1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đề tài : Xu hướng phát triển thương mại việt nam ASEAN và một số giải pháp cơ bản phát triển xuất khẩu hàng hóa của việt nam

153 1K 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Xu hướng phát triển thương mại Việt Nam – ASEAN và một số giải pháp cơ bản phát triển xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam
Tác giả ThS. Nguyễn Thị Tỳ Oanh, ThS. Phạm Hưng, Cử nhân Đào Hữu Quang, Cử nhân Nguyễn Kim Dũng, Cử nhân Đỗ Việt Thắng, Cử nhân Nguyễn Xuân Hứa
Trường học Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Kinh tế quốc tế
Thể loại Báo cáo tổng kết đề tài
Năm xuất bản 2010
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 153
Dung lượng 1,21 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu của đề tài: - Nghiên cứu về quan hệ thương mại Việt Nam – ASEAN giai đoạn 2005-2009 và một số vấn đề đặt ra. - Phân tích và dự báo xu hướng phát triển thương mại Việt Nam – ASEAN từ nay đến 2015 và dựbáo những tác động đến thương mại Việt Nam trong giai đoạn từ nay đến 2015. - Đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm phát triển xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam trong giai đoạn 2010-2015. MỤC LỤC LỜI NÓI ĐẦU 1 Chương 1: Một số đặc điểm cơbản của thịtrường ASEAN 6 1.1 Một số đặc điểm kinh tếxã hội của ASEAN 6 1.1.1 Quá trình hình thành và phát triển 6 1.1.2 Mục tiêu phát triển ASEAN đến 2015 13 1.2 Đặc điểm một sốthịtrường lớn trong ASEAN 17 1.3 Thương mại nội khối ASEA 29 1.4 Nhận xét chung vềthịtrường ASEAN 30 1.5 Sựcần thiết phát triển quan hệthương mại Việt Nam - ASEAN 32 Chương 2: Thực trạng quan hệthương mại Việt Nam - ASEAN 38 2.1 Khái quát chính sách thương mại ASEAN 38 2.2 Chính sách thương mại của Việt Nam với ASEAN 45 2.3 Thực trạng hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa của việt nam tới ASEAN giai đoạn 2005-2009 46 2.3.1 Kim ngạch xuất khẩu 49 2.3.2 Kim ngạch nhập khẩu 63 2.4 Đánh giá chung vềhoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam với ASEAN 69 Chương 3: Định hướng và một sốgiải pháp đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam tới ASEAN gian đoạn 2010-2015 78 4 3.1 Bối cảnh quốc tếvà trong nước ảnh hưởng đến sựphát triển thương mại Việt Nam – ASEAN 78 3.1.1 Bối cảnh quốc tế 3.1.2 Ảnh hưởng của bối cảnh quốc tế tới sự phát triển thương mại của Việt Nam và ASEAN 83 3.1.3 Bối cảnh trong nước 85 3.2 Dựbáo xu hướng phát triển quan hệ thương mại Việt Nam với một sốnước thành viên ASEAN đến 2015 86 3.2.1 Một số cơ sở để xây dựng dự báo 87 3.2.2 Dựbáo xu hướng phát triển chung trong hoạt động thương mại Việt Nam - ASEAN 88 3.2.3. Một số dự báo cụthể. 89 3.3 Giải pháp thúc đẩy xuất khẩu và hoàn thiện nhập khẩu 94 3.3.1 Nhóm giải pháp chung thúc đẩy xuất khẩu 94 3.3.2 Nhóm giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu tới thịtrường ASEAN từ phía Nhà nước 96 3.3.3 Giải pháp vềphía doanh nghiệp 98 3.3.4 Phát triển nguồn nhân lực cho sản xuất hàng xuất khẩu 101 3.4 Một số kiến nghị thúc đẩy phát triển quan hệthương mại Việt Nam – ASEAN

Trang 1

Bé C«ng th−¬ng TRUNG T¢M TH¤NG TIN C¤NG NGHIÖp vµ th−¬ng m¹i

XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI VIỆT NAM – ASEAN VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP CƠ BẢN PHÁT TRIỂN

XUẤT KHẨU HÀNG HÓA CỦA VIỆT NAM

Chủ nhiệm đề tài: ThS Nguyễn Thị Tú Oanh

7605 22/01/2010

Hà nội, tháng 12/2009

Trang 2

Bé C«ng th−¬ng TRUNG T¢M TH¤NG TIN C¤NG NGHIÖp vµ th−¬ng m¹i

BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI

XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI VIỆT NAM – ASEAN VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP CƠ BẢN PHÁT TRIỂN

XUẤT KHẨU HÀNG HÓA CỦA VIỆT NAM

(Thực hiện theo Hợp đồng số 06809 RD/HĐ-KHCN ngày 03 tháng 03 năm 2009 giữa Bộ Công Thương và Trung tâm Thông tin Công nghiệp và Thương mại)

Chủ nhiệm đề tài: ThS Nguyễn Thị Tú Oanh

Các thành viên tham gia: ThS Phạm Hưng

Cử nhân Đào Hữu Quang

Cử nhân Nguyễn Kim Dũng

Cử nhân Đỗ Việt Thắng

Cử nhân Nguyễn Xuân Hòa

Hà Nội, tháng 12/2009

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Sự cần thiết nghiên cứu:

Trong những năm vừa qua, xuất - nhập khẩu trở thành động lực quan trọng

thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Việt Nam đã từng bước hội nhập vào nền kinh tế khu

vực và toàn cầu với việc gia nhập ASEAN (năm 1995), ASEM (năm 1996), APEC (năm 1998) và đặc biệt là WTO (năm 2006) Thị trường xuất - nhập khẩu của Việt Nam được mở rộng nhưng áp lực cạnh tranh cũng ngày càng lớn Với thị trường các nước trong khu vực ASEAN, Việt Nam có nhiều thuận lợi do được hưởng thuế ưu đãi, vị trí địa lý thuận tiện

Kể từ khi Việt Nam thực hiện AFTA (năm 1996), thương mại 2 chiều của Việt Nam và ASEAN đã có những bước phát triển mới, đặc biệt trong giai đoạn 2005-2008, tăng trưởng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt bình quân trên 25%/ năm

Mỹ, EU, ASEAN, Nhật Bản, Trung Quốc và Ô-xtrây-li-a là 6 thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam, chiếm khoảng 80% tổng khối lượng hàng hóa xuất khẩu Hàng nhập khẩu của Việt Nam cũng tập trung cao ở các thị trường chính như ASEAN, Trung Quốc, Nhật Bản, EU, Mỹ và ấn Độ Các thị trường này chiếm tới 66% tổng kim ngạch nhập khẩu Điều này cho thấy ASEAN là một trong những đối tác xuất nhập khẩu quan trọng của Việt Nam

Kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam trước những năm khi chưa gia nhập

tổ chức này ở mức khiêm tốn và cán cân chủ yếu nghiêng về nhập siêu là chủ yếu Nhưng kể từ khi gia nhập vào ASEAN và tham gia thực hiện AFTA, kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam có xu hướng tăng liên tục, đặc biệt là kim ngạch xuất khẩu Quan hệ hợp tác thương mại Việt Nam - ASEAN từ đó cũng không ngừng được mở rộng, đánh dấu cho một thời kỳ phát triển mới của quan hệ hợp tác song phương Việt Nam đã không ngừng đẩy mạnh xuất khẩu sang các nước ASEAN, và vấn đề chênh lệch trong cán cân thương mại Việt Nam - ASEAN đã dần được cải thiện Năm 2008, trong tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam thì xuất khẩu sang thị trường ASEAN chiếm tỷ trọng 16,2% và giữ vững là thị trường xuất khẩu lớn thứ 3 của Việt Nam Ngược lại, kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam từ các nước ASEAN

Trang 4

trong những năm trở lại đây đang có xu hướng giảm, tuy tốc độ giảm không nhanh Nhìn chung, về cán cân thương mại, Việt Nam vẫn nhập siêu từ thị trường ASEAN, tính chung tổng giá trị nhập khẩu giai đoạn 2005-2008 cao gấp hơn 2,0 lần giá trị xuất khẩu của Việt Nam sang các nước ASEAN

Xuất khẩu của Việt Nam sang các nước ASEAN không chỉ phát triển mạnh

về lượng mà cơ cấu hàng xuất khẩu cũng đã có sự thay đổi đáng kể giúp cho kim ngạch xuất khẩu tăng nhanh chóng Tuy nhiên, các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam sang ASEAN chủ yếu là các mặt hàng nông sản, hải sản và khoáng sản thô, sơ chế có giá trị gia tăng không cao Những mặt hàng này tuy hầu hết được hưởng thuế nhập khẩu ưu đãi CEPT tại các nước nhập khẩu nhưng có giá trị thấp, giá cả phụ thuộc vào biến động trên thế giới, nên kim ngạch nhập khẩu không ổn định Bên cạnh đó, cơ cấu mặt hàng của Việt Nam giống với các nước khác trong ASEAN, do

đó Việt Nam phải cùng cạnh tranh với ASEAN trên thị trường Nếu không có những giải pháp phù hợp, xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường ASEAN sẽ ngày càng khó khăn

Chính vì vậy, để phát huy hiệu quả khi là thành viên của ASEAN, việc phân tích, đánh giá xu hướng phát triển thương mại Việt Nam – ASEAN, từ đó đề xuất một số giải pháp cơ bản phát triển xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam là cần thiết và

có ý nghĩa cả về mặt lý luận lẫn thực tiễn

2 Mục tiêu của đề tài:

- Nghiên cứu về quan hệ thương mại Việt Nam – ASEAN giai đoạn 2005-2009 và một số vấn đề đặt ra

- Phân tích và dự báo xu hướng phát triển thương mại Việt Nam – ASEAN từ nay đến 2015 và dự báo những tác động đến thương mại Việt Nam trong giai đoạn

từ nay đến 2015

- Đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm phát triển xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam trong giai đoạn 2010-2015

Trang 5

MỤC LỤC

Chương 1: Một số đặc điểm cơ bản của thị trường ASEAN 6

1.1 Một số đặc điểm kinh tế xã hội của ASEAN 6

1.1.1 Quá trình hình thành và phát triển 6

1.1.2 Mục tiêu phát triển ASEAN đến 2015 13

1.2 Đặc điểm một số thị trường lớn trong ASEAN 17

1.4 Nhận xét chung về thị trường ASEAN 30

1.5 Sự cần thiết phát triển quan hệ thương mại Việt Nam - ASEAN 32

Chương 2: Thực trạng quan hệ thương mại Việt Nam - ASEAN 38

2.1 Khái quát chính sách thương mại ASEAN 38

2.2 Chính sách thương mại của Việt Nam với ASEAN 45

2.3 Thực trạng hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa của việt nam tới ASEAN giai đoạn 2005-2009 46

Trang 6

3.1 Bối cảnh quốc tế và trong nước ảnh hưởng đến sự phát triển thương mại Việt Nam – ASEAN 78

3.1.1 Bối cảnh quốc tế

3.1.2 Ảnh hưởng của bối cảnh quốc tế tới sự phát triển thương mại của Việt Nam và ASEAN 83

3.1.3 Bối cảnh trong nước 85 3.2 Dự báo xu hướng phát triển quan hệ thương mại Việt Nam với một số nước thành viên ASEAN đến 2015 86

3.2.1 Một số cơ sở để xây dựng dự báo 87

3.2.2 Dự báo xu hướng phát triển chung trong hoạt động thương mại Việt Nam - ASEAN 88

3.2.3 Một số dự báo cụ thể 89 3.3 Giải pháp thúc đẩy xuất khẩu và hoàn thiện nhập khẩu 94

3.3.2 Nhóm giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu tới thị trường ASEAN từ phía Nhà nước 96

3.3.4 Phát triển nguồn nhân lực cho sản xuất hàng xuất khẩu 101

3.4 Một số kiến nghị thúc đẩy phát triển quan hệ thương mại Việt Nam – ASEAN 103

Trang 7

Danh mục bảng

Bảng 1.1: Thương mại nội khối ASEAN năm 2008 29

Bảng 2.1: Kim ngạch xuất nhập khẩu Việt Nam - ASEAN giai đoạn

Bảng 2.4: Tỷ trọng các thị trường xuất khẩu chính trong tổng kim ngạch xuất

Bảng 2.5: Cơ cấu các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam tới ASEAN giai

Bảng 2.6: Kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam từ các thị trường ASEAN giai

Bảng 2.7: Cơ cấu các mặt hàng nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam tới

Bảng 2.8: Cơ cấu các thị trường cung cấp hàng hóa của Việt Nam trong

Bảng 3.1: Kim ngạch xuất khẩu dầu thô của Việt Nam sang các nước

Bảng 3.2: Kim ngạch xuất khẩu gạo của Việt Nam sang các nước ASEAN 90

Trang 8

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA THỊ TRƯỜNG ASEAN 1.1- Một số đặc điểm kinh tế, xã hội của ASEAN

