến tháng 8 năm 2007, bảo lãnh trái phiếu giảm 2/3 từ 4,6 tỷ $ xuống còn 1,5 tỷ$ và năm 2008 cũng vậy, bảo lãnh cổ phiếu đã giảm

từ 2,1 tỷ $ xuống còn 750 triệu $, bằng 65% so với cùng kỳ Một số nước đang chịu ảnh hưởng nặng nề do thị trường tài chính thế giới sụt giảm đã tác động tiêu cực đến hoạt động đầu tư và tăng trưởng Những nước này có thể rất dễ bị tổn thương trong cơ cấu kinh tế vĩ mô Trong bối cảnh thị trường tài chính cần thời gian để cân bằng, những nước này sẽ phải chịu dòng vốn đảo chiều, sức ép lên thị trường chứng khoán, tỷ giá và thậm chí là tăng trưởng và đầu tư Sản lượng công nghiệp ở các nền kinh tế chuyển đổi bị sụt giảm vào cuối năm 2008, từ mức 8% của GDP trong Quí I và xuống 4,5% trong Quý III Tình hình này phản ảnh xu hướng giảm xuất khẩu tới các thị trường chủ chốt Châu Âu và Mỹ cũng như nhu cầu trong nước Ngược lại, các nước xuất khẩu dầu với thu nhập cao tiếp tục tăng trưởng ở mức khá, được củng cố bởi mức phát triển nhanh của thương mại và bất động sản ở Bahrain, Qatar, Ả Rập Xê út và Các tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất, với mức tăng đạt 10%

so với mức 3% cùng kỳ Giá dầu thô, thực phẩm và ngũ cốc trên thế giới giảm

Trang 37

(50% thậm chí hơn 50% trong Quý I năm 2008), cùng với nhu cầu nội địa tăng cao trong một số nước ở khu vực (đáng chú ý là Ai Cập, Cộng hòa Iran…), dẫn đến giá tiêu dùng tăng mạnh ở Khu vực Trung Đông và Bắc Phi Chỉ số giá tiêu dùng tại các nền kinh tế mới nổi tăng mức 7% trong tháng 8 năm 2008 so với mức xấp xỉ 1,5% giữa năm 2007 Lạm phát vẫn là vấn đề chính của khu vực Mặc dù trợ cấp dầu và thực phẩm nhằm giảm sức ép lạm phát nhưng mức trợ cấp này ở mức chi phí rất cao Không chỉ triển khai những biện pháp giảm tài chính để giải quyết những vấn đề ưu tiên, các nước này tỏ ra không có đủ nội lực để xóa nghèo Tăng mạnh trong tiêu dùng và đặc biệt là trong đầu tư, là những nhân tố chính góp phần thúc đẩy tăng trưởng của khu vực này trong năm 2008 Các nước trữ lượng dầu mỏ đang nỗ lực để đẩy giá dầu thô lên Đầu tư ở khu vực này tăng gần 20% năm 2008, chiếm tới ¾ trong mức tăng trưởng 5,8% của toàn khu vực, trong khi tiêu dùng tăng 7% Các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng thu hút các đối tác trong lĩnh vực bất động sản, thương mại và công nghiệp ở các nước như Ai Cập, Jordan, Moroco, đầu tư bởi phần lớn dòng chảy đầu tư trực tiếp từ các nước có thu nhập cao Các khu vực hưởng lợi từ FDI đã chuyển dần từ lĩnh vực bất động sản và tài sản gắn với du lịch chuyển sang các dự án hạ tầng và đầu tư vào công nghiệp trong những năm qua FDI chảy vào các nước đang phát triển trong khu vực tăng hơn 5 lần, từ mức 4,7 tỷ $ năm 2000 lên 26,4 tỷ $ năm

2006 và giảm nhẹ xuống còn 21,5 tỷ $ năm 2007

Trong trung hạn, khu vực Trung Đông và Bắc Phi được dự báo là sẽ tăng trưởng chậm (tăng 2,5% trong năm 2009 và khoảng 3,5% trong năm 2010) Tuy nhiên đây là mức tăng đáng kể so với tình hình tăng trưởng kinh

