1. Trang chủ
  2. » Tất cả

BÀI GIẢNG PHÁP LUẬT ĐẠI CƯƠNG

182 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bài Giảng Pháp Luật Đại Cương
Trường học Trường Đại Học Tài Chính – Marketing
Chuyên ngành Pháp Luật
Thể loại Bài giảng
Năm xuất bản 2018
Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 182
Dung lượng 3,13 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

đạo quán triệt toàn bộ hệ thống các quy phạm pháp luật hôn nhân và gia đình. Những nguyên tắc này được quy định tại Điều 2 Luật HN và GĐ 2014: Hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng. Hôn nhân giữa công dân Việt Nam thuộc các dân tộc, tôn giáo, giữa người theo tôn giáo với người không theo tôn giáo, giữa người có tín ngưỡng với người không có tín ngưỡng, giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ. Xây dựng gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc; các thành viên gia đình có nghĩa vụ tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nđạo quán triệt toàn bộ hệ thống các quy phạm pháp luật hôn nhân và gia đình. Những nguyên tắc này được quy định tại Điều 2 Luật HN và GĐ 2014: Hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng. Hôn nhân giữa công dân Việt Nam thuộc các dân tộc, tôn giáo, giữa người theo tôn giáo với người không theo tôn giáo, giữa người có tín ngưỡng với người không có tín ngưỡng, giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ. Xây dựng gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc; các thành viên gia đình có nghĩa vụ tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nđạo quán triệt toàn bộ hệ thống các quy phạm pháp luật hôn nhân và gia đình. Những nguyên tắc này được quy định tại Điều 2 Luật HN và GĐ 2014: Hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng. Hôn nhân giữa công dân Việt Nam thuộc các dân tộc, tôn giáo, giữa người theo tôn giáo với người không theo tôn giáo, giữa người có tín ngưỡng với người không có tín ngưỡng, giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ. Xây dựng gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc; các thành viên gia đình có nghĩa vụ tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ n

Trang 1

BỘ TÀI CHÍNH TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI CHÍNH – MARKETING

BÀI GIẢNG

PHÁP LUẬT ĐẠI CƯƠNG

TP Hồ Chí Minh, 2018

Trang 3

MỤC LỤC

MỤC LỤC i

PHẦN I 1

NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT 3

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NHÀ NƯỚC 3

1.1 NGUỒN GỐC NHÀ NƯỚC 3

1.1.1 Các học thuyết phi macxit về nguồn gốc nhà nước 3

1.1.2 Quan điểm macxit về nguồn gốc nhà nước 4

1.2 ĐẶC TRƯNG CỦA NHÀ NƯỚC 6

1.3 BẢN CHẤT, CHỨC NĂNG CỦA NHÀ NƯỚC 7

1.3.1 Bản chất nhà nước 7

1.3.2 Chức năng của nhà nước 8

1.4 KIỂU VÀ HÌNH THỨC NHÀ NƯỚC TRONG LỊCH SỬ 8

1.4.1 Kiểu nhà nước 8

1.4.2 Hình thức nhà nước 9

1.5 BỘ MÁY NHÀ NƯỚC 10

1.5.1 Khái niệm bộ máy nhà nước 10

1.5.2 Các cơ quan trong bộ máy nhà nước 11

1.6 CÂU HỎI ÔN TẬP CHƯƠNG 12

Chương 2 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬT 13

2.1 NGUỒN GỐC, SỰ HÌNH THANH, KHÁI NIỆM PHÁP LUẬT 13

2.2 BẢN CHẤT, THUỘC TÍNH CỦA PHÁP LUẬT 13

2.2.1 Bản chất của pháp luật 13

2.2.2 Thuộc tính của pháp luật 14

2.3 CHỨC NĂNG VÀ VAI TRÒ CỦA PHÁP LUẬT 16

2.3.1 Chức năng của pháp luật 16

2.3.2 Vai trò của pháp luật 16

2.4 CÂU HỎI ÔN TẬP CHƯƠNG 17

Chương 3 HỆ THỐNG PHÁP LUẬT, QUAN HỆ PHÁP LUẬT 19

Trang 4

3.1 HỆ THỐNG PHÁP LUẬT 19

3.1.1 Khái niệm 19

3.1.2 Hệ thống cấu trúc của pháp luật 19

3.1.3 Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật 24

3.2 QUAN HỆ PHÁP LUẬT 26

3.2.1 Khái niệm, đặc điểm của quan hệ pháp luật 26

3.2.2 Cấu trúc của quan hệ pháp luật 27

3.3 CÂU HỎI ÔN TẬP CHƯƠNG 30

Chương 4 THỰC HIỆN PHÁP LUẬT, VI PHẠM PHÁP LUẬT, TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ 31

4.1 THỰC HIỆN PHÁP LUẬT 32

4.2 VI PHẠM PHÁP LUẬT 33

4.2.1 Khái niệm, dấu hiệu (đặc điểm) của vi phạm pháp luật 33

4.2.2 Cấu thành của vi phạm pháp luật 35

4.2.3 Phân loại vi phạm pháp luật 37

4.3 TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ 37

4.3.1 Khái niệm và đặc điểm của trách nhiệm pháp lý 37

4.3.2 Phân loại trách nhiệm pháp lý 38

4.4 CÂU HỎI ÔN TẬP CHƯƠNG 39

PHẦN II 41

MỘT SỐ NGÀNH LUẬT CƠ BẢN TRONG HỆ THỐNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM 41

Chương 5 LUẬT HIẾN PHÁP, LUẬT HÀNH CHÍNH 41

5.1 LUẬT HIẾN PHÁP (LUẬT NHÀ NƯỚC) 41

5.2 LUẬT HÀNH CHÍNH 55

5.2.1 Khái niệm chung 55

5.2.2 Cơ quan hành chính nhà nước 57

5.2.3 Vi phạm hành chính 58

5.2.4 Trách nhiệm hành chính 59

5.2.5 Quy chế pháp lý hành chính của cán bộ, công chức, viên chức 63

5.3 CÂU HỎI ÔN TẬP CHƯƠNG 65

Chương 6 LUẬT DÂN SỰ 66

6.1 ĐỐI TƯỢNG ĐIỀU CHỈNH, PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU CHỈNH, KHÁI NIỆM LUẬT DÂN SỰ 67

Trang 5

6.1.1 Đối tượng điều chỉnh 67

6.1.2 Phương pháp điều chỉnh 67

6.1.3 Khái niệm Luật Dân sự 68

6.2 QUAN HỆ PHÁP LUẬT DÂN SỰ (QHPLDS) 68

6.2.1 Khái niệm 68

6.2.2 Các yếu tố của quan hệ pháp luật dân sự 68

6.3 NHỮNG CHẾ ĐỊNH CƠ BẢN CỦA LUẬT DÂN SỰ 74

6.3.1 Chế định hợp đồng dân sự 74

6.3.2 Quyền sở hữu tài sản 83

6.3.3 Chế định Thừa kế 90

6.4 CÂU HỎI ÔN TẬP CHƯƠNG 99

Chương 7 LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH 100

7.1 KHÁI QUÁT CHUNG 100

7.1.1 Đối tượng điều chỉnh 100

7.1.2 Phương pháp điều chỉnh 101

7.1.3 Các nguyên tắc cơ bản của Luật hôn nhân và gia đình 101

7.2 NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH 101

7.2.1 Kết hôn 101

7.2.2 Quan hệ giữa vợ và chồng 104

7.2.3 Quan hệ giữa cha mẹ và con cái 106

7.2.4 Ly hôn 106

7.3 CÂU HỎI ÔN TẬP CHƯƠNG 109

Chương 8 LUẬT LAO ĐỘNG 110

8.1 KHÁI QUÁT CHUNG 110

8.1.1 Đối tượng điều chỉnh 110

8.1.2 Phương pháp điều chỉnh của Luật Lao động 111

8.2 MỘT SỐ CHẾ ĐỊNH CƠ BẢN CỦA LUẬT LAO ĐỘNG 112

8.2.1 Hợp đồng lao động 112

8.2.2 Tiền lương 118

8.2.3 Thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi 120

8.2.4 Bảo hiểm xã hội 123

8.2.5 Kỷ luật lao động và trách nhiệm vật chất 131

Trang 6

8.3 CÂU HỎI ÔN TẬP CHƯƠNG 135

Chương 9 LUẬT HÌNH SỰ 137

9.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ LUẬT HÌNH SỰ 137

9.1.1 Đối tượng điều chỉnh của Luật Hình sự 137

9.1.2 Phương pháp điều chỉnh của Luật Hình sự 138

9.2 TỘI PHẠM 138

9.2.1 Khái niệm và đặc điểm của tội phạm 138

9.2.2 Phân loại tội phạm 142

9.2.3 Cấu thành tội phạm (CTTP) 144

9.3 HÌNH PHẠT 153

9.3.1 Khái niệm hình phạt 153

9.3.2 Mục đích của hình phạt 154

9.3.3 Các hình phạt đối với người phạm tội 154

9.3.4 Các hình phạt đối với pháp nhân thương mại (từ Điều 77 đến Điều 82 BLHS) 156

9.4 CÂU HỎI ÔN TẬP CHƯƠNG 158

Chương 10 PHÁP LUẬT VỀ TỐ TỤNG 159

10.1 LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ 159

10.1.1 Khái quát chung về Luật tố tụng hình sự 159

10.1.2 Chủ thể của Luật tố tụng hình sự 161

10.1.3 Các giai đoạn tố tụng hình sự 163

10.2 LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ 170

10.2.1 Khái quát chung 170

10.2.2 Chủ thể của Luật tố tụng dân sự 171

10.2.3 Các giai đoạn tố tụng dân sự 172

10.3 CÂU HỎI ÔN TẬP CHƯƠNG 175

Trang 7

LỜI NÓI ĐẦU

Pháp luật đại cương là học phần bắt buộc thuộc phần kiến thức giáo dục đại cương theo Chương trình khung trình độ đại học của Bộ Giáo dục và Đào tạo; đây

là môn khoa học cơ sở trong hệ thống những môn học thuộc các ngành đào tạo tại Trường Đại học Tài chính - Marketing

Bài giảng đặt ra mục tiêu trang bị cho sinh viên những kiến thức chung của khoa học pháp lý về nhà nước và pháp luật, những nội dung chủ yếu của một số ngành luật trong hệ thống pháp luật của Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam;

từ đó, giúp sinh viên hiểu biết về pháp luật nhà nước, có thái độ nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật, ý thức một cách đầy đủ trách nhiệm, nghĩa vụ của mình đối với Nhà nước và xã hội với tư cách một công dân; đồng thời để làm cơ sở có thể tiếp tục nghiên cứu các môn khoa học khác trong chương trình đào tạo

Bài giảng Pháp luật đại cương được biên soạn có sự kế thừa những nội dung cơ bản còn phù hợp trong Tập bài giảng trước đây; là tổng kết kinh nghiệm nghiên cứu và giảng dạy môn học tại Trường Đại học Tài chính - Marketing từ những năm qua và điều chỉnh phù hợp với yêu cầu phát triển của xã hội

Bài giảng Pháp luật đại cương gồm 2 phần: Phần 1 đề cập đến những kiến thức cơ bản của lý luận nhà nước và pháp luật, những vấn đề có tính chất cơ bản về hệ thống pháp luật của Nhà nước Phần 2 là nội dung chủ yếu của một số ngành luật

có vị trí nền tảng trong hệ thống pháp luật của Nhà nước ta

Bài giảng Pháp luật đại cương được chúng tôi biên soạn và biên tập với tinh thần trách nhiệm cao Tuy nhiên, do những nguyên nhân khác nhau nên tài liệu chắc khó tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót Chúng tôi rất mong nhận được sự tham gia đóng góp ý kiến của đồng nghiệp và các bạn để hoàn thiện Bài giảng trong các lần tái bản tiếp theo

Trang 9

PHẦN I

NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NHÀ NƯỚC

1.1 NGUỒN GỐC NHÀ NƯỚC

Nhà nước là một hiện tượng xã hội phức tạp và có nhiều vấn đề được quan tâm Trong đó, nguồn gốc của nhà nước là vấn đề cốt yếu, là khởi điểm để nghiên cứu những vấn đề khác Trong quá trình nghiên cứu về nguồn gốc nhà nước, nhiều nhà tư tưởng đã đưa ra những sự lý giải khác nhau và theo đó, hình thành nhiều quan điểm, học thuyết khác nhau Có thể phân chia các học thuyết về nguồn gốc nhà nước thành hai nhóm: học thuyết phi Mác- xít và quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lê nin

1.1.1 Các học thuyết phi macxit về nguồn gốc nhà nước

a/ Thuyết thần quyền

Thời kỳ cổ, trung đại, các nhà tư tưởng theo học thuyết Thần quyền cho rằng tất cả vạn vật trên thế giới này, trong đó có nhà nước đều do Thượng đế sáng tạo ra Để duy trì trật tự thế giới, Thượng đế đã sáng tạo ra nhà nước và trao cho nhà nước quyền lực siêu nhiên, vô hạn Nhà vua

là do thần thánh sinh ra, là sự hóa thân của thần thánh trên trần thế nên họ được coi là “Thiên tử”, “Thiên hoàng” Nhà nước là sản phẩm của thế giới thần linh, do đó quyền lực nhà nước là vĩnh cữu; vì vậy sự phục tùng quyền lực nhà nước là tất yếu và tuyệt đối như phục tùng thần thánh

Với sự giải thích nhà nước mang màu sắc siêu nhiên như trên, quan điểm này rõ ràng hoàn toàn duy tâm về nguồn gốc, tuyệt đối hóa và thần thánh hóa nhà nước

b/ Thuyết gia trưởng

Cũng xuất hiện từ thời kỳ cổ, trung đại nhưng khác với thuyết Thần quyền, thuyết gia trưởng cho rằng nhà nước ra đời chính là kết quả từ sự phát triển tự nhiên của các gia đình và quyền gia trưởng; nhà nước chính là mô hình của một gia tộc mở rộng và quyền lực nhà nước chính là sự nâng cao của quyền gia trưởng Theo thuyết gia trưởng, trong xã hội mỗi gia đình đều có người gia trưởng mà mọi người trong gia đình đều phải phục tùng Trong quá trình phát triển của mình, các gia đình kết hợp lại thành thị tộc, nhiều thị tộc hợp thành chủng tộc, nhiều chủng tộc hợp thành quốc gia và quyền lực của người gia trưởng cũng theo con đường đó mà trở thành quyền lực nhà nước