1.1.1- Quá trình hình thành và phát triển

Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (Association of Southeast Asia Nations,

viết tắt là ASEAN) là một liên minh chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội của các

quốc gia trong khu vực Đông Nam Á, được thành lập ngày 8 tháng 8 năm 1967 với

5 thành viên sáng lập là Thái Lan, Inđônêxia, Malaysia, Singapore, và Philippines, với mục tiêu ban đầu là tỏ rõ tình đoàn kết giữa các nước trong cùng khu vực, đồng thời hợp tác chống tình trạng bạo động và bất ổn tại các nước thành viên Sau Hội

nghị Bali năm 1976, ASEAN bắt đầu chương trình hợp tác kinh tế, nhưng các hợp

tác bị thất bại cho đến giữa thập niên 1980 Hợp tác kinh tế chỉ thành công lại khi Thái Lan đề nghị thành lập khu vực thương mại tự do năm 1991 Từ đó đến nay, quan hệ hợp tác trong ASEAN không ngừng được củng cố và ngày càng phát huy vai trò, có tác động tích cực đến sự phát triển của tất cả các quốc gia trong khu vực Ngày nay, ASEAN đã trở thành một liên kết kinh tế ngày càng chặt chẽ, khẳng định

uy tín trên các diễn đàn quốc tế, tiêu biểu cho sự liên kết khu vực và được thế giới đánh giá cao

Quá trình hình thành và phát triển của ASEAN có thể chia ra các giai đoạn chính sau:

Tuyên bố Bangkok 8 - 8-1967 mở đầu tiến trình hợp tác ASEAN:

Sau chiến tranh thế giới II, phong trào giải phóng dân tộc ở các quốc gia Đông

Nam Á bùng lên mạnh mẽ, chỉ hơn một thập niên đã quét sạch các thế lực thực dân

Mỹ, Hà Lan, Anh, Pháp, các nước Đông Nam Á đều giành lại độc lập, chủ quyền Sau khi giành độc lập, chính phủ các nước Đông Nam Á sớm có ý thức và bước đi để thành lập những tổ chức hợp tác khu vực như Ủy hội sông Mêkông (1957), Hiệp hội Đông Nam Á (ASA, 1961), Maphilindo (1963) nhưng những thử nghiệm đầu tiên này đều thất bại do nhiều mâu thuẫn, bất đồng giữa các nước thành viên

Trang 9

Đến giữa thập niên 1960 tình hình quốc tế và khu vực Đông Nam Á có những diễn biến mới: chiến tranh lạnh căng thẳng Mỹ - Xô; năm 1966 Trung Quốc phát động “đại cách mạng văn hóa vô sản” trong nước và thông qua những nhóm Maoist vươn tay đến một số nước Đông Nam Á Cuộc chiến tranh của Mỹ đạt đến đỉnh điểm, hơn nửa triệu quân Mỹ tham chiến, mở rộng thành chiến tranh Đông Dương lần 2, ở Inđônêxia Sukarno bị lật đổ, tướng Suharto lên cầm quyền, thiết lập “Trật tự mới” và điều chỉnh chính sách đối nội đối ngoại, cắt đứt quan hệ ngoại giao với Trung Quốc, chấm dứt đối đầu với Malaysia và hòa giải với các nước láng giềng Pháp và Anh là hai trụ cột thành lập SEATO nhưng không theo Mỹ tham chiến, ở Việt Nam, Pháp còn đưa ra quan điểm “cần trung lập hóa Đông Nam Á”, Anh tuyên

bố sẽ rút hết cam kết quân sự ở phía Đông kênh Suez từ 1970 (Anh và Úc, New Zealand, Malaysia, Singapore ký Hiệp ước phòng thủ chung)

Trong bối cảnh quốc tế diễn biến phức tạp như vậy, ngày 8-8-1967 tại Bangkok (Thái Lan) ngoại trưởng 5 nước Thái Lan, Inđônêxia, Malaysia, Phillipines

và Singapore đã họp và công bố Tuyên bố Bangkok, thành lập Hiệp hội các quốc gia

Đông Nam Á – ASEAN Tuyên bố Bangkok xác định: “Nhận thức được sự tồn tại của các mối quan tâm lẫn nhau và các vấn đề chung giữa các nước Đông Nam Á và tin tưởng vào sự cần thiết phải tăng cường hơn nữa các mối quan hệ đoàn kết sẵn có trong khu vực Mong muốn xây dựng một nền tảng vững chắc cho hành động chung nhằm thúc đẩy hợp tác khu vực ở Đông Nam Á, các nước Đông Nam Á có trách nhiệm chính trong việc tăng cường ổn định kinh tế và xã hội của khu vực và bảo đảm

sự phát triển đất nước hòa bình và tiến bộ, quyết tâm bảo đảm sự ổn định và an ninh không có sự can thiệp từ bên ngoài dưới bất kỳ hình thức hoặc biểu hiện nào”…

Tuyên bố cũng nêu tôn chỉ, mục đích của hiệp hội gồm 7 điểm và cho đến nay vẫn còn nguyên giá trị Hiệp hội cũng mở rộng cơ hội gia nhập cho tất cả các quốc gia ở khu vực Đông Nam Á tán thành tôn chỉ, nguyên tắc và mục đích của hiệp hội Từ lời tuyên bố này đến khi hiện thực hóa phải mất gần 32 năm (30/4/1999), một chặng đường khá dài nhưng cũng cho thấy quyết tâm hình thành một ASEAN

Trang 10

gắn bó với nhau bằng tình hữu nghị và hợp tác thông qua các nỗ lực chung, cùng đấu tranh để đảm bảo cho nhân dân các quốc gia trong khu vực và các thế hệ mai sau được hưởng hòa bình, tự do và phồn vinh Sự thành lập ASEAN có ý nghĩa trọng đại, thể hiện ý chí chính trị, tầm nhìn sáng suốt của các nhà lãnh đạo ASEAN Phải đặt Đông Nam Á trong bối cảnh quốc tế và khu vực như thời điểm thành lập thì mới thấy hết ý nghĩa của nó, từ nhận thức đến hành động để hiện thực hóa cũng đã phải tốn nhiều công sức và thời gian, tính bằng cả một thế hệ

Những mốc thời gian quan trọng đánh dấu sự trưởng thành của ASEAN:

Hơn bốn năm sau Tuyên bố Bangkok, ngày 27/11/1971 tại Kualar Lumpur

(Malaysia) Hội nghị Bộ trưởng ngoại giao 5 nước ASEAN đã ra Tuyên bố về khu vực Hòa bình, Tự do, Trung lập (Zone of Peace, Freedom and Neutrality – gọi tắt là ZOPFAN; ZOPFAN Concept hay Tuyên bố Kualar Lumpur)

Sau tám năm rưỡi thử nghiệm hợp tác thành công, trong bối cảnh lịch sử mới ở Đông Nam Á, Mỹ thất bại hoàn toàn trong cuộc chiến tranh Việt Nam,

cách mạng ba nước Đông Dương thắng lợi, tháng 2/1976 ASAEAN họp Hội nghị

Thượng đỉnh lần thứ I tại Bali (Inđônêxia) Các nhà lãnh đạo ASEAN đã ký kết các văn kiện quan trọng:

- Hiệp ước thân thiện và hợp tác

- Tuyên bố hòa hợp ASEAN

- Hiệp định về Ban thư ký ASEAN

Hội nghị Thượng đỉnh Bali đã đặt nền tảng lý luận vững chắc cho sự hợp tác ASEAN, hình thành chủ nghĩa khu vực ASEAN (ASEAN regionalism), đồng thời củng cố nền tảng pháp lý, cơ cấu tổ chức bảo đảm cho sự hợp tác chặt chẽ, toàn diện giữa các nước ASEAN, đồng thời cũng mở rộng cửa chào đón các nước khác trong khu vực tham gia

Năm 1984, ASEAN kết nạp thêm Brunei

Trang 11

Đông Nam Á sau chiến tranh lạnh và việc hình thành ASEAN 10:

Từ năm 1989 đến năm 1991 chiến tranh lạnh chấm dứt, nước Đức thống nhất, Liên Xô và hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu tan rã Trật tự lưỡng cực Yalta chuyển thành đơn cực siêu cường Mỹ Chiến tranh lạnh chấm dứt đã thay đổi hẳn tình hình chính trị an ninh thế giới và khu vực Đông Nam Á Sau gần 500 năm chủ nghĩa thực dân bành trướng đến Đông Nam Á, kể từ năm 1992 không còn đất thực dân hay căn cứ quân sự nước ngoài ở khu vực ASEAN Sự phân chia thành hai nhóm nước theo hai khuynh hướng chính trị - kinh tế khác nhau, thậm chí có lúc đối lập nhau giữa các nước trong khu vực cũng không còn nữa Bối cảnh đó tạo ra cơ hội mới cho hòa bình, ổn định và hợp tác kinh tế giữa các nước trong khu vực có thể đưa lên tầm cao mới, song cũng đặt ra cho các nước trong khu vực nhiều thách thức

từ phía các cường quốc cũng như từ bên trong mỗi nước

Tháng 1/1992 tại Hội nghị thượng đỉnh ASEAN lần IV tại Singapore, các

nhà lãnh đạo ASEAN đã quyết định thành lập Khu vực Thương mại Tự do ASEAN (AFTA), ban đầu dự kiến trong 15 năm, sau đó rút lại còn 10 năm, đến năm 2003 hoàn tất đối với các nước ASEAN-6 Đồng thời hội nghị cũng ra quyết định sẽ xúc tiến một tiến trình đối thoại với các nước bên ngoài, cũng như giữa các nước ASEAN với nhau về hợp tác an ninh, để tăng cường an ninh khu vực Các cuộc đối thoại này dự định tiến hành trên cơ sở các diễn đàn ASEAN đã có, đặc biệt là cơ chế hội nghị sau Hội nghị ngoại trưởng ASEAN (AMM – PMC)

Tháng 7/1992 Việt Nam, Lào đã ký Hiệp ước Bali, trở thành quan sát viên

của ASEAN

Hội nghị AMM 28 họp ngày 28/7/1995 ở Brunei, Việt Nam chính thức gia

nhập ASEAN, trở thành thành viên chính thức thứ bảy của tổ chức này Đó là một bước ngoặt quan trọng của ASEAN, mở ra khả năng hiện thực tiến đến ASEAN 10 Tháng 12/1995 Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN V họp tại Bangkok (Thái Lan) Lần đầu tiên trong lịch sử khu vực Đông Nam Á tất cả mười nhà lãnh đạo đã gặp gỡ, ký kết các văn kiện quan trọng Các nhà lãnh đạo ASEAN đã ký Hiệp ước Đông Nam

Trang 12

Á không vũ khí hạt nhân (SEANWFZ) Hội nghị Thượng đỉnh V Bangkok cũng quyết định mở ra cơ chế Hợp tác Á – Âu (ASEM), chính thức bắt đầu từ tháng 3-1996

Năm 1997, tuy cơn bão khủng hoảng kinh tế tài chính ập đến Đông Nam Á

nhưng ASEAN vẫn kết nạp Lào, Myanmar (7/1997) và thông qua chiến lược Tầm nhìn 2020 Tháng 12-1998 Việt Nam đã tổ chức thành công Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN VI, thông qua Chương trình hành động Hà Nội và Tuyên bố Hà Nội, xây dựng ASEAN phát triển bền vững và đồng đều, rút ngắn khoảng cách phát triển giữa các nước thành viên, đồng thời mở đầu hợp tác ASEAN + 3 (Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc) Ngày 30-4-1999 tại Hà Nội, ASEAN đã kết nạp Cămpuchia là thành viên thứ 10

Tóm lại từ đầu thập niên 1990 đến nay, sau chiến tranh lạnh, các nước Đông Nam Á đã đạt được những mục tiêu về một khu vực Hòa bình, Tự do, Trung lập và không vũ khí hạt nhân Đồng thời ASEAN còn đề xướng và lãnh đạo một cơ chế an ninh tập thể là ARF quy tụ tất cả các cường quốc châu Á – Thái Bình Dương tham gia Lợi dụng xu thế vừa hòa hoãn vừa cạnh tranh giữa siêu cường, ASEAN trở thành người khởi xướng, dẫn dắt và điều phối một diễn đàn mở về hợp tác chính trị

an ninh lớn nhất trên thế giới Đó cũng là một điểm độc đáo, biểu hiện sự trưởng thành của ASEAN và tính mềm dẻo, khôn khéo của tổ chức này, thường được nói đến như “bản sắc ASEAN” ASEAN cũng mở rộng khuôn khổ hợp tác với Đông Á (ASEAN + 3, EAC), với châu Âu (ASEM), với châu Á – Thái Bình Dương (APEC)

Cộng đồng ASEAN - Bước phát triển mới trong hợp tác khu vực:

Sang đầu thế kỷ XXI, thập niên thứ hai sau chiến tranh lạnh, tình hình thế giới vẫn tiếp tục diễn biến phức tạp khôn lường Các cường quốc đều có sự điều chỉnh chiến lược đối nội, đối ngoại, xu thế đa cực nổi rõ hơn Quá trình toàn cầu hóa phát triển mạnh mẽ được tiếp sức thêm bởi cuộc cách mạng khoa học công nghệ trong lĩnh vực công nghệ thông tin, công nghệ sinh học và vật liệu mới,… Toàn cầu hóa mở ra nhiều cơ hội nhưng cũng đầy thách thức đối với tất cả các quốc gia Các nước phát triển, giàu có càng giàu hơn, các nước thế giới thứ ba, một số nước có

Trang 13

tiềm lực và nắm bắt được thời cơ, thích nghi được đã phát triển nhanh chóng, nhưng

phần lớn các nước Á – Phi – Mỹ Latinh vẫn trong cảnh nghèo đói, chậm phát triển

Các nước Đông Nam Á đều đa dân tộc, đa tôn giáo trong đó có nhiều cộng đồng còn sống trong điều kiện kinh tế xã hội thấp kém, khó khăn, nghèo khổ Bốn nước ASEAN mới Việt Nam, Lào, Myanmar, Cămpuchia còn nghèo, GDP/người/năm chỉ

trong khoảng 200 đến 700 USD Đó là những nguy cơ tiềm ẩn lớn đe dọa hòa bình,

ổn định, an ninh, phát triển thịnh vượng của cả ASEAN Trước những thách thức mới, tại Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN IX ở Bali (7/10/2003) các nhà lãnh đạo ASEAN đã ký Tuyên bố Hòa hợp ASEAN II (ASEAN Concord II), thành lập Cộng đồng ASEAN (ASEAN Community) vào năm 2020 (thực hiện Tầm nhìn 2020)

