1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quyết định cấu trúc vốn trong thực tiễn

45 454 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quyết Định Cấu Trúc Vốn Trong Thực Tiễn
Tác giả Nhóm Thuyết Trình: Nhóm 4 – Lớp NH Đêm 1_1 – K20
Người hướng dẫn PGS.TS Lê Thị Lanh
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Kế Toán, Tài Chính, Quản Trị Doanh Nghiệp
Thể loại Bài Thuyết Trình
Năm xuất bản 2013
Thành phố TPHCM
Định dạng
Số trang 45
Dung lượng 571,52 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quyết định cấu trúc vốn trong thực tiễn

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC

Trang 2

MỤC LỤC

I DẪN NHẬP 4

II CÁC YẾU TỐ KHÁC CẦN XEM XÉT KHI QUYẾT ĐỊNH CẤU TRÚC VỐN7 1 Đặc điểm kinh tế 7

1.1 Mức độ tự do hóa tài chính 8

1.2 Thể chế 8

1.3 Mức độ hoạt động kinh doanh 8

1.4 Triển vọng của thị trường vốn 9

1.5 Thuế suất 10

1.6 Chu kỳ kinh tế 11

2 Các đặc tính của ngành 15

2.1 Cấu trúc tài sản 16

2.2 Tính chất ổn định của dòng tiền 16

2.3 Điều tiết 17

2.4 Thông lệ 17

3 Các đặc tính của doanh nghiệp 18

3.1 Hình thức tổ chức 18

3.2 Quy mô 18

3.3 Đặc điểm cấu trúc tài sản của doanh nghiệp 18

3.4 Giai đoạn trong chu kỳ tuổi thọ 20

3.5 Tâm lý hành vi 22

Trang 3

II THỰC HÀNH QUẢN TRỊ CẤU TRÚC VỐN 26

1 Quy trình hoạch định quản trị cấu trúc vốn 26

1.1 Bước 1: Tính toán mức EBIT dự kiến của công ty 27

1.2 Bước 2: Tính toán biên độ dao động của EBIT dự kiến 27

1.3 Bước 3: Tìm ra, xác lập một cấu trúc vốn tối ưu thỏa mãn mục tiêu tối đa hóa thu nhập của cổ đông 27

1.4 Bước 4: Tối thiểu hóa rủi ro 28

1.5 Bước 5: Tối thiểu hóa chi phí sử dụng vốn 30

2 Mở rộng vấn đề 31

3 Tính toán mức độ sử dụng đòn bẩy tài chính 32

III CÁC VẤN ĐỀ CẤU TRÚC VỐN QUỐC TẾ 33

1 Vấn đề cổ phần sở hữu của công ty đa quốc gia 34

2 Cấu trúc vốn trong công ty đa quốc gia khác biệt gì so với công ty trong nước 35

Trang 4

I DẪN NHẬP

Trước khi đi vào nghiên cứu quyết định thực hành cấu trúc vốn trong thực tiễn, chúng ta cần nhắc lại khái niệm cấu trúc vốn là gì?

Cấu trúc vốn được định nghĩa là sự kết hợp số lượng nợ ngắn hạn thường xuyên,

nợ dài hạn, vốn cổ phần ưu đãi và vốn cổ phần thường được dùng để tài trợ cho quyết định đầu tư của một doanh nghiệp.Ngược lại cấu trúc tài chính là sự kết hợp

nợ ngắn hạn, nợ dài hạn, vốn cổ phần ưu đãi và vốn cổ phần thường được dùng để tài trợ cho quyết định đầu tư ở một doanh nghiệp.Như vậy, cấu trúc vốn chỉ là một phần của cấu trúc tài chính, tiêu biểu cho các nguồn tài trợ thường xuyên một doanh nghiệp

Và một cấu trúc vốn tối ưu của một doanh nghiệp là cấu trúc vốn thỏa mãn 03 mục tiêu sau:

- Tối đa hóa thu nhập của chủ sở hữu

- Tối thiểu hóa rủi ro

- Tối thiểu hóa chi phí sử dụng vốn

Rủi ro kinh doanh là một yếu tố quan trọng xác định cấu trúc vốn tối ưu và các công ty trong các ngành khác nhau sẽ có rủi ro kinh doanh khác nhau, do đó chúng

ta sẽ dự đoán rằng cấu trúc vốn của các ngành sẽ khác nhau, điều này hoàn toàn đúng Ví dụ, các công ty ngành dược phẩm nhìn chung là có cấu trúc vốn khác với các công ty trong ngành hàng không Ngoài ra, cấu trúc vốn của các công ty trong cùng một ngành cũng khác nhau, điều này khó mà giải thích được.Các yếu tố nào có thể giải thích được sự khác biệt này?Để giải thích cho câu hỏi này, các nhà nghiên cứu và những nhà làm thực tế đã phát triển nhiều lý thuyết

Lý thuyết cấu trúc vốn hiện đại xuất hiện từ năm 1958, khi giáo sư Franco Modigliani và Merton Miller (chúng ta thường gọi lại MM) công bố bài báo có ảnh hưởng lớn nhất đến ngành tài chính (bài báo mang tên: “chi phí vốn, tài chính công

ty và lý thuyết đầu tư” trên tờ American Economic Review vào tháng 6/1958 Cả hai ông đều cùng đạt giải Nobel cho công trình này) Với các giả định của mình, cụ thể:

- Không có chi phí hoa hồng trong các giao dịch

Trang 5

- Không có thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế thu nhập cá nhân

- Không có chi phí kiệt quệ tài chính và chi phí phá sản

- Các nhà đầu tư có thể vay với cùng mức lãi suất như các công ty

- Tất cả các nhà đầu tư có đầy đủ thông tin như ban giám đốc của công ty về các cơ hội đầu tư của công ty