Hạt nhân hợp lý của quan điểm này là cho rằng nhà nước xuất hiện là do nhu cầu quản lý

xã hội, bảo vệ lợi ích chung Nhưng điểm hạn chế lớn nhất của quan điểm này là coi sự bất bình đẳng, nô dịch và thống trị con người trong xã hội như một lẽ tự nhiên và không tránh khỏi

c/ Thuyết khế ước xã hội

Trang 10

Thuyết khế ước xã hội ra đời vào khoảng thời gian trước và sau cuộc cách mạng tư sản ở châu Âu với mục đích chống lại sự độc đoán, chuyên quyền của chế độ phong kiến, yêu cầu thiết lập sự bình đẳng cho giai cấp tư sản

Theo các nhà tư tưởng của học thuyết này, nhà nước ra đời trên cơ sở một khế ước (hợp đồng) giữa các thành viên trong xã hội với nhau Sự thỏa thuận xã hội tự nguyện này giữa mọi người trong trạng thái tự nhiên nhằm bảo tồn cuộc sống, tự do và tài sản của họ Khi nhà nước

ra đời trên cơ sở khế ước của xã hội thì nhà nước phải phục tùng xã hội, phục vụ cho lợi ích của tất cả các thành viên của khế ước Nếu nhà nước không hoàn thành bổn phận đó thì các thành viên khế ước sẽ tự thoả thuận huỷ bỏ khế ước và nhà nước đó bị xoá bỏ Đồng thời, họ ký một khế ước mới và kết quả là một nhà nước mới ra đời Nói cách khác, quyền lực nhà nước là thuộc

về nhân dân, do nhân dân ủy quyền cho Do đó, nhà nước sẽ bị thay thế, bãi bỏ khi không bảo đảm được những quyền và lợi ích của nhân dân

Quan điểm này tiến bộ ở chỗ thừa nhận nhà nước không xuất hiện đồng thời cùng loài người mà chỉ ra đời khi xã hội phát triển đến một mức độ nhất định, đó là lúc nhu cầu quản lý xã hội đòi hỏi Song các nhà tư tưởng theo quan điểm này đã bộc lộ hạn chế khi đã bỏ qua nhu cầu thống trị giai cấp trong quá trình lý giải về nguồn gốc của nhà nước, tức bỏ qua bản chất giai cấp của nhà nước Mặt khác, thực tế xã hội loài người chưa từng xuất hiện những hợp đồng có khả năng tạo ra nhà nước với tư cách là bộ máy thống trị và quản lý xã hội

Ngoài ba học thuyết trên còn có một số học thuyết khác về nguồn gốc nhà nước (như Thuyết Bạo lực, Thuyết Tâm lý, Thuyết Siêu nhiên, ) nhưng nhìn chung các quan điểm trên đều không đưa ra được sự lý giải đúng đắn về nguồn gốc và cơ sở tồn tại của nhà nước

1.1.2 Quan điểm macxit về nguồn gốc nhà nước

Những luận điểm quan trọng về sự xuất hiện của nhà nước được Ph.Ăngghen thể hiện

trong tác phẩm “Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu, và của nhà nước”, đây là một

bước phát triển từ bản tóm tắt trong di cảo của Mac có được và những tài liệu, số liệu thực tế từ tác phẩm" Xã hội cổ đại" của Lewis H.Morgan Sau đó được Lênin bổ sung và phát triển trong

tác phẩm “Nhà nước và cách mạng” Theo các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác- Lênin, nhà

nước là một phạm trù lịch sử chứ không phải là một hiện tượng vĩnh cửu Nhà nước có quá trình phát sinh, phát triển và tiêu vong Xã hội loài người đã từng trải qua thời kỳ không có nhà nước, chỉ khi xã hội loài người phát triển đến một giai đoạn nhất định thì nhà nước mới phát sinh Xã hội chưa có nhà nước chính là xã hội thị tộc thuộc thời kỳ cộng sản nguyên thủy

Chế độ cộng sản nguyên thuỷ là hình thái kinh tế xã hội đầu tiên của xã hội loài người Trong xã hội này chưa phân chia thành giai cấp, không có tư hữu và chưa có nhà nước, nhưng những nguyên nhân dẫn đến sự ra đời của nhà nước lại nảy sinh chính từ trong xã hội này Do

đó, việc tìm hiểu cơ sở kinh tế - xã hội và cách thức tổ chức, quản lý trong xã hội cộng sản nguyên thuỷ là cơ sở để tìm hiểu những nguyên nhân dẫn đến sự ra đời nhà nước

a/ Chế độ cộng sản nguyên thuỷ trước khi nhà nước ra đời

+ Cơ sở kinh tế của xã hội cộng sản nguyên thuỷ là chế độ sở hữu chung về tư liệu sản

xuất và sản phẩm lao động Trong thời kỳ này, mọi người đều lao động sản xuất tập thể theo sự phân công tự nhiên giữa các thành viên và sản phẩm lao động làm ra được phân phối theo

Trang 11

nguyên tắc bình quân Điều này làm cho mọi người đều bình đẳng như nhau trong lao động và hưởng thụ; xã hội không có sự phân hoá giàu - nghèo, chưa phân chia thành giai cấp và không

có mâu thuẫn giai cấp

+ Cơ sở xã hội của xã hội cộng sản nguyên thuỷ là cộng đồng người nguyên thuỷ hoàn

toàn tự do, bình đẳng với nhau về quyền và nghĩa vụ, không ai có đặc quyền, đặc lợi Cách thức

tổ chức của xã hội cộng sản nguyên thuỷ còn đơn giản Thị tộc là tế bào cơ sở của xã hội, được

tổ chức theo huyết thống và tự quản thành viên của mình

+ Về tổ chức quyền lực, các thành viên trưởng thành bầu ra ra Hội đồng thị tộc- cơ quan

quyền lực cao nhất của thị tộc Hội đồng thị tộc có quyền quyết định những vấn đề quan trọng trong thị tộc như lao động sản xuất, tổ chức các nghi lễ tôn giáo, Đứng đầu thị tộc là tù trưởng hoặc thủ lĩnh quân sự, được toàn thể thị tộc bầu ra từ những người cao tuổi, có kinh nghiệm và

uy tín nhất trong thị tộc Tù trưởng điều hành công việc bằng uy tín cá nhân và sự ủng hộ của tất

cả các thành viên thị tộc chứ không dựa vào một cơ quan cưỡng chế đặc biệt nào

Cùng với sự phát triển của xã hội, do sự giao lưu về kinh tế, xã hội giữa các thị tộc, trong

đó có sự tác động của chế độ ngoại tộc hôn, các thị tộc đã mở rộng quan hệ với nhau dẫn đến sự hình thành các bào tộc; từ bào tộc hình thành nên bộ lạc rồi liên minh bộ lạc Tuy nhiên, cơ cấu của các tổ chức này cũng giống như thị tộc, cũng có Hội đồng bào tộc, bộ lạc, liên minh bộ lạc

và những người đứng đầu Mỗi lần tổ chức quản lý mới ra đời, quyền lực xã hội lại được tập trung thêm một bước Tuy nhiên, quyền lực đó vẫn hoàn toàn mang tính chất xã hội, hoà nhập với xã hội, vì do tất cả các thành viên xã hội thiết lập và được thực hiện bằng sự tự giác của mọi người

b/ Sự tan rã của xã hội cộng sản nguyên thuỷ và sự ra đời của nhà nước

Do sự phát triển của lực lượng sản xuất, đặc biệt là công cụ lao động, nên hoạt động sản xuất ngày càng đa dạng và đòi hỏi có sự phân công lao động theo hướng chuyên môn hoá Vào thời kỳ cuối của chế độ cộng sản nguyên thuỷ đã diễn ra ba lần phân công lao động mang tính

xã hội:

+ Chăn nuôi tách khỏi ngành trồng trọt;

+ Thủ công nghiệp tách khỏi nông nghiệp;

+ Thương mại ra đời và phát triển;

Sau mỗi lần phân công lao động, xã hội bị phân hoá sâu sắc Hoạt động sản xuất chuyên môn hoá làm cho các ngành kinh tế thời kỳ này phát triển, sản phẩm lao động ngày càng nhiều lên và dẫn đến dư thừa Lúc này trong xã hội nảy sinh hiện tượng một số người có quyền lực công nhiên đi chiếm đoạt số tài sản dư thừa đó Do đó, chế độ tư hữu về tài sản đã dần hình thành

Từ sự thay đổi về kinh tế dẫn đến sự thay đổi về xã hội Bộ phận chuyên đi chiếm đoạt tài sản dần trở thành giai cấp bóc lột, còn những người bị mất tài sản dần trở thành giai cấp bị bóc lột, hai giai cấp này đối kháng với nhau và mâu thuẫn giữa họ ngày càng gay gắt, xã hội đã phân chia thành người giàu, kẻ nghèo

Những yếu tố mới về kinh tế- xã hội làm cho xã hội cộng sản nguyên thuỷ thay đổi nhanh chóng Những tổ chức như thị tộc, bào tộc, bộ lạc, liên minh bộ lạc không đủ khả năng kiểm

Trang 12

soát và quản lý xã hội được nữa, mà cần có một tổ chức mới đứng ra quản lý xã hội, giải quyết các nhu cầu của cộng đồng, dập tắt các cuộc xung đột công khai giữa các giai cấp và giữ cho các cuộc xung đột giai cấp ấy trong vòng “trật tự” Tổ chức đó là Nhà nước

Như vậy, có hai nguyên nhân chính làm cho xã hội cộng sản nguyên thuỷ tan rã, dẫn đến

sự ra đời của nhà nước là sự xuất hiện chế độ tư hữu về tài sản (nguyên nhân kinh tế) và xã hội

bị phân hoá thành các giai cấp đối kháng và mâu thuẫn giữa họ ngày càng gay gắt, không thể điều hoà được ( nguyên nhân xã hội) Viêc xuất hiện của nhà nước là quy luật tất yếu khách quan, nhà nước chính là sản phẩm của những mâu thuẫn giai cấp không thể đều hoà được, là sản phẩm của một xã hội đã phát triển đến một giai đoạn nhất định

Vậy, nhà nước là một tổ chức đặc biệt của quyền lực chính trị, một bộ máy chuyên làm nhiệm vụ cưỡng chế và thực hiện các chức năng quản lý đặc biệt, nhằm duy trì trật tự xã hội, bảo vệ địa vị của giai cấp thống trị trong xã hội

1.2 ĐẶC TRƯNG CỦA NHÀ NƯỚC

Đặc trưng của nhà nước là những dấu hiệu riêng biệt của nhà nước để phân biệt nhà nước với các tổ chức khác Nhà nước có 5 đặc trưng cơ bản sau:

Thứ nhất, nhà nước thiết lập quyền lực công cộng đặc biệt không còn hoà nhập với dân cư

Khác với xã hội cộng sản nguyên thủy- quyền lực do toàn xã hội tổ chức ra, chưa mang tính giai cấp, phục vụ lợi ích chung của cả cộng đồng; khi nhà nước xuất hiện quyền lực công đặc biệt được thiết lập: nhà nước là tổ chức quyền lực chính trị mang tính công cộng, không còn hòa nhập với dân cư nữa; trong đó, chủ thể của quyền lực này là giai cấp thống trị về kinh tế, chính trị và tư tưởng

Để thực hiện quyền lực này và để quản lý xã hội, nhà nước thành lập nên bộ máy các cơ quan nhà nước với đội ngũ cán bộ, công chức chuyên làm nhiệm vụ quản lý và cưỡng chế theo ý chí của nhà nước (như các cơ quan hành chính, quân đội, cảnh sát, nhà tù, tòa án…

Thứ hai, nhà nước phân chia dân cư theo lãnh thổ

Nhà nước ra đời đã thực hiện cách quản lý dân cư không giống với bất kỳ tổ chức nào trước đó trong xã hội: phân chia dân cư thành các đơn vị hành chính, không phụ thuộc vào chính kiến, huyết thống hoặc nghề nghiệp hay giới tính… Việc gắn kết hai yếu tố dân cư và lãnh thổ

để hình thành một quốc gia đảm bảo cho hoạt động quản lý của nhà nước tập trung, thống nhất

và chặt chẽ trên qui mô rộng lớn thông qua việc hình thành và củng cố bộ máy nhà nước hoàn chỉnh từ trung ương đến cơ sở

Thứ ba, nhà nước có chủ quyền quốc gia

Khi nhà nước ra đời cùng với các yếu tố phân chia, quản lý dân cư theo lãnh thổ thành các quốc gia riêng biệt thì cũng có nghĩa là nhà nước có chủ quyền quốc gia Chủ quyền quốc gia là thuộc tính mang nội dung chính trị- pháp lý không thể tách rời của một quốc gia, nó thể hiện ở quyền định đoạt tối cao của nhà nước về đối nội và đối ngoại Theo đó, nhà nước là người đại diện chính thức cho toàn xã hội về mọi phương diện Vì vậy, tôn trọng chủ quyền quốc gia của tất cả các nước trên thế giới là một trong những nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế

Thứ tư, nhà nước ban hành pháp luật và quản lý xã hội bằng pháp luật

Trang 13

Để thực hiện sự thống trị giai cấp và quản lý xã hội, nhà nước nắm lấy việc ban hành ra hệ thống các qui tắc xử sự mang tính bắt buộc chung, và buộc mọi chủ thể trong xã hội thực hiện Các qui tắc xử sự này được gọi là pháp luật Pháp luật điều chỉnh và bảo vệ các quan hệ xã hội quan trọng nhất, phổ biến nhất, điển hình nhất phát triển theo mục tiêu của nhà nước Do đó, pháp luật trở thành công cụ hữu hiệu bậc nhất trong việc quản lý xã hội mà chủ thể duy nhất ban hành là nhà nước Nói cách khác, nhà nước không thể tồn tại nếu thiếu pháp luật và pháp luật chỉ có thể đươc hình thành bằng con đường nhà nước chứ không thể là con đường nào khác

