1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Tài liệu học tập HỌC PHẦN PHÁP LUẬT ĐẠI CƯƠNG

191 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tài Liệu Học Tập Học Phần Pháp Luật Đại Cương
Tác giả Tập Thể Tác Giả
Trường học Trường Đại Học Tài Chính - Marketing
Chuyên ngành Pháp Luật
Thể loại Tài liệu học tập
Năm xuất bản 2019
Thành phố Tp. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 191
Dung lượng 2,04 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬT (8)
    • 1.1. Nguồn gốc, bản chất, thuộc tính và chức năng của pháp luật (8)
      • 1.1.1. Nguồn gốc pháp luật (8)
      • 1.1.2. Bản chất của pháp luật (10)
      • 1.1.3. Thuộc tính của pháp luật (11)
      • 1.1.4. Chức năng của pháp luật (13)
    • 1.2. Thực hiện pháp luật, vi phạm pháp luật, trách nhiệm pháp lý (14)
      • 1.2.1. Thực hiện pháp luật (14)
      • 1.2.2. Vi phạm pháp luật (16)
      • 1.2.3. Trách nhiệm pháp lý (21)
    • 1.3. Hệ thống pháp luật (22)
      • 1.3.1. Khái niệm hệ thống pháp luật (22)
      • 1.3.2. Hệ thống cấu trúc pháp luật (23)
      • 1.3.3. Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật (30)
    • 1.4. Quan hệ pháp luật (32)
      • 1.4.1. Khái niệm, đặc điểm của quan hệ pháp luật (32)
      • 1.4.2. Cấu trúc của quan hệ pháp luật (33)
      • 1.4.3. Sự kiện pháp lý (36)
  • CHƯƠNG 2: PHÁP LUẬT VỀ TÀI SẢN, QUYỀN SỞ HỮU VÀ THỪA KẾ (46)
    • 2.1. Tài sản (46)
      • 2.1.1. Khái niệm tài sản (46)
      • 2.1.2. Các loại tài sản (48)
    • 2.2. Quyền sở hữu (52)
      • 2.2.1. Khái niệm sở hữu và quyền sở hữu (52)
      • 2.2.2. Nội dung quyền sở hữu (53)
      • 2.2.3. Các căn cứ xác lập, chấm dứt quyền sở hữu và các hình thức sở hữu (55)
      • 2.2.4. Bảo vệ quyền sở hữu (62)
    • 2.3. Thừa kế (64)
      • 2.3.1. Khái niệm về thừa kế và quyền thừa kế (64)
      • 2.3.2. Những nguyên tắc về thừa kế (65)
      • 2.3.3. Những quy định chung về thừa kế (66)
      • 2.3.4. Thừa kế theo di chúc (68)
      • 2.3.5. Thừa kế theo pháp luật (71)
      • 2.3.6. Thanh toán và phân chia di sản (73)
  • CHƯƠNG 3: PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG (77)
    • 3.1. Khái niệm, bản chất, đặc điểm của hợp đồng (77)
      • 3.1.1. Khái niệm hợp đồng (77)
      • 3.1.2. Bản chất hợp đồng (77)
      • 3.1.3. Đặc điểm của hợp đồng (78)
    • 3.2. Các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng (81)
      • 3.2.1. Chủ thể tham gia hợp đồng phải có năng lực hành vi dân sự (81)
      • 3.2.2. Nội dung, mục đích của hợp đồng không vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội (83)
      • 3.2.3. Việc giao kết, xác lập hợp đồng là hoàn toàn do ý chí tự nguyện của các bên chủ thể tham gia (84)
      • 3.2.4. Hình thức của hợp đồng đúng qui định của pháp luật (85)
    • 3.3. Giao kết hợp đồng (85)
      • 3.3.1. Nguyên tắc giao kết hợp đồng (85)
      • 3.3.2. Trình tự giao kết hợp đồng (87)
      • 3.3.3. Thời điểm, địa điểm giao kết hợp đồng (90)
    • 3.4. Hiệu lực của hợp đồng, hợp đồng vô hiệu và hậu quả pháp lý của hợp đồng vô hiệu87 1. Hiệu lực của hợp đồng (94)
      • 3.4.2. Hợp đồng vô hiệu (95)
      • 3.4.3. Hậu quả pháp lý của hợp đồng vô hiệu (0)
    • 3.5. Thực hiện hợp đồng (98)
      • 3.5.1. Khái niệm thực hiện hợp đồng (98)
      • 3.5.2. Nguyên tắc thực hiện hợp đồng (98)
      • 3.5.3. Thực hiện hợp đồng theo nội dung của hợp đồng (98)
    • 3.6. Sửa đổi, chấm dứt hợp đồng (100)
      • 3.6.1. Sửa đổi hợp đồng (100)
      • 3.6.2. Chấm dứt hợp đồng (101)
    • 3.7. Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng (103)
      • 3.7.1. Khái niệm (103)
      • 3.7.2. Các loại trách nhiệm do vi phạm hợp đồng (103)
  • CHƯƠNG 4: TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG (108)
    • 4.1. Khái niệm, đặc điểm trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng (108)
      • 4.1.1. Khái niệm trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng (108)
      • 4.1.2. Đặc điểm của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng (109)
    • 4.2. Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng và các trường hợp loại trừ trách nhiệm bồi thường thiệt hại (109)
      • 4.2.1. Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng (109)
      • 4.2.2. Các trường hợp loại trừ trách nhiệm bồi thường thiệt hại (112)
    • 4.3. Xác định thiệt hại (113)
      • 4.3.1. Thiệt hại do tài sản bị xâm hại (113)
      • 4.3.2. Thiệt hại do sức khỏe bị xâm hại (114)
      • 4.3.3. Thiệt hại do tính mạng bị xâm hại (115)
      • 4.3.4. Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm hại (116)
    • 4.4. Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, nguyên tắc bồi thường và xác định người được hưởng bồi thường thiệt hại (118)
      • 4.4.1. Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại (118)
      • 4.4.2. Nguyên tắc bồi thường thiệt hại (119)
      • 4.4.3. Xác định người được hưởng bồi thường thiệt hại (120)
    • 4.5. Hình thức, phương thức bồi thường (121)
      • 4.5.1. Hình thức bồi thường (121)
      • 4.5.2. Phương thức bồi thường (122)
    • 4.6. Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong một số trường hợp cụ thể (123)
      • 4.6.1. Bồi thường thiệt hại do người dùng chất kích thích gây ra (123)
      • 4.6.2. Bồi thường thiệt hại do nhiều người cùng gây ra (124)
      • 4.6.3. Bồi thường thiệt hại do người của pháp nhân gây ra (125)
      • 4.6.4. Bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra (125)
      • 4.6.5. Bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra (128)
  • CHƯƠNG 5: LUẬT LAO ĐỘNG (132)
    • 5.1. Khái quát chung về Luật Lao động (132)
    • 5.2. Một số chế định cơ bản của Luật lao động (134)
      • 5.2.1. Hợp đồng lao động (134)
      • 5.2.2. Tiền lương (141)
      • 5.2.3. Thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi (143)
      • 5.2.4. Bảo hiểm xã hội (146)
      • 5.2.5. Kỷ luật lao động và trách nhiệm vật chất (151)
  • CHƯƠNG 6: PHÁP LUẬT VỀ TỐ TỤNG DÂN SỰ (158)
    • 6.1. Khái niệm và nguyên tắc của Luật tố tụng dân sự Việt Nam (158)
      • 6.1.1. Khái niệm Luật tố tụng dân sự (158)
      • 6.1.2. Các nguyên tắc cơ bản của Luật tố tụng dân sự (158)
    • 6.2. Chủ thể của Luật tố tụng dân sự (162)
      • 6.2.1. Chủ thể tiến hành tố tụng (162)
      • 6.2.2. Chủ thể tham gia tố tụng (165)
    • 6.3. Thủ tục giải quyết vụ việc dân sự (166)
      • 6.3.1. Thủ tục giải quyết vụ án dân sự (166)
      • 6.3.2. Thủ tục giải quyết việc dân sự (180)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (190)

Nội dung

Tài liệu học tập HỌC PHẦN PHÁP LUẬT ĐẠI CƯƠNGTài liệu học tập HỌC PHẦN PHÁP LUẬT ĐẠI CƯƠNGTài liệu học tập HỌC PHẦN PHÁP LUẬT ĐẠI CƯƠNGTài liệu học tập HỌC PHẦN PHÁP LUẬT ĐẠI CƯƠNGTài liệu học tập HỌC PHẦN PHÁP LUẬT ĐẠI CƯƠNGTài liệu học tập HỌC PHẦN PHÁP LUẬT ĐẠI CƯƠNGTài liệu học tập HỌC PHẦN PHÁP LUẬT ĐẠI CƯƠNGTài liệu học tập HỌC PHẦN PHÁP LUẬT ĐẠI CƯƠNGTài liệu học tập HỌC PHẦN PHÁP LUẬT ĐẠI CƯƠNG

NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬT

Nguồn gốc, bản chất, thuộc tính và chức năng của pháp luật

Theo chủ nghĩa Mác - Lênin, Nhà nước và pháp luật là "đôi bạn đồng hành", là hai hiện tượng xã hội luôn gắn liền với nhau Do đó nguyên nhân về sự ra đời của nhà nước cũng chính là nguyên nhân dẫn đến sự ra đời của pháp luật

Trong xã hội cộng sản nguyên thuỷ, chưa có Nhà nước và pháp luật Ở thời kỳ đó, chưa có sự đối lập về lợi ích kinh tế giữa các tập đoàn người thì quan hệ giữa người với người - quan hệ xã hội được điều chỉnh bởi các quy tắc hình thành một cách tự phát, xuất phát từ nhu cầu, lợi ích chung của cả cộng đồng và cũng là lợi ích của mỗi thành viên trong cộng đồng Đó là những quy phạm xã hội, chủ yếu gồm: tập quán, các tín điều tôn giáo và những quy phạm đạo đức Các quy phạm này được đảm bảo thực hiện bằng sự tự giác của mỗi người và bằng uy tín tự nhiên của các thủ lĩnh cộng đồng Các quy phạm xã hội trong xã hội cộng sản nguyên thủ phù hợp với điều kiện xã hội lúc bấy giờ Cơ sở kinh tế của xã hội trong thời kỳ này là nền kinh tế dựa trên sự phân công lao động mang tính tự nhiên, chưa có sự chuyên môn hoá Hoạt động lao động sản xuất còn mang tính bản năng, chủ yếu săn bắt, hái lượm những sản phẩm có sẵn từ tự nhiên Bên cạnh đó, kết cấu xã hội còn hết sức đơn giản Tổ chức đầu tiên của xã hội loài người là thị tộc, nhiều thị tộc hợp lại thành bào tộc, nhiều bào tộc hợp thành bộ lạc Vì thế chưa cần đến những quy tắc đa dạng, phức tạp để quản lý xã hội

Nhưng theo quy luật chung, xã hội cộng sản nguyên thủy luôn vận động và không ngừng phát triển, người nguyên thủy ngày càng phát triển về thể lực và trí lực, công cụ lao động ngày càng cải tiến, sản phẩm lao động ngày càng tăng lên, xuất hiện chế độ tư hữu và phân hoá giai cấp trong xã hội Nền kinh tế tự nhiên được thay thế bởi nền kinh tế sản xuất thông qua ba lần phân công lao động xã hội mang tính chuyên môn hoá Chế độ tư hữu ra đời đã làm cho xã hội cộng sản nguyên thủy phân chia giai cấp, mâu thuẫn giai cấp phát sinh và các cuộc đấu tranh giai cấp bùng nổ Giai cấp chiến thắng chiến thắng và nắm quyền lực trong các cuộc xung đột giai cấp (giai cấp thống trị) đã thiết lập một hệ thống cơ quan quyền lực để duy trì sự thống trị của mình trong xã hội Hệ thống cơ quan quyền lực được thiết lập nhằm trấn áp các giai cấp khác trong xã hội đó chính là Nhà nước

Khi Nhà nước ra đời và xã hội phân chia thành giai cấp với những lợi ích đối lập nhau thì các quy phạm xã hội hình thành một cách tự nhiên và thể hiện lợi ích chung của cả cộng đồng không còn phù hợp nữa mà đòi hỏi phải có những quy tắc xã hội mới để thiết lập cho xã hội một “trật tự”, loại quy phạm mới này phải thể hiện được ý chí của giai cấp thống trị Lúc đó, đồng thời với việc thiết lập bộ máy nhà nước, giai cấp thống trị đã đặt ra một loạt các quy tắc xử sự mới thể hiện ý chí của mình và bắt buộc các thành viên trong xã hội phải tuân theo bằng chính sức mạnh của bộ máy nhà nước Hệ thống các quy phạm mới thể hiện ý chí của giai cấp thống trị chính là pháp luật

Như vậy, nhà nước và pháp luật là hai hiện tượng mang tính lịch sử, chỉ xuất hiện và tồn tại trong xã hội có những điều kiện nhất định, đó là có sự tư hữu đối với tư liệu sản xuất và xã hội phân chia thành giai cấp và đấu tranh giai cấp

Trong quá trình thiết lập hệ thống quy tắc quản lý mới trong xã hội, giai cấp thống trị luôn cố gắng hướng mọi hành vi trong xã hội phù hợp với lợi ích riêng của họ, bảo vệ của cải mà họ có được Vì vậy họ tìm cách duy trì, vận dụng những quy tắc xử sự phù hợp với ý chí và lợi ích của họ, bảo vệ trật tự họ mong muốn, dần dần thay đổi nội dung các quy tắc đạo đức, phong tục tập quán và bằng con đường nhà nước nâng chúng thành các quy phạm pháp luật Những quy tắc xử sự bất thành văn này rất đa dạng, dễ hiểu, được loài người sử dụng từ lâu đời và thường tự giác thực hiện “Luật này không khắc lên đá, lên đồng mà khắc vào lòng công dân tạo nên hiến pháp chân chính của quốc gia Luật này mỗi ngày lại có thêm sức mới, khi các thứ luật khác đã già cỗi hoặc tắt ngấm thì luật này thắp sang cho nó lại sang lên hoặc bổ sung thay thế nó duy trì cả dân tộc trong tinh thần thể chế, lẳng lặng đưa sức mạnh của thói quen thay sức mạnh của quyền uy”

(J.J.Rousseau-Bàn về khế ước xã hội)

Bằng sự thừa nhận của nhà nước, các quy tắc như đạo đức, phong tục tập quán phù hợp với lợi ích của giai cấp thống trị bị biến đổi thành những quy tắc xử sự chung Đây là phương thức hình thành đầu tiên của pháp luật

Ví dụ: Theo Luật 12 bảng của La Mã, mỗi gia đình La Mã có quyền định đoạt đối với phần đất của mình, còn nô lệ và súc vật trở thành tài sản riêng của mỗi gia đình giàu có Quy định này của Luật La Mã 12 bảng được nâng lên từ tập quán về quyền sở hữu tập thể đối với ruộng đất và nô lệ trong tổ chức công xã La Mã cổ đại

Cùng với sự phát triển của xã hội, các quan hệ xã hội xuất hiện mới, ngày càng đa dạng và phức tạp nên việc chuyển hóa các quy tắc xử sự như đạo đức, tập quán chỉ đáp ứng được phần nào về nhu cầu cần phải có sự điêu chỉnh đối với các quan hệ xã hội Vì thế nhà nước cần phải xây dựng các quy tắc xử sự mới thông qua các hình thức:

+ Nhà nước thừa nhận những quyết định có từ trước về từng vụ việc của cơ quan xét xử, cơ quan hành chính, nâng lên thành pháp luật có tính quy phạm và khuôn mẫu để các cơ quan cấp dưới giải quyết những vụ việc tương tự xảy ra sau này Đây là hình thức sáng tạo pháp luật chủ yếu của các nước theo hệ thống pháp luật “Common Law” như Anh, Mỹ, …

+ Nhà nước ban hành những quy định mới để điều chỉnh các quan hệ xã hội mới nảy sinh, được chứa đựng trong các văn bản quy phạm pháp luật (chủ yếu là văn bản luật) Chẳng hạn: thời cổ đại đã xuất hiện các văn bản pháp luật điển hình như: Luật La Mã 12 bảng (thế kỷ V T.C.N); Luật Đô ra công ở Hy Lạp (thế kỷ VII T.C.N); Luật Manu của Ấn Độ (thế kỷ I T.C.N); Luật Hammurabi trong nhà nước Babilon (thế kỷ VIII T.C.N) Như vậy, thông qua các hình thức sáng tạo pháp luật, nhà nước đã tiến hành hoạt động xây dựng, bổ sung thêm các quy định pháp luật mới các có tính quy phạm phổ biến Đó chính là phương thức hình thành thứ hai của pháp luật

Sự ra đời của pháp luật không chỉ là một hiện tượng khách quan, là kết quả tất yếu của quá trình phát triển kinh tế, xã hội mà còn phản ánh ý chí chủ quan của nhà làm luật -

3 ý chí của giai cấp thống trị trong xã hội có giai cấp Từ đó chúng ta đi đến khái niệm pháp luật như sau:

Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung, do nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận để điều chỉnh các quan hệ xã hội, thể hiện ý chí của nhà nước và được nhà nước bảo đảm thực hiện

1.1.2 Bản chất của pháp luật

Bản chất của pháp luật được thể hiện ở hai tính chất cơ bản là tính giai cấp và tính xã hội

Pháp luật luôn phản ánh ý chí của Nhà nước, của giai cấp thống trị Sở dĩ như vậy là vì, nhờ nắm trong tay quyền lực nhà nước nên giai cấp thống trị có điều kiện biến ý chí của giai cấp mình thành ý chí nhà nước và thể hiện chúng trong các văn bản pháp luật Nói cách khác, pháp luật là sản phẩm của sự thể chế hóa ý chí của giai cấp thống trị Mặt khác tính giai cấp của pháp luật còn thể hiện ở chỗ mục đích của pháp luật là điều chỉnh quan hệ giữa các tầng lớp xã hội, nhằm tạo ra một trật tự xã hội phù hợp với lợi ích của giai cấp thống trị Nghĩa là, pháp luật là công cụ để thực hiện sự thống trị giai cấp (Nhưng ý chí của giai cấp thống trị thể hiện trong pháp luật không phải là ý chí chủ quan của một người hay một nhóm người thống trị trong xã hội mà xét đến cùng là do các lợi ích kinh tế khách quan của giai cấp đó, do các quan hệ sản xuất khách quan mà giai cấp đó là đại diện quyết định) Bản chất giai cấp tồn tại ở bất kỳ kiểu pháp luật nào, nhưng mỗi kiểu pháp luật lại có bản chất riêng và có cách biểu hiện riêng Trong xã hội chiếm hữu nô lệ và phong kiến, bản chất giai cấp được thể hiện công khai bằng việc áp dụng những biện pháp cưỡng chế có tính chất trừng phạt hết sức dã man và tàn bạo Chẳng hạn, trong Luật Đô- ra-công (Hy Lạp) mức án tử hình được quy định đối với mọi loại tội; việc thi thành án tử hình được thực hiện một cách man rợ như: nấu phạm nhân trong vạc dầu, ném nạn nhân vào lửa, chon sống, Ngoài ra, pháp luật còn quy dịnh hình phạt giết cả cộng đồng mà trong đó có người phạm tội

Tính giai cấp của pháp luật tư sản thể hiện ở chỗ pháp luật tư sản trước hết và trên hết thể hiện ý chí và bảo vện quyền lợi của giai cấp tư sản Tuy nhiên, quyền lợi của giai cấp tư sản được bảo vệ tinh vi, khó tìm thấy rõ rệt trong các qui định thực định Pháp luật xã hội chủ nghĩa ngoài việc quy định cơ cấu tổ chức, nội dung, hình thức, phương pháp hoạt động của bộ máy nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân còn quy định các bảo đảm và những biện pháp tổ chức thực hiện; vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh

Thực hiện pháp luật, vi phạm pháp luật, trách nhiệm pháp lý

Nhà nước ban hành pháp luật để điều chỉnh các quan hệ xã hội, cụ thể là điều chỉnh các hành vi xử sự của các cá nhân, tổ chức Những hành vi xử xự được thực hiện trong đời sống thực tế của các cá nhân, tổ chức phù hợp với quy định của pháp luật là biểu hiện của việc thực hiện pháp luật, ví dụ như cá nhân thực hiện hành vi không vượt đèn đỏ hoặc doanh nghiệp nghiêm chỉnh thực hiện nghĩa vụ nộp thuế, không kinh doanh ngành, nghề mà pháp luật cấm

Dưới khía cạnh pháp lý, thực hiện pháp luật là việc cá nhân, tổ chức thực hiện các hành vi hợp pháp Đó là các hành vi không trái, không vượt quá phạm vi các quy định của pháp luật, phù hợp với pháp luật

Tóm lại, thực hiện pháp luật được hiểu là một quá trình hoạt động có mục đích của các chủ thể pháp luật làm cho những quy định của pháp luật đi vào cuộc sống, trở thành những hành vi thực tế hợp pháp của các chủ thể pháp luật

Thực hiện pháp luật được các chủ thể pháp luật thực hiện thông qua nhiều hình thức Căn cứ vào tính chất của hoạt động thực hiện pháp luật, khoa học pháp lý đã xác định có các hình thức thực hiện pháp luật sau:

1.2.1.1 Tuân thủ (tuân theo) pháp luật

Tuân thủ pháp luật là một hình thức thực hiện pháp luật, trong đó các chủ thể pháp luật kiềm chế không tiến hành những hoạt động mà pháp luật cấm

Những quy phạm pháp luật cấm đoán trong các văn bản quy phạm pháp luật hình sự, hành chính, kinh doanh, hôn nhân và gia đình được thể hiện dưới hình thức này Tuân thủ pháp luật là hình thức thực hiện pháp luật đòi hỏi chủ thể pháp luật phải thực hiện nghĩa vụ một cách thụ động, thực hiện các quy phạm pháp luật dưới dạng không hành động Ví dụ, tại khoản 1 điều 20 BLLĐ 2012 (K1, Đ.20 BLLĐ 2012) quy định hành vi người sử dụng lao động không được làm khi giao kết, thực hiện hợp đồng lao động:

“1 Giữ bản chính giấy tờ tuỳ thân, văn bằng, chứng chỉ của người lao động

2 Yêu cầu người lao động phải thực hiện biện pháp bảo đảm bằng tiền hoặc tài sản khác cho việc thực hiện hợp đồng lao động”

Trên cơ sở nhận thức các hành vi bị cấm tại K1, Đ.20 BLLĐ 2012, người sử dụng lao động đã có những hành vi xử sự hợp pháp, phù hợp với quy định của pháp luật trong thực tế khi giao kết cũng như trong quá trình thực hiện hợp đồng lao động là không tiến hành lưu giữ các bản chính giấy tờ tuỳ thân (bản chính chứng minh nhân dân, hộ chiếu ); bản chính các văn bằng, chứng chỉ (bản chính bằng tốt nghiệp đại học, chứng chỉ hành nghề ) của người lao động hoặc không bắt buộc người lao động phải nộp một khoản tiền hay tài sản nhằm bảo đảm thực hiện hợp đồng lao động Như vậy, người sử dụng lao động đã không thực hiện những hành vi bị cấm tại K1,Đ.20 BLLĐ 2012 trong thực tế khi giao kết, thực hiện hợp đồng lao động là biểu hiện của việc tuân thủ pháp luật

1.2.1.2 Thi hành (chấp hành) pháp luật

Thi hành pháp luật là một hình thức thực hiện pháp luật, trong đó các chủ thể pháp luật thực hiện nghĩa vụ pháp lý của mình bằng hành động tích cực

Những quy phạm pháp luật chứa đựng nội dung thi hành pháp luật là các quy phạm bắt buộc quy định nghĩa vụ buộc chủ thể pháp luật phải thực hiện Khác với hình thức tuân thủ pháp luật, hình thức thi hành pháp luật đòi hỏi chủ thể pháp luật phải thực hiện nghĩa vụ pháp lý dưới dạng hành động tích cực Ví dụ, khoản 2 điều 70 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định “ Khi sống cùng với cha mẹ, con có nghĩa vụ tham gia công việc gia đình, lao động, sản xuất, tạo thu nhập nhằm bảo đảm đời sống chung của gia đình; đóng góp thu nhập vào việc đáp ứng nhu cầu của gia đình phù hợp với khả năng của mình” Đây là một quy phạm bắt buộc quy định nghĩa vụ cấp dưỡng của con đã thành niên Từ quy phạm pháp luật bắt buộc trên, những người con đã trưởng thành chủ động tham gia công việc gia đình, lao động, sản xuất, tạo thu nhập nhằm bảo đảm đời sống chung của gia đình; đóng góp thu nhập vào việc đáp ứng nhu cầu của gia đình phù hợp với khả năng Những hành động này được thực hiện trong thực tế của những người con đã trưởng thành là biểu hiện của hình thức thi hành pháp luật

1.2.1.3 Sử dụng (vận dụng) pháp luật

Sử dụng pháp luật là một hình thức thực hiện pháp luật, trong đó các chủ thể pháp luật thực hiện quyền chủ thể của mình (thực hiện những hành vi mà pháp luật cho phép) Những quy phạm pháp luật quy định các quyền pháp lý được thể hiện dưới hình thức này Hình thức sử dụng pháp luật khác với các hình thức trên ở chỗ chủ thể pháp luật có thể thực hiện hoặc không thực hiện quyền được pháp luật cho phép theo ý chí của mình chứ không bị bắt buộc phải thực hiện Ví dụ, điều 24 Hiến pháp 2013 quy định “Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào” Từ quy định tại điều 24 Hiến pháp 2013, công dân Việt Nam có quyền tự do lựa chọn theo hay không theo bất kỳ một tôn giáo nào Chẳng hạn trên thực tế, Nguyễn Văn A là công dân Việt Nam đã chọn đạo phật là tín ngưỡng của mình, nghĩa là Nguyễn Văn A đã thực

9 hiện hình thức sử dụng pháp luật mà Hiến pháp cho phép là được quyền tự do lựa chọn tôn giáo cho mình mà không bị bất cứ cá nhân, tổ chức nào ép buộc

1.2.1.4 Áp dụng pháp luật Áp dụng pháp luật là một hình thức thực hiện pháp luật, trong đó các cơ quan nhà nước có thẩm quyền căn cứ vào các quy định của pháp luật mà tổ chức cho các chủ thể pháp luật thực hiện các quy định của pháp luật

Các bản án của tòa án, các quyết định xử phạt của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền về hành vi xả thải gây ô nhiễm môi trường, xây dựng trái phép áp dụng đối với từng chủ thể xác định là những hình thức áp dụng pháp luật Nếu như các hình thức tuân thủ pháp luật, thi hành pháp luật và sử dụng pháp luật là những hình thức thực hiện pháp luật do các chủ thể pháp luật tự mình thực hiện thì áp dụng pháp luật là hình thức thực hiện pháp luật luôn có sự tham gia của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền Hình thức áp dụng pháp luật có các đặc điểm sau:

- Áp dụng pháp luật là hoạt động mang tính quyền lực nhà nước

Hoạt động áp dụng pháp luật chỉ do cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành, mỗi loại cơ quan nhà nước sẽ thực hiện một số hoạt động áp dụng pháp luật trong phạm vi thẩm quyền được pháp luật quy định Đồng thời, các quyết định áp dụng pháp luật có tính chất bắt buộc thi hành đối với chủ thể bị áp dụng, các chủ thể có liên quan và trong trường hợp cần thiết, các quyết định áp dụng pháp luật sẽ được đảm bảo thực hiện bằng biện pháp cưỡng chế của nhà nước

- Áp dụng pháp luật là hoạt động được tiến hành theo những trình tự, thủ tục, hình thức chặt chẽ do pháp luật quy định

Pháp luật quy định cụ thể, rõ ràng về trình tự, thủ tục, hình thức, quyền và nghĩa vụ của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, các bên liên quan trong quá trình áp dụng pháp luật Vì vậy, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền và các bên liên quan trong quá trình áp dụng pháp luật bắt buộc phải tuân thủ nghiêm chỉnh các quy định mang tính thủ tục đó

- Áp dụng pháp luật là hoạt động mang tính cá biệt điều chỉnh các quan hệ xã hội xác định

Hệ thống pháp luật

1.3.1 Khái niệm hệ thống pháp luật

Khi xây dựng khái niệm “hệ thống pháp luật”, đã có nhiều quan điểm khác nhau, trong đó, truyền thống pháp luật ở Đức cũng như những nước thuộc hệ thống pháp luật Châu Âu lục địa cho rằng: hệ thống pháp luật bao gồm hai bộ phận là luật công và luật tư Luật công liên quan đến lợi ích của nhà nước và lợi ích công cộng, luật tư liên quan đến lợi ích cá nhân Quan điểm khác lại cho rằng, cần phân biệt hai khái niệm: hệ thống pháp luật và hệ thống pháp luật thực định

16 Ở Việt Nam, hầu hết các nhà nghiên cứu xây dựng khái niệm “hệ thống pháp luật” dựa trên sự tiếp thu nhất định lý luận về “hệ thống pháp luật” ở Liên Xô trước đây Theo GS.TS Lê Minh Tâm:“hệ thống pháp luật là tổng thể các quy phạm pháp luật có mối liên hệ nội tại thống nhất với nhau được phân định thành các chế định pháp luật và các ngành luật, được thể hiện trong các văn bản do Nhà nước ban hành theo trình tự và hình thức nhất định” 1 Theo quan niệm này, hệ thống pháp luật biểu hiện thông qua hệ thống cấu trúc của pháp luật và hệ thống văn bản pháp luật Quan điểm của GS.TS Lê Minh Tâm nhận được sự tán dồng rộng rãi trong giới khoa học pháp lý ở nước ta

Từ khái niệm trên, hệ thống pháp luật được hiểu là một chỉnh thể bao gồm cả cấu trúc bên trong của pháp luật (hệ thống cấu trúc) và hình thức thể hiện ra bên ngoài của pháp luật là hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật (hệ thống nguồn của pháp luật)

1.3.2 Hệ thống cấu trúc pháp luật

Hệ thống cấu trúc của pháp luật bao gồm ba thành tố là quy phạm pháp luật, chế định pháp luật, ngành luật Quy phạm pháp luật là thành tố nhỏ nhất trong hệ thống cấu trúc

Quy phạm pháp luật là quy tắc xử sự chung do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận và bảo đảm thực hiện, thể hiện ý chí và bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị trong xã hội nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội theo trật tự nhất định mà nhà nước mong muốn

Quy phạm pháp luật trước hết là một loại quy phạm xã hội dùng để điều chỉnh hành vi của con người, hoạt động của tổ chức Vì vậy, nó mang đầy đủ những đặc tính chung vốn có của quy phạm xã hội như: là quy tắc xử sự chung, là khuôn mẫu để mọi người làm theo, là tiêu chuẩn để xác định giới hạn và đánh giá hành vi của con người Ngoài những đặc tính chung của quy phạm xã hội thì quy phạm pháp luật còn có những đặc tính riêng:

- - Quy phạm pháp luật là quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung

Tính bắt buộc chung của quy phạm pháp luật được hiểu là bắt buộc đối với mọi tổ chức, cá nhân nằm trong hoàn cảnh, điều kiện mà quy phạm pháp luật đã quy định

- - Quy phạm pháp luật chỉ do nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện

Các quy phạm pháp luật phải được ban hành, thừa nhận hoặc phê chuẩn bởi các cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo một trình tự, thủ tục mà pháp luật quy định Bên cạnh đó, nhà nước cũng thành lập một hệ thống cơ quan có chức năng kiểm tra, giám sát, cưỡng chế để đảm bảo cho các quy phạm pháp pháp luật được thực hiện trên thực tế một cách chính xác, triệt để

- - Nội dung của mỗi quy phạm đều chứa đựng quy tắc hành vi

Nội dung của mỗi quy phạm pháp luật thường chỉ ra quyền và nghĩa vụ pháp lý của các bên tham gia vào quan hệ xã hội mà quy phạm pháp luật đó điều chỉnh, nghĩa là khi tham gia vào quan hệ xã hội, các bên sẽ biết được hành vi nào mình được thực hiện và

1 Lê Minh Tâm, Một số vấn đề lý luận và thực tiễn xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam, 1992,

17 thực hiện hành vi đó như thế nào? Hành vi nào bị pháp luật cấm? Hành vi nào bắt buộc phải thực hiện?

- - Quy phạm pháp luật được thể hiện dưới hình thức xác định

Trong các nhà nước hiện nay, quy phạm pháp luật chủ yếu được ghi vào văn bản pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành theo trình tự, thủ tục nhất định Nội dung quy phạm pháp luật được sắp xếp theo cấu trúc nhất định và có tính thống nhất Ngoài ra, mỗi một quy phạm pháp luật không tồn tại một cách biệt lập, riêng lẻ mà giữa chúng luôn có mối quan hệ mật thiết, thống nhất với nhau tạo thành một chỉnh thể

 Cấu trúc của quy phạm pháp luật

Cấu trúc của quy phạm pháp luật chính là những thành phần tạo nên quy phạm pháp luật

Các bộ phận hợp thành của quy phạm pháp luật bao gồm: Giả định, quy định và chế tài

- Giả định là một bộ phận của quy phạm pháp luật trong đó nêu lên những hoàn cảnh, điều kiện có thể xảy ra trong cuộc sống và cá nhân hay tổ chức nào ở vào những hoàn cảnh, điều kiện đó phải chịu sự tác động của quy phạm pháp luật đó Trong giả định của quy phạm pháp luật cũng nêu lên chủ thể (cá nhân, tổ chức) nào ở vào những điều kiện, hoàn cảnh đó

Bộ phận giả định của quy phạm pháp luật trả lời cho câu hỏi: Tổ chức, cá nhân nào? Khi nào? Trong những hoàn cảnh, điều kiện nào?

Ví dụ: Điều 16 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định:“Cơ quan,người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm thông báo, giải thích và bảo đảm cho người bị buộc tội, bị hại, đương sự thực hiện đầy đủ quyền bào chữa, quyền và lợi ích hợp pháp của họ theo quy định của Bộ luật này” Bộ phận giả định của quy phạm pháp luật trên là: “Cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng”

Giả định của quy phạm pháp luật có thể đơn giản (Chỉ nêu lên một hoàn cảnh, điều kiện) như: “Khi không còn căn cứ tuyên bố một người bị hạn chết năng lực hành vi dân sự thì theo yêu cầu của chính người đó hoặc của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định huỷ bỏ quyết định tuyên bố hạn chết năng lực hành vi dân sự (Khoản 3 Điều 24 Bộ Luật Dân sự năm 2015) hoặc có thể phức tạp (nêu lên nhiều hoàn cảnh, điều kiện ) như : Người nào thấy người khác đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng, tuy có điều kiện mà không cứu giúp dẫn đến hậu quả của người đó chết, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm” (khoản 1, Điều 132 Bộ luật Hình sự năm 2015)

- Quy định là một bộ phận của quy phạm pháp luật trong đó nêu cách xử sự mà tổ chức hay cá nhân ở vào hoàn cảnh, điều kiện đã nêu trong bộ phận giả định của quy phạm pháp luật được phép hoặc buộc phải thực hiện

Bộ phận quy định của quy phạm pháp luật trả lời câu hỏi: Phải làm gì? Được làm gì? Không được làm gì? Làm như thế nào?

Ví dụ: Điều 33 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: “Cá nhân có quyền sống, quyền bất khả xâm phạm về tính mạng, thân thể, quyền được pháp luật bảo hộ về sức khỏa Không

Quan hệ pháp luật

1.4.1 Khái niệm, đặc điểm của quan hệ pháp luật

 Khái niệm quan hệ pháp luật

Quan hệ pháp luật là quan hệ xã hội được quy phạm pháp luật điều chỉnh trong đó các bên tham gia quan hệ có các quyền và nghĩa vụ được nhà nước bảo đảm thực hiện

Như vậy, quan hệ pháp luật là hình thức pháp lý của quan hệ xã hội, xuất hiện dưới sự tác động của các quy phạm pháp luật, năng lực chủ thể và sự kiện pháp lý, trong đó các bên tham gia quan hệ có quyền chủ thể và nghĩa vụ pháp lý theo quy định của quy phạm pháp luật, được nhà nước bảo đảm thực hiện bằng các biện pháp tổ chức, cưỡng chế nhà nước

 Đặc điểm của quan hệ pháp luật

Quan hệ pháp luật có những đặc điểm sau:

- Quan hệ pháp luật là quan hệ xã hội mang tính ý chí

Tính ý chí của quan hệ pháp luật thể hiện ở chỗ quan hệ pháp luật là dạng quan hệ cụ thể hình thành giữa những chủ thể nhất định Các quan hệ này được hình thành thông qua hành vi có ý chí của các chủ thể Có những quan hệ pháp luật mà sự hình thành đòi hỏi cả hai bên chủ thể đều phải thể hiện ý chí, như quan hệ hợp đồng Trong nhiều trường hợp, theo quy định của pháp luật, quan hệ pháp luật phát sinh, thay đổi, chấm dứt do ý chí của các bên tham gia quan hệ pháp luật Ví dụ: Quan hệ hôn nhân, quan hệ hợp đồng,

Cũng có những loại quan hệ pháp luật được hình thành trên cơ sở ý chí nhà nước, như quan hệ pháp luật hình sự Đồng thời, quan hệ pháp luật xuất hiện trên cơ sở các quy phạm pháp luật mà nội dung của các quy phạm pháp luật thể hiện ý chí của Nhà nước

- Quan hệ pháp luật xuất hiện trên cơ sở quy phạm pháp luật

Quy phạm pháp luật là điều kiện đầu tiên để làm phát sinh quan hệ pháp luật cụ thể.Quan hệ pháp luật chỉ xuất hiện trên thực tế khi có quy phạm pháp luật điều chỉnh, Quy phạm pháp luật quy định rõ điều kiện cần và đủ để làm phát sinh quan hệ pháp luật cụ thể, quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia quan hệ pháp luật đó và các biện pháp bảo đảm thực hiện quyền và nghĩa vụn của chủ thể Ví dụ: Quy phạm pháp luật trong

Luật Doanh nghiệp 2005 quy định những vấn đề liên quan tới thành lập doanh nghiệp như: các diều kiện thành lập doanh nghiệp, các trường hợp không được thành lập doanh nghiệp,địa vị pháp lý của các loại hình doanh nghiệp,

- Quan hệ pháp luật là quan hệ mà các bên tham gia quan hệ mang quyền và nghĩa vụ pháp lý mà việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ pháp lý đó được đảm bảo bằng sự cưỡng chế của nhà nước Đây là đặc trưng cơ bản của quan hệ pháp luật Các quyền và nghĩa vụ pháp lý của các bên tham gia quan hệ pháp luật được quy định trong các quy phạm pháp luật gọi là nội dung của quan hệ pháp luật Căn cứ vào các quy phạm pháp luật, các bên tham gia quan hệ pháp luật sẽ biết được quyền và nghĩa vụ của mình trong quan hệ đó Việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của các bên khi tham gia quan hệ pháp luật được Nhà nước đảm bảo thực hiện, nếu các bên không thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình

26 thì thông qua hệ thống cơ quan nhà nước như Công an, Viện kiểm sát, Tòa án buộc các bên phải thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình Ví dụ: Trong quan hệ hợp đồng mua bán hàng hóa giữa A và B thì hai bên có quyền và nghĩa vụ ngang nhau, quyền của bên này là nghĩa vụ của bên kia và nghĩa vụ của bên này là quyền của bên kia Nếu A không thực hiện các nghĩa vụ theo hợp đồng đối với B thì Tòa án sẽ phân xử và đưa ra quyết định buộc A phải thực hiện các nghĩa vụ để đáp ứng quyền lợi hợp pháp của B

- Sự xuất hiện, thay đổi, chấm dứt các quan hệ pháp luật luôn gắn liền với sự kiện pháp lý

Một quan hệ xã hội trở thành một quan hệ pháp luật cần phải có sự tác động của hai thành tố là quy phạm pháp luật (quy định các quyền và nghĩa vụ của các bên) và sự kiện pháp lý Nói cách khác, chỉ khi có các tình huống, hiện tượng, quá trình xảy ra trong cuộc sống được ghi nhận trong quy phạm pháp luật thì mới xuất hiện, thay đổi, chấm dứt quan hệ pháp luật

1.4.2 Cấu trúc của quan hệ pháp luật

Cấu trúc của quan hệ pháp luật bao gồm các bộ phận có những nét đặc thù riêng là : chủ thể, nội dung và khách thể

1.4.2.1 Chủ thể của quan hệ pháp luật

Chủ thể của quan hệ pháp luật là cá nhân, tổ chức đáp ứng các điều kiện do pháp luật quy định và tham gia vào quan hệ pháp luật Điều kiện do nhà nước quy định để tổ chúc, cá nhân có thể tham gia quan hệ pháp luật gọi là năng lực chủ thể

Năng lực chủ thể là khả năng của cá nhân, tổ chức thỏa mãn các điều kiện do pháp luật quy định để có thể trở thành chủ thể của mỗi quan hệ pháp luật Năng lực chủ thể gồm: năng lực pháp luật và năng lực hành vi

- Năng lực pháp luật là khả năng của chủ thể được hưởng quyền và thực hiện nghĩa vụ theo quy định của pháp luật khi tham gia vào quan hệ pháp luật

- Năng lực hành vi là khả năng của chủ thể được nhà nước thừa nhận bằng hành vi của mình có thể xác lập, thực hiện quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật khi tham gia vào quan hệ pháp luật

Năng lực pháp luật và năng lực hành vi có mối liên hệ chặt chẽ với nhau Năng lực pháp luật là tiền đề của năng lực hành vi, không thể có chủ thể quan hệ pháp luật không có năng lực pháp luật mà lại có năng lực hành vi Trong trường hợp, chủ thể quan hệ pháp luật chỉ có năng lực pháp luật thì không thể tham gia tích cực vào các quan hệ xã hội vì không thể tự mình thực hiện các quyền và nghĩa vụ pháp lý

Năng lực pháp luật và năng lực hành vi không phải là những thuộc tính tự nhiên mà là những thuộc tính pháp lý vì những thuộc tính này là do Nhà nước thừa nhận và được quy định trong các quy phạm pháp luật Thông qua các quy phạm pháp luật, chúng ta mới biết cá nhân, tổ chức có năng lực chủ thể để tham gia vào các quan hệ pháp luật nhất định

PHÁP LUẬT VỀ TÀI SẢN, QUYỀN SỞ HỮU VÀ THỪA KẾ

PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG

TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG

LUẬT LAO ĐỘNG

PHÁP LUẬT VỀ TỐ TỤNG DÂN SỰ

Ngày đăng: 22/03/2023, 09:31

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
7. Luật tổ chức viện kiểm sát nhân dân 2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật tổ chức viện kiểm sát nhân dân 2014
Năm: 2014
11. Nghị định 44/2013/NĐ-CP ngày 10/5/2013 quy định chi tiết thi hành một số điều của BLLĐ về Hợp đồng lao động.*Giáo trình, sách Sách, tạp chí
Tiêu đề: quy định chi tiết thi hành một số điều của BLLĐ về Hợp đồng lao động
Năm: 2013
1. Trần Văn Độ, Từ nguyên tắc hai cấp xét xử đến việc tổ chức tòa án các cấp, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 10/2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ nguyên tắc hai cấp xét xử đến việc tổ chức tòa án các cấp
Tác giả: Trần Văn Độ
Nhà XB: Tạp chí Nghiên cứu lập pháp
Năm: 2014
2. Hội đồng phối hợp phổ biến - giáo dục pháp luật trung ương, Chủ đề Pháp luật tố tụng dân sự, Đặc san tuyên truyền số 4/2013, Hà Nội 2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật tố tụng dân sự
Tác giả: Hội đồng phối hợp phổ biến - giáo dục pháp luật trung ương
Nhà XB: Đặc san tuyên truyền
Năm: 2013
3. Hoàng Thế Liên, Bình luận khoa học Bộ luật Dân sự, Nxb. Tư pháp, 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận khoa học Bộ luật Dân sự
Tác giả: Hoàng Thế Liên
Nhà XB: Nxb. Tư pháp
Năm: 2011
4. Hoàng Thế Liên, Bình luận khoa học Bộ luật dân sự năm 2005 (Tập1, 3), Nxb. Chính trị quốc gia, năm 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận khoa học Bộ luật dân sự năm 2005 (Tập1, 3)
Tác giả: Hoàng Thế Liên
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2010
5. Tưởng Duy Lượng, Pháp luật dân sự và thực tiễn xét xử, Nxb. CTQG, Hà Nội, 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật dân sự và thực tiễn xét xử
Tác giả: Tưởng Duy Lượng
Nhà XB: Nxb. CTQG
Năm: 2012
6. Lê Minh Tâm, Một số vấn đề lý luận và thực tiễn xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam, 1992 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam
Tác giả: Lê Minh Tâm
Năm: 1992
7. Đào Xuân Tiến, Trách nhiệm kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm các vụ án kinh tế - dân sự, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 10/2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trách nhiệm kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm các vụ án kinh tế - dân sự
Tác giả: Đào Xuân Tiến
Nhà XB: Tạp chí Nghiên cứu lập pháp
Năm: 2014
8. Trường đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh, Giáo trình Luật tố tụng dân sự Việt Nam, Nxb Hồng Đức, năm 2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật tố tụng dân sự Việt Nam
Tác giả: Trường đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Hồng Đức
Năm: 2013
9. Trường đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật tố tụng dân sự Việt Nam, Nxb CAND, Hà Nội 2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật tố tụng dân sự Việt Nam
Tác giả: Trường đại học Luật Hà Nội
Nhà XB: Nxb CAND
Năm: 2013
10. Trường Đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh, Tập bài giảng Tài sản và thừa kế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tập bài giảng Tài sản và thừa kế
Tác giả: Trường Đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh
11. Trường Đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh, Tập bài giảng Những vấn đề chung về luật dân sự Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề chung về luật dân sự
Tác giả: Trường Đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh
12. Trường đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật dân sự Việt Nam, Nxb CAND, Hà Nội 2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật dân sự Việt Nam
Tác giả: Trường đại học Luật Hà Nội
Nhà XB: Nxb CAND
Năm: 2013
13. Trường đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh, Giáo trình Pháp luật về tài sản, quyền sở hữu tài sản và quyền thừa kế, Nxb Hồng Đức, năm 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Pháp luật về tài sản, quyền sở hữu tài sản và quyền thừa kế
Nhà XB: Nxb Hồng Đức

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w