- EBIT không bị ảnh hưởng bởi vay nợ

MM đã chứng minh rằng giá trị của công ty không bị ảnh hưởng bởi cấu trúc vốn của công ty Nói cách khác, kết quả nghiên cứu của MM chỉ ra rằng công ty tài trợ cho hoạt động như thế nào là không quan trọng, do vậy cấu trúc vốn của công ty không ảnh hưởng đếngiá trị công ty

GTDN (không sử dụng nợ)= GTDN (có sử dụng nợ) Tuy nhiên, những giả định trong nghiên cứu của MM là không thực tế, do vậy kết quả nghiên cứu này cũng còn những tranh cãi

Nhưng cũng cần nói một điều rằng, mặc dù một số giả định của MM là không thực tế, nhưng kết quả nghiên cứu của MM rất quan trọng.Bằng cách chỉ ra các điều kiện mà cấu trúc vốn không ảnh hưởng đến giá trị công ty, MM đã cung cấp cho chúng ta những minh chứng về các điều kiện đòi hỏi nào nếu cấu trúc vốn ảnh hưởng đến giá trị công ty.Nghiên cứu của MM đánh dấu sự bắt đầu của các nghiên cứu về cấu trúc vốn hiện đại và các nghiên cứu sau đó đã tập trung nới lỏng các giả định của

MM để phát triển lý thuyết về cấu trúc vốn mang tính thực tế hơn

Bài viết nguyên thủy của MM bị phê phán rất nhiều, do đó hai ông đã công bố thêm một bài nghiên cứu vào năm 1963 (bài nghiên cứu mang tên: “thuế thu nhập doanh nghiệp và chi phí vốn: một sự hiệu chỉnh” đăng trên tờ American Economic Review tháng 6/1963), trong đó hai ông đã nới lỏng giả định về môi trường không

có thuế thu nhập doanh nghiệp Ở đây, hai ông đã nhận thấy rằng luật thuế cho phép công ty được khấu trừ lãi vay như một chi phí hoạt động hợp lý, được khấu trừ ra khỏi thu nhập hoạt động (EBIT) trước khi đóng thuế thu nhập doanh nghiệp cho nhà

Trang 6

nước trong khi cổ tức chi trả cho các cổ đông không được khấu trừ, điều này có nghĩa là so với vốn cổ phần, vay nợ sẽ cho một khoản sinh lời từ tấm chắn thuế từ lãi vay Lúc này ta có:

GTDN (có sử dụng nợ)= GTDN (không sử dụng nợ) + PV(khoản sinh lợi từ tấm chắn thuế) Nghiên cứu của MM ở năm 1963 đã được Merton Miller chỉnh sửa lại sau đó với bài viết “Nợ và thuế” đăng trên tờ Journal of finance số 32 tháng 5/1977 (lúc này không còn Mogdiliani), khi Miller đưa ra tác động của thuế thu nhập cá nhân Bài nghiên cứu này cho thấy sự khác biệt giữa nợ và vốn cổ phần là lãi mà trái chủ nhận được không chịu thuế thu nhập doanh nghiệp, chỉ chịu thuế thu nhập cá nhân trong khi lãi mà cổ đông nhận được vừa chịu thuế thu nhập doanh nghiệp vừa chịu thuế thu nhập cá nhân nên nếu xét tác động của thuế thu nhập doanh nghiệp trong mối quan hệ với thuế thu nhập cá nhân thì tài trợ bằng nợ có lợi hơn bằng vốn cổ phần, chỉ trừ trường hợp thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp thấp hơn thuế suất thuế thu nhập cá nhân đánh trên lãi từ chứng khoán nợ và thuế suất thuế thu nhập cá nhân trên vốn cổ phần thường là rất thấp Nhưng điều này khó xảy ra trong thực tế Do đó, nếu xét tác động của thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế thu nhập cá nhân thì ta vẫn có:

GTDN (có sử dụng nợ)= GTDN (không sử dụng nợ) + PV(khoản sinh lợi từ tấm chắn thuế) Thật ra, MM cho thấy rằng nếu tất cả các giả định của họ giữ nguyên thì sự phân biệt này sẽ dẫn đến một cơ cấu vốn tối ưu là 100% nợ vay

Như vậy, nghiên cứu của MM cần nới lỏng thêm giả định

Kết quả của MM cũng dựa trên giả định là công ty không phá sản, do vậy, chi phí phá sản không ảnh hưởng đến giá trị công ty Tuy nhiên, trong thực tế, việc phá sản là có thực Các chi phí liên quan đến mối đe dọa phá sản do công ty sử dụng quá nhiều nợ nhưng không thể đáp ứng các hứa hẹn với chủ nợ hay đáp ứng một cách khó khăn gọi là chi phí kiệt quệ tài chính

Như chúng ta đã biết, kiệt quệ tài chính rất tốn kém.Các nhà đầu tư biết rằng các doanh nghiệp có vay nợ có thể sẽ rơi vào tình trạng kiệt quệ tài chính, và họ rất

Trang 7

lo về điều này Lo ngại này được phản ánh trong giá trị thị trường hiện tại của chứng khoán của các doanh nghiệp có vay nợ Như vậy, giá trị doanh nghiệp có thể được phân thành ba phần:

GTDN (có sử dụng nợ)= GTDN (không sử dụng nợ)

+ PV(khoản sinh lợi từ tấm chắn thuế)

– PV (Chi phí kiệt quệ tài chính)

Như vậy, kết thúc chương 14 và 15, chúng ta đã tìm hiểu về Lý thuyết MM cũng như nới lỏng hai giả định của MM về môi trường có thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân và tồn tại chi phí phá sản Và chương 16 chúng ta chuẩn bị xem xét ở đây sẽ tiếp nối hai chương trên, tiếp tục nới lỏng lý thuyết MM