Cộng đồng ASEAN dựa trên 3 trụ cột, hay có 3 cộng đồng cấu thành:

- Cộng đồng an ninh ASEAN (ASC)

- Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC)

- Cộng đồng văn hóa – xã hội ASEAN (ASCC)

Từ năm 2004 đến đầu năm 2007 các Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN X, XI, XII, Hội nghị Bộ trưởng ngoại giao, kinh tế… đều nhất trí đẩy nhanh tiến trình xây dựng Cộng đồng ASEAN, rút ngắn 5 năm, đến năm 2015, soạn thảo Hiến chương ASEAN Một động thái đáng chú ý là tại Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN X tại Viên chăn (Lào, 11/2004) thông qua Chương trình hành động vì ASC (VAP) đã nêu

ra những bước đi khá cụ thể gồm 6 điểm, những giải pháp thực hiện… Trong

chương trình này lần đầu tiên ASEAN dùng lời lẽ khá mạnh “sẽ không dung thứ cho

thay đổi chính phủ một cách phi dân chủ và không hợp hiến hoặc sử dụng lãnh thổ của các nước thành viên để tiến hành bất cứ hành động nào làm tổn hại tới hòa bình

và ổn định của các quốc gia thành viên khác”

ASEAN đã trải qua chặng đường hơn 40 năm đầy tự hào Từ một tổ chức gồm 5 nước liên kết với nhau còn lỏng lẻo, đến nay Hiệp hội gồm 10 nước gắn kết khá chặt chẽ với nhau, hướng đến một cộng đồng ASEAN dựa trên 3 trụ cột là Cộng đồng an ninh (ASC), Cộng đồng kinh tế (AEC), Cộng đồng văn hóa – xã hội (ASCC) Chắc chắn ASEAN sẽ tiếp tục phát huy vai trò của mình là người kiến tạo

Trang 14

hòa bình an ninh cho khu vực Đông Nam Á, rộng hơn là châu Á – Thái Bình Dương trong thế kỷ XXI theo phong cách riêng của mình, xây dựng Đông Nam Á phát triển thịnh vượng, đùm bọc lẫn nhau Trong những ngày kỷ niệm 40 năm thành lập ASEAN, Hội nghị AMM 40 họp tại Manila (Philippines) từ 29/7 đến 2/8/2007 đã bàn bạc và quyết định những vấn đề quan trọng như thúc đẩy mạnh mẽ hợp tác, hội nhập khu vực, hướng tới xây dựng thành công Cộng đồng ASEAN vào năm 2015, các vấn đề chính trị và an ninh trong Diễn đàn Khu vực ASEAN (ARF) 14 Đặc biệt Hội nghị này đã hoàn tất, thông qua dự thảo Hiến chương ASEAN để trình Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN XIII ở Singapore vào tháng 11-2007 Hiến chương ASEAN là một văn kiện lịch sử đánh dấu sự trưởng thành của Hiệp hội vào tuổi 40 Việt Nam tin tưởng với sự nỗ lực và thiện chí của các nước thành viên, Hiến chương ASEAN đã được thông qua và được phê chuẩn vào cuối năm 2008 và đã có hiệu lực pháp lý từ 2009

Các nguyên tắc hoạt động của ASEAN:

- Nguyên tắc về quan hệ song phương và đa phương: Tôn trọng chủ quyền

và không can thiệp vào nội bộ của nhau, và tiến tới tuân thủ các quy định chung trong Hiến chương ASEAN khi Hiến chương này được tất cả mười thành viên trong Khối phê chuẩn và có hiệu lực Hiến chương này được xem là Hiến pháp của toàn Khối Hiến chương ASEAN đã được thông qua vào tháng 12/2008

- Nguyên tắc điều phối hoạt động: có 3 nguyên tắc chủ yếu là nguyên tắc

nhất trí, nguyên tắc bình đẳng và nguyên tắc 6-X Trong quan hệ với nhau, các thành viên của khối đều tuân theo 6 nguyên tắc chính được nêu lên trong Hiệp ước thân thiện và hợp tác ở Đông Nam á (Hiệp ước Ba-li), kí tại Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ I tại Ba-li năm 1976, là:

- Cùng tôn trọng độc lập, chủ quyền, bình đẳng, toàn vẹn lãnh thổ và bản sắc dân tộc của tất cả các dân tộc

- Quyền của mọi quốc gia được lãnh đạo hoạt động của dân tộc mình, không

có sự can thiệp, lật đổ hoặc cưỡng ép của bên ngoài

- Không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau

Trang 15

- Giải quyết bất đồng hoặc tranh chấp bằng biện pháp hoà bình, thânthiện

- Không đe doạ hoặc sử dụng vũ lực

- Hợp tác với nhau một cách có hiệu quả

1.1.2 Mục tiêu phát triển ASEAN đến 2015

Bước vào thế kỉ XXI, ASEAN đứng trước những cơ hội phát triển mới cũng như phải đối phó với những thách thức không nhỏ Sự trỗi dậy của Trung Quốc và

sự cạnh tranh quyền lực giữa họ và Nhật Bản và Mỹ ở Đông Nam Á, vấn đề biển Đông và hàng loạt thách thức an ninh phi truyền thống như xung đột tôn giáo, sắc tộc, buôn bán ma túy, vũ khí…, các căng thẳng song phương giữa các nước thành viên đã khiến cho môi trường an ninh khu vực trở nên bấp bênh Về phương diện kinh tế, nguy cơ tái bùng nổ khủng hoảng vẫn tiềm ẩn Mặc dù buôn bán nội địa tăng lên, nhưng tỷ trọng buôn bán nội khối trong tổng buôn bán quốc tế của ASEAN vẫn chỉ chiếm 25%, tức là không cao hơn đáng kể so với trước khi AFTA được xây dựng Nếu tình hình trên không được cản thiện, ASEAN có thể bị tụt hậu về kinh tế

và mất vai trò chính trị trong khu vực châu Á

Nhận thức được điều đó, ngay từ đầu thế kỉ XXI, Tổng thống Philipphin Gloria Macapagal Arroyo đã khẳng định “ Trong một thế giới bất ổn về an ninh và biến động liên tục về kinh tế, từng nước riêng rẽ Đông Nam Á, ngay dù rộng lớn như Inđônêxia hay tiên tiến về kinh tế như Singapore, không thể có hòa bình, không thể phát triển, không thể hy vọng thịnh vượng, không thể có niềm tin vào tương lai, trừ khi cùng sát cánh bên nhau, góp chung của cải, chia sẻ ngày càng nhiều các mối quan tâm chung, tin tưởng lẫn nhau và ngày càng nói chung một tiếng nói trên các diễn dàn của thế giới”

Khẳng định trên của Tổng thống Philipphin đã nhận được sự chia sẻ, đồng thuận của các nhà lãnh đạo các nước thành viên ASEAN Chính khẳng định đó đã thúc đẩy ASEAN tổ chức Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN lần thứ 9 ở Bali tháng 12/2003 Tại hội nghị các nhà lãnh đạo khu vực đã tập trung thảo luận về những vấn

Trang 16

đề thuộc mối ngại quan chung của tất cả các nước thành viên, kể cả những phát triển chính trị và kinh tế, đặc biệt là tình hình mới nhất ở Bán đảo Triều Tiên, những nguy

cơ mới về chủ nghĩa khủng bố và vấn đề Irac, vấn đề Trung Đông Để đạt được những mục tiêu trên, Hội nghị đã thông qua Tuyên Bố Hòa hợp ASEAN II (DAC II) Mục đích của DAC II là nhằm tái khẳng định ASEAN với tư cách là một sự hòa hợp giữa các quốc gia Đông Nam Á, được bao bọc với nhau bằng quan hệ đối tác trong sự phát triển năng động và trong một cộng dồng xã hội chăm lo lẫn nhau Trong DAC II, Các nhà lãnh đạo ASEAN đã thỏa thuận thành lập Cộng đồng ASEAN dựa trên 3 trụ cột: Cộng đồng an ninh ASEAN (ASC), cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) và cộng đồng văn hóa xã hội ASEAN (ASSC) vào năm 2020 Ba cộng đồng này tạo thành 3 trụ cột, trên đó cộng đồng ASEAN được xây dựng, duy trì và phát triển ASC, AEC và ASSC sẽ được gắn kết với nhau một cách chặt chẽ,

bổ sung cho nhau trong nỗ lực nhằm đạt được hòa bình, ổn định và thịnh vượng

Sau khi nêu rõ những nội dung cơ bản của AC và những cấu thành của nó, trong tuyên bố Hòa hợp ASEAN, các nhà lãnh đạo đã nêu rõ mục đích, bản chất và biện pháp cơ bản để xây dựng AC và các trụ cột

Mục đích của việc xây dựng Cộng đồng An ninh ASEAN là đưa ra hợp tác

chính trị và an ninh của ASEAN lên một bình diện cao hơn và đảm bảo rằng các thành viên ASEAN được sống trong hòa bình với nhau và với thế giới trong một môi trường chính nghĩa, dân chủ và hài hòa ASC không phải là một khối phòng thủ, một liên minh quân sự hoặc một chính sách đối ngoại chung Nguyên tắc chỉ đạo

xây dựng ASC là nguyên tắc an ninh toàn diện Để xây dựng ASC, ASEAN sẽ tận

dụng các thể chế và cơ chế hiện có bên trong ASEAN, trong đó Hội đồng Tối cao ASEAN sẽ là công cụ chính, thiết lập một diễn đàn ASEAN về biển, hợp tác các lĩnh vực liên quan đến biển trong ASEAN sẽ được xem là đóng góp vào sự tiến triển của Cộng đông An ninh ASEAN, tìm ra những phương hướng mới để tăng cường an ninh và thiết lập các thể thức cho Cộng đồng An ninh ASEAN, triển khai xây dựng một chương trình hành động về cộng đồng ASEAN

Trang 17

Về cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) mục đích thành lập được xác định là:

1) Tăng cường khả năng cạnh tranh của ASEAN, cải thiện môi trường đầu tư 2) Thu hẹp khoảng cách phát triển của các nước ASEAN và đạt được sự hội nhập kinh tế sâu hơn trong khu vực

Cộng đồng kinh tế ASEAN sẽ được đặc trưng bởi một thị trường duy nhất, một cơ sở sản xuất chung với sự tự do di chuyển hàng hóa, dịch vụ, dòng vốn đầu

tư, cũng như sự di chuyển tự do của các doanh nhân và lực lượng lao động, nhất là lao động có kỹ năng Để thực hiện hóa AEC, ASEAN dự định đẩy nhanh việc thực hiện các biện pháp tự do hóa và tăng cường liên kết khu vực, thúc đẩy quá trình hợp tác và hội nhập trong các lĩnh vực khác, bao gồm phát triển nguồn nhân lực và xây dựng năng lực thể chế, công nhận chất lượng giáo dục của nhau, tham khảo chặt chẽ hơn về chính sách kinh tế vĩ mô tài chính, các biện pháp hỗ trợ tài chính trong thương mại, tăng cường liên kết hạ tầng cơ sở và thông tin liên lạc, phát triển giao dịch điện tử thông qua ASEAN điện tử, liên kết các nền kinh tế xuyên biên giới, tạo điều kiện để phân bố hợp lý các nguồn nhân lực và tăng cường sự tham gia của khu vực tư nhân

Do sự phát triển không đồng đều của các nước thành viên đặc biệt về kinh tế,

để xây dựng AEC, ASEAN khẳng định có thể áp dụng cách tiếp cận 2 + X, bên cạnh công thức ASEAN – X Cách tiếp cận 2 + X có nghĩa là khi hai nước có điều kiện đẩy nhanh hợp tác trong một số lĩnh vực cụ thể, trong khi các nước khác chưa sẵn sàng, thì họ có thể thực hiện trước không cần sự tham gia của tất cả các nước thành viên ASEAN

Xây dựng AEC trong bối cảnh có sự chênh lệch về trình độ phát triển và chủ nghĩa dân tộc về kinh tế vẫn tiếp tục là nhân tố chi phối quá trình hoạch định chính sách hội nhập khu vực của nhiều nước thành viên, nên việc hiện thực hóa AEC với tốc độ nhanh là không thể Do vậy, ASEAN chủ trương áp dụng các cách tiếp cận tiên tiến như trên

Trang 18

Đối với cộng đồng văn hóa – xã hội ASEAN (ASCC), mục tiêu là xây dựng

ASEAN thành “cộng đồng xã hội đùm bọc lẫn nhau” như đã được đề ra trong tầm nhìn ASEAN 2020 Thông qua ASCC, ASEAN hy vọng đẩy nhanh sự hợp tác của khu vực về các vấn đề xã hội và nâng cao đời sống của dân cư nông thôn, thúc đẩy tích cực sự tham gia của tất cả tầng lớp trong xã hội, bao gồm phụ nữ, thanh niên, và các nhóm cộng đồng Ngoài ra, ASCC còn được hy vọng sẽ góp phần tăng cường khả năng hợp tác trong việc giải quyết các vấn đề liên quan tới mức tăng trưởng dân

số, phát triển giáo dục, giải quyết tình trạng thất nghiệp, ngăn ngừa các loại dịch bệnh truyền nhiễm như HIV/AIDS và SARS, tình trạng suy thoái môi trường và ô nhiễm xuyên biên giới