Thứ năm, nhà nước quy định thuế và tổ chức việc thu các loại thuế

Thuế là các khoản đóng góp tài chính của các tổ chức, cá nhân cho nhà nước Nguồn ngân sách nhà nước này đáp ứng nhu cầu chi tiêu của nhà nước gồm duy trì sự tồn tại của bộ máy nhà nước đồng thời thực hiện các hoạt động chung phục vụ toàn xã hội cũng như điều tiết thu nhập

xã hội Nhà nước độc quyền qui định các loại thuế và thu thuế vì nhà nước là tổ chức duy nhất

có tư cách đại biểu chính thức của toàn xã hội để thực hiện quản lý xã hội

1.3 BẢN CHẤT, CHỨC NĂNG CỦA NHÀ NƯỚC

1.3.1 Bản chất nhà nước

Từ góc độ triết học, bản chất của nhà nước được hiểu là những thuộc tính, những tính chất bền vững, cốt lõi tạo nên nội dung, thực chất của nhà nước Tìm hiểu bản chất của nhà nước là tìm hiểu toàn bộ những mối liên hệ, quan hệ và những quy luật bên trong quyết định những đặc điểm và khuynh hướng phát triển cơ bản của nhà nước Bản chất của nhà nước biểu hiện ở hai tính chất cơ bản là tính giai cấp và tính xã hội

Ngoài việc bảo vệ cho lợi ích của giai cấp thống trị, nhà nước còn là tổ chức đại diện chính thức cho lợi ích của toàn xã hội; thực hiện chức năng quản lý, điều tiết mọi phương diện của đời sống xã hội, bảo vệ trật tự ổn định xã hội Nhà nước nào cũng thực hiện chức năng quản

lý xã hội với mức độ, phạm vi khác nhau nhằm củng cố, bảo vệ những giá trị xã hội đạt được, duy trì đời sống cộng đồng và điều chỉnh, điều hoà các nhu cầu, lợi ích giữa các giai cấp, các tầng lớp xã hội khác nhau để giữ gìn sự ổn định xã hội, tránh những mâu thuẫn, xung đột ảnh hưởng xấu đến sự tồn tại của nhà nước

Trang 14

Nhà nước là tổ chức có thể đứng ra giải quyết các vấn đề xã hội mà các cá nhân, tổ chức khác không tự giải quyết được

1.3.2 Chức năng của nhà nước

a/ Khái niệm chức năng của nhà nước:

Chức năng của nhà nước là những phương diện, mặt hoạt động cơ bản của nhà nước nhằm thực hiện những nhiệm vụ đặt ra cho nhà nước

Chức năng và nhiệm vụ của nhà nước có mối quan hệ chặt chẽ, mật thiết với nhau Một nhiệm vụ của nhà nước làm phát sinh một hoặc nhiều chức năng và ngược lại một chức năng của nhà nước có thể nhằm thực hiện một hoặc nhiều nhiệm vụ (những chức năng, những vấn đề

mà nhà nước cần giải quyết)

b/ Phân loại chức năng của nhà nước

Căn cứ vào phạm vi hoạt động của nhà nước, có th ểchia chức năng của nhà nước thành:

+ Chức năng đối nội: là những phương diện hoạt động cơ bản của nhà nước trong nội bộ

Các phương pháp cơ bản để thực hiện chức năng của nhà nước là phương pháp giáo dục, thuyết phục và phương pháp cưỡng chế Tùy thuộc vào bản chất của nhà nước mà phương pháp nào được ưu tiên sử dụng

1.4 KIỂU VÀ HÌNH THỨC NHÀ NƯỚC TRONG LỊCH SỬ

1.4.1 Kiểu nhà nước

Bản chất và chức năng của các nhà nước đều có sự khác biệt trong những giai đoạn lịch sử khác nhau.Để nhận biết sự khác biệt về bản chất và vai trò của mỗi nhà nước trong mỗi giai đoạn lịch sử nhất định, lý luận về nhà nước và pháp luật đưa ra khái niệm "kiểu nhà nước" Kiểu nhà nước là tổng thể các đặc trưng (dấu hiệu) cơ bản của nhà nước, thể hiện bản chất giai cấp, vai trò xã hội và những điều kiện phát triển của nhà nước trong một hình thái kinh t ế-

Trang 15

- Kiểu nhà nước phong kiến;

- Kiểu nhà nước tư sản;

- Kiểu nhà nước xã hội chủ nghĩa

Mỗi kiểu nhà nước tồn tại gắn với một hình thái kinh tế xã hội có giai cấp nhất định và đặc điểm của hình thái kinh tế xã hội quyết định bản chất của nhà nước Do đó, mỗi kiểu nhà nước

có những đặc diểm riêng biệt về bản chất giai cấp, vai trò xã hội, chức năng, Các nhà nước: chủ nô, phong kiến, tư sản là những kiểu nhà nước tồn tại trong chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất, vì vậy đều là những nhà nước phục vụ và bảo vệ cho lợi ích của thiểu số giai cấp thống trị Nhà nước xã hội chủ nghĩa tồn tại dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, do đó phục vụ cho lợi ích của đa số nhân dân lao động trong xã hội Tuy nhiên, trong xu thế hiện nay, nhà nước

tư sản đã có những sự thích nghi và thay đổi nhất định về bản chất, như: quan tâm nhiều đến chính sách xã hội, phúc lợi xã hội và giải quyết các vấn đề xã hội

1.4.2 Hình thức nhà nước

Hình thức nhà nước là một trong những vấn đề cơ bản của lý luận chung về nhà nước Hình thức nhà nước là yếu tố quan trọng quyết định kết quả thống trị chính trị của giai cấp thống trị

ch ức và thực hiện quyền lực nhà nước Hình thức nhà nước là một khái niệm chung được hình

thành từ 3 yếu tố: hình thức chính thể, hình thức cấu trúc nhà nước và chế độ chính trị

a/ Hình thức chính thể

Hình thức chính thể là cách thức tổ chức các cơ quan quyền lực tối cao của nhà nước, cơ cấu, trình tự thành lập và mối liên hệ giữa chúng và mức độ tham gia của nhân dân vào việc thiết lập các cơ quan này Hình thức chính thể có hai dạng cơ bản là chính thể quân chủ và chính thể cộng hoà

+ Chính thể quân chủ là hình thức trong đó quyền lực tối cao của nhà nước tập trung toàn

bộ (hay một phần) vào trong tay người đứng đầu nhà nước theo nguyên tắc thừa kế

Chính thể quân chủ được chia thành quân chủ tuyệt đối và quân chủ hạn chế

+ Chính thể cộng hoà là hình thức chính thể trong đó quyền lực tối cao của nhà nước thuộc về những cơ quan đại diện được bầu ra trong một thời gian nhất định

Chính thể cộng hoà có hai dạng: cộng hoà quý tộc và cộng hoà dân chủ

Cộng hoà dân chủ là hình thức nhà nước phổ biến hiện nay với các biến dạng là cộng hòa đại nghị, cộng hòa tổng thống, cộng hòa lưỡng tính…

Trong mỗi giai đoạn lịch sử cụ thể, do ảnh hưởng của nhiều yếu tố như tương quan giai cấp, truyền thống dân tộc, quan điểm pháp lý, đặc điểm kinh tế - xã hội, Với sự tác động của các yếu tố này đã làm cho hình thức chính thể của mỗi nhà nước có những điểm khác biệt nhau

Vì thế khi xem xét hình thức chính thể trong một quốc gia cụ thể cần phải xem xét nó một cách toàn diện tất cả những yếu tố có ảnh hưởng đến nó

b/ Hình thức cấu trúc nhà nước

Trang 16

Hình thức cấu trúc nhà nước là sự tổ chức nhà nước thành các đơn vị hành chính lãnh thổ, đặc điểm của các mối quan hệ qua lại giữa các bộ phận cấu thành của nó, giữa các cơ quan nhà nước trung ương với cơ quan nhà nước địa phương

Có hai hình thức cấu trúc nhà nước cơ bản là cấu trúc nhà nước đơn nhất và cấu trúc nhà nước liên bang

+ Hình thức cấu trúc nhà nước đơn nhất là hình thức trong đó lãnh thổ của nhà nước là toàn vẹn, thống nhất, nhà nước được chia thành các đơn vị hành chính - lãnh thổ không có chủ quyền quốc gia, có hệ thống các cơ quan nhà nước thống nhất từ trung ương xuống đến địa phương Ví dụ: Trung Quốc, Việt Nam, Campuchia, Lào, Pháp, là những nhà nước đơn nhất

+ Nhà nước liên bang là những nhà nước có từ hai hay nhiều nước thành viên hợp lại

Trong nhà nước liên bang không chỉ có liên bang có dấu hiệu chủ quyền quốc gia mà trong từng bang thành viên đều có dấu hiệu chủ quyền, ví dụ: Ấn Độ và Liên Xô trước đây, Ởnhà nước liên bang có hai hệ thống cơ quan quyền lực và hai hệ thống cơ quan quản lý: một hệ thống chung cho toàn liên bang và một cho từng nhà nước thành viên

c/ Chế độ chính trị

Chế độ chính trị là tổng thể các phương pháp, biện pháp mà các cơ quan nhà nước sử dụng

để thực hiện quyền lực nhà nước

Chế độ hính trị có quan hệ chặt chẽ với bản chất của nhà nước, với nội dung hoạt động của

nó và đời sống chính trị xã hội nói chung

+ Trong chế độ hính trị dân chủ, giai cấp thống trị thường sử dụng chủ yếu phương pháp

giáo dục - thuyết phục Tuy nhiên, phương pháp dân chủ có nhiều dạng khác nhau, phụ thuộc vào bản chất của từng nhà nước cụ thể, như: dân chủ hình thức, dân chủ thực sự, dân chủ giả hiệu, dân chủ rộng rãi, Ví dụ như chế độ dân chủ trong nhà nước tư sản là biểu hiện cao độ của chế độ dân chủ hình thức, còn chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa là dân chủ thực sự và rộng rãi

+ Trong chế độ chính trị phản dân chủ, giai cấp thống trị thường sử dụng các hình thức,

phương pháp mang nặng tính cưỡng chế, đỉnh cao của chế độ này là chế độ độc tài, phátxít Như vậy, hình thức nhà nước là sự hợp nhất của ba yếu tố: hình thức chính thể, hình thức cấu trúc nhà nước và chế độ chính trị Ba yếu tố này có mối quan hệ mật thiết với nhau, tác động qua lại chặt chẽ với nhau, thực hiện quyền lực chính trị của giai cấp thống trị, phản ánh bản chất của nhà nước

1.5 BỘ MÁY NHÀ NƯỚC

1.5.1 Khái nim b máy nhà nưc

Bộ máy nhà nước là hệ thống các cơ quan nhà nước từ trung ương xuống đến địa phương, được tổ chức và hoạt động trên những nguyên tắc chung thống nhất, tạo thành một cơ chế đồng

bộ để thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của nhà nước

Các yếu tố hợp thành bộ máy nhà nước là cơ quan nhà nước Các cơ quan nhà nước rất đa dạng Tuy nhiên, thông thường cơ quan nhà nước bao gồm 3 loại: cơ quan lập pháp, cơ quan hành pháp và cơ quan tư pháp

Trang 17

Tất cả các cơ quan nhà nước tạo thành bộ máy nhà nước nhưng bộ máy nhà nước không phải là tập hợp đơn giản các cơ quan nhà nước mà là hệ thống thống nhất các cơ quan nhà nước Yếu tố tạo nên sự thống nhất trong bộ máy nhà nước là hệ thống các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước

Cơ quan nhà nước là một tổ chức có tính độc lập tương đối về mặt tổ chức, cơ cấu, bao gồm những cán bộ, công chức được giao những quyền hạn nhất định để thực hiện chức năng và nhiệm vụ của cơ quan đó trong phạm vi do pháp luật quy định

Mỗi nhà nước, phụ thuộc vào kiểu nhà nước, hình thức chính thể, nên có cách tổ chức

bộ máy nhà nước khác nhau Bộ máy nhà nước được tổ chức rất đa dạng, phong phú trên thực

tế

1.5.2 Các cơ quan trong bộ máy nhà nước

Do hình thức nhà nước của các quốc gia trên thế giới không giống nhau nên tên gọi và chức năng của các cơ quan trong bộ máy của từng nước không hoàn toàn như nhau, nhưng nhìn chung trong bộ máy các nước có các loại cơ quan sau:

- Nguyên thủ quốc gia: Là người đứng đầu nhà nước, thay mặt nhà nước về đối nội và đối

ngoại Vị trí nguyên thủ quốc gia ở các nhà nước có vị trí, chức năng, quyền lực khác nhau phụ thuộc hình thức chính thể của nhà nước đó Trong nhà nước quân chủ, người đứng đầu nhà nước

là vua (Hoàng đế, quân vương, quốc vương, ); ở nhà nước cộng hòa, là tổng thống (hoặc chủ tịch nước); Chức vị nguyên thủ quốc gia có thể là cá nhân hoặc tập thể (Đoàn chủ tịch Xô viết tối cao Liên Xô theo Hiến Pháp Liên Xô 1977; Hội đồng nhà nước theo Hiến Pháp Việt Nam 1980)

- Hệ thống cơ quan quyền lực: Là hệ thống cơ quan có vị trí và vai trò quan trọng trong

bộ máy nhà nước Các cơ quan này bao gồm các cơ quan trung ương và các cơ quan địa phương Các cơ quan quyền lực ở trung ương thường được tổ chức theo mô hình Nghị viện hay Quốc hội

và có chức năng chủ yếu là lập pháp Bên cạnh các cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương, trong nhiều quốc gia còn có các cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương với tên gọi, cách thức tổ chức và hoạt động khác nhau tùy thuộc vào điều kiện và sự lựa chọn của mỗi quốc gia