để lý thuyết MM gần với thực tế hơn bằng cách xem xét thêm một số yếu tố có tác động đối với việc xác định một cấu trúc vốn tối ưu và tìm hiểu các phương pháp mà các giám đốc tài chính sử dụng đề tìm kiếm một cấu trúc vốn tối ưu cho doanh nghiệp mình trong nội dung thực hành quản trị cấu trúc vốn

II CÁC YẾU TỐ KHÁC CẦN XEM XÉT KHI QUYẾT ĐỊNH CẤU TRÚC VỐN

1 Đặc điểm kinh tế

Khi chúng ta xác định một cấu trúc tài chính hôm ngay, cấu trúc tài chính đó sẽ được duy trì trong một thời gian dài, do đó khi hoạch định một cấu trúc tài chính chúng ta nên dự báo về triển vọng của nền kinh tế, không nên giả định rằng tình hình kinh tế hôm nay sẽ giữ nguyên vào ngày mai

Qua các nghiên cứu của Choe và cộng sự (1993); Gertler và Gilchrist (1993); Korajczyk và Levy (2003)cho thấy điều kiện kinh tế vĩ mô là một trong những nhân

tố quan trọng trong phân tích lựa chọn tài trợ cho doanh nghiệp Với việc mở rộng vấn đề trên, Banjeree và cộng sự (2004) và Lööf (2003) đưa ra vấn đề các nhân tố

vĩ mô có thể ảnh hưởng đến tốc độ điều chỉnh cấu trúc vốn Nghiên cứu của

Trang 8

Douglas O Cook và Tian Tang (2009) cho thấy các doanh nghiệp có xu hướng điều chỉnh đến cấu trúc vốn mục tiêu nhanh hơn trong tình trạng kinh tế vĩ mô tốt

Các đặc điểm kinh tế có thể kể đến như sau:

1.1 Mức độ tự do hóa tài chính

Theo Domowitz và cộng sự (2000), các quốc gia có chuẩn mực kế toán, mức bảo

vệ nhà đầu tư tốt hơn và thị trường chứng khoán mở có xu hướng phụ thuộc nhiều vào thị trường trái phiếu trong nước và thị trường vốn quốc tế Nghiên cứu của Schmukler và Vesperoni (2000) cho thấy mối quan hệ đồng biến giữa tỷ lệ nợ - vốn

cổ phần dài hạn và tự do hóa tài chính tại các nước Đông Nam Á Rashid Ameer(2010) sau khi tự do hóa hoàn toàn, những quốc gia mà các quy định pháp luật và quyền của chủ nợ được thực thi nghiêm túc, các doanh nghiệp có tốc độ điều chỉnh cấu trúc vốn cao hơn so với các nước không thực hiện cưỡng chế/ không tuân thủ

1.2 Thể chế

Một số nghiên cứu của Rajan và Zingales (1995), Bancel và Mittoo(2004) cho thấy môi trường thể chế có ảnh hưởng đến chính sách tài trợ của doanh nghiệp Ozde Oztekin và Mark J Flannery (2011) cho thấy các truyền thống tài chính (financial traditions)và pháp lý có tương quan với tốc độ điều chỉnh của doanh nghiệp Cụ thể hơn, đặc điểm thể chế cũng liên quan đến tốc độ điều chỉnh, nhất quán với giả thuyết: thể chế tốt hơn, chi phí giao dịch thấp hơn - liên quan đến điều chỉnh đòn bẩy của doanh nghiệp Sự liên kết giữa thõa thuận thể chế (institutional arrangement) và tốc độ điều chỉnh đòn bẩy là nhất quán với lý thuyết đánh đổi động (dynamic trade-off theory) về lựa chọn cấu trúc vốn

1.3 Mức độ hoạt động kinh doanh

Nếu chúng ta dự kiến mức độ hoạt động kinh doanh tăng, khi đó doanh nghiệp

sẽ cần mở rộng sản xuất dẫn đến việc gia tăng quy mô sản xuất Để phục vụ cho việc này, nhu cầu tài sản và vốn để tài trợ cho việc mua các tài sản này của doanh nghiệp cũng sẽ gia tăng.Vì vậy đánh giá mức độ hoạt động kinh doanh giúp cho

Trang 9

giám đốc tài chính chú trọng đến khả năng điều động trong tương lai nếu doanh

nghiệp muốn mở rộng quy mô sản xuất khi hoạch định cấu trúc tài chính

1.4 Triển vọng của thị trường vốn

Điều kiện của thị trường vốn gặp khó khăn hay thuận lợi trong cả ngắn hạn hay dài hạn sẽ có tác động quan trọng lên cơ cấu vốn tối ưu Cụ thể:

- Nếu dự báo trong tương lai lãi suất sẽ tăng hay khả năng vay vốn giảm, sẽ dẫn đến việc doanh nghiệp gia tăng tỷ lệ nợ trong cấu trúc tài chính ngay tức khắc

- Và ngược lại, nếu dự báo lãi suất giảm thì doanh nghiệp có thể hướng đến việc tạm hoãn vay tiền và xây dựng một cấu trúc tài chính với tỷ lệ nợ thấp hơn ở hiện tại và tăng tỷ lệ nợ trong tương lai

Yếu tố thời gian liên quan mật thiết đến việc xác định loại vốn sử dụng để nắm bắt

cơ hội tối đa hóa khoản thu và tối thiểu hóa tổng chi phí của nợ và cổ phần thường

+ Tại thời điểm loại chứng khoán nào có chi phí thấp thì nên phát hành chứng khoán

đó để tiết kiệm chi phí

Ví dụ: Khoảng thời gian từ giữa năm 1979 đến đầu năm 1980, trên thị trường chứng khoán Mỹ lãi suất huy động bình quân của trái phiếu công nghiệp chất lượng cao tăng trên 3% Bằng cách phát hành 300 triệu đồng trái phiếu mới trong năm 1979 thay vì trong năm 1980, một doanh nghiệp có thể kiếm được 9 triệu hay nhiều hơn mỗi năm trong suốt tuổi thọ của trái phiếu