Xây dựng cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) – tác động lớn đến xu hướng phát triển thương mại Việt Nam - ASEAN:

Mục đích thành lập AEC: Theo kế hoạch được các nhà lãnh đạo ASEAN

sửa đổi và thông qua, AEC sẽ được thành lập vào năm 2015 Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) được xây dựng nhằm hình thành một khu vực kinh tế ASEAN ổn định, thịnh vượng và có khả năng cạnh tranh cao, trong đó hàng hóa, dịch vụ, đầu tư

sẽ được chu chuyển tự do, và vốn được lưu chuyển tự do hơn, kinh tế phát triển đồng đều, đói nghèo và chênh lệch kinh tế-xã hội được giảm bớt

Kế hoạch trung hạn 6 năm lần thứ hai của ASEAN (2004-2010)- Chương trình Hành động Vientian- đã xác định rõ hơn mục đích của AEC là: tăng cường năng lực cạnh tranh thông qua hội nhập nhanh hơn, nhằm thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế của ASEAN

Các biện pháp thực hiện: Các biện pháp chính mà ASEAN sẽ cần thực hiện

để xây dựng một thị trường ASEAN thống nhất bao gồm: hài hòa hóa các tiêu chuẩn sản phẩm (hợp chuẩn) và qui chế, giải quyết nhanh chóng hơn các thủ tục hải quan

và thương mại, và hoàn chỉnh các quy tắc về xuất xứ

Các biện pháp để xây dựng một cơ sở sản xuất ASEAN thống nhất sẽ bao gồm: củng cố mạng lưới sản xuất khu vực thông qua nâng cấp cơ sở hạ tầng, đặc

Trang 19

biệt là trong các lĩnh vực năng lượng, giao thông vận tải, công nghệ thông tin và viễn thông, và phát triển các kỹ năng thích hợp

Các biện pháp nói trên đều đã và đang được các nước thành viên ASEAN triển khai trong khuôn khổ các thỏa thuận và hiệp định của ASEAN Như vậy, AEC chính là sự đẩy mạnh những cơ chế liên kết hiện có của ASEAN, như Hiệp định Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN (AFTA), Hiệp định Khung ASEAN về Dịch vụ (AFAS), Khu vực Đầu tư ASEAN (AIA), Hiệp định Khung về Hợp tác Công nghiệp ASEAN (AICO), Lộ trình Hội nhập Tài chính và Tiền tệ ASEAN, v.v…, để xây dựng ASEAN thành “một thị trường và cơ sở sản xuất thống nhất” Nói cách khác, AEC là mô hình liên kết kinh tế khu vực dựa trên và nâng cao những cơ chế liên kết kinh tế hiện có của ASEAN có bổ sung thêm hai nội dung mới là tự do di chuyển lao động và di chuyển vốn tự do hơn

1.2- Đặc điểm một số thị trường lớn trong ASEAN

1.2.1 Những đặc điểm chung về tự nhiên, xã hội

Về vị trí địa lý – khí hậu: Các quốc gia Đông Nam Á nằm ở vùng đất tận

cùng về phía Đông Nam của lục địa Châu Á Đây là một khu vực địa lý thuộc vùng khí hậu nhiệt đới ẩm, chịu sự chi phối mạnh mẽ của gió mùa bao gồm 10 quốc gia với diện tích gần 4.500.000 km2, với hơn nửa tỷ dân cư đang sinh sống Khu vực địa

+ Thái Lan: Với diện tích 514.000 km², Thái Lan xếp thứ 49 trên thế giới về

diện tích, rộng thứ ba tại Đông Nam Á, sau Inđônêxia và Myanma Thái Lan là mái

Trang 20

nhà chung của một số vùng địa lý khác nhau, tương ứng với các vùng kinh tế Phía Bắc có địa hình đồi núi, với điểm cao nhất (2.576 m) là Doi Inthanon Phía Đông Bắc là Cao nguyên Khorat có biên giới tự nhiên về phía đông là sông Mekong đây là vùng trồng nhiều sắn nhất của Thái Lan do khí hậu và đất đai phù hợp với cây sắn Trung tâm của đất nước chủ yếu là vùng đồng bằng sông Chao Phraya đổ ra vịnh Thái Lan Miền Nam là eo đất Kra mở rộng dần về phía bán đảo Mã Lai Khí hậu nhiệt đới gió mùa, thời tiết nóng, mưa nhiều

+ Inđônêxia: gồm 17.508 hòn đảo, khoảng 6.000 trong số đó không có

người ở Các hòn đảo nằm rải rác ở cả hai phía đường xích đạo Năm hòn đảo lớn nhất là Java, Sumatra, Kalimantan, New Guinea cùng chung với Papua New Guinea,

và Sulawesi Inđônêxia có biên giới trên bộ với Malaysia trên hòn đảo Borneo và Sebatik, Papua New Guinea trên đảo New Guinea, và Đông Timor trên đảo Timor Inđônêxia cũng có chung biên giới với Singapore, Malaysia, và Philippines ở phía bắc và Australia ở phía nam bằng một dải nước hẹp Thủ đô, Jakarta, nằm trên đảo Java là thành phố lớn nhất nước, sau đó là Surabaya, Bandung, Medan, và Semarang Với diện tích 1.919.440 kilômét vuông, Inđônêxia là nước đứng thứ 16 trên thế giới về diện tích đất liền Mật độ dân số trung bình là 134 người trên kilômét vuông, đứng thứ 79 trên thế giới, dù Java, hòn đảo đông dân nhất thế giới,

có mật độ dân số khoảng 940 người/km2 Độ ẩm nói chung cao, trung bình khoảng 80% Nhiệt độ ít thay đổi trong năm, khoảng nhiệt độ ngày trung bình tại Jakarta là 26–30 °C Rừng nhiệt đới ẩm chiếm gần 2/3 diện tích lãnh thổ Đất canh tác, đồng

cỏ 10%, rừng và cây bụi 67%, các đất khác 15% Khoáng sản chính: dầu khí, thiếc, niken, bauxit, đồng, than, vàng, bạc

+ Philippines: là một quần đảo với 7.107 hòn đảo với tổng diện tích đất liền

gần 300.000 kilômét vuông, nằm giữa 116°40' và 126°34' đông, và 4°40' và 21°10' bắc, giáp với Biển Philippines ở phía đông, Biển Nam Trung Quốc ở phía tây, và Biển Celebes ở phía bắc Đảo Borneo nằm cách vài trăm kilômét về phía tây nam và Đài Loan thẳng phía bắc Moluccas và Sulawesi ở phía nam và Palau ở phía đông

Trang 21

phía trên Biển Philippines Thông thường quốc đảo này được chia thành ba nhóm đảo: Luzon, Visayas và Mindanao Cảng biển đông đúc Manila, ở Luzon, là thủ đô quốc gia và là thành phố lớn thứ hai sau vùng ngoại ô của nó là Thành phố Quezon Khí hậu của Philippines nóng, ẩm, nhiệt đới Nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng 26,5°C Philipphin có ba mùa chính, tháng nóng hay mùa hè từ tháng 3 đến tháng 5, mùa mưa từ tháng 6 đến tháng 11 và mùa lạnh từ tháng 12 đến tháng 2

+ Việt Nam: Việt Nam nằm trong bán đảo Đông Dương, thuộc vùng Đông

Nam châu Á Lãnh thổ Việt Nam chạy dọc bờ biển phía đông của bán đảo này.Việt Nam có biên giới đất liền với Trung Quốc (1.281 km), Lào (2.130 km) và Cămpuchia (1.228 km) và bờ biển dài 3.444 km tiếp giáp với vịnh Bắc Bộ, biển Đông và vịnh Thái Lan Việt Nam có diện tích 331.212 km², bao gồm khoảng 327.480 km² đất liền và hơn 4.200 km² biển nội thủy, với hơn 2.800 hòn đảo, bãi đá ngầm lớn nhỏ, gần và xa bờ, có vùng nội thủy, lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa được Chính phủ Việt Nam xác định gần gấp ba lần diện tích đất liền khoảng trên 1 triệu km² Địa thế có những đồi và những núi đầy rừng, trong khi đất phẳng che phủ khoảng ít hơn 20% Núi rừng chiếm độ 40%, đồi 40%, và độ che phủ khoảng 75% Diện tích đất canh tác chiếm 17% tổng diện tích đất Việt Nam Việt Nam có khí hậu nhiệt đới gió mùa ở miền nam với hai mùa, mùa mưa, từ giữa tháng

5 đến giữa tháng 9, và mùa khô, từ giữa tháng 10 đến giữa tháng 4 và khí hậu gió mùa ở miền bắc với bốn mùa rõ rệt mùa xuân, mùa hè, mùa thu và mùa đông Do nằm dọc theo bờ biển, khí hậu Việt Nam được điều hòa một phần bởi các dòng biển

và mang nhiều yếu tố khí hậu biển Độ ẩm tương đối trung bình là 84% suốt năm Hằng năm, lượng mưa từ 1.200 đến 3.000 mm, số giờ nắng khoảng 1.500 đến 3.000 giờ/năm và nhiệt độ từ 5°C đến 37°C Việt Nam có nhiều mỏ khoáng sản trên đất liền, rừng tự nhiên và một số mỏ dầu, khí, quặng khoáng sản ngoài khơi

Dân số trẻ với tốc độ tăng nhanh:

ASEAN là một khu vực đông dân của thế giới Dân số toàn khu vực năm

1996 là 501 triệu người và đến năm 2007 dân số của ASEAN lên đến 600 triệu

Trang 22

người, tương đương dân số của Châu Mỹ Latinh, Châu Âu Mặc dù dân số đông và

độ tuổi dân số khá trẻ, nhưng hiện nay tỉ lệ sinh của các nước trong khu vực vẫn khá cao với tỷ lệ sinh trung bình là 30‰ Hiện nay sự gia tăng dân số đang là một trong những trở ngại của các quốc gia trong khu vực nhằm đẩy mạnh sự tăng trưởng kinh

tế và nâng cao mức thu nhập bình quân trên đầu người Bên cạnh đó sự gia tăng nhanh dân số và nguồn lao động cũng gây khó khăn cho việc giải quyết các vấn đề

xã hội như việc làm và nạn thất nghiệp, trình độ học vấn và nạn mù chữ, dịch vụ y tế

và các căn bệnh xã hội, nạn suy dinh dưỡng ở trẻ em Mặt khác, dân số đông và nguồn lao động dồi dào, rẻ, kể cả lao động có tay nghề của nhiều nước trong khu vực hiện đang là lợi thế của các nước trong việc hấp dẫn đầu tư của nước ngoài Điều này cũng khiến cho các nước ASEAN, ngoại trừ Singapore lựa chọn mô hình phát triển dựa trên nguồn lao động dư thừa

Văn hoá đa dạng, phong phú:

Các nước ASEAN, trừ Thái Lan đều trải quan giai đoạn lịch sử thuộc địa của Phương tây và giành được độc lập vào các thời điểm khác nhau sau Chiến tranh thế giới thứ 2 Mặc dù ở cùng một khu vực địa lý, song các nước ASEAN có sự khác biệt về chủng tộc, tôn giáo và văn hóa tạo thành một khối ASEAN đa sắc tộc, đa dang và phong phú về văn hóa

Văn hóa Thái Lan chịu ảnh hưởng sâu sắc từ các tư tưởng đạo Phật - tôn giáo chính thức ở đất nước này xuất phát từ nền sản xuất phụ thuộc vào nguồn nước Có thể thấy rõ hai điểm trên qua các ngày lễ hội Trong văn hóa ứng xử, người Thái tỏ

rõ sự sùng đạo, tôn kính hoàng gia và trọng thứ bậc cũng như tuổi tác

Inđônêxia có khoảng 300 nhóm sắc tộc, mỗi nhóm có văn hóa khác biệt và đã phát triển qua nhiều thế kỷ, với ảnh hưởng từ Ấn Độ, Ả Rập, Trung Quốc, Malaysia

và Châu Âu

Malaysia là một xã hội đa sắc tộc, đa văn hóa và đa ngôn ngữ, gồm 52% người Malay và các bộ tộc bản xứ khác, 30% người Trung Quốc, 8% người Ấn Độ Người Malay, là cộng đồng lớn nhất, được xác định là những tín đồ Hồi giáo trong

Trang 23

Hiến pháp Malaysia Người Malay đóng vai trò thống trị trong chính trị và được tính gộp trong một nhóm gọi là bumiputra Tiếng mẹ đẻ của họ là tiếng Malay Tiếng Malay là ngôn ngữ chính thức quốc gia Nhóm bản xứ không Malay lớn nhất là người Iban tại Sarawak với số lượng hơn 600.000 người Một số người Iban vẫn sống trong các ngôi nhà dài truyền thống trong rừng già dọc theo các con sông Rajang và Lupar và các phụ lưu của chúng, dù nhiều người đã tới sống tại các thành phố Người Bidayuh, số lượng khoảng 170.000 người, sống tập trung ở vùng phía tây nam Sarawak Đa số những người sinh sống bằng nông nghiệp hay săn bắn hái lượm du mục truyền thống, đã định cư và hòa nhập một phần vào xã hội hiện đại Malaysia Người Trung Quốc tại Malaysia chủ yếu theo Phật giáo, Đạo giáo hay Thiên chúa giáo Người Trung Quốc tại Malaysia sử dụng nhiều loại tiếng địa phương Trung Quốc gồm tiếng phổ thông, Hokkien/Fujian, Quảng Đông, Hakka và Teochew Nhiều người Trung Quốc tại Malaysia cũng sử dụng tiếng Anh như tiếng

mẹ đẻ Người Trung Quốc từ lâu đã chiếm vị trí quan trọng trong cộng đồng thương mại Malaysia Người Ấn Độ tại Malaysia chủ yếu là người Hindu Tamil từ miền nam Ấn Độ nói tiếng Tamil, cũng có các cộng đồng Ấn Độ khác nói tiếng Telugu, Malayalam và Hindi, sống chủ yếu tại các thị trấn lớn ở ven biển phía tây bán đảo Nhiều người Ấn Độ thuộc tầng lớp trung lưu và thượng lưu sống tại Malaysia cũng dùng tiếng Anh như tiếng mẹ đẻ Đa số người Ấn Độ di cư tới đây đều là các thương nhân, giáo viên và những thợ thủ công có chuyên môn Một số lượng lớn khác là những nhân công nhập cư từ Ấn Độ ở thời thuộc địa Anh làm việc trong ngành lâm nghiệp

Tài nguyên thiên nhiên đa dạng, dồi dào:

Hầu hết các quốc gia trong khu vực ASEAN đều có nguồn tài nguyên thiên nhiên đa dạng, dồi dào và đây là một trong những thế mạnh và đều được các nước khai thác và tận dụng trong quá trình phát triển kinh tế hướng ngoại của mình

Các đặc điểm nổi bật về kinh tế:

Nhiều nước trong ASEAN có nền kinh tế dựa chủ yếu vào nông nghiệp:

Xét về tổng thể, ASEAN vẫn là những quốc gia Nông nghiệp với tỉ lệ dân số sinh sống tại nông thôn chiếm tới 57% tổng dân số, đồng thời dân số có hoạt động

Trang 24

kinh tế trong lĩnh vực nông nghiệp chiếm khoảng 47% tổng dân số Tuy nhiên sự phân hóa này không đồng đều: Nhóm các nước trong đó nông nghiệp, nông thôn giữ vai trò kinh tế - xã hội một cách rõ rệt là Lào với 78,9% dân số sống ở nông thôn và 75,8% dân số hoạt động nông nghiệp, Myanmar với 70,0% và 69,0%, Cămpuchia 80,8% và 68,5%, Việt Nam 73,8% và 65,7% Nhóm các nước có tỉ lệ dân số sống tại nông thôn và có hoạt động nông nghiệp tương đối thấp hơn gồm Thái Lan với 67,9% và 45,8%, Inđônêxia với 53,2% và 41,5%, Philippin với 38,2% và 37,0% Nhóm các nước mà tính chất đô thị và công nghiệp nổi bật hơn hẳn là Singapore với 0% dân số sống ở nông thôn, 0,12% dân số hoạt động nông nghiệp, Brunây với 23,2% và 0,6% và Malaysia với 35,1%-15,0% Về cơ bản, ASEAN là một khu vực

có dân số trẻ và có nhiều tiềm năng về lao động với 50,6% dân số nằm trong độ tuổi lao động Mức này cao hơn mức chung của thế giới là 49,0% trong năm 2008 Những nước có tỷ lệ này cao hơn mức chung của khu vực là Thái Lan 59,7%, Myanmar 54,7% và Việt Nam là 53,4% Tỷ lệ lao động trong độ tuổi lao động trong nông nghiệp còn cao hơn: 54,4% Tương tự như tỷ trọng của dân số nông nghiệp trong tổng dân số, tỷ trọng của dân số trong độ tuổi lao động có hoạt động nông nghiệp trong tổng dân số trong độ tuổi lao động phản ánh rõ vai trò của nông nghiệp tại mỗi quốc gia Tuy nhiên, mức độ chênh lệch đang có chiều hướng giảm xuống với chỉ hai nhóm nước thay vì ba như ở trên: Nhóm các nước có tỷ lệ lao động trong

độ tuổi lao động có hoạt động nông nghiệp ít nhất là Singapore với 0,09%, Brunây với 0,6% và Malaysia với 15,9% Nhóm các nước còn lại đều có tỷ lệ này từ 37% đến gần 76% Việt Nam là một trong những nước có tính chất nông nghiệp cao nhất khu vực với Dân số nông thôn là 73,8%; Dân số hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp là

65,7% và dân số trong độ tuổi lao động hoạt động trong nông nghiệp là 65,7%

Sự phát triển kinh tế giữa các quốc gia trong khu vực không đồng đều:

Vào những năm 1970, các nước Đông Nam Á có trình độ phát triển kinh tế khá đồng đều, song ngày nay, mức độ chênh lệch phát triển giữa các nước ASEAN khá rõ ràng, đặc biệt là giữa ASEAN 6 và bốn nước thành viên mới của ASEAN là

Trang 25

Cămpuchia, Lào, Myanma và Việt Nam (CMLV) Nhóm sáu nước thành viên cũ của ASEAN đã phát triển kinh tế thị trường trong hơn 3 thập kỷ, với thu nhập bình quân đầu người khoảng trên 2000 USD, trong khi đó bốn nước thành viên mới của ASEAN đều là các nền kinh tế chuyển đổi với mức thu nhập bình quân chưa đến

700 USD (2007); trong số bốn nước thành viên mới này, chỉ có Việt Nam được xếp vào nhóm các nước đang phát triển, ba nước còn lại đều thuộc nhóm nước kém phát triển Tính theo mức thu nhập bình quân đầu người, nước cao nhất trong ASEAN là Singapore với mức thu nhập bình quân đầu người lên đến 25.540 USD (2008), trong khi đó nước có mức thu nhập cao nhất trong nhóm CLMV là Việt Nam thì mức thu nhập bình quân chỉ đạt trên 1.000 USD, như vậy, chênh lệch lên đến gần 25 lần Trong khi đó mức chênh lệch giữa Singapore với các nước nghèo nhất trong khu vực ASEAN như Mianma là hơn 60 lần với số liệu thống kê thu nhập bình quân đầu người của Mianma là 462 USD (2008), gấp Lào 40 lần với mức thu nhập bình quân của Lào là 678 USD (2008) và gấp 45 lần Camphuchia với mức thu nhập bình quân của Camphuchia đạt 589 USD (2008) Bên cạnh đó các nước nghèo nhất trong nhóm ASEAN 6 là Inđônêxia và Philipphin cũng có mức thu nhập bình quân trên đầu người gấp 2 – 3 lần các nước ASEAN gia nhập sau Hiện nay các nước CLMV có mức thu nhập chỉ bằng 1/3 đến 1/5 mức thu nhập bình quân đầu người của toàn bộ ASEAN 10 Trong khi các nước ASEAN 6 đã đạt được những thành tựu tăng trưởng kinh tế khá cao và liên tục trong 3 thập kỉ qua, trở thành nước công nghiệp hóa mới NIEs, trong khi đó các nước CLMV vẫn đang trong quá trình chuyển đổi sang kinh

tế thị trường và thúc đẩy hội nhập quốc tế, mặc dù tăng trưởng kinh tế hàng năm đạt

khá cao song không đồng đều và chưa có tính liên tục

Tăng trưởng kinh tế chủ yếu dựa vào xuất khẩu:

Kinh tế nhiều nước trong ASEAN phần lớn tăng trưởng dựa vào xuất khẩu,

nhất là xuất khẩu sang các thị trường lớn như Mỹ, Nhật Bản và EU Hiện nay đa số các nền kinh tế trong ASEAN thuộc nhóm 50 nước xuất khẩu lớn nhất thế giới Trong đó, Malaysia xuất khẩu bằng 100% GDP, Singapore xuất khẩu bằng 200%

Trang 26

GDP và Thái Lan xuất khẩu bằng 60% GDP đây là 3 nước trong khu vực nằm trong danh sách 10 nước phụ thuộc nhiều nhất vào xuất khẩu Chính vì vậy, với việc nhu cầu giảm mạnh tại các thị trường lớn do tác động của khủng hoảng kinh tế, các nước ASEAN đang đối mặt với suy giảm xuất khẩu, suy giảm thu ngoại tệ, nhiều cơ sở sản xuất bị phá sản, thất nghiệp tăng cao và tốc độ tăng trưởng kinh tế thấp Ngay cả Singapore, quốc gia giàu nhất trong khối hiện cũng đang trải qua sự suy giảm tồi tệ nhất từ những năm 1950 đến nay Nền kinh tế Thái Lan được coi là một nền kinh tế

có nhiều nét tiêu biểu cho kinh tế các nước trong khu vực, trước khủng hoảng tài chính Châu Á năm 1997, tỷ trọng xuất khẩu trong nền kinh tế nước này chỉ là 40%, quá trình công nghiệp hóa diễn ra mạnh mẽ đã giúp tỷ lệ đó hiện nay đã tăng lên mức 60% Với tình trạng kinh tế khó khăn tại ba thị trường nhập khẩu chủ chốt của ASEAN là châu Âu, Hoa Kỳ và Nhật Bản từ sau khi khủng hoảng tài chính bùng phát, xuất khẩu của Thái Lan, Singapore và của các nước ASEAN khác đều bị tuột dốc mạnh và thực tế đã có sự sụt giảm mạnh trong năm 2009 này

Kinh tế tăng trưởng nhanh nhưng không ổn định:

Nhìn chung các nền kinh tế ASEAN đều là những nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng cao, tuy nhiên không ổn định Ví dụ như Thái Lan là nước thể hiện rõ nét nhất tính tăng trưởng nhanh và không ổn định này Từ năm 1985 – 1995, với tốc độ tăng trưởng kinh tế trung bình thuộc hàng cao nhất thế giới với 9% mỗi năm, sức ép duy trì lên đồng Baht tại Thái Lan tăng, dẫn đến cuộc khủng hoảng tài chính năm

1997 và lan rộng toàn khu vực Đông Nam Á Năm 1998, Thái Lan bắt đầu có dấu hiệu phục hồi với tốc độ tăng trưởng kinh tế là 4,2%, năm 2000 là 4,4%, phần lớn từ những mặt hàng xuất khẩu chính tăng 20% Sự tăng trưởng bị rơi vào tình trạng trì trệ do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế toàn cầu năm 2001, nhưng phục hồi lại vào năm sau, nhờ sự phát triển mạnh của Trung Quốc và những chương trình khác nhau nhằm khuyến khích phát triển kinh tế trong nước của thủ tướng Thaksin Shinawatra Tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 2002 đạt 5,2%, đến năm 2003 và 2004 đã cao hơn mức 6%

Trang 27

Với kinh tế Inđônêsia, trong thập niên 1960 nền kinh tế Inđônêsia suy giảm nghiêm trọng vì sự bất ổn chính trị, một chính phủ trẻ và không có kinh nghiệm, và chủ nghĩa kinh tế quốc gia yếu kém, dẫn tới tình trạng nghèo đói nghiêm trọng Sau khi chế độ Sukarno sụp đổ hồi giữa thập niên 1960, chính sách Trật tự Mới đã nhanh chóng làm giảm lạm phát, ổn định tiền tệ, tái cơ cấu nợ nước ngoài, và thu hút đầu

tư cũng như viện trợ từ nước ngoài Inđônêxia là thành viên duy nhất của OPEC tại Đông Nam Á, và sự bùng nổ giá dầu mỏ thời thập niên 1970 đã mang lại một nguồn thu xuất khẩu lớn giúp duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế cao cho nước này Sau những cải cách thêm nữa hồi thập niên 1980, đầu tư nước ngoài đổ vào Inđônêxia, đặc biệt vào những khu vực chế tạo phát triển nhanh và định hướng xuất khẩu, và từ năm 1989 tới năm 1997, kinh tế Inđônêxia phát triển với tốc độ trung bình trên 7% Tuy nhiên trong cuộc khủng khoảng tài chính năm 1997 – 1998 Inđônêsia lại là nước bị tác động nặng nề nhất Tỷ giá tiền tệ nước này so với đồng đô la Mỹ đã giảm từ khoảng 2.000 Rp/USD tới 18.000 Rp/USD, và nền kinh tế giảm 13,7% Từ

đó đồng rupiah đã ổn định ở mức trong khoảng 10.000 Rp/USD, và đã xuất hiện dấu hiệu khôi phục kinh tế quan trọng tuy còn chậm chạp Sự bất ổn chính trị, cải cách kinh tế chậm chạp và tham nhũng ở mọi cấp độ chính phủ và kinh doanh từ năm

1998 đã ảnh hưởng tiêu cực tới sự phục hồi kinh tế.Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng GDP đã vượt 5% trong cả hai năm 2004 và 2005, và được dự báo sẽ còn tăng thêm Mặc dù vậy, tốc độ tăng này chưa đủ mạnh để dẫn tới một sự thay đổi lớn trong tỷ lệ thất nghiệp và mức tăng lương, giá nhiên liệu và gạo tăng cao càng làm trầm trọng hơn vấn đề đói nghèo Năm 2006, ước tính 17,8% dân số sống dưới mức mức nghèo khổ, 49,0% dân số sống với chưa tới 2 đô la mỗi ngày và tỷ lệ thất nghiệp ở mức 9,75%

Đối với Malaysia từ thập kỉ 1970, Malaysia đã là một trong những nền kinh

tế mạnh của Châu Á và bắt đầu quá trình chuyển tiếp từ nền kinh tế phụ thuộc vào công nghiệp dầu mỏ sang nền kinh tế chế tạo Với đầu tư từ Nhật Bản, các ngành công nghiệp nặng nhanh chóng phát triển trong vài năm Xuất khẩu của Malaysia trở thành khu vực mang lại tăng trưởng chủ yếu Malaysia liên tục đạt mức tăng trưởng