tế của cả khu vực và mức tăng trưởng âm của nền kinh tế thế giới Ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu vẫn không đáng kể tới kinh tế các nước này, mặc dù giá dầu có sụt giảm khá mạnh Trong bối cảnh giá dầu thế giới giảm mạnh, khu vực này có đưa ra bất kỳ một quyết định cắt giảm sản lượng để tạo mức giá sàn cho giá dầu cũng sẽ gây ảnh hưởng lớn đối với tăng trưởng Và làn sóng tăng trưởng thu từ thặng dư thương mại xấp xỉ khoảng 6% GDP vào năm 2010, doanh thu từ dầu mỏ giảm, các điều kiện tín dụng thắt chặt và nhu cầu xuất khẩu của khu vực giảm (bao gồm cả du lịch) đều là những nhân tố ảnh hưởng lớn đến hoạt động đầu tư Kết quả là, GDP của khu vực này sẽ giảm xuống 5,9% năm 2008 xuống mức 2,5% năm 2009 Tăng trưởng trong các nước xuất khẩu dầu cũng như các nền kinh tế chuyển đổi được dự đoán là sẽ giảm khoảng 4% năm 2009 Bước sang năm 2010, nền kinh tế khu vực dự đoán sẽ phục hồi từ từ với mức tăng trưởng đạt 3,5% Tuy nhiên, sự phục hồi của nền kinh tế chỉ được phản ánh qua những phản ứng chính sách tích cực đối với cuộc khủng hoảng tài chính ở các nước có thu nhập khẩu và tăng trưởng khiêm tốn của các nước OECD Giá dầu thế giới tăng từ từ sẽ gây sức ép tới tăng trưởng GDP của các nước xuất khẩu dầu mở tới mức 5% vào năm 2010 Điều này phản ánh qua động thái cắt giảm sản lượng dầu, tổng sản lượng xuất khẩu dự báo sẽ giảm từ 2,1% năm 2009, trong

Trang 38

khi thặng dư tài khoản vãng lai của khu vực giảm từ 13,5% GDP của năm

2008 xuống còn 6% GDP trong năm 2009

Trang 39

PHẦN HAI: MỘT SỐ HÀNG HÓA TRÊN THỊ TRƯỜNG THẾ GIỚI

NĂM 2008 VÀ DỰ BÁO NĂM 2009

I GẠO

1 Diễn biến thị trường thế giới năm 2008

Thị trường gạo thế giới năm 2008 biến động mạnh Giá gạo chia làm 2 giai đoạn rõ rệt: tăng mạnh trong 5 tháng đầu năm, và giảm mạnh trong 7 tháng cuối năm Tính chung cả năm 2008, giá gạo thế giới tăng khoảng 20 - 40%

Giá gạo 5 tháng đầu năm 2008 tăng đến 200% và đã trở thành mặt hàng tăng giá mạnh nhất trong các loại hàng hoá do nhu cầu xuất khẩu tăng cao, trong khi nguồn cung hạn hẹp bởi nhiều nước xuất khẩu lớn hạn chế hoặc cấm xuất khẩu

Tại châu Á, giá gạo lập kỷ lục cao vào ngày 22 tháng 5, với loại 5% tấm của Thái Lan đạt 1.090 USD/tấn, còn gạo cùng loại của Việt Nam đạt 1.050 USD/tấn, đều tăng gấp 3 lần so với một năm trước đó Trong khi đó trên thị trường Chicago, giá gạo thô đã lập kỷ lục cao 25,07 USD/cwt vào ngày 24 tháng 4, tăng 79% so với cùng kỳ năm trước

Nguyên nhân giá gạo tăng nhanh kỷ lục trong 5 tháng đầu năm bởi lạm phát tăng mạnh khiến Chính phủ nhiều nước xuất khẩu gạo lớn phải hạn chế hoặc tạm dừng xuất khẩu gạo với hy vọng ngăn chặn xu hướng lạm phát

Tại Thái Lan, giá thóc gạo nội địa tăng kỷ lục bởi đồng Baht tăng quá nhanh so với USD khiến các nhà xuất khẩu Thái Lan không muốn ký hợp đồng mới vì sợ lỗ Tại Ấn Độ, nhằm đảm bảo an ninh lương thực quốc gia, Chính phủ đã chỉ thị tạm ngừng ký kết các hợp đồng mới về xuất khẩu gạo ngay từ quý I/2008 Trước đó, Việt Nam, Campuchia, Ai Cập và nhiều nước khác cũng đã tạm dừng xuất khẩu gạo, ưu tiên đáp ứng nhu cầu nội địa để ngăn chặn lạm phát đang ở mức báo động Chính phủ Indonexia không cho phép xuất khẩu gạo nếu dự trữ gạo quốc gia chưa đạt 3 triệu tấn Tuy nhiên, theo các thương gia, tính đến cuối năm 2008, nước này cũng chỉ dư thừa khoảng 1,2 triệu tấn gạo Guinea đã cấm xuất khẩu bất kỳ một loại thực phẩm nào, trong khi Chính phủ Philippin tạm thời dừng chuyển nhượng đất nông nghiệp sang các mục đích khác

Gạo không chỉ là điểm nóng ở châu Á mà trở thành vấn đề nóng của toàn cầu Tình hình cung gạo khan hiếm đã lôi cuốn sự chú ý của toàn thế giới, trong nỗi lo ngại về giá thực phẩm tăng Braxin cũng thông báo tạm ngừng xuất khẩu gạo để bảo đảm nguồn cung cho tiêu dùng trong nước trong vòng 6-8 tháng và giữ giá cả trong nước Việc Braxin hạn chế xuất khẩu gạo đồng nghĩa với nhu cầu và giá gạo Mỹ tăng lên Nigeria cũng phải miễn thuế nhập khẩu gạo trong vòng 6 tháng bắt đầu từ tháng 5 để khuyến khích khu vực tư nhân nhập khẩu gạo và để kéo giá gạo trong nước xuống Trong khi