+ Trong thời điểm ở giai đoạn đầu của kỳ phục hồi sau suy thoái nên tìm cách chuyển từ nợ ngắn hạn sang dài hạn bởi vì tại thời điểm này, lãi suất dài hạn có thể thấp (trừ khi tỷ lệ lạm phát vẫn ở mức cao)

Ví dụ: Tính đến 31/12/2011, tổng dư nợ của công ty cổ phần Đầu tư Phát triển Đô thị

và Khu Công nghiệp Sông ĐàSudico (SJS) lên đến 1.700 tỷ đồng, trong đó, công ty buộc phải cơ cấu lại khoản vay ngắn hạn chuyển sang dài hạn Cụ thể, khoản nợ ngắn hạn có giá trị 1.150 tỷ đồng từ các NHTM như SHB, Maritimebank được tất toán hết Thay vào

đó, công ty sử dụng nguồn vay dài hạn từ phía Techcombank, Quản lý quỹ SME nhưng vẫn duy trì 500 tỷ đồng trái phiếu phát hành cho Maritimebank

Trang 10

Công ty Cổ phần Đầu tư và Xây lắp Dầu khí Sài Gòn (PSG) cơ cấu nợ 150 tỷ đồng

từ ngắn hạn sang dài hạn, đồng thời bán một phần vốn và tài sản trị giá 150 tỷ đồng để giải quyết những khó khăn về dòng tiền của công ty

+ Thời điểm tăng trưởng nên phát hành thêm cổ phần thường

Ví dụ: Vietcombank chào bán cổ phần lần đầu ra công chúng (IPO) vào tháng 12/2007 khi thị trường chứng khoán Việt Nam đang sốt, cổ phiếu ngân hàng được xem là

cổ phiếu vua Hơn 97,5 triệu cổ phiếu VCB đã được bán sạch trong phiên IPO với giá trung bình quân 107.860 đồng, giá cao nhất tới 250.000 đồng và thấp nhất 102.000 đồng, cao hơn giá giá khởi điểm 2.000 đồng Phần thặng dư sau đợt phát hành này lên tới gần 11.000 tỷ đồng, trong đó trả lại Nhà nước gần 10.000 tỷ, con số mơ ước của tất cả các đợt

cổ phần hóa doanh nghiệp quốc doanh nhiều năm qua

Hay Vietinbank IPO (mã chứng khoán CTG) hôm 25/12/2008, giá trúng bình quân 20.256 đồng cao hơn khởi điểm 256 đồng Đến khi chào sàn, CTG được đặt ở mức 50.000 đồng, mang lại khoản hời không nhỏ cho các nhà đầu tư

+ Thời điểm huy động vốn có thể bị giới hạn bởi thời điểm đáo hạn của hợp đồng trước và thời điểm nhận vốn do phụ thuộc vào khả năng thương lượng với chủ nợ và nhà quản lý

1.5 Thuế suất

Như đã được trình bày tại chương 15, thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế thu nhập

cá nhân có tác động đến cấu trúc vốn, do đó cân đối giữa nợ và vốn cổ phần sẽ tùy thuộc một phần vào các mức thuế suất tương ứng của thuế suất thu nhập doanh nghiệp và thuế thu nhập cá nhân, cụ thể là:

- Do chi phí lãi vay được khấu trừ thuế nên việc gia tăng thuế thu nhập doanh nghiệp sẽ làm cho doanh nghiệp ưu tiên sử dụng nợ hơn là vốn cổ phần nhằm lợi dụng lá chắn thuế

tác động đến việc chi trả cổ tức hay nói cách khác là tác động

Trang 11

đến lợi ích của cổ động, họ phải nộp thuế khi nhận được cổ tức Do đó, việc gia tăng thuế thu nhập cá nhân sẽ khuyến khích các doanh nghiệp gia tăng tỷ lệ lợi nhuận giữ lại

1.6 Chu kỳ kinh tế

*Trong bối cảnh suy thoái kinh tế, không ít những doanh nghiệp do yếu kém trong công tác quản lý hay do các nguyên nhân khách quan đã dẫn đến tình trạng bị thua lỗ nặng nề Những khoản tổn thất do thua lỗ trước hết chủ sở hữu phải gánh chịu Xét về mặt tài chính, sự thua lỗ khiến cho giá trị tài sản của doanh nghiệp bị giảm đi và tất yếu vốn chủ sở hữu cũng bị giảm theo Nếu tình trạng đó tiếp tục diễn

ra, vốn chủ sở hữu sẽ bị hao hụt nhanh chóng, vô hình chung khiến hệ số nợ ngày càng tăng lên và rủi ro tài chính cũng càng đe dọa sự tồn tại của doanh nghiệp

Với tình trạng này, một mặt đòi hỏi doanh nghiệp phải tổ chức lại sản xuất, kinh doanh, mặt khác phải tái cấu trúc nguồn vốn để cải thiện tình hình tài chính Để giảm lỗ, doanh nghiệp cần cắt bớt những chi phí không cần thiết, hạn chế khoản vay đầu tư vào những dự án chưa thu lời được ngay, chấp nhận thu gọn ngành nghề, rút bớt chi nhánh, đại lý thiếu hiệu quả, tìm mọi cách đẩy mạnh doanh thu bằng tăng khả năng tiêu thụ sản phẩm, giảm giá thành đầu vào từng bước đưa cấu trúc nguồn vốn dần trở lại cân bằng

* Trong giai đoạn hậu suy thoái, tại thời điểm này lãi suất dài hạn có thể thấp (trừ khi tỷ lệ lạm phát vẫn ở mức cao), và chúng ta sẽ cần các nguồn vốn này sau này để tài trợ thêm cho tài sản cố định và lưu động thường xuyên Tốt nhất là nên thực hiện chuyển đổi này sớm và phong tỏa số nợ dài hạn chi phí thấp trong cấu trúc vốn