- Hệ thống cơ quan quản lý: Hệ thống cơ quan quản lý có cơ cấu tổ chức khác với hệ

thống cơ quan quyền lực, có đội ngũ công chức lớn nhất được phân bổ rộng khắp để thực hiện chức năng quản lý trên phạm vi cả nước Hệ thống cơ quan quản lý cũng được phân chia thành các cơ quan trung ương và các cơ quan địa phương Các cơ quan trung ương thực hiện chức năng quản lý và điều hành chung trên toàn lãnh thổ, các cơ quan quản lý ở địa phương chỉ giới hạn các hoạt động của mình trong giới hạn hành chính - lãnh thổ xác định Căn cứ vào tính chất, mức độ và nội dung thẩm quyền, các cơ quan quản lý nhà nước còn phân định thành cơ quan có thẩm quyền chung, cơ quan có thẩm quyền quản lý ngành và cơ quan có thẩm quyền riêng

- Cơ quan tư pháp: Hệ thống cơ quan tư pháp mà trung tâm là hệ thống Tòa án có vị trí và

vai trò quan trọng trong bộ máy nhà nước, đại diện cho quyền tư pháp của nhà nước Địa vị pháp lý của hệ thống cơ quan tư pháp thường được quy định trong các văn bản pháp luật có giá trị cao như Hiến pháp và các đạo luật về tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp

Trang 18

CÂU HỎI ÔN TẬP CHƯƠNG

1 Chứng minh rằng nhà nước ra đời một cách khách quan?

2 Tại sao nói nhà nước là một tổ chức không giống các tổ chức khác trong xã hội?

3 Phân tích bản chất giai cấp và bản chất xã hội của nhà nước? Mối quan hệ giữa chúng với nhau trong tình hình hiện nay?

4 Những nhận định sau đây đúng hay sai? Vì sao?

5 Nhà nước tồn tại trong mọi chế độ xã hội và tồn tại mãi mãi

6 Trong xã hội xã hội chủ nghĩa, nhà nước không còn bản chất giai cấp

7 Hình thức chính thể của nhà nước Thái Lan là cộng hòa dân chủ

TÀI LIỆU THAM KHẢO CHƯƠNG 1

1 Ph Ănghen, Nguồn gốc của gia đình, của sở hữu tư nhân và của nhà nước,

Mác-Ănghen tuyển tập, tập 6, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1984

2 Nguyễn Minh Đoan, Nghiên cứu lí luận về nhà nước và pháp luật, Nxb CAND,

Hà Nội, 2008

3 Nguyễn Văn Động, Giáo trình lí luận về nhà nước và pháp luật, Nxb Giáo dục,

Hà Nội, 2008

4 Nguyễn Thị Hồi (chủ biên), Những nội dung căn bản của môn học lí luận nhà

nước và pháp luật Nxb Tư pháp, Hà Nội, 2010

5 Viện nghiên cứu nhà nước và pháp luật, Những vấn đề lí luận cơ bản về nhà nước

và pháp luật, Nxb CTQG, Hà Nội, 1995

Trang 19

Chương 2 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬT

2.1 NGUỒN GỐC, SỰ HÌNH THANH, KHÁI NIỆM PHÁP LUẬT

Theo chủ nghĩa Mác Lênin, nhà nước và pháp luật là hai trong nhiều bộ phận của kiến trúc thượng tầng, cùng ra đời và phát triển trong xã hội với những điều kiện nhất định Đó là điều kiện của xã hội phân chia thành giai cấp và đấu tranh giai cấp Nói cách khác, những nguyên nhân làm phát sinh ra nhà nước cũng là những nguyên nhân dẫn đến sự ra đời pháp luật

Trong xã hội cộng sản nguyên thủy, khi xã hội chưa phân chia thành giai cấp, chưa có sự đối lập về lợi ích kinh tế giữa các tập đoàn người thì quan hệ giữa người với người - quan hệ xã hội được điều chỉnh bởi các quy tắc hình thành một cách tự phát, xuất phát từ nhu cầu, lợi ích chung của cả cộng đồng và cũng là lợi ích của mỗi thành viên trong cộng đồng Đó là những quy phạm xã hội, chủ yếu gồm: tập quán, các tín điều tôn giáo và những quy phạm đạo đức Các quy phạm này được đảm bảo thực hiện bằng sự tự giác của mỗi người và bằng uy tín tự nhiên của các thủ lĩnh cộng đồng

Khi chế độ tư hữu ra đời và xã hội phân chia thành giai cấp với những lợi ích đối lập nhau thì các quy phạm này không còn phản ánh lợi ích chung của xã hội nữa Giai cấp nắm trong tay những lực lượng sản xuất chủ yếu, những của cải vật chất chủ yếu của xã hội luôn cố gắng hướng mọi hành vi trong xã hội phù hợp với lợi ích riêng của họ, bảo vệ của cải mà họ có được

Vì vậy, họ tìm cách duy trì, vận dụng những tập quán phù hợp với ý chí và lợi ích của họ, bảo vệ trật tự họ mong muốn, dần dần thay đổi nội dung các tập quán và bằng con đường nhà nước nâng chúng thành các quy phạm pháp luật Ngoài ra, Nhà nước còn ban hành ra các qui phạm pháp luật mới để điều chỉnh các quan hệ xã hội mới phát sinh Đó chính là hai con đường hình thành pháp luật

Như vậy, sự ra đời của pháp luật không chỉ là một hiện tượng khách quan, là kết quả tất yếu của quá trình phát triển kinh tế, xã hội mà còn phản ánh ý chí chủ quan của nhà làm luật - ý chí của giai cấp thống trị trong xã hội

Suy ra, pháp luật là hệ thống các qui tắc xử sự mang tính bắt buộc chung do nhà nước đặt

ra hoặc thừa nhận thể hiện ý chí nhà nước của giai cấp thống trị và nhu cầu xã hội, được nhà nước đảm bảo thực hiện bằng biện pháp cưỡng chế, là nhân tố điều chỉnh các quan hệ xã hội

2.2 BẢN CHẤT, THUỘC TÍNH CỦA PHÁP LUẬT

Trang 20

luật còn thể hiện ở chỗ mục đích của pháp luật là điều chỉnh quan hệ giữa các tầng lớp xã hội, nhằm tạo ra một trật tự xã hội phù hợp với lợi ích của giai cấp thống trị Nghĩa là, pháp luật là công cụ để thực hiện sự thống trị giai cấp (Nhưng ý chí của giai cấp thống trị thể hiện trong pháp luật không phải là ý chí chủ quan của một người hay một nhóm người thống trị trong xã hội mà xét đến cùng là do các lợi ích kinh tế khách quan của giai cấp đó, do các quan hệ sản xuất khách quan mà giai cấp đó là đại diện quyết định)

Bản chất giai cấp tồn tại ở bất kỳ kiểu pháp luật nào, nhưng mỗi kiểu pháp luật lại có bản chất riêng và có cách biểu hiện riêng Chẳng hạn, nếu như trong xã hội chiếm hữu nô lệ và phong kiến, bản chất giai cấp được thể hiện công khai trong các qui định của pháp luật thì trong

xã hội tư bản, quyền lợi của giai cấp tư sản được bảo vệ tinh vi, khó tìm thấy rõ rệt trong các qui định thực định

Thứ hai, tính xã hội

Tính xã hội của pháp luật thể hiện: Pháp luật là kết quả khái quát hoá các quan hệ xã hội

cơ bản, quan trọng nhất thành những mô hình, khuôn mẫu của hành vi mang tính chuẩn mực, những quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung mà mọi tổ chức, cá nhân phải tuân theo Pháp luật là phương tiện để con người xác lập các quan hệ xã hội, là phương tiện để mô hình hóa cách

xử sự của con người Dưới tác động của các qui phạm pháp luật, con người loại bỏ dần tính tự phát, tiêu cực trong các quan hệ xã hội

Pháp luật được sinh ra để thực hiện nhiệm vụ quản lý xã hội về mọi mặt Do đó, pháp luật phản ánh nguyện vọng và những quan điểm của con người về hành vi xử sự trong cuộc sống Pháp luật là phương tiện có hiệu lực nhất để điều chỉnh những quan hệ cơ bản giữa người với người, các lợi ích, nhu cầu của các giai cấp, tầng lớp xã hội khác nhau; bảo vệ trật tự xã hội và đời sống cộng đồng; điều tiết các quan hệ kinh tế, văn hoá, giáo dục, xã hội, khoa học, công nghệ theo hướng tiến bộ và phát triển

Mặt khác, ngoài việc phản ánh và bảo vệ cho lợi ích của giai cấp thống trị, pháp luật còn thể hiện ý chí và lợi ích của các tầng lớp, giai cấp khác trong xã hội

2.2.2 Thuộc tính của pháp luật

Thuộc tính của pháp luật là những đặc diểm, tính chất riêng có của pháp luật mà các quy phạm xã hội khác (như đạo đức, tập quán, tín điều tôn giáo, quy tắc của các tổ chức chính trị- xã hội) không có So với các qui phạm xã hội khác, pháp luật có những ưu thế vượt trội nhờ các thuộc tính sau đây:

Thứ nhất, tính qui phạm phổ biến

Xét về mặt từ ngữ, “qui phạm” có nghĩa là khuôn mẫu, mô hình Pháp luật có tính qui

phạm nghĩa là pháp luật là khuôn mẫu, chuẩn mực cho hành vi xử sự của con người đã được xác định cụ thể Trong giới hạn cần thiết mà nhà nước qui định bằng pháp luật, cách xử sự của các chủ thể được coi là hợp pháp Không những thế, so với các qui phạm xã hội khác, pháp luật có tính phổ biến hơn, rộng khắp hơn Pháp luật điều chỉnh những quan hệ xã hội cơ bản, phổ biến, điển hình, tác động đến mọi cá nhân, tổ chức trong những hoàn cảnh mà nó đã dự liệu Xét về mặt nguyên tắc, pháp luật có thể điều chỉnh bất kỳ quan hệ xã hội nào, ảnh hưởng đến mọi đối tượng không giống nhau với cùng một mức độ tác động

Trang 21

Các quy phạm pháp luật được áp dụng nhiều lần trên lãnh thổ và theo thời gian Việc áp dụng những qui phạm này chỉ bị đình chỉ khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền hủy bỏ, bãi bỏ; sửa đổi, bổ sung hay thời hạn các qui phạm đã hết

Thứ hai, tính xác định và chặt chẽ về hình thức

Hình thức của pháp luật nói chung được hiểu là cách thức mà giai cấp thống trị sử dụng để thể hiện ý chí của giai cấp mình thành pháp luật Pháp luật có tính xác định về hình thức có nghĩa là pháp luật có hình thức tồn tại Thực vậy, trong lịch sử pháp lý, có 3 loại hình thức pháp luật:

+ Tập quán pháp: Là hình thức nhà nước thừa nhận một số tập quán đã lưu truyền trong

xã hội, phù hợp với lợi ích của giai cấp thống trị, nâng chúng lên thành những quy tắc xử sự chung được nhà nước bảo đảm thực hiện Đây là hình thức pháp luật xuất hiện sớm nhất và được sử dụng một cách phổ biến ở các nhà nước chủ nô và phong kiến và hiện nay vẫn được sử dụng ở một số nước

+ Tiền lệ pháp: Là hình thức nhà nước thừa nhận các quy định của các cơ quan hành

chính hoặc xét xử giải quyết những vụ việc cụ thể để áp dụng đối với các vụ việc tương tự Hình thức này đã được sử dụng trong các nhà nước chủ nô, được sử dụng rộng rãi trong các nhà nước phong kiến và hiện nay vẫn chiếm vị trí quan trọng trong pháp luật tư sản đặc biệt là ở các nước thuộc hệ thống pháp luật Anglo - Saxon (nước Anh, Mỹ…)

+ Văn bản qui phạm pháp luật: Là văn bản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành

trong đó quy định những quy tắc xử sự chung được áp dụng nhiều lần trong đời sống xã hội Văn bản quy phạm pháp luật là hình thức pháp luật tiến bộ nhất, nó có khả năng phản ánh rõ nét nhất nội dung và các dấu hiệu thuộc bản chất của pháp luật, tức là phản ánh rõ tính giai cấp, tính quy phạm phổ biến, tính xác định chặt chẽ về mặt hình thức và có hiệu lực cao trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội

Tính xác định và chặt chẽ về hình thức của pháp luật còn thể hiện ở việc pháp luật được ban hành theo thủ tục chặt chẽ, thẩm quyền hợp pháp, nội dung rõ ràng, chặt chẽ và chính xác trong mọi điều khoản, mọi văn bản quy phạm pháp luật và trong toàn bộ hệ thống văn bản qui phạm pháp luật nói chung Văn bản pháp luật phải được viết bằng lời văn rõ ràng, ngắn gọn, dễ hiểu, chính xác và một nghĩa Khi thể hiện nội dung quy phạm pháp luật, không được có cách viết sử dụng các từ " vân vân", các dấu " "

Thứ ba, tính cưỡng chế và đảm bảo thực hiện bằng Nhà nước

Pháp luật được hình thành và phát triển bằng con đường nhà nước và được đảm bảo bằng nhà nước Điều này thể hiện ở chỗ, nhà nước không những đảm bảo tính hợp lý về nội dung của pháp luật mà còn là chủ thể đảm bảo cho pháp luật được thực hiện trong thực tế đời sống bằng quyền lực của mình

Nhà nước trao cho các quy phạm pháp luật tính quyền lực bắt buộc đối với mọi cơ quan,

tổ chức và công dân và sử dụng các biện pháp đảm bảo về kinh tế, tư tưởng, phương diện tổ chức và cả hệ thống các biện pháp cưỡng chế nhà nước để cho pháp luật được thực hiện hiệu quả

Trang 22

2.3 CHỨC NĂNG VÀ VAI TRÒ CỦA PHÁP LUẬT

2.3.1 Chức năng của pháp luật

Chức năng của pháp luật là những phương diện, những mặt hoạt động chủ yếu của pháp luật thể hiện bản chất giai cấp và giá trị xã hội của pháp luật Pháp luật có ba chức năng chính: chức năng điều chỉnh, chức năng bảo vệ, chức năng giáo dục