Trang 40

đó, nhu cầu nhập khẩu gạo không ngừng tăng ở châu Á, Trung Đông, châu Phi Bão lớn xảy ra ở Myanma vào tháng 5 gây ra tình trạng thiếu thốn lương thực trầm trọng, không những biến giấc mơ xuất khẩu gạo năm 2008 của nước này trở thành hão huyền, mà còn buộc họ phải nhập khẩu khối lượng gạo lớn

Thị trường gạo thế giới hạ nhiệt từ cuối tháng 5, sau khi Việt Nam và Thái Lan – hai nước xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới - bước vào vụ thu hoạch,

và một số nước nới lỏng chính sách hạn chế xuất khẩu gạo Giá gạo đã giảm 52% trong những tháng còn lại của năm 2008 Việc giá gạo quá cao cũng khiến nhiều người giảm tiêu thụ gạo, chuyển sang tăng cường ăn những loại lương thực khác Xu hướng giảm giá không chỉ xảy ra với thị trường gạo mà trên toàn bộ thị trường lương thực thế giới Đến cuối năm 2008, giá lúa mì và ngô mới bằng non nửa mức kỷ lục đã đạt được hồi đầu năm

Ngày 26 tháng 5, Campuchia đã trở thành nước đầu tiên xoá bỏ lệnh cấm xuất khẩu gạo Tin này như một cơn gió lành thổi vào thị trường gạo thế giới, làm dịu lại nỗi lo về một nạn đói bùng phát trên toàn cầu Việt Nam cũng nới lỏng chính sách xuất khẩu gạo vào giữa tháng 6, khi cho phép tư thương

ký hợp đồng xuất khẩu mới Ấn Độ cũng đã xem xét nới lỏng lệnh cấm xuất khẩu gạo vào tháng 9 bởi sản lượng gạo Ấn Độ trong niên vụ kết thúc vào tháng 6/2008 đạt kỷ lục 95,68 triệu tấn so với 93,35 triệu tấn năm trước Pakistan, nước xuất khẩu gạo lớn thứ 5 thế giới, cũng cho phép xuất khẩu khoảng 1 triệu tấn gạo bởi nhu cầu trong nước đã được đáp ứng đủ Các nước sản xuất hàng đầu tiến hành thâm canh, tăng vụ sau khi thấy giá thóc gạo tăng vọt hồi đầu năm, trong khi Philippin, nước nhập khẩu lớn nhất thế giới, đã hoàn thành việc mua gạo cho năm 2008

Thái Lan, nước xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới, có vụ mùa chính năm

2008 bội thu với sản lượng cao hơn khoảng 29% so với niên vụ trước, sau khi

đã tăng 27% (đạt 8,9 triệu tấn) trong vụ tháng 5-6, bởi giá cao kỷ lục đã khuyến khích nông dân tăng trồng lúa Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA) ước tính Thái Lan xuất khẩu kỷ lục 10 triệu tấn gạo trong năm 2008, nhờ diện tích đất trồng lúa được mở rộng và sản lượng đạt được cao hơn năm trước Chính phủ Thái Lan đã giảm giá thu mua thóc của nông dân từ 14.000 Baht (410USD)/tấn xuống 12.000 Baht do nhận được quá nhiều lời kêu ca từ các nhà xuất khẩu bởi giá thu mua cao giữ giá gạo xuất khẩu cao, khiến họ không thể cạnh tranh trên thị trường thế giới, khi mà giá gạo của Việt Nam thấp hơn rất nhiều

Tại Việt Nam, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho biết sản lượng thóc năm 2008 tăng lên 38,6 triệu tấn, cao hơn mức 36,6 triệu tấn dự báo trước đây, tạo cơ hội gia tăng xuất khẩu gạo Xuất khẩu gạo Việt Nam đã tăng cao hơn mục tiêu đề ra trước đây, đạt 4,7 triệu tấn Chính phủ Việt Nam

đã có nhiều biện pháp hỗ trợ người trồng lúa khi mà tồn kho lúa gạo ở đồng bằng sông Cửu Long còn nhiều và giá lúa gạo giảm mạnh

Ngày đăng: 16/04/2014, 22:28

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình này do nhiều nguyên nhân, trong đó có một số nguyên nhân chủ yếu sau: - Đánh giá tình hình kinh tế thế giới và thương mại việt nam năm 2008 và đề xuất một số giải pháp nhằm ổn định thương mại của việt nam trong điều kiện biến động của thị trường thế giới
Hình n ày do nhiều nguyên nhân, trong đó có một số nguyên nhân chủ yếu sau: (Trang 113)
Đồ thị cho thấy cán cân thương mại bị thâm hụt nhiều nhất trong 4 - Đánh giá tình hình kinh tế thế giới và thương mại việt nam năm 2008 và đề xuất một số giải pháp nhằm ổn định thương mại của việt nam trong điều kiện biến động của thị trường thế giới
th ị cho thấy cán cân thương mại bị thâm hụt nhiều nhất trong 4 (Trang 113)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w