Trang 28

GDP hơn 7% với tỷ lệ lạm phát thấp trong thập niên 1980 và 1990 Tuy nhiên kinh

tế Malaysia cũng bị ảnh hưởng nặng nề của khủng hoảng kinh tế Châu Á năm 1997 với tình trạng bán ra trước hạn của đồng nội tệ Malaysia, đầu tư trực tiếp nước ngoài rơi xuống mức báo động

Năm 2009 kinh tế của các nước ASEAN lại có đợt suy giảm mới sau khi đã đạt được mức tăng trưởng khá cao kể từ cuộc khủng hoảng Châu Á năm 1997 Theo đánh giá của Ngân hàng phát triển châu Á (ADB) mới đây cho biết, tăng trưởng kinh tế bình quân của các nước đang phát triển thuộc khu vực châu Á sẽ từ 6,3% của năm 2008 giảm xuống còn 3,4% trong năm nay và đây là mức thấp nhất kể từ cuộc khủng hoảng tiền tệ châu Á trong những năm 1997-1998 đến nay Trong khối ASEAN, Singapore là quốc gia đang trong tình trạng suy thoái kinh tế nghiêm trọng nhất kể từ năm 1965, khi giành được độc lập Tỷ lệ tăng trưởng kinh tế năm 2008 đã

từ 7,8% của năm 2007 giảm mạnh xuống còn 1,1% Chính phủ nước này dự đoán mức tăng trưởng kinh tế 2009 là từ -2% đến -5% Mới đây, Thủ tướng Lý Hiển Long đã cảnh báo mức tăng trưởng âm trong năm nay có thể sẽ lên tới 8%, trong khi

đó, Cố vấn cấp cao Lý Quang Diệu nhấn mạnh rằng tỷ lệ trượt dốc này có thể lên tới -10% Là thực thể kinh tế lớn nhất ASEAN, trong 2009, mức tăng trưởng kinh tế Inđônêxia cũng sẽ giảm nhiều Theo tính toán của Ngân hàng trung ương Inđônêxia, nhiều khả năng kinh tế đất nước này sẽ chỉ đạt mức tăng thấp hơn mức dự tính ban đầu 4-5%, có thể chỉ đạt 3% Lĩnh vực xuất khẩu của Inđônêxia bị tác động nặng nề nhất Số liệu của Cục thống kê trung ương Inđônêxia cho biết, chỉ tính tháng giêng năm nay, kim ngạch xuất khẩu của nước này đã bị giảm tới 36%, mức cao nhất kể từ năm 1986 đến nay Dự tính, tỷ lệ thất nghiệp của Inđônêxia năm 2009 sẽ là 9% Ở một số nước khác thuộc khối ASEAN, cuộc khủng hoảng tiền tệ cũng gây ảnh hưởng không hề nhỏ Trong 5 tháng đầu năm 2009, chỉ số sản xuất công nghiệp của Thái Lan - thực thể kinh tế lớn thứ hai trong khối - đã giảm 20,5% Kim ngạch xuất khẩu giảm 18,4%, mức cao nhất tính từ năm 1997 trở lại đây Sự sa sút của ngành chế tạo đã khiến tỷ lệ thất nghiệp tăng lên nhanh chóng Theo báo cáo của Trung

Trang 29

2008 tăng vọt lên 1,5-1,7 triệu trong năm nay, tức là tỷ lệ thất nghiệp sẽ tăng 4,5%, tương đương mức của năm 1997 khi xảy ra cuộc khủng hoảng tiền tệ châu Á Malaysia, vốn đạt mức tăng trưởng kinh tế 4,6% trong năm 2008, nhưng dự kiến mức tăng năm nay chỉ trong khoảng 1%, thậm chí -1%, tỷ lệ thất nghiệp lên tới 4,5% và tỷ lệ thâm hụt tài chính trong GDP cũng sẽ từ 4,8% của năm 2008 tăng lên 7,6% trong năm nay

4%-Nông nghiệp vẫn chiếm tỉ trọng lớn trong cơ cấu kinh tế, nhưng người dân sống dựa vào nông nghiệp vẫn nghèo:

Nông nghiệp tiếp tục là một ngành nhạy cảm và quan trọng trong kinh tế của

hầu hết các nước ASEAN Ngoại trừ Singagpore và Brunei, đóng góp của nông nghiệp trong GDP chiếm từ 7,9% với trường hợp của Malaysia đến 50% với trường hợp của Lào Đóng góp của nông nghiệp vào tổng việc làm chiếm từ 16% đến 78% Nông nghiệp vẫn là một kế sinh nhai và nguồn thu nhập thiết yếu đối với người dân, đặc biệt ở khu vực nông thôn các nước ASEAN Dù nông nghiệp vẫn là lĩnh vực trọng yếu trong hầu hết các nền kinh tế ASEAN, nhưng những người nông dân và những người sản xuất nhỏ chiếm phần lớn dân số sống nhờ vào nông nghiệp vẫn nghèo

Trong ASEAN, nghèo đói ở mức cao nhất và phổ biến nhất ở khu vực nông thôn nơi mà nông nghiệp là nguồn sinh sống chủ yếu Nghèo đói chủ yếu là do phân

bổ nguồn lực bất bình đẳng, thiếu khả năng tiếp cập các cơ hội kinh tế và sự tham gia trong các quá trình ra quyết định Hội nhập về nông nghiệp hiện nay ở các nước ASEAN không mang lại lợi ích cho những nông dân sản xuất nhỏ, mà chính giới kinh doanh nông nghiệp và các công ty xuyên quốc gia đang gặt hái những lợi ích

đó Nếu không làm giảm bớt đi và nếu không có sự kiểm tra giám sát thì sự hội nhập

đó sẽ ngày càng làm mất vai trò, mất kế sinh nhai và làm mất đi những di sản ở nông thông và văn hóa của cộng đồng nông nghiệp ở Đông Nam Á

Khoảng cách giàu nghèo, thành thị và nông thôn trong mỗi nước khá cao:

Chênh lệch phát triển không chỉ thể hiện qua sự cách biệt giữa 2 nhóm nước mà còn thể hiện khá rõ nét trong mỗi nước thành viên ASEAN Trong bối cảnh toàn cầu hoá

Trang 30

và sự phụ thuộc lẫn nhau ngày càng tăng, nghèo đói và bất bình đẳng cao trong một nước thành viên ASEAN có thể trở thành nhân tố tiềm ẩn de doạ an ninh kinh tế không chỉ của bản thân nước đó mà còn có thể lan truyền sang các nước thành viên khác Nghèo đói và bất bình đẳng cao là thách thức lớn nhất mà các nước ASEAN phải nỗ lực vượt qua Chuẩn đói nghèo ở mỗi nước lại khác nhau nên khó có thể so sánh một cách chính xác, song nhìn chung tỷ lệ nghèo đói ở ASEAN còn khá cao, trong đó chủ yếu tập trung ở nông thôn Thực trạng nghèo đói ở các nước CLMV,

dù đã đạt được nhiều tiến bộ trong xoá đói giảm nghèo theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới (WB), vẫn khá nghiêm trọng và là thách thức lớn đối với chính phủ các nước này Bất bình đẳng trong phân phối thu nhập được đo bằng chỉ số Gini ở 6 nước ASEAN cũ đều cao hơn so với các nước CLMV, điều này hoàn toàn phù hợp với quy luật Kuznet mang hình chữ U ngược là bất bình đẳng có xu hướng tăng trong giai đoạn đầu công nghiệp hoá và giảm khi nền kinh tế đã phát triển chín muồi hay nói khác đi là các nước có thu nhập trung bình thường có mức bất bình đẳng cao hơn các nước thu nhập thấp và các nước thu nhập cao Tuy vậy, chính phủ các nước ASEAN cũng cần nỗ lực giảm bất bình đẳng trong phân phối thu nhập thông qua các chính sách phân phối lại và chính sách an sinh xã hội, Chênh lệch giữa 20% giàu nhất so với 20% nghèo nhất trong ASEAN cũng khá lớn, trầm trọng nhất là Thái Lan (15,8 lần), Philipin (hơn 10 lần), Singapore (hơn 7 lần), Inđônêxia (gần 5 lần);

con số tương ứng của các nước CLMV là hơn 5 lần và đang có xu hướng rộng ra

Chỉ số phát triển con người (HDI) là chỉ số tổng hợp bao gồm cả tuổi thọ bình quân, mức sống và mức độ giáo dục, do Chương trình Phát triển của Liên hợp quốc (UNDP) tính toán và xếp hạng cũng cho thấy sự chênh lệch phát triển khá rõ giữa các nước thành viên ASEAN cũng như giữa 2 nhóm nước Trong số các nước ASEAN cũ, Singapore xếp thứ 26, cao nhất và thấp nhất là Inđônêxia xếp thứ 99 Còn các nước CLMV xếp trong khoảng 121 đến 136, Việt Nam được đánh giá là có chỉ số HDI cao so với trình độ phát triển kinh tế Tuy vậy, nhìn chung chênh lệch về chỉ số HDI bình quân giữa các nước ASEAN cũ và các nước CLMV là khoảng hơn

Trang 31

hiện qua chỉ số GRDI cũng khá rõ nét giữa các nước ASEAN với nhau, đặc biệt là giữa 2 nhóm nước

1.3 Thương mại nội khối ASEAN

Theo ASEAN Merchandise Trade Statistics, năm 2008 thương mại của khối ASEAN đạt 1.262,2 tỷ USD, trong đó nhập khẩu đạt 831,1 tỷ USD Thương mại nội khối năm 2008 đạt 458 tỷ USD, chiếm khoảng 26,8% tổng kim ngạch thương mại của cả khối, tăng 28% so với năm 2006: nhập khẩu nội khối đạt 215,6 tỷ USD và xuất khẩu nội khối đạt 2,42,5 tỷ USD

Bảng 1.1 Thương mại nội khối ASEAN năm 2008

Thị

trường

Xuất khẩu

% trong tổng xuất khẩu

Nhập khẩu

% trong tổng nhập khẩu

Tổng trao đổi thương mại nội khối

% trong tổng thương mại chung

Brunei 1.972,9 22,5 1.571,4 50,6 3.544,3 29,9Cămpuchia 310,6 7,1 1.599,3 36,2 1.909,9 21,8Inđônêxia 27.170,8 19,8 40.991,7 31,7 68.162,5 25,6

Malaysia 50.401,4 25,9 34.675,3 24,0 85.076,7 25,1Myanma 3.853,4 58,2 1.728,2 45,5 5.581,6 53,6Philipin 7.081,7 14,4 14.316,7 25,3 21.398,4 20,3Singapore 101.477,3 42,0 69.878,1 30,3 171.355,4 36,3Thái Lan 39.487 22,6 29.888,2 16,8 69.375,3 19,7Việt Nam 10.017,8 16,2 19.476,8 24,5 29.494,6 20,9

Trong khối, Singapore là thị trường có trao đổi thương mại lớn nhất Riêng thương mại nội khối đạt 171,35 tỷ USD, trong đó xuất khẩu đạt 101,47 tỷ USD và nhập khẩu đạt 69,9 triệu USD Với Singapore, thương mại là động lực chính tăng trưởng kinh tế Do thị trường nội địa nhỏ bé, nghèo tài nguyên, ít nhân lực, để phát triển bền vững, nền thương mại nước này tất yếu phải lấy thị trường bên ngoài làm động lực phát triển Năm 2008, tổng kim ngạch nhập khẩu của Singapor đạt 230 tỷ USD Nhập khẩu cho mục đích tiêu dùng nội địa (gồm hàng nhu yếu phẩm, hàng tiêu dùng, nguyên liệu sơ chế, thô cho một số ngành sản xuất trong nước) chiểm 20-

Trang 32

25 tông kim ngạch nhập khẩu Nhập khẩu cho mục đích tái tạo hàng xuất khẩu/tái xuất khẩu chiếm tỷ trọng 75-80 Singapore đáng có xu hướng giảm dần tỷ trọng nhập khẩu hàng thô,sơ chế có nguồn gốc từ nông/lâm/khoáng sản, những mặt hàng kinh doanh kém hiệu quả, chuyển sang tăng nhanh tỷ trọng nhập khẩu vật tư đầu vào cho các ngành sản xuất công nghiệp nhằm tái tạo/lắp ráp các sản phẩm công nghiệp hoàn chỉnh, kỹ thuật cao mang lại hiệu quả kinh tế cao khi xuất khẩu/tái xuất khẩu

Thị trường có trao đổi thương mại nội khối lớn tiếp theo là Malaysia với kim ngạch đạt 85 tỷ USD Xuất khẩu nội khối của Malaysia đạt 50,4 tỷ USD và nhập khẩu đạt 34,67 tỷ USD Về cơ cấu hàng nhập khẩu: 67,7% kim ngạch nhập khẩu của Malaysia là nhập khẩu hàng trung gian; nhập khẩu tư liệu sản xuất chiếm 15% và nhập khẩu hàng tiêu dùng chiếm 6.3% 2 thị trường lớn tiếp theo là Thái Lan và Inđônêxia với thương mại hai chiều nội khối đạt lần lượt 69,3 tỷ USD và 68,1 tỷ USD

Việt Nam là thị trường có thương mại nội khối lớn thứ năm Tuy nhiên thị phần thương mại nội khối của Việt Nam vẫn còn nhỏ bé, tỷ trọng trong xuất khẩu nội khối chỉ đạt 4,1% và nhập khẩu nội khối đạt 9% Một thực tế khiến hàng xuất khẩu của Việt Nam chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ trong thương mại nội khối là do cơ cấu sản phẩm của Việt Nam so với các thị trường trong khối khá tương đồng Trong khi