Thứ nhất, chức năng điều chỉnh

Pháp luật có chức năng điều chỉnh các quan hệ xã hội, đây là chức năng thể hiện vai trò và giá trị xã hội của pháp luật Đối tượng điều chỉnh của pháp luật là các quan hệ xã hội quan trọng nhất đã được Nhà nước sắp xếp tổ chức theo một trật tự, qui tắc nhất định

Sự điều chỉnh của pháp luật đối với các quan hệ xã hội được thực hiện bằng hai cách: + Pháp luật ghi nhận, củng cố, " trật tự hoá" những quan hệ xã hội cơ bản, quan trọng + Pháp luật tạo lập "hành lang pháp lý" đảm bảo cho các quan hệ xã hội phát triển trong trật tự và ổn định theo mục tiêu mong muốn

Chức năng điều chỉnh của pháp luật được thực hiện thông qua các hình thức: cho phép thực hiện những hành vi trong phạm vi nhất định; bắt buộc phải thực hiện những hành vi nhất định; cấm đoán những hành vi nhất định

Với những cách thức điều chỉnh trên, pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội theo hai hướng: thứ nhất pháp luật ghi nhận, tạo điều kiện cho các quan hệ xã hội tích cực phát triển; thứ hai, pháp luật có thể hạn chế, loại bỏ những quan hệ xã hội tiêu cực

Thứ hai, chức năng bảo vệ

Pháp luật ghi nhận và củng cố những quan hệ xã hội cơ bàn, đồng thời cũng có chức năng bảo vệ những quan hệ này trước các vi phạm và loại trừ những quan hệ xã hội lạc hậu, không phù hợp với bản chất, định hướng của nhà nước bằng việc quy định các biệp pháp xử lý đối với

vi phạm pháp luật Chức năng bảo vệ của pháp luật đảm bảo cho các quan hệ xã hội đã được xác lập trong sự quản lý của nhà nước không bị xâm hại bất luận từ hướng nào

Thứ ba, chức năng giáo dục

Chức năng giáo dục của pháp luật được thể hiện thông qua sự tác động của pháp luật lên ý thức, tâm lý của con người, làm cho con người nhận thức về cách xử sự đúng sai, hướng cho con người hành động phù hợp với cách xử sự ghi nhận trong quy phạm pháp luật

Sự tồn tại của hệ thống pháp luật tự bản thân nó đã có ý nghĩa giáo dục, tác động đến nhận thức và tư tưởng của mỗi thành viên trong xã hội Bởi lẽ, những qui phạm pháp luật được đặt ra luôn xác định quyền và nghĩa vụ của các chủ thể, là khuôn mẫu cho hành vi xử sự của mỗi chủ thể khi ở trong tình huống đã được dự kiến Đồng thời, ý nghĩa giáo dục còn thể hiện ở việc pháp luật qui định hình thức và mức độ khen thưởng, khuyến khích vật chất và tinh thần, xử lý

và trừng trị nghiêm khắc đối với người vi phạm

2.3.2 Vai trò của pháp luật

- Pháp luật là phương tiện để thể chế hóa đường lối của giai cấp cầm quyền (giai cấp

Trang 23

thống trị)

Để thực hiện sự lãnh đạo của mình đối với toàn xã hội, giai cấp nắm quyền lực nhà nước

sử dụng nhiều hình thức và phương pháp khác nhau, trong đó pháp luật có vai trò đặc biệt quan trọng Tuy nhiên, giai cấp cầm quyền không phải là người trực tiếp ban hành pháp luật và sử dụng pháp luật mà phải thông qua nhà nước Pháp luật do nhà bước ban hành, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị Vì vậy, giai cấp thống trị (giai cấp cầm quyền) sử dụng pháp luật để ghi nhận, tuyên bố và bảo vệ ý chí, lợi ích của giai cấp mình

- Pháp luật là phương tiện chủ yếu để nhà nước quản lý xã hội

Để thực hiện chức năng quản lý các mặt của đời sống xã hội, nhà nước sử dụng nhiều phương tiện và biện pháp khác nhau, trong đó, pháp luật được xem là phương tiện chủ yếu và quan trọng nhất Bởi lẽ, so với các phương tiện quản lý xã hội khác, pháp luật có những ưu thế vượt trội (thể hiện qua các thuộc tính) mà các phương tiện khác không có

- Pháp luật là phương tiện bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của công dân

Tuy biểu hiện ở mức độ khác nhau, pháp luật của hầu hết các nhà nước đều quy định các quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân và các biện pháp bảo đảm để công dân có thể thực hiện các quyền và lợi ích chính đáng của mình Để đảm bảo các quyền và lợi ích của công dân, ngoài việc quy định các quyền và nghĩa vụ đối với công dân, pháp luật còn quy định chức năng, nhiệm

vụ và trách nhiệm của các cơ quan nhà nước khi thực hiện hoạt động quản lý xã hội, bảo vệ lợi ích hợp pháp của công dân

CÂU HỎI ÔN TẬP CHƯƠNG

1 Tại sao nói pháp luật và nhà nước có cùng nguồn gốc ra đời?

2 Chứng minh rằng pháp luật là công cụ quản lý xã hội hữu hiệu bậc nhất?

3 Mỗi nhận đinh sau đây đúng hay sai? Giải thích?

a Pháp luật là một qui phạm xã hội đặc biệt

b Pháp luật điều chỉnh mọi quan hệ trong xã hội

c Hình thức pháp luật duy nhất ở Việt Nam là văn bản qui phạm pháp luật

d Một đặc điểm cơ bản của Pháp luật áp dụng những quy tắc giống nhau đối với các đối tượng không giống nhau

e Mọi quan hệ xã hội đều chịu sự điều chỉnh của pháp luật

f Pháp luật là phương tiện mà nhà nước sử dụng để mô hình hóa cách xử sự của con người

g Chức năng điều chỉnh của pháp luật thể hiện ở việc pháp luật tác động đến ý thức của con người, từ đó hướng cho con người lựa chọn cách xử sự phù hợp với quy định của pháp luật

TÀI LIỆU THAM KHẢO CHƯƠNG 2

Trang 24

1 Ph Ănghen, Nguồn gốc của gia đình, của sở hữu tư nhân và của nhà nước,

Mác-Ănghen tuyển tập, tập 6, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1984

2 Nguyễn Minh Đoan, Nghiên cứu lí luận về nhà nước và pháp luật, Nxb CAND, Hà Nội,

5 Nguyễn Thị Hồi (chủ biên), Những nội dung căn bản của môn học lí luận nhà nước và

pháp luật Nxb Tư pháp, Hà Nội, 2010

6 Viện nghiên cứu nhà nước và pháp luật, Những vấn đề lí luận cơ bản về nhà nước và

pháp luật, Nxb CTQG, Hà Nội, 1995

Trang 25

Chương 3 HỆ THỐNG PHÁP LUẬT, QUAN HỆ PHÁP LUẬT

Từ quan niệm hệ thống pháp luật như trên, hệ thống pháp luật được hiểu là một chỉnh thể bao gồm cả cấu trúc bên trong của pháp luật (hệ thống cấu trúc) và hình thức thể hiện ra bên ngoài của pháp luật là hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật (hệ thống nguồn của pháp luật)

3.1.2 Hệ thống cấu trúc của pháp luật

Hệ thống cấu trúc là chỉnh thể gồm tất cả các qui định pháp luật có sự liên kết và thống nhất nội tại với nhau, được phân định thành các bộ phận nhỏ hơn, phù hợp với tính chất và đặc điểm của các quan hệ xã hội mà chúng điều chính Hệ thống cấu trúc bao gồm ba thành tố là quy phạm pháp luật, chế định pháp luật, ngành luật Quy phạm pháp luật là thành tố nhỏ nhất trong

hệ thống cấu trúc

a Quy phạm pháp luật

Khái niệm, đặc điểm của quy phạm pháp luật

Quy phạm pháp luật là quy tắc xử sự chung, có hiệu lực bắt buộc chung, được áp dụng lặp

đi lặp lại nhiều lần đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phạm vi cả nước hoặc đơn vị hành chính nhất định do cơ quan nhà nước hoặc người có thẩm quyền qui định trong Luật này ban hành và được Nhà nước bảo đảm thực hiện (Điều 1 Luật Ban hành VBQPPL 2015)

- Quy phạm pháp luật có những đặc điểm sau :

+ Quy phạm pháp luật trước hết là một loại quy phạm xã hội dùng để điều chỉnh hành vi

của con người, hoạt động của tổ chức Vì vậy, nó mang đầy đủ những đặc tính chung vốn có

của quy phạm xã hội như là quy tắc xử sự chung, là khuôn mẫu để mọi người làm theo, là tiêu chuẩn để xác định giới hạn và đánh giá hành vi của con người Ngoài những đặc tính chung của quy phạm xã hội, quy phạm pháp luật còn có những đặc tính riêng:

+ Quy phạm pháp luật là quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung

Tính bắt buộc chung của quy phạm pháp luật được hiểu là bắt buộc đối với mọi tổ chức,

cá nhân nằm trong hoàn cảnh, điều kiện mà quy phạm pháp luật đã dự liệu Các tổ chức và cả nhân chịu sự điều chỉnh của QPPL bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt chức vụ, nghề

Trang 26

nghiệp, điều kiện kinh tế, dân tộc, giới tính… Nếu trong quá trình thực hiện pháp luật mà có ngoại lệ thì ngoại lệ đó phải được qui định trong pháp luật

+ Quy phạm pháp luật chỉ do nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện

Các quy phạm pháp luật phải được ban hành, thừa nhận hoặc phê chuẩn bởi các cơ quan, chức danh nhà nước có thẩm quyền theo một trình tự, thủ tục mà pháp luật quy định Bên cạnh

đó, nhà nước cũng thành lập một hệ thống cơ quan có chức năng kiểm tra, giám sát, cưỡng chế để đảm bảo cho các quy phạm pháp pháp luật được thực hiện trên thực tế một cách chính xác, triệt để

+ Nội dung của mỗi quy phạm đều chứa đựng sự cấm đoán, cho phép hay bắt buộc Nội dung của mỗi quy phạm pháp luật đều chỉ ra quyền và nghĩa vụ pháp lý của các bên tham gia vào quan hệ xã hội mà quy phạm pháp luật đó điều chỉnh, nghĩa là khi tham gia vào quan hệ xã hội, các bên sẽ biết được hành vi nào mình được thực hiện và thực hiện hành vi đó như thế nào? Hành vi nào bị pháp luật cấm? Hành vi nào bắt buộc phải thực hiện?

Cơ cấu của quy phạm pháp luật được hiểu là các bộ phận hợp thành quy phạm pháp luật Các bộ phận hợp thành của quy phạm pháp luật bao gồm: giả định, quy định và chế tài

- Giả định:

Giả định là một bộ phận nêu lên những hoàn cảnh, điều kiện có thể xảy ra trong cuộc sống

và cá nhân, tổ chức ở trong những hoàn cảnh, điều kiện Nói cách khác, giả định là bộ phận nêu lên điều kiện, hoàn cảnh và chủ thể (cá nhân, tổ chức) chịu sự tác động của qui phạm pháp luật

Bộ phận giả định trả lời cho câu hỏi: tổ chức, cá nhân nào, khi nào, trong những hoàn cảnh, điều kiện nào

Ví dụ : “Chủ sở hữu, người chiếm hữu, người được giao quản lý phải bồi thường thiệt hại

do cây cối gây ra” ( Điều 604- BLDS 2015: Bồi thường thiệt hại do cây cối gây ra) Trong ví dụ

này, hoàn cảnh, điều kiện là cây cối gây ra thiệt hại; tổ chức, cá nhân chịu sự tác động của QPPL

là chủ sở hữu, người chiếm hữu, người được giao quản lý cây cối đã gây ra thiệt hại

Giả định của quy phạm pháp luật có thể đơn giản (chỉ nêu lên một hoàn cảnh, điều kiện)

như ví dụ trên ; hoặc có thể phức tạp (nêu lên nhiều hoàn cảnh, điều kiện) như “Người nào sản

xuất, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng hoặc mua bán trái phép chất cháy, chất độc, thì bị phạt tù từ

01 năm đến 05 năm” (Điều 311- Luật số 12/2017/QH 14 sửa đổi, bổ sung một số điều của

BLHS số 100/2015/QH13: Tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng hoặc mua bán trái phép chất cháy, chất độc)

- Quy định:

Quy định là bộ phận nêu cách xử sự của chủ thể ở vào hoàn cảnh, điều kiện đã nêu trong

bộ phận giả định của quy phạm pháp luật Nội dung phần qui định thực chất là xác định quyền

và nghĩa vụ của chủ thể khi gặp những điều kiện, hoàn cảnh được nêu trong phần giả định Bộ phận quy định trả lời câu hỏi: chủ thể được làm gì, hoặc không được làm gì, hay phải làm gì, làm như thế nào

Ví dụ: “Trường hợp phải thực hiện nghĩa vụ sau khi tặng cho mà bên được tặng cho không

Trang 27

thực hiện thì bên tặng cho có quyền đòi lại tài sản và yêu cầu bồi thường thiệt hại” (Khoản 3 Điều 462 BLDS 2015: Hợp đồng tặng cho có điều kiện) Trong ví dụ này, bộ phận quy định là

“có quyền đòi lại tài sản và yêu cầu bồi thường thiệt hại”

Cách xử sự được nêu ở bộ phận quy định của quy phạm pháp luật có thể dứt khoát (chỉ

nêu một cách xử sự và chủ thể phải xử sự theo mà không có sự lựa chọn), như phải bồi thường

thiệt hại do cây cối gây ra như ví dụ trên; hoặc không dứt khoát (nêu ra hai hoặc nhiều cách xử

sự mà chủ thể có thể lựa chọn), ví dụ như cách thể hiện bộ phận qui định trong Khoản 1 Điều