Trang 12

Ngoài ra trong bối cảnh hậu khủng hoảng tài chính toàn cầu đối với doanh nghiệp mới thay đổi cấu trúc kinh doanh hoặc mua bán, sáp nhập: cấu trúc kinh doanh thay đổi khiến cho rủi ro kinh doanh của doanh nghiệp cũng có sự biến động Mỗi một ngành kinh doanh có đặc điểm kinh tế - kỹ thuật khác nhau và từ đó mức

độ rủi ro kinh doanh cũng khác nhau.Một khi có sự thay đổi cấu trúc kinh doanh thì doanh nghiệp phải tính đến mức độ rủi ro kinh doanh trong rủi ro tổng thể của doanh nghiệp.Điều đó cũng đòi hỏi doanh nghiệp phải lựa chọn cấu trúc nguồn vốn làm cho cấu trúc nguồn vốn phù hợp hơn trước sự thay đổi của cấu trúc sản xuất kinh doanh

Trong điều kiện kinh doanh hiện nay, việc mua bán, sáp nhập, hợp nhất doanh nghiệp xảy ra ngày càng nhiều Sau khi sáp nhập hay hợp nhất doanh nghiệp, hoạt động tái cấu trúc đòi hỏi nguồn vốn làm cho cấu trúc nguồn vốn hợp lý hơn nhằm đạt tới sự gia tăng tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu hay thu nhập một cổ phần cũng như sự gia tăng giá trị doanh nghiệp Trong trường hợp này, ban lãnh đạo doanh nghiệp phải rà soát thật kỹ cấu trúc nguồn vốn của từng bộ phận, đánh giá các rủi ro tài chính từ riêng lẻ đến tổng thể và có phương án tăng cường năng lực tài chính cho những bộ phận trọng yếu, quyết định đến doanh thu và lợi nhuận

* Nền kinh tế đang trong giai đoạn tăng trưởng, tỷ số giá thu nhập của cổ phần thường có thể tăng, vì thế cuối cùng ta có thể muốn phát hành thêm cổ phần thường.Tuy nhiên, trong giai đoạn tăng trưởng một số doanh nghiệp không quản lý được tốc độ tăng trưởng của mình dẫn đến sự tăng trưởng quá nhanh thậm chí rơi vào tình trạng quá "nóng" Điều này trước mắt dễ làm cạn kiệt các nguồn lực tài chính cũng như khiến cho cấu trúc nguồn vốn mất cân đối nghiêm trọng Khi tăng trưởng quá nhanh, nhu cầu vốn cho đầu tư là rất lớn

Trong trường hợp này, mặc dù đã huy động tối đa nguồn vốn bên trong nhưng không thể đáp ứng được yêu cầu doanh nghiệp buộc phải gia tăng huy động vốn từ bên ngoài và thực tế cho thấy nhiều doanh nghiệp đã đi vay khối lượng lớn để đầu tư vào tài sản cố định và mở rộng quá mức sử dụng tín dụng thương mại từ các nhà cung cấp Để tránh hệ số nợ quá cao, có thể làm doanh nghiệp mất kiểm soát trong

Trang 13

trường hợp rủi ro xảy ra, doanh nghiệp phải kiểm soát chặt các dự án, chương trình đầu tư, có kế hoạch thu hồi vốn và trả nợ đúng hạn định hoặc tối thiểu cũng có các phương án dự phòng khi yếu tố không thuận lợi xảy ra

Bộ phận tài chính của doanh nghiệp phải thường xuyên theo dõi, báo cáo sự luân chuyển của dòng tiền trong doanh nghiệp, dự báo những khó khăn phát sinh và tham mưu cho ban lãnh đạo doanh nghiệp các phương án tránh rủi ro tài chính Dần dần, doanh nghiệp phải bổ sung vốn chủ sở hữu thông qua tìm kiếm cổ đông chiến lược

để cân bằng vốn chủ sở hữu và vốn nợ hoặc giảm dần các khoản nợ vay về giới hạn

an toàn

-

Bài nghiên cứu Capital Structure over the Business Cycle

Tác giả David Amdur Georgetown Universityy This Version: July 2009

Ông đã chỉ ra rằng mô hình RBC (Standard real business cycle) với một quyết định cơ cấu vốn rõ ràng có thể giải thích số lượng yếu tố ảnh hưởng về mối quan hệ giữa nợ và vốn cổ phần theo dữ liệu của Mỹ Ông đã tìm ra RBC, mô hình đặc trưng bởi ba yếu tố tài chính: lá chắn thuế , chi phí sử dụng nợ, và chi phí sử dụng vốn

Sử dụng lá chắn thuế hiệu quả và giảm chi phí sử dụng nợ đến mức tối thiểu là ưu điểm của việc tài trợ bằng nợ Các chi phí sử dụng vốn cổ phần trên thực tế có nhiều biến động hơn tùy theo tín hiệu thị trường Trong mô phỏng có tính hiệu chuẩn, mô hình cho thấy một cách chính xác rằng tài trợ bằng nợ và vốn cổ phần có tương quan với GDP, đầu tư và tương quan lẫn nhau giữa chúng

Mô hình này có ý nghĩa cho các quyết định cơ cấu vốn riêng của các doanh nghiệp Ví dụ, các doanh nghiệp bị đánh thuế thu nhập cao hơn có thể tài trợ bằng

nợ nhiều hơn so với các công ty khác

Trang 14

Hơn nữa, việc bị đánh thuế cao và các yếu tố khác thay đổi khiến cho công ty cũng thay đổi cấu trúc nợ theo Hai công ty với mô hình cấu trúc vốn và tài sản khác nhau sẽ có quyết định khác nhau về cấu trúc nợ và vốn cổ phần

Kết quả sau khi chạy mô hình:

Bảng 1 Thống kê sự thay đổi trong chu kỳ kinh tế của khu vực phi nông nghiệp tương quan giữa các yếu tố vốn cổ phần, tài trợ bằng nợ với GDP giai đoạn 1952 – 1983 và giai đoạn từ năm 1984 đến 2007

Bảng 2: Mối liên hệ tương quan giữa vốn cổ phần, nợ và đầu tư

Trang 15

Bảng 3: Sự thay đổi các yếu tố vốn cổ phần, nợ vay, đầu tư, chi tiêu trong chu

kỳ kinh tế giai đoạn 1952-1983 và 1984-2007

2 Các đặc tính của ngành

Các công ty hoạt động trong cùng ngành sẽ đối mặt với các nhân tố gây ra rủi ro kinh doanh là giống nhau nên cơ cấu vốn của doanh nghiệp phụ thuộc rất nhiều vào đặc điểm của từng ngành mà doanh nghiệp đang hoạt động như khả năng phá sản, khả năng sinh lời, chất lượng và cơ cấu tài sản, cơ hội tăng trưởng

Theo khảo sát các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam, nhóm sử dụng nhiều nợ vay nhất phải kể đến ngành vận tải, xây dựng và bất động sản Tỉ lệ nợ/vốn chủ sở hữu của một số công ty tiêu biểu thuộc nhóm này là Công ty

cổ phần vận tải xăng dầu Vitaco (3,38), Tổng Công ty cổ phần vận tải dầu khí (5,73),Tổng Công ty cổ phần xuất nhập khẩu và xây dựng Việt Nam (22,26) Tỉ lệ này trong các ngành chế biến xuất khẩu tương đối cao và nợ vay thường ngắn hạn để nhập khẩu và mua nguyên liệu phục vụ cho quá trình chế biến: Công ty cổ phần Tập đoàn Kỹ nghệ Gỗ Trường Thành TTF (1,58), Công ty Cổ phần Vinafco VHC (2,05) Ngược lại, ngành cao su tự nhiên lại có tỉ lệ nợ trên vốn thấp: Công ty Cổ phần Cao

Su Tây Ninh TRC (0,31), Công ty Cổ phần cao su Đồng Phú DPR (0,53)

Trang 16

Do đó, khi đưa ra một quyết định về cấu trúc vốn cần xem xét các đặc tính của doanh nghiệp

2.1 Cấu trúc tài sản

Các công ty trong cùng ngành sẽ có một cơ cấu tài sản tương đồng nhau, như là một “form chuẩn” để các doanh nghiệp trong ngành tuân theo, chính vì vậy cơ cấu vốn cũng sẽ bị ảnh hưởng theo “form chuẩn” này Các công ty hoạt động trong ngành có tài sản thích hợp như là khoản đảm bảo cho nợ vay sẽ có khuynh hướng sử dụng nhiều nợ vay hơn.Các tài sản có thể sử dụng cho nhiều ngành là một khoản thế chấp tốt, trong khi đó các tài sản chuyên dụng thì lại không như vậy Do đó, các công ty bất động sản thường có đòn bẩy tài chính cao, trong khi đó các công ty trong lĩnh vực nghiên cứu công nghệ thì lại không

2.2 Tính chất ổn định của dòng tiền

- Các doanh nghiệp trong ngành có rủi ro kinh doanh thấp: có dòng tiền ổn

định thường sử dụng nợ nhiều hơn là các doanh nghiệp trong các ngành nhiều rủi ro hơn

- Các biến động theo mùa vụ: các ngành có các biến động lớn mang tính mùa vụ

trong doanh số thường cần các tỷ lệ tương đối lớn vay ngắn hạn linh động Việc xem xét tính thích hợp của các loại vốn với loại tài sản cần tài trợ sẽ có thể rất quan trọng đối với các doanh nghiệp như các cửa hàng bách hóa bán lẻ và các nhà sản xuất đồ chơi, phân bón và quần áo nam, nữ

- Các ngành có biến động theo chu kỳ: doanh số sẽ có biến động lớn qua từng

giai đoạn của chu kỳ, do đó các công ty trong ngành có đăc tính này thường sử dụng rất ít nợ vay để bành trướng hay thu hẹp dễ dàng các khoản vốn sử dụng

- Tính chất cạnh tranh trong ngành cũng có tác động rất lớn đến quyết định

cấu trúc vốn Đối với ngành có tính cạnh tranh cao thì doanh thu của các công ty trong ngành đó chỉ mang tính tạm thời và khó dự báo trước nên các công ty này chủ yếu sử dụng vốn cổ phần thường hơn là nợ vay Ngược lại, các công ty trong ngành

Trang 17

có tính cạnh tranh thấp, doanh thu sẽ ổn định và dự báo được nên thông thường sẽ sử dụng nhiều nợ vay hơn

- Giai đoạn trong chu kỳ tuổi thọ Các ngành kinh doanh được sinh ra, phát

triển, trưởng thành và cuối cùng thường suy tàn Do đó, ở giai đoạn đầu mới sinh ra

và giai đoạn cuối chuẩn bị bước vào thời kỳ suy tàn thì doanh nghiệp đang đối diện với rủi ro rất lớn nên thường sử dụng rất ít nợ vay Và ở giai đoạn phát triển, các doanh nghiệp thường sử dụng nhiều nợ vay để đảm bảo nguồn vốn đáp ứng cho nhu cầu đang bành trướng về quy mô của công ty

Như vậy, khi đưa ra một quyết định về cấu trúc vốn, giám đốc tài chính cũng nên xem xét yếu tố ngành nghề để đưa ra quyết định cuối cùng

Tuy nhiên, vẫn có một cấu trúc vốn tối ưu cho các doanh nghiệp cá thể không giống với cấu trúc vốn của các doanh nghiệp cùng ngành, các doanh nghiệp có thể