đó, trình độ phát triển của Việt Nam thấp hơn so với một số nước trong khu vực, nên khả năng cạnh tranh của sản phẩm Việt Nam bị hạn chế Việt Nam chỉ có thể cạnh tranh trên thị trường ASEAN nhờ tính độc đáo của chủng loại, mẫu mã sản phẩm

1.4 Những nhận xét chung về thị trường ASEAN:

ASEAN là một thị trường rộng lớn, nhu cầu tiêu thụ hàng hóa ngày càng tăng do thu nhập bình quân đầu người không ngừng tăng trong những năm gần đây

Nhu cầu tiêu thụ hàng hóa, đặc biệt là các hàng hóa có giá trị trung bình, phẩm cấp thấp không đòi hỏi quá cao về chất lượng mẫu mã tại nhiều nước cũng như nhiều khu vực sẽ tăng mạnh trong những năm tới, đặc biệt là đối với khu vực nông thôn, các nước gia nhập sau

Trang 33

Trong những năm gần đây, ASEAN là khu vực có mức tăng trưởng kinh tế

khá cao so với các nước trong khu vực và được coi là khu vực thành công nhất của các nước đang phát triển, trong những năm tiếp theo kinh tế các nước ASEAN

sẽ tiếp tục tăng trưởng khá và ổn định, sự tăng trưởng kinh tế sẽ chuyển dịch theo hướng tích cực Dự báo từ nay đến 2015 kinh tế các nước ASEAN sẽ tiếp tục tăng trưởng mạnh, cùng với Trung Quốc, Ấn Độ, tạo động lực mới cho thúc đẩy sự phát triển kinh tế thế giới những năm tiếp theo

Một đặc điểm quan trọng của ASEAN tăng trưởng kinh tế của phần lớn các thị trường lớn trong khối vẫn chủ yếu là dựa vào xuất khẩu, đặc biệt là xuất khẩu nguyên liệu dạng thô và sơ chế Hiện nay đa số các nước trong khối ASEAN

đều thuộc nhóm 50 nước xuất khẩu lớn nhất thế giới, trong đó Malaysia xuất khẩu bằng 100% GDP, Singapore bằng 200% GDP và Thái Lan xuất khẩu bằng 60% GDP và đây là 3 nước trong khu vực nằm trong danh sách 10 nước phụ thuộc nhiều nhất vào xuất khẩu Hiện nay ASEAN cũng đứng đầu về thế giới về cung cấp một số nguyên liệu thô cơ bản như cao su chiếm 90% sản lượng thế giới, thiếc và dầu thực vật chiếm 90% sản lượng thế giới, gỗ xẻ chiếm 60%, bên cạnh đó ASEAN cũng là nguồn cung chủ yếu các sản phẩm khác như gạo, hồ tiêu, dứa Chính vì đặc điểm này mà khi nhu cầu giảm mạnh tại các thị trường lớn do tác động của khủng hoảng kinh tế, các nước ASEAN phải đối mặt với xuất khẩu suy giảm mạnh, nguồn thu ngoại tệ giảm, khiến nhiều cơ sở bị sản xuất bị phá sản, thất nghiệp tăng cao và tốc

độ tăng trưởng kinh tế thấp, không ổn định Cụ thể bắt đầu từ quí IV năm 2008 đến nay kinh tế của các nước ASEAN lại có đợt suy giảm mới sau khi đã đạt được mức tăng trưởng khá cao từ cuộc khủng hoảng Châu Á năm 1997 Điều này cũng là nguyên nhân chính khiến cho sự bền vững của tăng trưởng các nước ASEAN còn bấp bênh, đặc biệt là lợi nhuận thu được từ xuất khẩu sản phẩm thô bao giờ cũng thấp và không ổn định

Trang 34

Các đặc điểm về tự nhiên, kinh tế xã hội, dân cư tạo ra một thị trường ASEAN có nhu cầu hết sức đa dạng phong phú về hàng hóa theo vùng miền, theo thời tiết, địa hình, khí hậu… cũng như việc tốc độ tăng trưởng kinh tế cao tạo ra

sức mua ngày càng lớn hơn Hoạt động thương mại sẽ tiếp tục có những bước phát triển mới trong những năm tiếp theo, khi mà cộng đồng ASEAN được hình thành một cách đúng nghĩa

1.5 Sự cần thiết phát triển quan hệ thương mại Việt Nam –ASEAN

1.5.1 Những thuận lợi khi đẩy mạnh quan hệ thương mại Việt Nam –ASEAN

Tham gia ASEAN là minh chứng thể hiện rõ sự thân thiện và hợp tác cùng phát triển của Việt Nam với các nước trong khu vực và trên thế giới trong bối cảnh quốc tế hóa nền kinh tế đang diễn ra mạnh mẽ, giúp mở rộng thì trường, thu hút thêm các nguồn lực đầu tư từ các nước trong khu vực cũng như các nước trên thế giới Bởi khi tham gia ASEAN, Việt Nam có điều kiện hợp tác với các quốc gia ASEAN, các nền kinh tế trên thế giới qua đó nâng cao vai trò và vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế, hợp tác cùng phát triển vì hoà bình và thịnh vượng chung của khu vực

Việt Nam là nước đông dân thứ hai trong khu vực ASEAN sau Inđônêxia, nằm ở vị trí chiến lược trong khu vực, có biên giới chạy dọc theo đường bờ biển nên việc gia nhập vào khu vực ASEAN sẽ góp phần thúc đẩy hợp tác thương mại giữa Việt Nam với các quốc gia trong khu vực phát triển, phát huy được những lợi thế về điều kiện tự nhiên vốn có này của Việt Nam

Gia nhập ASEAN góp phần tạo sự hòa bình và ổn định cho Việt Nam Trước khi gia nhập ASEAN, trong quá khứ đã có lúc Việt Nam và ASEAN có sự đối đầu

về chính trị, điều này gây ảnh hưởng không nhỏ đến việc phát triển kinh tế, ổn định

xã hội của Việt Nam Vì thế, gia nhập ASEAN đã tạo nên sự thuận lợi cho cả ASEAN và Việt Nam để phát triển kinh tế dựa trên sự hòa bình và ổn định lâu dài,

Trang 35

mại và hợp tác thương mại, sự ổn định và hòa bình mà ASEAN mang lại cho Việt Nam là một bước tiến quan trọng cho thấy sự cần thiết phải tham gia vào khu vực chung này

Đối với Việt Nam, ngoài yếu tố hòa bình và ổn định thì việc gia nhập ASEAN còn góp phần nâng cao vị thế của Việt Nam trên thị trường quốc tế và là bước đi có ý nghĩa quyết định đầu tiên trong tiến trình hội nhập khu vực của Việt Nam Việt Nam là nước có nền kinh tế lạc hậu, còn nhiều vấn đề cần khắc phục khi tham gia thị trường thế giới, trong khi đó cơ chế hợp tác của ASEAN khá đồng đều

vì thế nó vừa sức với Việt Nam Ngoài ra, việc gia nhập ASEAN còn giúp cộng đồng các doanh nghiệp Việt Nam có cơ hội và kinh nghiệm trong việc kinh doanh, buôn bán quốc tế

Trở thành thành viên của ASEAN Việt Nam đã và sẽ có nhiều cơ hội để chia

sẻ, học tập kinh nghiệm của các nước trong khu vực Đối với một quốc gia mà nền thương mại còn ở trình độ chậm phát triển như Việt Nam thì việc gia nhập ASEAN giúp Việt Nam học hỏi được nhiều kinh nghiệm của các nước tiến bộ trong việc quản lý, đề ra các chính sách giúp thúc đẩy thương mại phát triển từ đó tạo động lực mạnh mẽ thúc đẩy phát triển kinh tế

Tham gia vào ASEAN và AFTA mở ra cho Việt Nam cơ hội để đẩy mạnh hợp tác quốc tế và thương mại giữa Việt Nam với không chỉ các nước ASEAN mà đối với cả những nước đối thoại của ASEAN đặc biệt là trong lĩnh vực thu hút đầu

tư nước ngoài, tạo ưu thế tương đối cho việc xuất khẩu, thúc đẩy công nghiệp, dịch

vụ trong nước phát triển

Thực tế, việc gia nhập ASEAN cũng đã giúp Việt Nam ít bị phụ thuộc vào những thị trường lớn như Nhật Bản, EU, cũng như nhiều các nước phát triển khác Xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang các nước trong khu vực được thuận lợi hơn, tạo thế mạnh trong việc đàm phán với các khối thương mại khác Đặc biệt, qua việc tham gia vào AFTA Việt Nam có thể học hỏi được cách điều chỉnh và phát triển các

hệ thống sản xuất để bước vào thị trường tự do toàn cầu, thúc đẩy sự thống nhất giữa

Trang 36

Việt Nam và các nước Người dân Việt Nam cũng sẽ có điều kiện lựa chọn nhiều hàng hóa hơn và được hưởng mức giá thấp hơn

Hợp tác giữa ASEAN với các nước lớn như EU, Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc đem lại nhiều cơ hội cũng như nhiều thách thức cho các nước thành viên trong

đó có Việt Nam Đặc biệt là việc quyết định thành lập Khu vực mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc (CAFTA) từ 2002, với tuyên bố Bali II năm 2003 về sự thiết lập AC dựa trên 3 trụ cột chính là Cộng đồng Kinh tế (AEC), Cộng đồng An ninh (ASC) và Cộng đồng Văn hóa-Xã hội (ASCC) vào năm 2020 là những quyết định đúng hướng, kịp thời của ASEAN trước nhu cầu đòi hỏi của thực tiễn Việc hình thành và tăng cường các cơ chế hình thức hợp tác và liên kết mới này đã và đang tạo

ra nhiều cơ hội cho sự phát triển của ASEAN, trong đó có Việt Nam:

Thứ nhất, việc thiết lập Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) sẽ đưa ASEAN trở thành một khối có sự liên kết vững chắc, một thị trường duy nhất có cơ sở sản xuất thống nhất, trong đó có sự lưu thông tự do của hàng hóa, dịch vụ, đầu tư vốn và nhân công có tay nghề sẽ thúc đẩy cải cách hệ thống pháp luật và nền hành chính quốc gia trong nước, tiếp cận được nhiều hơn các yếu tố bên ngoài, nhất là vốn, thị trường và công nghệ hiện đại, làm tăng cơ hội việc làm và nâng nhanh mức sống của dân chúng

Thứ hai, sự thiết lập Cộng đồng An ninh ASEAN (ASC) sẽ làm tăng nhanh mức độ tin cậy và ý thức cộng đồng trong ASEAN, thúc đẩy hợp tác chính trị-an ninh nội khối lên tầm cao mới Điều này sẽ góp phần tạo ra sự thăng bằng trong hợp tác khu vực và quốc tế, giúp ASEAN vừa tăng cường tính mở, vừa duy trì được bản sắc, phong cách ứng xử truyền thống của mình, làm tăng khả năng phòng ngừa và tiến tới giải quyết các xung đột có thể xảy ra trong tương lai Điều này phù hợp với chính sách và lợi ích trước mắt cũng như lâu dài của Việt Nam

Thứ ba, sự gia tăng giành ưu thế kiểm soát địa - chính trị giữa các nước lớn

Trang 37

thể chế thương mại tự do đa phương, song phương về một mặt nào đó, cũng mở rộng cơ hội hợp tác và tăng sức “mặc cả” của ASEAN trong các vấn đề quốc tế khu vực Điều này sẽ có lợi cho Việt Nam - nước có vị trí chiến lược, đang thu hút sự chú ý của các nước lớn Bên cạnh những thuận lợi trên, Việt Nam đã và sẽ gặp phải những thách thức phải vượt qua để tham gia đầy đủ và có hiệu quả cao hơn vào hoạt động của ASEAN, tương xứng với vị trí và vai trò của mình trong Hiệp hội

Tham gia ASEAN đã mang lại hiệu quả tích cực trong việc trao đổi, chia sẻ, học hỏi kinh nghiệm về công tác phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ của các nước Điều này đặc biệt có ý nghĩa trong bối cảnh công tác hỗ trợ doanh nghiệp đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam còn nhiều mới mẻ, bỡ ngỡ, kinh nghiệm

và các chương trình hỗ trợ còn thiếu và yếu Điều đó đã tạo nên khoảng cách lớn giữa Việt Nam và các nước ASEAN 6 - những nước hội nhập trước, đây là một trở ngại cho việc triển khai hiệu quả các hành động chung để hỗ trợ doanh nghiệp vừa

và nhỏ của toàn khối

Đối với các doanh nghiệp Việt Nam (chủ yếu là doanh nghiệp vừa và nhỏ), việc tham gia vào khu vực ASEAN đã mở ra cho các doanh nghiệp nhiều cơ hội trong việc tìm kiếm các đối tác mới trong khối và từ đó mở rộng ra các đối tác ngoài khối, giúp các doanh nghiệp làm quen dần với các quy chế, luật lệ ở bên ngoài Tuy nhiên, các doanh nghiệp đã và sẽ phải đối mặt với sự cạnh tranh ngày càng lớn và khắc nghiệt hơn là thị trường trong nước, với những quy tắc khá mới mẻ nếu không thích ứng được sẽ nhanh chóng bị loại khỏi sân chơi lớn này…

1.5.2 Những thách thức đối với Việt Nam

Tuy nhiên, đi liền với những cơ hội, thời cơ mà ASEAN đem lại khi Việt Nam tham gia, Việt Nam đã và sẽ phải đương đầu với nhiều thách thức lớn như:

Khoảng cách về trình độ giữa Việt Nam với các nước trong khối ASEAN là khá xa Vì vậy, để thực hiện các cam kết chung trong khối sẽ đem đến cho Việt Nam nhiều khó khăn do sự chênh lệch này

Trang 38

Cơ cấu kinh tế đặc biệt là cơ cấu về thương mại của Việt Nam và các nước ASEAN có nhiều điểm tường đồng dẫn đến sự hợp tác giữa Việt Nam và ASEAN có rất nhiều thách thức về xuất khẩu Trong tương lai, sự cạnh tranh về tài nguyên nhân lực

sẽ ngày càng giảm đi, các nước ASEAN sẽ tận dụng lợi thế của mình để xuất khẩu

Quan hệ mậu dịch hai bên vẫn chưa thoát khỏi cơ cấu đơn giản khi cán cân thương mại Việt Nam – ASEAN vẫn còn sự mất cân bằng lớn chủ yếu là thâm hụt cán cân thương mại Sự đơn giản thể hiện sự trao đổi truyền thống chủ yếu xuất khẩu hàng thô, tài nguyên để phục vụ nguyên liệu sản xuất, sản phẩm dân dụng Đối với Việt Nam, thâm hụt cán cân thương mại chủ yếu là do sức cạnh tranh thấp dẫn đến xuất khẩu còn hạn chế

Mặt khác, khi trở thành thành viên của ASEAN thì Việt Nam phải thực hiện mậu dịch tự do AFTA và tuân thủ các quy chế của hiệp định ưu đãi thuế quan và hiệp định chung về cắt giảm thuế quan (CEPT), điều đó đồng nghĩa với việc Việt Nam phải mở rộng thị trường cho hàng hóa nước ngoài vào trong đó không có ưu đãi cho nông nghiệp, đây là thiệt thòi lớn cho Việt Nam

Gia nhập ASEAN Việt Nam đã và đang phải tiến hành cải cách cơ chế luật pháp cho phù hợp với cơ chế của khu vực và thế giới Việc hợp tác trong Cộng đồng

An ninh ASEAN (ASC) đối với Việt Nam là thách thức không phải là nhỏ trong khi gia nhập ASC Hợp tác an ninh không chỉ thuần túy hay nghiêng về hợp tác an ninh phi truyền thống mà cả về hợp tác chính trị và quốc phòng Sự khác biệt về chế độ chính trị và hệ tư tưởng còn là một trong những trở ngại khá lớn đối với Việt Nam trong ASC Tuy nhiên, với việc duy trì cơ chế theo "Phương thức ASEAN" trong ASC, thì sự tác động của cộng đồng này đối với đời sống chính trị và an ninh ASEAN nói chung, Việt Nam nói riêng sẽ không lớn

Việc tham gia cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC): Về khía cạnh chính trị, thì sự hội nhập sâu rộng về kinh tế đòi hỏi Việt Nam phải hài hòa về mặt pháp luật cũng như ứng xử Điều này ít hay nhiều sẽ đụng chạm đến chủ quyền và an ninh quốc gia Về kinh tế, Việt Nam đang trong thời kỳ chuyển đổi và hiệu quả quản lý còn bất cập, hệ

Trang 39

thống các thể chế kinh tế thị trường phát triển chưa đồng bộ, còn yếu kém AEC sẽ tạo

ra sức ép lớn đối với các sản phẩm và thị trường của Việt Nam trong và ngoài nước Còn tác động về mặt xã hội: có thể tạo ra các dòng di cư lớn, trong đó có “chảy máu chất xám”, làm tăng nạn thất nghiệp và tệ nạn do nhiều công ty bị phá sản và nhiều người chưa thể làm quen hay điều chỉnh phù hợp với cơ chế hay môi trường mới

Thời cơ và thách thức luôn luôn đi liền với nhau, điều đó không phải chỉ xảy

ra đối với Việt Nam khi tham gia vào ASEAN mà cả khi Việt Nam gia nhập WTO thì những thách thức càng lớn Nhưng qua đó, Việt Nam sẽ trưởng thành hơn và phát triển hơn Xu thế toàn cầu hóa, khu vực hóa là xu thế tất yếu của thời đại, vì vậy dù muốn hay không Việt Nam vẫn phải tham gia để không bị đào thải khỏi cuộc chơi Vì vậy, đòi hỏi sự nỗ lực cả tầm vĩ mô và vi mô để khai thác triệt để các cơ hội

và hạn chế đến mức thấp nhất ảnh hưởng tiêu cực do các thách thức đưa đến

Mặc dù còn không ít hạn chế song vẫn cần khẳng định ASEAN đã và sẽ tiếp tục là nhân tố quan trọng hàng đầu đối với việc duy trì môi trường hòa bình, an ninh

và hợp tác vì sự phát triển ở Đông Nam Á; hỗ trợ đắc lực cho mục tiêu an ninh và phát triển của từng nước thành viên cũng như cả Hiệp hội ASEAN hiện đang chuyển mình sang giai đoạn phát triển mới, hướng tới mục tiêu hình thành Cộng đồng ASEAN vào năm 2015 với ba trụ cột về chính trị-an ninh, kinh tế và văn hóa -

xã hội, có mục tiêu bao trùm là xây dựng Hiệp hội thành một tổ chức hợp tác liên Chính phủ liên kết sâu rộng hơn và vững mạnh hơn, nhưng vẫn mở rộng hợp tác với bên ngoài, đồng thời hướng mạnh tới người dân, phục vụ và nâng cao cuộc sống của người dân Đây cũng là những mục tiêu mà Việt Nam đang hướng tới

Trang 40

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VIỆT NAM – ASEAN 2.1 Khái quát chính sách thương mại ASEAN

Kể từ sau chiến tranh thế giới 2 đến nay, nền kinh tế của ASEAN đã trải qua hơn 60 năm phát triển với nhiều biến động, có thể khái quát thời kỳ này thành 2 giai đoạn, giai đoạn đầu là giai đoạn phát triển kinh tế hướng nội (thập niên 60 -70 của thế kỷ XX), nhưng sau đó do không phù hợp nên hầu hết các nước đã theo đuổi mục tiêu phát triển kinh tế hướng ngoại từ thập niên 70 cho đến nay với các nội dung:

- Phát triển kinh tế thị trường hướng về xuất khẩu, thay đổi chính sách nhập khẩu, kết hợp xuất khẩu những sản phẩm nông nghiệp truyền thống, sản phẩm sử dụng nhiều lao động với các sản phẩm có sử dụng công nghệ, kỹ thuật cao Phát huy tối đa lợi thế so sánh trong thương mại quốc tế

- Thu hút mạnh mẽ vốn đầu tư nước ngoài cho quá trình phát triển kinh tế, đặc biệt vốn đầu tư từ các nền kinh tế phát triển như Mỹ, Nhật, các nước EU,

- Huy động tối đa và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn trong nước

Với những nội dung xuyên suốt đó, cộng với xu thế khu vực hoá và toàn cầu hoá trong suốt thời gian qua diễn ra mạnh mẽ trên quy mô toàn cầu và trở thành một

xu thế tất yếu, các nước trong khối ASEAN tận dụng được thời cơ và đạt được nhiều thành tựu to lớn trong phát triển kinh tế và xây dựng thành công khu vực mậu dịch

tự do ASEAN, liên minh thuế quan, liên minh kinh tế, hình thành nên một thị trường chung (EV) của khu vực ASEAN Những hiệp định, liên minh này là kết quả quá trình hợp tác lâu dài, gắn với lịch sử hình thành và phát triển ASEAN, đồng thời là kim chỉ nam, là định hướng cho sự phát triển thương mại nói chung của ASEAN, ở một mức độ nào đó, có thể coi là chính sách chung của ASEAN Chính sách kinh tế hướng ngoại của tất cả các nước trong khối đã tạo điều kiện thuận lợi, tạo tiền đề vững chắc để xây dựng một cộng đồng ASEAN đoàn kết, hợp tác và phát triển như ngày hôm nay Các hiệp định về thương mại và thuế quan bao gồm:

Ngày đăng: 15/04/2014, 01:17

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Kim ngạch xuất nhập khẩu Việt Nam - ASEAN giai đoạn 2005-2009 - Đề tài : Xu hướng phát triển thương mại việt nam   ASEAN và một số giải pháp cơ bản phát triển xuất khẩu hàng hóa của việt nam
Bảng 2.1 Kim ngạch xuất nhập khẩu Việt Nam - ASEAN giai đoạn 2005-2009 (Trang 49)
Bảng 2.2: Kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam các thị trường trong ASEAN - Đề tài : Xu hướng phát triển thương mại việt nam   ASEAN và một số giải pháp cơ bản phát triển xuất khẩu hàng hóa của việt nam
Bảng 2.2 Kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam các thị trường trong ASEAN (Trang 50)
Bảng 2.3: Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang ASEAN giai đoạn 2005 - 2009 - Đề tài : Xu hướng phát triển thương mại việt nam   ASEAN và một số giải pháp cơ bản phát triển xuất khẩu hàng hóa của việt nam
Bảng 2.3 Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang ASEAN giai đoạn 2005 - 2009 (Trang 52)
Bảng 2.4: Tỷ trọng các thị trường xuất khẩu chính trong tổng kim ngạch xuất - Đề tài : Xu hướng phát triển thương mại việt nam   ASEAN và một số giải pháp cơ bản phát triển xuất khẩu hàng hóa của việt nam
Bảng 2.4 Tỷ trọng các thị trường xuất khẩu chính trong tổng kim ngạch xuất (Trang 53)
Bảng 2.5: Cơ cấu các mặt hàng xuất khẩu chính của Việt Nam tới ASEAN giai - Đề tài : Xu hướng phát triển thương mại việt nam   ASEAN và một số giải pháp cơ bản phát triển xuất khẩu hàng hóa của việt nam
Bảng 2.5 Cơ cấu các mặt hàng xuất khẩu chính của Việt Nam tới ASEAN giai (Trang 57)
Bảng 2.6: Kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam từ  thị trường ASEAN giai đoạn - Đề tài : Xu hướng phát triển thương mại việt nam   ASEAN và một số giải pháp cơ bản phát triển xuất khẩu hàng hóa của việt nam
Bảng 2.6 Kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam từ thị trường ASEAN giai đoạn (Trang 65)
Bảng 2.7: Cơ cấu các mặt hàng nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam tới ASEAN - Đề tài : Xu hướng phát triển thương mại việt nam   ASEAN và một số giải pháp cơ bản phát triển xuất khẩu hàng hóa của việt nam
Bảng 2.7 Cơ cấu các mặt hàng nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam tới ASEAN (Trang 68)
Bảng 2.8: Cơ cấu các thị trường cung cấp hàng hóa của Việt Nam trong - Đề tài : Xu hướng phát triển thương mại việt nam   ASEAN và một số giải pháp cơ bản phát triển xuất khẩu hàng hóa của việt nam
Bảng 2.8 Cơ cấu các thị trường cung cấp hàng hóa của Việt Nam trong (Trang 70)
Bảng 3. 1: Kim ngạch xuất khẩu dầu thô của Việt Nam sang các nước ASEAN - Đề tài : Xu hướng phát triển thương mại việt nam   ASEAN và một số giải pháp cơ bản phát triển xuất khẩu hàng hóa của việt nam
Bảng 3. 1: Kim ngạch xuất khẩu dầu thô của Việt Nam sang các nước ASEAN (Trang 92)
Bảng 1.1. Thương mại nội khối ASEAN năm 2008 - Đề tài : Xu hướng phát triển thương mại việt nam   ASEAN và một số giải pháp cơ bản phát triển xuất khẩu hàng hóa của việt nam
Bảng 1.1. Thương mại nội khối ASEAN năm 2008 (Trang 125)
Bảng 2.2: Kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam các thị trường trong ASEAN - Đề tài : Xu hướng phát triển thương mại việt nam   ASEAN và một số giải pháp cơ bản phát triển xuất khẩu hàng hóa của việt nam
Bảng 2.2 Kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam các thị trường trong ASEAN (Trang 130)
Bảng 2.4: Tỷ trọng các thị trường xuất khẩu chính trong tổng kim ngạch - Đề tài : Xu hướng phát triển thương mại việt nam   ASEAN và một số giải pháp cơ bản phát triển xuất khẩu hàng hóa của việt nam
Bảng 2.4 Tỷ trọng các thị trường xuất khẩu chính trong tổng kim ngạch (Trang 131)
Bảng 2.6: Kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam từ  thị trường ASEAN giai  đoạn 2005-2009 - Đề tài : Xu hướng phát triển thương mại việt nam   ASEAN và một số giải pháp cơ bản phát triển xuất khẩu hàng hóa của việt nam
Bảng 2.6 Kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam từ thị trường ASEAN giai đoạn 2005-2009 (Trang 138)
Bảng 2.7: Cơ  cấu các mặt hàng nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam tới - Đề tài : Xu hướng phát triển thương mại việt nam   ASEAN và một số giải pháp cơ bản phát triển xuất khẩu hàng hóa của việt nam
Bảng 2.7 Cơ cấu các mặt hàng nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam tới (Trang 139)
Bảng 2.8: Cơ  cấu các thị trường cung cấp hàng hóa của Việt Nam trong - Đề tài : Xu hướng phát triển thương mại việt nam   ASEAN và một số giải pháp cơ bản phát triển xuất khẩu hàng hóa của việt nam
Bảng 2.8 Cơ cấu các thị trường cung cấp hàng hóa của Việt Nam trong (Trang 140)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w