616 BLDS 2015: Người quản lý di sản: “Người quản lý di sản là người được chỉ định trong di

chúc hoặc do những người thừa kế thỏa thuận cử ra.”, bộ phận qui định (phần gạch chân) nêu

ra hai cách xử sự

- Chế tài

Chế tài là một bộ phận nêu lên những biện pháp tác động mà nhà nước dự kiến áp dụng đối với các chủ thể vi phạm pháp luật Bộ phận chế tài trả lời cho câu hỏi: chủ thể sẽ phải gánh chịu hậu quả gì do không thực hiện cách xử sự được nêu trong bộ phận qui định khi rơi vào điều kiện, tình huống đã được mô tả ở bộ phận giả định Do vậy, chế tài là biện pháp vừa có tính chất răn đe, phòng ngừa vừa có tính chất trừng trị đối với chủ thể vi phạm pháp luật

Trong ví dụ “Người nào sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng hoặc mua bán trái phép chất cháy, chất độc, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm”đã nêu trên thì bộ phận chế tài là “thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm”

Cách thể hiện bộ phận chế tài khác đa dạng nhưng thông thường là: i) qui định biện pháp

cụ thể hoặc mức độ cụ thể của biện pháp tác dụng đối với hành vi có tính chất mức độ cụ thể; ii) xác định nhiều biện pháp khác nhau cùng với mức thấp nhất và mức cao nhất đối với loại hành

áp dụng đối với các loại vi phạm pháp luật khác nhau với những điều kiện và hoàn cảnh khác nhau, trong đó chế tài hình sự (hình phạt) là nghiêm khắc nhất

Như vậy, về mặt lý thuyết, một QPPL đầy đủ sẽ có 3 bộ phận: giả định, qui định, chế tài Tuy nhiên, có rất ít qui phạm pháp luật lại chứa đựng đủ cả 3 bộ phận này Sở dĩ như vậy là do

có nhiều nguyên nhân khác nhau ảnh hưởng đến việc trình bày QPPL trong các VBQPPL Chẳng hạn, xuất phát từ sự phân chia hệ thống pháp luật thành các ngành luật, nhà làm luật có thể không thể hiện đủ 3 bộ phận trong một qui phạm pháp luật Cụ thể:

+ QPPL có thể chỉ có bộ phận giả định và bộ phận qui định (vì bộ phận chế tài được xây dựng thành chương riêng mang tên “Khen thưởng và kỷ luật” hoặc đưa vào một văn bản riêng biệt như Bộ luật hình sự hay Nghị định xử phạt vi phạm hành chính trong các lĩnh vực) Ví dụ: Khoản 2 Điều 71 Luật HN và GĐ năm 2014: Nghĩa vụ và quyền chăm sóc, nuôi dưỡng (Mục 1:

Quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ và con) là qui phạm pháp luật không có bộ phận chế tài: “Con

có nghĩa vụ và quyền chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ, đặc biệt khi cha mẹ mất năng lực hành vi

Trang 28

dân sự, ốm đau, già yếu, khuyết tật; trường hợp gia đình có nhiều con thì các con phải cùng nhau chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ.”

+ QPPL ẩn đi bộ phận qui định Ví dụ: Qui phạm pháp luật “Người nào nhằm chống chính quyền nhân dân mà phá hoại việc thực hiện các chính sách kinh tế - xã hội, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm” (Khoản 1 Điều 115 BLHS năm 2015: Tội phá hoại việc thực hiện các chính sách kinh tế- xã hội) có hai bộ phận là giả định và chế tài; bộ phận qui định được ẩn đi, không được hiển thị ra bằng câu chữ, nhưng người đọc vẫn có thể hiểu rằng cách xử sự phù hợp với qui phạm pháp luật này là không được nhằm chống chính quyền nhân dân mà phá hoại việc thực hiện các chính sách kinh tế - xã hội

Hoặc vì lý do để đảm bảo cho các QPPL đơn giản, dễ hiểu và dễ áp dụng, các nhà làm luật

không trình bày QPPL theo cách thông thường: giả định trước rồi đến qui định và cuối cùng là

bộ phận chế tài Trái lại, trật tự các bộ phận của QPPL trong nhiều trường hợp được trình bày rất mềm dẻo và linh hoạt Chẳng hạn, bộ phận chế tài hoặc bộ phận qui định lại được đặt trước bộ

phận giả định; hoặc có sự đan xen giữa các bộ phận trong điều luật Ví dụ: “Bên thuê có thể tu

sửa và làm tăng giá trị tài sản thuê, nếu được bên cho thuê đồng ý và có quyền yêu cầu bên cho thuê thanh toán chi phí hợp lý”(Khoản 2 Điều 479 BLDS 2015 Nghĩa vụ bảo quản tài sản

thuê)

b Chế định pháp luật

Chế định pháp luật là thành tố có cấp độ lớn hơn QPPL Chế định pháp luật là hệ thống được cấu trúc từ nhóm các QPPL điều chỉnh một nhóm các quan hệ xã hội có liên quan mật thiết với nhau thuộc cùng một loại Tính chất chung của mỗi nhóm quan hệ xã hội đòi hỏi phải có một nhóm QPPL tương ứng để điều chỉnh, vì thế mà hình thành chế định pháp luật Do đó, việc xác định đúng tính chất nhóm của quan hệ xã hội là vấn đề có ý nghĩa quan trọng trong việc hình thành chế định pháp luật

Chế định pháp luật được hiểu là tập hợp một nhóm quy phạm pháp luật có đặc điểm giống nhau để điều chỉnh nhóm quan hệ xã hội tương ứng

Ví dụ: Chế định kết hôn trong Luật HN và GĐ gồm nhiều QPPL như: QPPL về điều kiện kết hôn, QPPL về đăng ký kết hôn, QPPL về kết hôn trái pháp luật, QPPL về xử lý việc kết hôn trái pháp luật, QPPL về giải quyết hậu quả của việc nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng

mà không đăng ký kết hôn,…Các QPPL này có một điểm chung là cùng điều chỉnh một nhóm các quan hệ xã hội có cùng tính chất: liên quan đến vấn đề kết hôn

c Ngành luật

- Khái niệm

Ngành luật là hệ thống quy phạm pháp luật có đặc tính chung để điều chỉnh các quan hệ

xã hội cùng loại trong một lĩnh vực nhất định của đời sống xã hội

Ngành luật có cấp độ lớn hơn chế định Cũng giống như chế định, ngành luật là hệ thống được cấu trúc từ một loại qui phạm pháp luật điều chỉnh một nhóm các quan hệ xã hội có chung tính chất Nhưng nhóm quan hệ xã hội là đối tượng điều chỉnh của ngành luật rộng lớn hơn nhóm quan hệ xã hội do chế định điều chỉnh Ví dụ, ngành luật HN và GĐ có đối tượng điều chỉnh là nhiều nhóm quan hệ xã hội như: kết hôn, quan hệ giữa vợ và chồng, quan hệ giữa cha

Trang 29

mẹ và con, chấm dứt hôn nhân, cấp dưỡng…chứ không chỉ là nhóm quan hệ (xã hội) kết hôn như chế định kết hôn Lĩnh vực xã hội mà ngành luật HN và GĐ điều chỉnh là quan hệ tài sản và quan hệ nhân thân giữa các thành viên trong gia đình; còn chế định kết hôn chỉ điều chỉnh một loại quan hệ xã hội (loại quan hệ liên quan đến kết hôn) trong lĩnh vực này mà thôi

- Căn cứ phân chia ngành luật

Trong khoa học pháp lý để phân chia thành các ngành luật, người ta dựa trên hai căn cứ là đối tượng điều chỉnh và phương pháp điều chỉnh của ngành luật đó

Đối tượng điều chỉnh của một ngành luật: Là những quan hệ xã hội có đặc điểm cùng loại

thuộc một lĩnh vực đời sống xã hội được ngành luật đó tác động, chi phối Ví dụ: đối tượng điều chỉnh của ngành luật hình sự là quan hệ giữa nhà nước và người phạm tội, của ngành luật lao động là quan hệ lao động và quan hệ có liên quan trực tiếp đến quan hệ lao động, của ngành luật dân sự là quan hệ tài sản và quan hệ nhân thân giữa các cá nhân và tổ chức trong xã hội, của ngành luật kinh tế là quan hệ giữa các chủ thể kinh doanh với nhau và giữa chủ thể kinh doanh với cơ quan quản lý nhà nước về kinh tế…

Phương pháp điều chỉnh của một ngành luật: Là cách thức mà nhà nước sử dụng để tác

động pháp luật vào các quan hệ xã hội mà ngành luật đó điều chỉnh

Có hai phương pháp điều chỉnh điển hình thường được sử dụng là phương pháp thỏa thuận bình đẳng và phương pháp quyền lực phục tùng

+ Phương pháp thỏa thuận bình đẳng: Là phương pháp mà ở đó các bên tham gia quan hệ

có sự bình đẳng về ý chí, về quyền và nghĩa vụ với nhau Phương pháp thỏa thuận bình đẳng là phương pháp điều chỉnh chủ yếu của các ngành luật như Luật Dân sự, Luật Kinh tế

+ Phương pháp mệnh lệnh (quyền lực - phục tùng): Là phương pháp mà ở đó các bên

tham gia quan hệ không có sự bình đẳng về quyền và nghĩa vụ, cụ thể một bên có quyền ra mệnh lệnh, còn bên kia bắt buộc phải phục tùng, thi hành mệnh lệnh đó Phương pháp mệnh lệnh là phương pháp điều chỉnh chủ yếu của các ngành luật như Luật Hình sự, Luật Hành chính Phương pháp điều chỉnh của ngành luật phụ thuộc vào nội dung, tính chất của các quan hệ

xã hội thuộc đối tượng điều chỉnh của ngành luật đó và ý chí của những nhà làm luật

Trên thực tế việc xác định đối tượng điều chỉnh và phương pháp điều chỉnh để phân chia thành các ngành luật là rất khó khăn và phức tạp vì không dễ dàng để tìm ra sự tương đồng giữa ngành luật với từng loại quan hệ xã hội cần điều chỉnh

- Các ngành luật trong hệ thống pháp luật Việt Nam

Hệ thống pháp luật Việt Nam hiện nay có các ngành luật cơ bản sau đây:

Luật Hiến pháp (Luật Nhà nước) là một ngành luật chủ đạo trong hệ thống pháp luật Việt Nam, bao gồm các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội cơ bản nhất về tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước, về chế độ chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội, quyền và nghĩa vụ

cơ bản của công dân

Luật Hành chính bao gồm các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội hình thành trong hoạt động quản lý nhà nước

Luật Tài chính bao gồm các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh

Trang 30

trong quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng quỹ tiền tệ của Nhà nước

Luật Ngân hàng bao gồm các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong hoạt động tiền tệ, tín dụng và ngân hàng

Luật đất đai bao gồm các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực quản lý và sử dụng đất đai, trong đó đất đai thuộc sở hữu toàn dân do nhà nước làm đại diện chủ sở hữu

Luật Dân sự bao gồm các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ tài sản và các quan

hệ nhân thân

Luật Lao động bao gồm các quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ lao động giữa người lao động làm công ăn lương với người sử dụng lao động và các quan hệ xã hội liên quan đến quan hệ lao động

Luật Hôn nhân và gia đình bao gồm các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ hôn nhân - gia đình về nhân thân và tài sản

Luật Hình sự bao gồm các quy phạm pháp luật quy định hành vi nào bị coi là tội phạm và hình phạt đối với người có hành vi phạm tội

Luật tố tụng Hình sự bao gồm các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự

Luật tố tụng Dân sự bao gồm các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự (vụ án dân sự, việc dân sự)

Luật Kinh tế bao gồm các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình tổ chức, quản lý, hoạt động kinh doanh giữa các doanh nghiệp với nhau, giữa doanh nghiệp với các cơ quan quản lý nhà nước về kinh tế

Bên cạnh các ngành luật trong nước trên, để xây dựng và thực hiện pháp luật không thể không kể đến bộ phận pháp luật quốc tế bao gồm hai bộ phận là công pháp quốc tế và tư pháp quốc tế

+ Công pháp quốc tế bao gồm các quy phạm pháp luật được các quốc gia và các chủ thể

khác của Luật pháp quốc tế xây dựng trên cơ sở thỏa thuận tự nguyện và bình đẳng nhằm điều chỉnh các quan hệ về chính trị, khoa học - kỹ thuật, văn hóa giữa các quốc gia với nhau hoặc các chủ thể khác của luật pháp quốc tế

+ Tư pháp quốc tế bao gồm các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ dân sự, hôn

nhân và gia đình, kinh tế, lao động giữa các công dân, các tổ chức của các nước khác nhau

3.1.3 Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật

a/ Khái niệm, đặc điểm văn bản quy phạm pháp luật

Văn bản quy phạm pháp luật là văn bản chứa đựng qui phạm pháp luật, được ban hành theo thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục được quy định trong Luật này (Điều 2 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2015)

Văn bản quy phạm pháp luật có những đặc điểm sau :

Trang 31

- Do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành theo trình tự, thủ tục, hình thức được pháp luật quy định

Các cơ quan nhà nước được phép ban hành các văn bản dưới nhiều hình thức khác nhau nhưng không phải mọi văn bản do các cơ quan nhà nước ban hành đều là văn bản quy phạm pháp luật, mà chỉ những văn bản nào được các cơ quan nhà nước có thẩm quyền (các cơ quan này được pháp luật quy định) ban hành theo trình tự, thủ tục, hình thức theo luật định mới trở thành văn bản quy phạm pháp luật Nói cách khác, văn bản dù có chứa qui phạm pháp luật nhưng được ban hành không đúng thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục được quy định trong Luật này thì không phải là văn bản qui phạm pháp luật

- Chứa đựng các quy tắc xử sự chung (các quy phạm pháp luật)

Văn bản qui phạm pháp luật là hình thức của pháp luật Do đó, VBQPPL bắt buộc phải chứa qui phạm pháp luật Những văn bản mặc dù có ý nghĩa pháp lý nhưng không chứa đựng các quy tắc xử sự chung thì cũng không phải là văn bản quy phạm pháp luật Ví dụ: lời kêu gọi, lời hiệu triệu, thông báo, tuyên bố của nhà nước…

- Áp dụng nhiều lần trong đời sống và trong mọi trường hợp khi có sự kiện pháp lý xảy ra Pháp luật có tính qui phạm phổ biến Một trong những biểu hiện của thuộc tính này của pháp luật là được áp dụng nhiều lần, cho nhiều đối tượng Là một hình thức quan trọng của pháp luật, văn bản qui phạm pháp luật cũng vậy Đặc điểm này cho phép phân biệt văn bản quy phạm pháp luật với các văn bản áp dụng pháp luật hoặc văn bản cá biệt, chỉ áp dụng một lần cho đối tượng cụ thể, đích danh Ví dụ: bản án; quyết định các biệt các loại như: khen thưởng, kỷ luật, luân chuyển, điều động, đề bạt, cách chức,…

- Tên gọi, nội dung và trình tự ban hành các loại văn bản quy phạm pháp luật được quy định cụ thể trong pháp luật

b/ Các loại văn bản quy phạm pháp luật

Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam theo Hiến Pháp 2013, Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2015 và các quy định pháp luật hiện hành bao gồm:

 Hiến pháp

 Bộ luật, luật (sau đây gọi chung là luật), nghị quyết của Quốc hội

 Pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội; nghị quyết liên tịch giữa Ủy ban thường vụ Quốc hội với Đoàn Chủ tịch Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

 Lệnh, quyết định của Chủ tịch nước

 Nghị định của Chính phủ; nghị quyết liên tịch giữa Chính phủ với Đoàn Chủ tịch Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

 Quyết định của Thủ tướng Chính phủ

 Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao

 Thông tư của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao; thông tư của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ; thông tư liên tịch giữa Chánh án Tòa án nhân dân tối cao với Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; thông tư liên tịch giữa Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ với Chánh

Trang 32

án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; quyết định của Tổng Kiểm toán nhà nước

 Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh)

 Quyết định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh

 Văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương ở đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt

 Nghị quyết của Hội đồng nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp huyện)

 Quyết định của Ủy ban nhân dân cấp huyện

 Nghị quyết của Hội đồng nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã)

 Quyết định của Ủy ban nhân dân cấp xã

3.2 QUAN HỆ PHÁP LUẬT

3.2.1 Khái niệm, đặc điểm của quan hệ pháp luật

Quan hệ pháp luật là hình thức pháp lý của quan hệ xã hội, xuất hiện dưới sự tác động của các quy phạm pháp luật, năng lực chủ thể và sự kiện pháp lý, trong đó các bên tham gia quan hệ

có quyền chủ thể và nghĩa vụ pháp lý theo quy định của quy phạm pháp luật, được nhà nước bảo đảm thực hiện bằng các biện pháp tổ chức, cưỡng chế nhà nước

Quan hệ pháp luật có những đặc điểm sau:

- Là quan hệ xã hội mang tính ý chí

Quan hệ pháp luật trước hết phải là quan hệ xã hội (quan hệ giữa người với người), để tồn tại và phát triển buộc con người phải tham gia vào nhiều mối quan hệ đa dạng và phong phú như quan hệ chính trị, quan hệ gia đình, quan hệ đạo đức, quan hệ lao động Đó là các quan hệ xã hội Sự hình thành và phát triển của các quan hệ xã hội do điều kiện sản xuất và sinh hoạt vật chất quyết định Vì vậy, các quan hệ xã hội tồn tại một cách khách quan không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của con người

Ngược lại, quan hệ pháp luật là quan hệ xã hội mang tính ý chí, nghĩa là quan hệ pháp luật xuất hiện do ý chí của con người Tính ý chí của quan hệ pháp luật thể hiện ở chỗ quan hệ pháp luật là dạng quan hệ cụ thể hình thành giữa những chủ thể nhất định Các quan hệ này được hình thành thông qua hành vi có ý chí của các chủ thể Có những quan hệ pháp luật mà sự hình thành đòi hỏi cả hai bên chủ thể đều phải thể hiện ý chí, như quan hệ hợp đồng Cũng có những loại quan hệ pháp luật được hình thành trên cơ sở ý chí nhà nước, như quan hệ pháp luật hình sự Mặt khác, quan hệ pháp luật có tính ý chí là do chúng xuất hiện trên cơ sở các quy phạm pháp luật mà nội dung của các quy phạm pháp luật thể hiện ý chí của Nhà nước

- Xuất hiện trên cơ sở quy phạm pháp luật

Quan hệ pháp luật là quan hệ xã hội được qui phạm pháp luật điều chỉnh Có những quan

hệ xã hội chỉ mãi là quan hệ xã hội vì không được pháp luật tác động đến, ví dụ như quan hệ tình yêu Quan hệ pháp luật chỉ xuất hiện trên thực tế khi có quy phạm pháp luật điều chỉnh, ngược lại không có các quan hệ pháp luật thì các quy phạm pháp luật không thể thực hiện được

Trang 33

trong đời sống xã hội Tóm lại, không có quy phạm pháp luật thì sẽ không có quan hệ pháp luật

- Các bên tham gia quan hệ pháp luật mang quyền và nghĩa vụ pháp lý mà việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ được đảm bảo bằng sự cưỡng chế của nhà nước

Đây là đặc trưng cơ bản của quan hệ pháp luật Các quyền và nghĩa vụ pháp lý của các bên tham gia quan hệ pháp luật được quy định trong các quy phạm pháp luật gọi là nội dung của quan hệ pháp luật Căn cứ vào các quy phạm pháp luật, các bên tham gia quan hệ pháp luật sẽ biết được quyền và nghĩa vụ của mình trong quan hệ đó Việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của các bên khi tham gia quan hệ pháp luật được Nhà nước đảm bảo thực hiện Nếu các bên không thực hiện đúng cách xử sự mà pháp luật yêu cầu thì Nhà nước sẽ dùng bộ máy cưỡng chế như Công an, Viện kiểm sát, Tòa án, cơ quan thi hành án, nhà tù để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật

- Sự xuất hiện, thay đổi, chấm dứt các quan hệ pháp luật luôn gắn liền với sự kiện pháp lý

Một quan hệ xã hội trở thành một quan hệ pháp luật cần phải có sự tác động của hai thành

tố là quy phạm pháp luật (quy định các quyền và nghĩa vụ của các bên) và sự kiện pháp lý Nói cách khác, chỉ khi có các tình huống, hiện tượng, quá trình xảy ra trong cuộc sống được ghi nhận trong quy phạm pháp luật thì mới xuất hiện, thay đổi, chấm dứt quan hệ pháp luật

3.2.2 Cấu trúc của quan hệ pháp luật

a/ Chủ thể của quan hệ pháp luật

Chủ thể của quan hệ pháp luật là cá nhân, tổ chức đáp ứng các điều kiện về năng lực chủ thể do pháp luật quy định cho mỗi loại quan hệ pháp luật và tham gia vào quan hệ pháp luật đó

- Năng lực chủ thể

Năng lực chủ thể là khả năng của cá nhân, tổ chức thỏa mãn các điều kiện do pháp luật quy định để có thể trở thành chủ thể của mỗi quan hệ pháp luật Năng lực chủ thể gồm: năng lực pháp luật và năng lực hành vi

+ Năng lực pháp luật là khả năng của chủ thể được hưởng quyền và thực hiện nghĩa vụ

theo quy định của pháp luật khi tham gia vào quan hệ pháp luật

+ Năng lực hành vi là khả năng của chủ thể bằng hành vi của mình xác lập và thực hiện

quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật khi tham gia vào quan hệ pháp luật

Năng lực pháp luật và năng lực hành vi có mối liên hệ chặt chẽ với nhau Năng lực pháp luật là tiền đề của năng lực hành vi, không thể có chủ thể quan hệ pháp luật không có năng lực pháp luật mà lại có năng lực hành vi Trong trường hợp, chủ thể quan hệ pháp luật chỉ có năng lực pháp luật thì không thể tham gia tích cực vào các quan hệ xã hội vì không thể tự mình thực hiện các quyền và nghĩa vụ pháp lý

Năng lực pháp luật và năng lực hành vi không phải là những thuộc tính tự nhiên mà là những thuộc tính pháp lý vì những thuộc tính này là do Nhà nước thừa nhận và được quy định trong các quy phạm pháp luật Thông qua các quy phạm pháp luật, chúng ta mới biết cá nhân, tổ chức có năng lực chủ thể như thế nào để tham gia vào các quan hệ pháp luật nhất định

Ví dụ, Hiến pháp qui định nam, nữ có quyền kết hôn Như vậy nam, nữ có năng lực pháp

Trang 34

luật trong lĩnh vực kết hôn Nhưng để hiện thực hóa năng lực pháp luật này trong thực tiễn, bằng chính hành vi của mình, nam và nữ còn phải thỏa mãn những điều kiện khác như về độ tuổi, về

sự tự nguyện, không thuộc các trường hợp cấm kết hôn Các khả năng này cũng được pháp luật (Luật về hôn nhân và gia đình) qui định và được gọi là năng lực hành vi

- Các loại chủ thể

+ Cá nhân

Chủ thể là cá nhân gồm có công dân, người nước ngoài và người không có quốc tịch, trong đó công dân là loại chủ thể cá nhân quan trọng và phổ biến của các quan hệ pháp luật Đối với cá nhân, năng lực pháp luật bắt đầu kể từ khi cá nhân đó sinh ra và chỉ chấm dứt khi người đó chết Khác với năng lực pháp luật, năng lực hành vi chỉ xuất hiện khi cá nhân đã đạt đến độ tuổi nhất định và đạt được những điều kiện nhất định Phần lớn pháp luật các nước đều lấy độ tuổi 18 và tiêu chuẩn lý trí làm điều kiện công nhận năng lực hành vi đầy đủ cho chủ thể của đa số các nhóm quan hệ pháp luật

Đối với người nước ngoài và người không quốc tịch thì trong một số lĩnh vực nhất định (bầu cử, sở hữu đất đai, lao động ), năng lực chủ thể của nhóm người này bị hạn chế hơn công dân nước sở tại

+ Tổ chức

Đối với tổ chức, năng lực pháp luật và năng lực hành vi xuất hiện cùng một lúc, vào thời điểm tổ chức được thành lập và được ghi nhận trong điều lệ, quy chế hoặc văn bản của nhà nước, năng lực hành vi của tổ chức thực hiện thông qua người đứng đầu cơ quan hoặc người đại diện

Tổ chức có thể có tư cách pháp nhân hoặc không có tư cách pháp nhân Một tổ chức nếu thỏa mãn các điều kiện theo quy định của pháp luật được thừa nhận là một pháp nhân Pháp nhân không phải là một thực thể tự nhiên mà là một thực thể pháp lý do pháp luật tạo ra Căn cứ Điều 74 BLDS năm 2015, một tổ chức được công nhận là pháp nhân khi có đủ các điều kiện sau đây:

 Được thành lập theo quy định của Bộ luật này, luật khác có liên quan;

 Có cơ cấu tổ chức theo quy định tại Điều 83 của Bộ luật này;

 Có tài sản độc lập với cá nhân, pháp nhân khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình;

 Nhân danh mình tham gia quan hệ pháp luật một cách độc lập

b/ Nội dung của quan hệ pháp luật

Nội dung của quan hệ pháp luật bao gồm quyền và nghĩa vụ pháp lý chủ thể khi tham gia vào quan hệ pháp luật và được Nhà nước đảm bảo thực hiện

Trang 35

- Khả năng yêu cầu các chủ thể khác chấm dứt các hành động cản trở mình thực hiện các quyền và nghĩa vụ hoặc yêu cầu chủ thể có liên quan thực hiện nghĩa vụ của họ

- Khả năng của chủ thể yêu cầu các cơ quan nhà nước có thẩm quyền bảo vệ lợi ích hợp pháp của mình đang bị các chủ thể khác xâm hại

Nghĩa vụ pháp lý :

Nghĩa vụ pháp lý của chủ thể là cách xử sự mà nhà nước bắt buộc chủ thể phải tiến hành nhằm đáp ứng việc thực hiện quyền của chủ thể khác Nghĩa vụ pháp lý có những đặc điểm sau:

- Cần phải tiến hành những hành vi bắt buộc nhất định

- Cần phải kiềm chế không thực hiện một số hành vi nhất định

- Phải gánh chịu trách nhiệm pháp lý khi không thực hiện những hành vi bắt buộc

Quyền và nghĩa vụ chủ thể là hai hiện tượng pháp lý không thể thiếu trong một quan hệ pháp luật cụ thể Trong quan hệ pháp luật, quyền và nghĩa vụ chủ thể luôn thống nhất, phù hợp với nhau Nội dung, số lượng và các biện pháp bảo đảm thực hiện chúng đều do nhà nước quy định hoặc do các bên xác lập trên cơ sở các quy định đó

c/ Khách thể của quan hệ pháp luật

Khách thể quan hệ pháp luật là lợi ích vật chất, tinh thần và những lợi ích xã hội khác có thể thỏa mãn những nhu cầu, đòi hỏi của các tổ chức hoặc cá nhân mà vì chúng các chủ thể tham gia vào các quan hệ pháp luật

Khách thể của quan hệ pháp luật phản ánh lợi ích của chủ thể, do đó khách thể là yếu tố thúc đẩy chủ thể tham gia quan hệ pháp luật

3.2.3 Sự kiện pháp lý

a/ Khái niệm sự kiện pháp lý

Sự kiện pháp lý là những sự kiện cụ thể xảy ra đời sống phù hợp với những điều kiện, hoàn cảnh, tình huống được quy định trong một quy phạm pháp luật mà sự xuất hiện hay mất đi của những sự kiện này sẽ làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt một quan hệ pháp luật

Sự kiện pháp lý tuy không thuộc cấu trúc của quan hệ pháp luật nhưng đóng vai trò như chất xúc tác giúp quan hệ pháp luật phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt Thật vậy, mặc dù trong

xã hội đã có chủ thể của quan hệ pháp luật, có qui phạm pháp luật sẵn sàng tác động vào quan

hệ giữa họ; nhưng nếu không có sự kiện pháp lý thì không làm phát sinh quan hệ pháp luật Ví dụ: A muốn bán nhà, B muốn mua nhà của A; pháp luật đã có những qui phạm điều chỉnh hợp đồng mua bán nhà nhưng nếu A và B không tiến hành ký kết hợp đồng mua bán nhà thì quan hệ pháp luật mua bán nhà giữa họ cũng không hình thành Hành vi ký hợp đồng là sự kiện pháp lý của quan hệ pháp luật này

b/ Phân loại sự kiện pháp lý

Sự kiện pháp lý được phân loại dựa trên nhiều cơ sở khác nhau nhưng phổ biến nhất là dựa trên yếu tố ý chí

Căn cứ vào yếu tố ý chí, sự kiện pháp lý được phân thành:

Trang 36

- Sự biến là những hiện tượng tự nhiên mà trong những trường hợp nhất định, pháp luật

gắn sự xuất hiện của chúng với sự hình thành ở các chủ thể các quyền và nghĩa vụ pháp lý Ví dụ: thiên tai, địch họa, dịch bệnh, cái chết của một con người Khi một người chết, đây là sự kiện pháp lý vì nó làm chấm dứt quan hệ pháp luật giữa người chết với các chủ thể pháp luật khác như quan hệ vợ chồng, quan hệ lao động; hoặc có thể làm phát sinh quan hệ pháp luật thừa

kế

- Hành vi pháp lý (hành động hoặc không hành động) là những sự kiện xảy ra theo ý chí

của con người, là hình thức biểu thị ý chí của chủ thể pháp luật, ví dụ: hành vi ký kết hợp đồng, hành vi trộm cắp, sự bỏ mặc không cứu giúp người đang trong tình trạng nguy hiểm Hành vi được chia thành hành vi hợp pháp (là những hành vi phù hợp với pháp luật) và hành vi không hợp pháp (là những hành vi trái với pháp luật)

Căn cứ vào số lượng các hoàn cảnh, điều kiện làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quan

hệ pháp luật, sự kiện pháp lý chia thành:

- Sự kiện pháp lý đơn giản chỉ bao gồm một sự kiện thực tế mà pháp luật gắn sự xuất hiện

với sự phát sinh, thay đổi, chấm dứt quan hệ pháp luật Ví dụ: sinh đẻ là sự kiện pháp lý làm phát sinh quan hệ pháp luật cha, mẹ và con

- Sự kiện pháp lý phức tạp bao gồm một loạt các sự kiện mà chỉ với sự xuất hiện của

chúng các quan hệ pháp luật mới phát sinh, thay đổi hay chấm dứt Ví dụ, để quan hệ thừa kế phát sinh cần có hai sự kiện pháp lý là người chết và người chết có tài sản để lại cho người khác

CÂU HỎI ÔN TẬP CHƯƠNG 3

1 Phân tích các đặc điểm của quy phạm pháp luật và so sánh quy phạm pháp luật với các loại quy phạm xã hội khác?

2 Phân tích cơ cấu của quy phạm pháp luật?

3 Phân tích đặc điểm của văn bản quy phạm pháp luật và trình bày hệ thống văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam?

4 Phân tích các đặc điểm của quan hệ pháp luật và so sánh quan hệ pháp luật với các quan hệ

xã hội khác?

5 Xác định cấu trúc của quan hệ pháp luật và so sánh năng lực chủ thể quan hệ pháp luật giữa

cá nhân với tổ chức?

6 Mỗi nhận định sau đây đúng hay sai? Giải thích tại sao?

a Quy phạm pháp luật là quy phạm xã hội

b Các cơ quan nhà nước đều có thẩm quyền ban hành các văn bản quy phạm pháp luật

c Tất cả các quan hệ xã hội đều là quan hệ pháp luật

d Mọi tập quán đều trở thành tập quán pháp

e Văn bản do cơ quan nhà nước ban hành là văn bản quy phạm pháp luật

f Mọi chủ thể đều là chủ thể quan hệ pháp luật

g Giả định là bộ phận không thể thiếu trong cấu trúc của quy phạm pháp luật

Trang 37

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO CHƯƠNG 3

Văn bản quy phạm pháp luật

1 Hiến pháp 2013

2 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2015

Giáo trình

1 Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình lí luận nhà nước và pháp luật, Nxb.CAND, 2011

2 Khoa luật - ĐHQG Hà Nội, Giáo trình lí luận chung về nhà nước và pháp luật

Trang 38

Chương 4 THỰC HIỆN PHÁP LUẬT, VI PHẠM PHÁP LUẬT, TRÁCH

NHIỆM PHÁP LÝ

4.1 THỰC HIỆN PHÁP LUẬT

Thực hiện pháp luật là một quá trình hoạt động có mục đích của các chủ thể pháp luật làm cho những quy định của pháp luật đi vào cuộc sống, trở thành những hành vi thực tế hợp pháp của các chủ thể pháp luật

Pháp luật điều chỉnh nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội Vì vậy, hành vi thể hiện sự thực hiện pháp luật rất phong phú và đa dạng Căn cứ vào tính chất của hoạt động thực hiện pháp luật, khoa học pháp lý đã xác định có các hình thức thực hiện pháp luật sau:

Thứ nhất, tuân thủ (tuân theo) pháp luật

Tuân thủ pháp luật là một hình thức thực hiện pháp luật, trong đó các chủ thể pháp luật kiềm chế không tiến hành những hoạt động mà pháp luật cấm

Ở hình thức thực hiện này đòi hỏi chủ thể thực hiện nghĩa vụ một cách thụ động, thực hiện các quy phạm pháp luật dưới dạng không hành động Tuân thủ pháp luật là hình thức thực hiện pháp luật nhằm đáp ứng loại qui phạm pháp luật cấm đoán Biểu hiện của việc tuân thủ pháp luật như không vượt đèn đỏ, không hút thuốc lá nơi công cộng, không giết người, không buôn lậu

Thứ hai, thi hành (chấp hành) pháp luật

Thi hành pháp luật là một hình thức thực hiện pháp luật, trong đó các chủ thể pháp luật thực hiện nghĩa vụ pháp lý của mình bằng hành động tích cực

Khác với tuân thủ pháp luật, trong hình thức thi hành pháp luật đòi hỏi chủ thể phải thực hiện nghĩa vụ pháp lý dưới dạng hành động tích cực Thi hành pháp luật là hình thức thực hiện pháp luật nhằm đáp ứng loại qui phạm pháp luật bắt buộc Biểu hiện của việc thi hành pháp luật như thực hiện nghiêm túc việc nộp thuế, nghĩa vụ quân sự

Thứ tư, áp dụng pháp luật

Áp dụng pháp luật là một hình thức thực hiện pháp luật, trong đó các cơ quan nhà nước có thẩm quyền căn cứ vào các quy định của pháp luật mà tổ chức cho các chủ thể pháp luật thực hiện các quy định của pháp luật

Trang 39

Nếu như các hình thức tuân thủ pháp luật, thi hành pháp luật và sử dụng pháp luật là những hình thức thực hiện pháp luật do các chủ thể pháp luật tự mình thực hiện thì áp dụng pháp luật là hình thức thực hiện pháp luật luôn có sự tham gia của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền Áp dụng pháp luật có các đặc điểm sau:

- Là hoạt động mang tính quyền lực nhà nước

Hoạt động áp dụng pháp luật chỉ do cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành, mỗi loại

cơ quan nhà nước sẽ thực hiện một số hoạt động áp dụng pháp luật trong phạm vi thẩm quyền được pháp luật quy định Đồng thời, các quyết định áp dụng pháp luật có tính chất bắt buộc thi hành đối với chủ thể bị áp dụng, các chủ thể có liên quan và trong trường hợp cần thiết, các quyết định áp dụng pháp luật sẽ được đảm bảo thực hiện bằng biện pháp cưỡng chế của nhà nước

- Là hoạt động được tiến hành theo những trình tự, thủ tục, hình thức chặt chẽ do pháp

luật quy định

Pháp luật quy định cụ thể, rõ ràng về trình tự, thủ tục, hình thức, quyền và nghĩa vụ của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, các bên liên quan trong quá trình áp dụng pháp luật Vì vậy, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền và các bên liên quan trong quá trình áp dụng pháp luật bắt buộc phải tuân thủ nghiêm chỉnh các quy định mang tính thủ tục đó

- Là hoạt động mang tính cá biệt, điều chỉnh các quan hệ xã hội xác định

Trên cơ sở các quy định chung của pháp luật đòi hỏi các cơ quan có thẩm quyền áp dụng pháp luật phải nghiên cứu, cá biệt hóa các quy định chung đó thành các quy định cụ thể, riêng biệt, chính xác để áp dụng vào quan hệ xã hội xác định

- Là hoạt động đòi hỏi tính sáng tạo

Khi áp dụng pháp luật, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền cần nghiên cứu kỹ vụ việc từ

đó lựa chọn các quy phạm pháp luật, ra văn bản áp dụng pháp luật và tổ chức thi hành Trong trường hợp, pháp luật chưa có quy định hoặc quy định chưa rõ ràng thì đòi hỏi cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng pháp luật phải vận dụng một cách sáng tạo bằng cách áp dụng tương tự pháp luật

4.2 VI PHẠM PHÁP LUẬT

Pháp luật được ban hành nhằm đáp ứng các nhu cầu, nguyện vọng chung của mọi người dân trong xã hội; do đó, pháp luật được đa số chủ thể pháp luật thực hiện một cách tự giác Tuy nhiên trong xã hội, các chủ thể rất khác nhau về nhiều khía cạnh: nghề nghiệp, tuổi tác, điều kiện kinh tế, giới tính, dân tộc, tôn giáo ;đặc biệt là khác nhau về nhận thức bổn phận, trách nhiệm của mình đối với xã hội Do đó, trong khi nhiều chủ thể thực hiện pháp luật nghiêm minh thì vẫn có chủ thể vi phạm pháp luật

4.2.1 Khái niệm, dấu hiệu (đặc điểm) của vi phạm pháp luật

Vi phạm pháp luật là hành vi (hành động hoặc không hành động) trái pháp luật, có lỗi, do chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện, xâm hại tới các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ

Trang 40

Vi phạm pháp luật có các dấu hiệu (đặc điểm) sau:

- Là hành vi xác định của con người

Pháp luật được ban hành để điều chỉnh hành vi của con người Chỉ có hành vi của con người mới là đối tượng điều chỉnh của pháp luật Hành vi của con người được thể hiện dưới dạng hành động hoặc không hành động Pháp luật không điều chỉnh những suy nghĩ, tình cảm, những đặc tính cá nhân khác của con người nếu như những suy nghĩ, tình cảm, đặc tính đó không biểu hiện thành các hành vi cụ thể Vì thế, suy nghĩ, tình cảm, những đặc tính khác của con người, cho dù có nguy hiểm cho xã hội, nhưng nếu chưa biểu hiện thành hành vi cụ thể cũng không bị coi là vi phạm pháp luật Tóm lại, vi phạm pháp luật phải là hành vi xác định của con người

- Là hành vi trái pháp luật, xâm hại tới các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ

Hành vi trái pháp luật là hành vi của chủ thể thể hiện sự chống đối với những quy định chung của pháp luật, xâm hại tới các quan hệ xã hội được pháp luật xác lập và bảo vệ Hành vi trái pháp luật là hành vi không phù hợp với những quy định của pháp luật như thực hiện một hành vi mà luật cấm; không thực hiện những nghĩa vụ pháp lý mà Nhà nước yêu cầu; hoặc sử dụng quyền hạn vượt quá giới hạn pháp luật cho phép Tính trái pháp luật là dấu hiệu không thể thiếu của hành vi bị coi là vi phạm pháp luật

- Là hành vi chứa đựng lỗi của chủ thể thực hiện hành vi

Khi xem xét một hành vi bị coi là vi phạm pháp luật, chúng ta không chỉ xem xét những dấu hiệu biểu hiện ra bên ngoài của hành vi chính là tính trái pháp luật của hành vi mà cần phải xem xét cả dấu hiệu bên trong của chủ thể khi thực hiện hành vi trái pháp luật, đó là yếu tố lỗi Lỗi là trạng thái tâm lý của chủ thể đối với hành vi trái pháp luật của mình và hậu quả của

nó Một hành vi trái pháp luật được chủ thể thực hiện trong trạng thái tâm lý ý thức được hậu quả của hành vi trái pháp luật mà mình thực hiện dù cố ý hay vô ý đều bị coi là có lỗi và đó là hành vi vi phạm pháp luật Nhưng một hành vi trái pháp luật được thực hiện do những hoàn cảnh và điều kiện khách quan, chủ thể thực hiện hành vi đó không nhận thức được hậu quả do hành vi của mình gây ra thì hành vi đó không thể coi là có lỗi và hành vi đó không thể coi là vi phạm pháp luật Như vậy, có thể khẳng định rằng tất cả mọi vi phạm pháp luật đều là hành vi trái pháp luật nhưng không phải tất cả mọi hành vi trái pháp luật đều là vi phạm pháp luật

- Là hành vi do chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện

Vi phạm pháp luật phải là hành vi trái pháp luật, có lỗi và phải do người có năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện Năng lực trách nhiệm pháp lý là khả năng mà chủ thể phải gánh chịu những trách nhiệm pháp lý do hành vi trái pháp luật của mình gây ra Năng lực trách nhiệm pháp lý trong pháp luật chỉ quy định cho những người đã đạt một độ tuổi nhất định theo quy định của pháp luật, có khả năng lý trí và tự do ý chí, nghĩa là chủ thể thực hiện hành vi trái pháp luật trong trạng thái có thể nhận thức, điều khiển được hành vi của mình và tự chịu trách nhiệm

về hành vi mà mình thực hiện Nếu chủ thể thực hiện hành vi trái pháp luật mà không thể nhận thức, mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình thì không thể coi là vi phạm pháp luật Ví dụ, hành vi phá hoại cột đèn tín hiệu giao thông do người bị bệnh tâm thần gây ra, đây là hành vi trái pháp luật nhưng do người mất khả năng nhận thức, điều khiển hành vi

Ngày đăng: 22/03/2023, 09:47

w