“phá cách”, vượt ra ngoài “form chuẩn” của ngành Do đó, một doanh nghiệp chấp nhận một cấu trúc vốn khác biệt lớn với mức bình quân ngành sẽ phải thuyết phục cả thị trường tài chính về rủi ro kinh doanh của công ty mình cũng khác biệt lớn với rủi

ro kinh doanh của các doanh nghiệp cùng ngành để đảm bảo cho cấu trúc vốn khác biệt này Thị trường sẽ tưởng thưởng cho các doanh nghiệp đạt được cấu trúc vốn này

2.3 Điều tiết

Các loại vốn do các doanh nghiệp thuộc ngành công ích (như giáo dục, đường sắt) sử dụng thường bị cơ quan luật định giám sát chặt chẽ Do đó, cấu trúc vốn phụ thuộc nhiều vào các quy định

Trang 18

3 Các đặc tính của doanh nghiệp

3.1 Hình thức tổ chức

Mỗi hình thức tổ chức doanh nghiệp có những đặc điểm khác nhau, do đó nó sẽ ảnh hưởng đến cách thức huy động vốn cũng như trách nhiệm của các chủ sở hữu đối với nợ của doanh nghiệp Do đó, hình thức tổ chức doanh nghiệp sẽ ảnh hưởng đến quyết định cấu trúc vốn Ví dụ: Các công ty cổ phần thường dễ thu hút vốn hơn các hình thức kinh doanh không liên kết hay kinh doanh liên kết góp vốn, vì các cổ đông chỉ phải chịu rủi ro cho phần vốn đầu tư ban đầu của mình Hơn nữa, thường họ có thể bán cổ phần của mình cho người khác một cách dễ dàng

3.2 Quy mô

Việc huy động các nguồn tài trợ cho doanh nghiệp còn chịu ảnh hưởng bởi quy

mô của doanh nghiệp Cụ thể:

- Các doanh nghiệp rất nhỏ phải tùy thuộc đáng kể vào vốn của các chủ sở hữu để tài trợ tài sản của mình vì doanh nghiệp này khó có thể tiếp cận các nguồn vốn vay dài hạn.Ngoài ra, các doanh nghiệp nhỏ thường hạn chế trong việc đa dạng nguồn tài trợ vì xét đến chi phí phát hành chứng khoán có thể lớn hơn so với lợi ích

có thể có

- Các doanh nghiệp rất lớn thường phải sử dụng nhiều loại vốn Vì cần quá nhiều tiền, các doanh nghiệp này sẽ khó thỏa mãn tổng nhu cầu vốn của mình với một chi phí vừa phải nếu họ giới hạn các nhu cầu của mình vào chỉ một loại vốn

3.3 Đặc điểm cấu trúc tài sản của doanh nghiệp

Đặc điểm tài sản của doanh nghiệp cũng ảnh hưởng đến cấu trúc vốn trên nguyên tắc tính tương thích giữa tài sản và nguồn vốn mà các giám đốc tài chính luôn cân nhắc trong việc đưa ra một quyết định về cấu trúc vốn Cụ thể như sau:

Tính chất từng loại nguồn vốn phải phù hợp với tính chất của từng loại tài sản Tính tương thích này được thể hiện qua hình vẽ sau:

Trang 19

Qua đó cho ta thấy:

- Dùng nợ ngắn hạn tạm thời để tài trợ cho tài sản lưu động tạm thời

- Dùng nợ ngắn hạn thường xuyên tài trợ cho tài sản lưu động thường xuyên

- Dùng nợ dài hạn và vốn cổ phần tài trợ cho tài sản cố định

Chúng ta sẽ đi vào tìm hiểu sao lại có sự tương thích đó Trước hết cần xem xét một

số tính chất của từng loại vốn và từng loại tài sản

Tài sản lưu động: là loại tài sản có thời

hạn sử dụng dưới 1 năm Bao gồm tiền

mặt, các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn,

khoản phải thu, tồn kho, tài sản lưu động

khác Tài sản lưu động được chia làm 02

loại sau:

- Tài sản lưu động tạm thời: là tài

sản lưu động chỉ xuất hiện trong 1

khoảng thời gian nhất định

- Tài sản lưu động thường xuyên:

là loại tài sản lưu động thường

Nợ ngắn hạn: là khoản nợ có thời gian

đáo hạn dưới 1 năm Nợ ngắn hạn chia làm 02 loại sau:

Nợ dài hạn: là khoản nợ có thời gian đáo

Trang 20

xuyên xuất hiện trên bảng cân đối

kế toán từ năm này qua năm khác

hạn trên 1 năm

Tài sản cố định: là loại tài sản có thời hạn

sử dụng trên 1 năm Bao gồm tài sản cố

định hữu hình, tài sản cố định vô hình và

tài sản cố định thuê tài chính

Vốn cổ phần: là nguồn vốn dài hạn có

được nhờ vào bán cổ phiếu của công ty

Việc dùng các nguồn vốn dài hạn (vốn cổ phần, nợ dài hạn, nợ ngắn hạn thường xuyên) tài trợ cho tài sản lưu động tạm thời sẽ là không khôn ngoan, do việc chỉ sử dụng nguồn vốn này trong ngắn hạn rồi để nó nhàn rỗi trong khoảng thời gian còn lại sẽ vô cùng lãng phí Vì vậy nguồn vốn dài hạn này nên dành để tài trợ cho tài sản cố định và tài sản lưu động thường xuyên để khai thác tối đa hiệu quả sử dụng vốn Và do đó, nguồn vốn để tài trợ cho tài sản lưu động tạm thời nên là nợ ngắn hạn tạm thời

Các tài sản ngắn hạn thường xuyên thì việc sử dụng vốn cổ phần hay nợ dài hạn cũng tốt, nhưng trong trường hợp không đủ vốn thì việc sử dụng nợ ngắn hạn thường xuyên sẽ

là hành động khôn ngoan vì nó giúp công ty có nguồn vốn ổn định để phát triển sản xuất kinh doanh

Tài sản cố định nếu được tài trợ bằng vốn cổ phần và nợ dài hạn sẽ giúp công ty không phải chịu áp lực trả lãi và vốn vay, giúp công ty ổn định phát triển sản xuất kinh doanh

3.4 Giai đoạn trong chu kỳ tuổi thọ

Việc đưa ra quyết định cấu trúc vốn còn phụ thuộc vào việc doanh nghiệp đang ở giai đoạn nào của chu kỳ tuổi thọ vì tùy vào từng giai đoạn trong chu kỳ tuổi thọ, doanh nghiệp sẽ có một số đặc điểm khác nhau:

Mức độ rủi ro kinh doanh cao có nghĩa là rủi ro tài chính đi kèm nên được giữ

Trang 21

đó chính là khả năng sản xuất sản phẩm mới có hiệu quả hay không; nếu

có hiệu quả, thì sản phẩm có được các khách hàng tương lai chấp nhận hay không; nếu được chấp nhận, thì trường có tăng trưởng đến một quy

mô hiệu quả đủ cho các chi phí triển khai và đưa sản phẩm ra thị trường không; và nếu tất cả những điều này đều đạt được, thì công ty có chiến lược thị phần hay không?

càng thấp càng tốt trong suốt giai đoạn này Như vậy, tài trợ bằng vốn cổ phần là thích hợp nhất, nhưng do mức độ của rủi

ro tổng thể trong giai đoạn này rất cao, do đó chỉ có các nhà đầu tư vốn mạo hiểm mới dám chấp nhận đầu tư và công ty mà thôi Đương nhiên, các nhà đầu

tư mạo hiểm này sẽ yêu cầu một tỷ suất sinh lời cao

để bù đáp cho rủi ro

Phát triển

Một khi sản phẩm mới được tung ra trên thị trường một cách thành công, doanh số sẽ bắt đầu tăng nhanh chống, công ty bước vào giai đoạn phát triển Ở giai đoạn này, rủi ro kinh doanh của công ty vẫn cao Đó chính

là vì do giai đoạn chuyển tiếp từ khởi đầu sang phát triển đòi hỏi công ty phải thực hiện một số thay đổi Thay đổi luôn luôn bao hàm rủi ro, vì nếu không quản lý thay đổi đúng, nó có thể đưa đến một chiều hướng đi xuống trong thành quả tương lai của doanh nghiệp

Với mức độ rủi ro trong kinh doanh còn khá cao nên giai đoạn này cần phải xác định được nguồn tài trợ thích hợp để giữ mức

độ rủi ro tài chính thấp, tức

là tiếp tục dùng vốn cổ phần Tuy nhiên, một khía cạnh quan trọng trong việc quản lý giai đoạn chuyển tiếp này là các nhà đầu tư vốn mạo hiểm ban đầu chỉ quan tâm đến việc đạt được lãi vốn để có thể tái

Trang 22

đầu tư vào nhiều doanh nghiệp mới khởi sự khác Điều đó có nghĩa là cần tìm kiếm thêm các nhà đầu

tư vốn cổ phần mới bằng cách phát hành rộng rãi chứng khoán của công ty

Trưởng thành

Trong giai đoạn này rủi ro kinh doanh của công ty ở mức trung bình vì công

ty đã ổn định với một thị phần tương đối tốt

Công ty huy động vốn bằng lợi nhuận giữ lại và lãi vay

Suy tàn

Giai đoạn này có mức rủi ro kinh doanh thấp

Rủi ro kinh doanh thấp này

sẽ được bổ sung bởi một nguồn vốn có rủi ro tài chính tương đối cao Như vậy, nguồn vốn trong giai đoạn này là nợ vay

3.5 Tâm lý hành vi

3.5.1 Tác động của tín hiệu

Các nghiên cứu về thay đổi cấu trúc vốn đều cho rằng việc phát chứng khoán mới làm giá chứng khoán giảm (nghiên cứu thực nghiệm của Paul Asquith và David W.Mullins trong bài nghiên cứu “Tác động của việc bắt đầu chi trả cổ tức đến của cải của nhà đầu tư” được đăng trên tờ Journal of Bussiness, tháng 1/1983) Điều này

có nghĩa là trong điều kiện bình thường, công ty nên sử dụng nhiều vốn chủ sở hữu hơn và ít vay nợ hơn nhằm đảm bảo rằng họ có thể vay nợ khi cần thiết, trong trường hợp có cơ hội đầu tư tốt

Vì vậy khi một doanh nghiệp thực hiện quyết định thay đổi về cấu trúc vốn, doanh nghiệp phải chú ý đến tín hiệu có thể có về các viễn cảnh thu nhập tương lai

Ngày đăng: 10/04/2014, 23:56

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2: Mối liên hệ tương quan giữa vốn cổ phần, nợ và đầu tư - Quyết định cấu trúc vốn trong thực tiễn
Bảng 2 Mối liên hệ tương quan giữa vốn cổ phần, nợ và đầu tư (Trang 14)
Bảng 3: Sự thay đổi các yếu tố vốn cổ phần, nợ vay, đầu tư, chi tiêu trong chu  kỳ kinh tế giai đoạn 1952-1983 và 1984-2007 - Quyết định cấu trúc vốn trong thực tiễn
Bảng 3 Sự thay đổi các yếu tố vốn cổ phần, nợ vay, đầu tư, chi tiêu trong chu kỳ kinh tế giai đoạn 1952-1983 và 1984-2007 (Trang 15)
Hình thức 100% vốn nước ngoài  Hình thức liên doanh - Quyết định cấu trúc vốn trong thực tiễn
Hình th ức 100% vốn nước ngoài Hình thức liên doanh (Trang 34)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN