BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG KINH DOANH VÀ CÔNG NGHỆ HÀ NỘI BÀI TIỂU LUẬN ĐỀ TÀI Tìm hiểu về vùng đồng Bằng Bắc Bộ HỌ VÀ TÊN SINH VIÊN GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN MÃ SV LỚP Hà Nội 2023 Mục lục A LỜI MỞ ĐẦU 1[.]
TÌM HIỂU VỀ VÙNG ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ
Vị trí địa lí
Bắc bộ là vùng cực Bắc lãnh thổ Việt Nam nằm phía Đông Bắc, nằm ở hạ lưu sông Hồng và sông Thái Bình.
Phía bắc giáp với vùng văn hóa Việt Bắc.
Phía nam giáp với vùng văn hóa Trung bộ.
Phía Tây giáp với vùng hóa Tây Bắc
Phía Đông giáp với biển Đông.
Khu vực đồng bằng Bắc Bộ nằm trên hai trục giao thông chính là Tây – Đông và Bắc – Nam, trở thành điểm trung chuyển quan trọng để kết nối các vùng trong nước và khu vực Đông Nam Á Vị trí chiến lược này đã thu hút sự chú ý của các lực lượng xâm lược nhằm mở rộng ảnh hưởng vào khu vực Tuy nhiên, địa lý góp phần thúc đẩy giao lưu văn hóa, tạo điều kiện thuận lợi cho cư dân nơi đây tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại và phát triển văn hóa phong phú.
Vị trí chiến lược này khiến nó trở thành mục tiêu xâm lược đầu tiên của các thế lực muốn mở rộng bành trướng tại Đông Nam Á Tuy nhiên, vị trí địa lý này cũng mang lại thuận lợi cho cư dân trong việc giao lưu văn hóa và tiếp nhận tinh hoa văn hóa nhân loại, góp phần thúc đẩy sự phát triển và hội nhập của khu vực.
Về mặt địa hình
Đồng bằng Bắc Bộ có hình dạng tam giác, đỉnh nằm ở Việt Trì, cạnh đáy là đường bờ biển, tạo thành một trong những đồng bằng lớn nhất của Việt Nam với diện tích khoảng 15.000 km² Đồng bằng này được hình thành và duy trì nhờ lượng phù sa phong phú từ hai hệ thống sông Hồng và sông Thái Bình, giúp đất đai màu mỡ và phù hợp cho nông nghiệp Với địa hình bằng phẳng, đồng bằng Bắc Bộ góp phần phát triển kinh tế khu vực và ngày càng mở rộng ra biển, trở thành trung tâm trọng điểm của vùng miền Bắc.
Châu thổ Bắc Bộ là vùng địa hình gồm các dãy núi xen kẽ với đồng bằng và thung lũng, tạo thành khu vực thấp và bằng phẳng Địa hình dốc nhẹ dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam, với độ cao từ 10 – 15 mét giảm dần đến mực nước biển, tạo nên đặc điểm địa lý độc đáo của khu vực.
Toàn vùng cũng như trong mỗi vùng địa hình cao thấp không đều tại vùng có địa hình cao vẫn có nơi thấp úng.
Về khí hậu
Vùng Đồng bằng Bắc Bộ có khí hậu bốn mùa rõ rệt, điều kiện mùa đông lạnh ẩm và mùa hè nóng mưa nhiều, tạo thuận lợi cho hoạt động sản xuất và đời sống Khí hậu điều hòa, sự chênh lệch giữa mùa đông ít mưa và mùa hè nóng ẩm phù hợp cho các loại cây trồng đa dạng, giúp đạt năng suất và chất lượng cao Nhiều loại cây lương thực, rau màu, cây công nghiệp và cây ăn quả phát triển tốt trên đất màu phù sa màu mỡ của vùng Khả năng tăng vụ, đa dạng hóa cây trồng, phát triển chăn nuôi và khai thác hải sản cũng rất cao Tuy nhiên, khí hậu vùng này cũng mang lại những khó khăn đáng kể cần được quan tâm và khắc phục để phát triển bền vững.
Mưa lớn tập trung ở khu vực Tây Bắc và Đông Bắc thường gây ra lũ lụt lớn hàng năm, đe dọa trực tiếp đến đồng ruộng và đời sống của người dân vùng Đồng bằng Bắc Bộ Mực nước sông thường tăng cao, gây nguy cơ tràn bờ và vỡ đê, đặc biệt trong những mùa mưa lớn Nhà máy thủy điện Hòa Bình có khả năng điều tiết lượng nước để giảm thiểu thiệt hại, nhưng do lượng mưa lớn trong vùng đồng bằng cũng như khu vực nội đồng, nên nguy cơ lũ lụt vẫn rất nghiêm trọng hàng năm.
Khu vực Đồng bằng Bắc Bộ hàng năm đối mặt với tác động của bão, áp thấp nhiệt đới, gây ra mưa lớn, gió mạnh, dẫn đến ngập úng và thiệt hại nặng nề trong vụ mùa Các giải pháp dự báo mưa lớn diện rộng và phòng chống lũ, lũ quét đang được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cùng các ngành liên quan đặc biệt quan tâm Ngoài ra, đồng bằng còn chịu ảnh hưởng của gió Tây khô nóng, gây ra tình trạng khô hạn kéo dài trong mùa khô, gây khó khăn lớn cho sản xuất nông nghiệp Vì vậy, nghiên cứu làm tăng lượng mưa, hay còn gọi là "làm mưa nhân tạo," hiện là vấn đề được nhà nước đặc biệt chú trọng nhằm giảm thiểu tác động của hạn hán, giúp đảm bảo an ninh nguồn nước và phát triển nông nghiệp bền vững.
Vùng Đồng bằng Bắc Bộ đặc trưng bởi khí hậu mưa phùn và nồm ẩm, đặc biệt vào tháng 2 và 3, dễ gây ra tình trạng ẩm mốc, ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng và gây hư hỏng thiết bị điện tử, máy móc hiện đại Việc bảo quản vật tư và thiết bị tại đây cần chú trọng, đồng thời chế tạo máy móc cần phù hợp với điều kiện nhiệt đới hóa để đảm bảo độ bền và hiệu quả hoạt động Đồng bằng Bắc Bộ có mùa đông rõ rệt với ba tháng nhiệt độ trung bình dưới 18°C, nhiệt độ cao và ổn định quanh năm do ảnh hưởng từ khí hậu trung hòa của lục địa Hệ thống sông ngòi phong phú, gồm sông Hồng, sông Thái Bình và sông Mã, cùng các mương máng tưới tiêu dày đặc, phản ánh rõ rệt hai mùa khô và mưa: mùa cạn với dòng chảy nhỏ, nước trong và mùa lũ với dòng chảy lớn, nước đục.
Ngoài khơi, thủy triều vịnh Bắc Bộ cũng theo chế độ nhật triều, mỗi ngày có một lần nước lên và một lần nước xuống.
Không gian văn hóa là một khái niệm phản ánh sự kết hợp giữa không gian và văn hóa, thể hiện mối liên hệ chặt chẽ giữa môi trường vật chất và giá trị, đặc trưng văn hóa của cộng đồng Khái niệm này giúp hiểu rõ cách mà các yếu tố văn hóa hình thành và định hình không gian sống, góp phần bảo tồn và phát huy bản sắc truyền thống Việc nghiên cứu không gian văn hóa mang lại sâu sắc về cách cộng đồng thể hiện bản sắc văn hóa qua các không gian công cộng và riêng tư Nhận thức rõ về không gian văn hóa góp phần thúc đẩy phát triển bền vững, nâng cao giá trị văn hóa và phát huy bản sắc dân tộc trong quá trình đô thị hóa hiện đại.
Không gian theo Từ điển tiếng Việt có hai nghĩa: thứ nhất, là hình thức tồn tại cơ bản của vật chất cùng với thời gian, trong đó các vật thể có độ dài và lớn khác nhau, cách nhau theo khoảng cách nhất định; thứ hai, là khoảng không bao trùm mọi vật xung quanh con người Trong bối cảnh văn hóa, không gian được hiểu là tổng thể những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra nhằm đáp ứng nhu cầu sinh tồn và phát triển.
Không gian văn hóa đề cập đến phạm vi, vùng lãnh thổ nơi chủ thể văn hóa giữ gìn giá trị truyền thống và sáng tạo giá trị mới phù hợp với nhu cầu cộng đồng Đây là khu vực bao quanh nơi diễn ra các hoạt động sáng tạo, bảo tồn và truyền bá các giá trị văn hóa.
Không gian văn hóa có thể trùng với các khái niệm như khu vực, vùng văn hóa, nhưng thường rộng hơn do phạm vi ảnh hưởng và lan tỏa của các giá trị văn hóa Các vùng giao thoa văn hóa ở các quốc gia, dân tộc chung đường biên thường diễn ra hoạt động đan xen, mang đặc trưng tiêu biểu của nhiều nền văn hóa khác nhau Đặc biệt, không gian văn hóa làng chủ yếu là khu vực nông thôn liên quan đến sản xuất nông nghiệp, nơi cư trú của cộng đồng dân cư gồm nhiều gia tộc có quan hệ huyết thống và thường mở rộng ra các gia đình tộc khác cùng chung sống Làng là cộng đồng văn hóa thể hiện rõ nét qua các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo, lễ hội, phong tục, tập quán và trách nhiệm bảo vệ đất đai chung của cư dân.
Làng là một kết cấu xã hội vững chắc, nơi diễn ra các hoạt động sinh hoạt hàng ngày và các quan hệ kinh tế, xã hội, cộng đồng xây dựng và duy trì các nét văn hóa truyền thống của dân tộc.
Không gian văn hóa làng vùng đồng bằng Bắc Bộ là nơi các cộng đồng xây dựng, giữ gìn và truyền bá các giá trị văn hóa đặc trưng của địa phương Quá trình phát triển văn hóa làng bao gồm các thành tố quan trọng như chủ thể sáng tạo, các giá trị và chuẩn mực văn hóa, cùng với hệ thống thể chế như quy ước, hương ước của làng, xã Các thiết chế văn hóa như đình, chùa, miếu mạo đóng vai trò thiết yếu trong việc phục vụ hoạt động văn hóa cộng đồng Sự biến đổi của không gian văn hóa làng và vùng đồng bằng Bắc Bộ phản ánh sự thay đổi trong nhận thức và đặc điểm của các chủ thể văn hóa qua thời gian.
Cư dân nguyên thủy sống trên các đồng bằng Bắc Việt Nam thuộc các chủng tộc Nam Á như Việt - Mường, Môn - Khơme và Hán - Thái, phản ánh sự đa dạng dân tộc và lịch sử phát triển của khu vực.
Vùng châu thổ Bắc Bộ gồm hai tộc người là tộc Kinh và tộc người Mường trong đó tộc người kinh là chủ thể văn hóa chính của vùng.
Vùng miền có những giá trị văn hóa đặc trưng phản ánh sự sáng tạo và cần cù của nhóm Việt Mường Trong đó, dân tộc Kinh đóng vai trò then chốt trong việc gìn giữ và phát huy các giá trị này Những nét đẹp văn hóa này không chỉ là sản phẩm tự sự độc đáo mà còn thể hiện sự đoàn kết và bản sắc của cộng đồng địa phương Việc bảo tồn các giá trị văn hóa của nhóm Việt Mường góp phần nâng cao nhận thức về di sản truyền thống và thúc đẩy phát triển bền vững của vùng miền.
Dân số khu vực Đồng bằng sông Hồng hiện nay đạt khoảng 21.848.913 người (năm 2021), chiếm khoảng 22,3% tổng dân số cả nước Trung bình, mật độ dân số tại đây là khoảng 1.450 người trên mỗi km vuông, là vùng có mật độ dân cư đông nhất cả nước.
Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ của Việt Nam gồm 7 tỉnh và thành phố, bao gồm Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Hải Dương, Hưng Yên, Bắc Ninh và Vĩnh Phúc Đây là trung tâm kinh tế năng động, đóng vai trò là đầu tàu quan trọng của miền Bắc và cả nước Một trong những lợi thế lớn nhất của vùng là nguồn nhân lực chất lượng cao, đào tạo tốt, có trình độ cao và điểm thi vào các trường đại học, cao đẳng đạt mức cao nhất cả nước, cùng tỷ lệ sinh viên trên đầu người đáng kể.
Phương thức sản xuất chủ yếu của vùng?
Nông nghiệp lúa nước vùng châu thổ các sông lớn như Hồng, Mã, Cả, Chu đã trở thành ngành kinh tế chủ đạo của khu vực Bắc Bộ Người nông dân Bắc bộ ngày càng khéo léo đắp đê lấn biển để mở rộng diện tích trồng lúa, đồng thời phát triển các hoạt động như làm muối và đánh bắt cá trên biển, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương.
Nghề khai thác hải sản không phát triển yếu.
Bên cạnh nghề nông việc trồng rau, trồng cà, trồng cây ăn quả, trồng dâu,chăn tằm,nuôi trâu,bò ,lợn ,gà cũng rất phát triển.
Đặc trưng văn hóa xã hội
Trong suốt chiều dài lịch sử, cư dân đồng bằng Bắc Bộ chủ yếu sống bằng nghề trồng lúa nước và nông nghiệp truyền thống, phản ánh nét sinh hoạt văn hóa lâu đời của vùng đất này Đồng bằng Bắc Bộ nằm trong một khu vực được bao bọc bởi biển và rừng, tạo thành một môi trường tự nhiên phong phú, thuận lợi cho phát triển các hoạt động nông nghiệp Các hoạt động nông nghiệp thuần túy vẫn giữ vai trò chủ đạo trong đời sống của người dân nơi đây, góp phần xây dựng nên bản sắc đặc trưng của vùng đất này.
Người nông dân Việt Bắc Bộ được mô tả như những cư dân "xa rừng, nhạt biển" theo lời của PGS, PTS Ngô Đức Thịnh, thể hiện nét đặc trưng của họ gắn bó mật thiết với vùng đất núi rừng Họ sống gần thiên nhiên, dựa vào nông nghiệp để sinh tồn, thể hiện tinh thần làng xóm đoàn kết và truyền thống văn hóa đặc trưng Tâm thức của người dân nơi đây là trải qua những thử thách của tự nhiên, giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa cộng đồng Bản chất của người nông dân Việt Bắc còn thể hiện qua sự kiên trì, cần cù và tình cảm gắn bó với đất trời, góp phần tạo nên nét đẹp riêng biệt của vùng núi cao này.
Người dân đồng bằng Bắc Bộ chủ yếu trồng lúa nước và sống dựa trên phương thức thủ công truyền thống, với khoảng 82% diện tích đất dành cho cây lương thực Trong lịch sử, làng Việt Bắc Bộ là một tiểu xã hội trồng lúa nước, nơi cộng đồng làng giữ vai trò trung tâm trong đời sống xã hội với các quy ước, khoán ước nghiêm ngặt về đất đai, sản xuất và đạo đức, tạo nên sức mạnh tinh thần vững chắc Các làng quần tụ thành đơn vị xã hội cơ sở, bắt nguồn từ các công xã thị tộc nguyên thủy, trở thành những làng truyền thống của nền nông nghiệp Việt, có hệ thống quản lý và tổ chức xã hội chặt chẽ, thúc đẩy sự gắn bó cộng đồng về mặt sở hữu đất đai, tâm linh, đạo đức và chuẩn mực xã hội Trong khi đó, Bắc Bộ có nhiều sông ngòi, ao hồ để khai thác thủy sản, và nghề thủ công truyền thống như gốm, dệt, luyện kim, đúc đồng đã phát triển lâu đời, phản ánh tinh thần sáng tạo và ứng dụng của cư dân Bộ là người dân ven biển đắp đê lấn biển, trồng lúa, làm muối và đánh cá để sinh sống, nhưng nghề cá tại đây không phát triển quy mô lớn như ở ven sông Chính các đặc điểm cộng đồng và tài nguyên tự nhiên đã tạo nên bản sắc văn hóa riêng biệt của vùng Bắc Bộ, đồng thời làm giảm vai trò của cá nhân trong đời sống cộng đồng, góp phần giữ vững đặc trưng văn hóa và lối sống truyền thống của khu vực.
Đặc trưng về văn hoá vật chất
Trải qua hàng ngàn năm lịch sử, người dân Việt đã chinh phục thiên nhiên, tạonên một diện mạo, đồng bằng như ngày nay, bằng việc đào mương, đắp bờ, đắp đê Biết bao cây số đê cũng được tạo dựng dọc các triền sông thuộc hệ thống sông Hồng và sôngThái Bình Nói cách khác, đồng bằng châu thổ sông Hồng, sông Thái Bình là kết quả củasự chinh phục thiên nhiên của người Việt Trong văn hóa đời thường, sự khác biệt giữavăn hóa Bắc Bộ và các vùng khác trong cả nước chính được tạo ra từ sự thích nghi vớithiên nhiên này.
Qua hàng ngàn năm lịch sử, người dân Việt Nam đã chinh phục và khai thác thiên nhiên để hình thành diện mạo đồng bằng như ngày nay, bằng cách đào mương, đắp bờ, đắp đê Hệ thống đê bao dọc sông Hồng và sông Thái Bình là thành quả của sự nỗ lực bảo vệ và kiểm soát dòng chảy của thiên nhiên, góp phần tạo nên đồng bằng châu thổ trù phú Đồng bằng sông Hồng và sông Thái Bình chính là biểu tượng của sự thành công trong việc chinh phục thiên nhiên của người Việt Trong đời sống hàng ngày, sự khác biệt về văn hóa của Bắc Bộ so với các vùng khác trong cả nước bắt nguồn từ sự thích nghi và biến đổi phù hợp với đặc thù tự nhiên của khu vực.
Văn hóa nhà ở là đặc trưng tiêu biểu của nền văn hóa Bắc Bộ, thể hiện qua cách xây dựng nhà ở phù hợp với cảnh quan và truyền thống địa phương Nhà ở của cư dân Bắc Bộ thường sử dụng vật liệu nhẹ, bền, giúp đảm bảo sự lâu bền và giữ gìn nét đẹp tự nhiên của khu vực Người nông dân Bắc Bộ luôn ưu tiên xây dựng những ngôi nhà vững chắc, đẹp mắt, đồng thời hài hòa với cảnh quan xung quanh Ngôi nhà đối với họ là yếu tố quan trọng nhất để đảm bảo cuộc sống ổn định và bền vững, phản ánh rõ nét đặc trưng văn hóa và lối sống của người Bắc Bộ.
Nhà của người dân Bắc Bộ thường mang đặc trưng mái cong truyền thống, thể hiện nét đẹp văn hoá và phong cách kiến trúc đặc trưng của khu vực Trong quá trình phát triển, mái nhà thường được làm thẳng để đơn giản hóa, chỉ những công trình kiến trúc lớn mới có mái cong cầu kỳ và tinh xảo Các đầu đao ở các công trình như đình, chùa, cung điện thường được vút cong như con thuyền rẽ sóng, tạo nên vẻ thanh thoát, vừa trang nghiêm vừa gợi cảm giác bay bổng, hòa quyện cùng thiên nhiên rộng lớn quanh nhà Một số vùng Bắc Bộ, như Nghệ An, thiết kế nhà theo kiểu nhà sàn để phù hợp với điều kiện thời tiết như lũ lụt, độ ẩm cao và nhằm ngăn côn trùng xâm nhập Vào thế kỷ XVII, nhiều đình như đình Đình Bảng (Bắc Ninh) và đình Chu Quyến (Hà Tây) vẫn giữ lối kiến trúc nhà sàn truyền thống, phản ánh nét đẹp cổ kính và sự thích nghi cao của người dân Bắc Bộ với môi trường tự nhiên.
Ngôi nhà Việt Nam, đặc biệt vùng Bắc Bộ, được xây dựng theo tiêu chuẩn "nhà cao, cửa rộng", với cấu trúc mở nhằm thích nghi với môi trường tự nhiên Nhà cao gồm hai yếu tố chính: sàn (nền) cao hơn mặt đất để chống ẩm and bảo vệ khỏi lũ lụt, và mái cao giúp thoát nhiệt và gió mát, phù hợp với khí hậu vùng Bắc Bộ Dù hiện nay nhiều gia đình chuyển sang xây nhà đất, nhưng nguyên tắc vẫn giữ nề cao nền để đảm bảo độ bền và thoáng mát cho không gian sống Cửa nhà thường rộng thay vì cao để tránh ánh nắng trực tiếp và mưa hắt, đón gió mát, tạo sự thông thoáng cho ngôi nhà Phần đầu dưới mái nhà (giọt gianh) thường được kéo dài xa so với mái hiên để thoát hơi nóng và khói hiệu quả Đặc biệt, người dân Bắc Bộ có kinh nghiệm làm cửa và cổng thẳng hàng nhằm tránh gió độc và gió mạnh, góp phần bảo vệ và giữ gìn không gian sống thoải mái.
Chọn hướng nhà và đất là biện pháp quan trọng để đối phó với môi trường tự nhiên, đặc biệt tại Bắc Bộ, nơi hướng Nam được ưu tiên nhờ khả năng tránh nóng phía Tây, bão phía Đông và gió rét từ phía Bắc, đồng thời tận dụng gió mát trong mùa nóng Việc lựa chọn hướng nhà phù hợp còn phụ thuộc vào đặc điểm địa hình, các yếu tố như núi, sông và con đường xung quanh, nhằm tối ưu hóa tác động của gió và ánh sáng tự nhiên để đảm bảo sự thoải mái và cân bằng cho không gian sống.
Khi chọn đất tại Bắc Bộ, người dân chú trọng đến phong thủy và khí hậu của ngôi nhà để đảm bảo sự hòa hợp và thuận lợi trong cuộc sống Ngoài ra, câu tục ngữ “Bán anh em xa, mua láng giềng gần” nhấn mạnh tầm quan trọng của việc chọn hàng xóm láng giềng tốt khi mua đất Trong quá trình phát triển kinh tế,họ thường ưu tiên những khu vực gần đường giao thông để thuận tiện cho việc đi lại, làm ăn, buôn bán, tăng cường cơ hội phát triển và sinh lời.
Nhà ở của người Bắc Bộ nổi bật với đặc điểm là rất đông đúc và linh hoạt, thường là loại nhà không có chái, hình thức phát triển theo kiểu kéo dài Bộ khung của nhà thường được liên kết theo không gian ba chiều: đứng, ngang và dọc, đảm bảo sự vững chắc và linh hoạt trong thiết kế Theo chiều đứng, lực tập trung vào đá tảng, còn theo chiều ngang, các cột liên kết để tạo thành các vì kèo chắc chắn; theo chiều dọc, các vì kèo được liên kết bằng xà, hình thành bộ khung kiên cố cho ngôi nhà Các chi tiết của ngôi nhà được ghép lại với nhau bằng kỹ thuật mộng, tăng độ bền và tính thẩm mỹ của công trình.
Ngôi nhà Bắc Bộ phản ánh truyền thống văn hoá đặc trưng của vùng, thể hiện qua tính cộng đồng không chia phòng biệt lập và việc ngăn cách bằng rào cây thấp để dễ liên hệ Truyền thống thờ cúng tổ tiên và hiếu khách được thể hiện rõ qua bàn thờ ở gian giữa, trong đó phía trong là bàn thờ trang nghiêm, phía ngoài là bàn ghế tiếp khách Truyền thống coi trọng bên trái (phía Đông) thể hiện qua chiếc đòn nóc có đầu gốc hướng về phía Đông và bếp đặt ở phía Đông, phản ánh nguyên tắc kiến trúc đặc trưng của người Bắc Bộ Nguyên tắc coi trọng số lẻ trong kiến trúc như số gian, số cổng, số tòa (ví dụ: Ngọ Môn 5 cửa, 9 lầu; cột cờ 3 cấp) còn thể hiện niềm tin của người xưa vào số dương, tượng trưng cho người sống.
Người Việt Bắc Bộ thường trồng cây quanh nhà để tạo bóng mát và làm đẹp cảnh quan Mô hình ẩm thực của người Việt trên châu thổ Bắc Bộ vẫn giữ nguyên với các món ăn chính gồm cơm, rau và cá, trong đó cá chủ yếu là các loại cá nước ngọt Hải sản đánh bắt từ biển chỉ phổ biến ở các làng ven biển, còn các làng trong đồng bằng chủ yếu tiêu thụ cá nước ngọt và các loại thực phẩm khác.
Cư dân đô thị Hà Nội ít tiêu thụ đồ biển hơn so với cư dân các đô thị phía Nam như Huế, Nha Trang, Sài Gòn Người Bắc Bộ thích ứng với khí hậu miền Bắc bằng cách tăng cường thịt và mỡ trong khẩu phần, đặc biệt vào mùa đông để giữ ấm cơ thể Ngoài ra, các gia vị cay, chua, đắng quen thuộc ở Trung Bộ và Nam Bộ ít xuất hiện trong các bữa ăn của người Bắc Bộ.
Cốm Hà Nội c.Văn hoá trang phục.
Người dân Bắc Bộ có phong cách ăn mặc phù hợp với thiên nhiên châu thổ Bắc Bộ, phản ánh lịch sử phát triển nghề trồng dâu, nuôi tằm, dệt lụa qua các thời kỳ Trang phục truyền thống của phụ nữ gồm váy, yếm, áo tứ thân, đầu chít khăn mỏ quạ và thắt lưng hoa lý, thể hiện sự duyên dáng và kín đáo Trong các dịp lễ hội, phụ nữ thường mặc váy xoè, trang trí thêm lông chim hoặc lá cây, tóc được búi hoặc tết theo nhiều kiểu, đôi khi quấn khăn cởi trần, mặc khố, đầu cạo trọc, đặc trưng của cư dân ven sông có tục vẽ mình để tránh “giao long” Người Việt cổ tuổi còn dùng trang sức như dây chuyền vỏ ốc, hạt đá, hoa tai, vòng tay bằng đá để làm đẹp theo truyền thống Trang phục của nam giới thời phong kiến gồm quần lá to, áo cánh màu nông sồng, và khi đi làm thường đeo vòng tay, hoa tai bằng đá Bộ lễ phục của phụ nữ gồm ba chiếc áo dài tứ thân màu thâm hoặc nâu non, phối cách màu sắc phối trộn, cài khuy bên sườn, lật chéo để lộ ba màu áo bên trong, đội nón duyên dáng, thể hiện nét đẹp truyền thống Trong khi đó, lễ phục của đàn ông là quần trắng, áo dài the, chít khăn đen, phản ánh phong cách trang phục lịch sự của người Bắc Bộ qua các thời kỳ lịch sử.
Trang phục truyền thống của người Việt Bắc Bộ đã có sự thay đổi rõ rệt, trong đó bộ âu phục dần thay thế cho trang phục truyền thống của đàn ông Áo dài của phụ nữ ngày càng được cải tiến và hoàn thiện hơn, thể hiện nét đẹp truyền thống nhưng phù hợp với thời hiện đại Tuy nhiên, do yêu cầu của lao động và công việc hàng ngày, phụ nữ không luôn mặc áo dài mà chỉ diện trang phục này trong những dịp trang trọng hoặc ngày lễ Ngoài ra, làng nghề truyền thống vẫn giữ vai trò quan trọng trong việc bảo tồn và phát triển các sản phẩm thủ công đặc trưng của địa phương.
Nét đẹp văn hoá vùng châu thổ Bắc Bộ được thể hiện rõ nét qua các làng nghề thủ công truyền thống, đã tồn tại và phát triển qua hàng trăm năm Những làng nghề này không chỉ phản ánh đặc trưng văn hóa độc đáo của khu vực mà còn góp phần bảo tồn και phát huy giá trị truyền thống của người dân nơi đây.
Gốm Bát Tràng – Hà Nội là một trong những làng nghề thủ công nổi bật của Việt Nam với lịch sử hình thành và phát triển lâu đời Vào đầu thế kỷ 20, nhà nghiên cứu Pierre Gourou ghi nhận có tới 108 nghề thủ công trong 7.000 làng thuộc vùng châu thổ sông Hồng, trong đó có hơn 500 làng nghề tập trung nhiều nhất ở các khu vực như Nam Định, Hà Tây, Thái Bình, Bắc Ninh, Hải Dương, Hưng Yên, Vĩnh Phúc, Hà Nam Gốm Bát Tràng nổi bật với truyền thống làm đồ gốm sứ tinh xảo, góp phần phát triển ngành thủ công mỹ nghệ và thúc đẩy kinh tế địa phương.
Đặc trưng văn hoá tinh thần
Vùng châu thổ Bắc Bộ là kho báu vô giá của di sản văn hóa phi vật thể đa dạng và phong phú, gồm ca dao, ngạn ngữ, huyền thoại, truyện cổ tích, giai thoại và các lễ hội truyền thống lâu đời Đây là nơi phát triển của ca nhạc dân gian, trò diễn, góp phần làm phong phú nền văn hóa nghệ thuật Việt Nam Bắc Bộ được xem là "mảnh đất màu mỡ" để ươm mầm các nét đặc trưng của văn hóa dân gian, thể hiện rõ qua các truyền thống lâu đời và các hình thức nghệ thuật độc đáo Như GS Trần Quốc Vượng đã nhận xét, Bắc Bộ là viên ngọc quý giá trong kho tàng văn hóa của đất nước, mang đậm nét đặc trưng của văn hóa dân tộc Việt Nam.
Kho tàng văn học dân gian Bắc Bộ được xem như một kho báu quý giá, chứa đựng nhiều khoáng sản văn hóa hiếm có Ca dao, dân ca xứ Bắc không chỉ ngọt ngào, đằm thắm mà còn thấm đẫm tình cảm, thể hiện rõ nét đẹp tâm hồn người dân nơi đây Bắc Bộ sở hữu một kho tàng đồ sộ các tích truyện, truyện cổ dân gian, truyền thuyết và truyện cười, với hình ảnh quen thuộc như ông Bụt, cô Tấm, Sơn Tinh, Thủy Tinh đã trở thành phần không thể thiếu trong tâm khảm của người Việt qua nhiều thế kỷ Đặc biệt, vùng đất này nổi bật với truyện thần thoại, thể loại văn học dân gian mang đặc trưng không vùng miền nào có được, phản ánh trí tuệ và sức sáng tạo vượt bậc của người xưa Ngoài ra, các thể loại nghệ thuật sân khấu dân gian như hát chèo, hát chầu văn, hát quan họ, múa rối cũng đa dạng và mang đậm nét đặc trưng vùng miền, góp phần làm phong phú nét đẹp văn hóa Bắc Bộ.
Hát chèo đã trở thành nét văn hóa nghệ thuật quen thuộc của người Việt Nam, đặc biệt miền Bắc, góp phần nuôi dưỡng đời sống tinh thần dân tộc qua chất trữ tình sâu sắc Đây là loại hình sân khấu kịch hát đậm đà tính dân tộc, kết hợp hài hòa các yếu tố như hát, múa, nhạc và kịch, tạo nên sự nguyên hợp độc đáo Vùng đồng bằng Bắc Bộ là cái nôi của chèo, nơi nghệ thuật này đã phát triển bền vững qua nhiều thăng trầm của lịch sử và khẳng định vai trò quan trọng trong nền văn hóa dân gian Việt Nam.
Trong sinh hoạt văn hoá nghệ thuật của vùng đồng bằng Bắc Bộ còn có hát ca trù.Theo “Việt Nam ca trù biên khảo” (Đỗ Bằng đoàn - Đỗ Trọng Huề), ca trù có nguồn gốc từ sự kết hợp của ca vũ Trung Hoa với âm nhạc cung đình Việt Nam trong khoảng thờigian từ 111 trước công nguyên đến năm 938 Với mối liên hệ truyền cảm và ảnh hưởngtrực tiếp lẫn nhau giữa ca nhạc, trống chầu, nghệ thuật ca trù ngày càng trở nên điêuluyện, tinh vi Đi liền với ca trù và nghệ thuật văn thơ tuyệt vời đã được ngâm nga, nhữnglàn điệu dân ca mộc mạc, thôn dã đến với ca trù đã trở nên chau chuốt, điêu luyện
Ca trù là một nghệ thuật truyền thống đặc sắc, mang đậm không khí ấm cúng, tế nhị và hào hoa, phản ánh nét văn hóa tinh tế của người Việt Hàng năm, các cuộc biểu diễn ca trù diễn ra tại Văn Miếu, đền Ngọc Sơn, góp phần gìn giữ và phát huy giá trị nghệ thuật truyền thống này Những câu hát ca ngợi quê hương, đất nước xinh đẹp, con người và cuộc sống mới vang lên thánh thót, hòa quyện cùng vẻ đẹp ráng chiều vàng rực trên sóng nước Hồ Gươm, tạo nên không khí thi vị và đầy ý nghĩa cho cộng đồng.
Hát quan họ là điệu hát quen thuộc của người con xứ Kinh Bắc, thu hút du khách thập phương đến tham dự hội hát quan họ hàng năm Các sân đình, sân đền đều diễn ra các đám hát, nơi người nghe, người hát tụ họp đông đúc Những liên anh khăn xếp, áo the, tay cầm ô và các liền chị mớ ba mớ bảy với chiếc nón quai thao thể hiện nét đẹp truyền thống qua những câu ca cổ như “Nhớ chị hai”, “Thiết tha” và “Nhớ mãi mà không nguôi” Những câu hát này gieo vào lòng người cái tình quan họ đắm đuối, thiết tha, gắn bó bền chặt qua nhiều thế hệ.
Múa rối nước là một nghệ thuật sân khấu đặc sắc của đồng bằng Bắc Bộ, có lịch sử hình thành từ rất sớm tại Thăng Long - Hà Nội Hiện nay, tại thôn Đào Thục, xã Thụy Lâm, huyện Đông Anh còn lưu giữ dấu tích của phường rối nước từ hàng trăm năm trước, phản ánh giá trị truyền thống lâu đời của nghệ thuật này Từ thời nhà Lý, rối nước đã được kết hợp khéo léo với rối cạn, tạo nên những màn trình diễn tinh xảo, sống động Nghệ thuật rối nước ngày càng thâm nhập sâu vào đời sống sinh hoạt của làng xã với các loại trò diễn phong phú, đậm đà phong cách dân gian Các nghệ nhân hiện nay, ngoài kế thừa kỹ thuật cổ truyền, còn tích cực sáng tạo để làm phong phú thêm loại hình nghệ thuật này về mặt kỹ thuật biểu diễn, ca từ và nội dung trò diễn.
Tín ngưỡng là lòng ngưỡng mộ, mê tín đối với một tôn giáo hoặc chủ nghĩa, là một nhân tố văn hóa không thể thiếu trong đời sống tinh thần của người Việt Trong lịch sử, tín ngưỡng đã góp phần tạo nên nét đặc trưng của văn hóa Việt, đặc biệt trong đời sống vùng đồng bằng Bắc Bộ, nơi có nền văn hóa tín ngưỡng đa dạng và phong phú Văn hóa tín ngưỡng ở Bắc Bộ bao gồm các hình thức như tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, tín ngưỡng phồn thực, tín ngưỡng thờ thành Hoàng làng, tín ngưỡng thờ ông tổ nghề và các lễ hội truyền thống, phản ánh đời sống tâm linh đặc trưng của cộng đồng địa phương.
Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên là một phong tục lâu đời của người Việt, thể hiện lòng kính trọng và biết ơn đối với tổ tiên đã khuất Gia đình dù nghèo hay giàu đều có bàn thờ tổ tiên để thờ cúng, hàng năm tổ chức lễ giỗ để tưởng nhớ ông bà, cha mẹ Con cháu xa nhà luôn nhớ về quê cội nguồn trong ngày giỗ, thể hiện tính truyền thống gắn bó với gia đình và dòng tộc Những dòng họ lớn, có học thức thường soạn gia phả để giáo dục các thế hệ kế tiếp giữ gìn và phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp của gia đình và cộng đồng.
Tín ngưỡng phồn thực của người Việt Nam, đặc biệt là cư dân vùng Bắc Bộ, thể hiện khát vọng sinh sôi nảy nở và phát triển của con người qua các biểu tượng sinh thực khí và hành vi giao phối Văn hóa này được thể hiện rõ qua các tượng đất nung như di tích Mã Đồng - Hà Tây, các hình điêu khắc tại đình làng Đông Viên, Đình Phùng, đình Thổ Tang, Đệ Tứ, cũng như trong các bức tranh Đông Hồ như Hứng Dừa, Đánh ghen Ngoài ra, tín ngưỡng phồn thực còn thể hiện qua các trò chơi trong lễ hội cổ truyền như múa mo Sơn Đồng và trò chen lễ hội làng Nga Hoàng Tín ngưỡng này không chỉ phản ánh nét đa dạng, đậm đà và độc đáo trong đời sống tâm linh của cư dân Bắc Bộ mà còn in đậm những đặc trưng về tư chất, tâm lý và tính cách của họ.
Trong văn hoá Bắc Bộ, tục thờ thành hoàng làng rất quan trọng và phản ánh đặc trưng cư dân sống quần xã Mỗi làng xã đều có một vị thành hoàng riêng, xem như là thánh của làng, người có công lớn đối với quê hương đất nước Thành hoàng không chỉ là chỗ dựa tinh thần mà còn là nơi gửi gắm niềm tin trong cuộc sống nhiều khó khăn, sóng gió Tục thờ thành hoàng thể hiện nét đẹp tâm linh và văn hoá đặc trưng của cư dân Bắc Bộ.
Tín ngưỡng thờ Mẫu là nét văn hóa tín ngưỡng đặc sắc của cư dân vùng Bắc Bộ, gắn liền với hệ thống huyền thoại, thần tích, các bài văn chầu, truyện thơ Nôm, câu đối, hát chầu văn, lên đồng và múa bóng Các thần thánh trong tín ngưỡng gồm nhiên thần và nhân thần, trong đó có nhiều nhân vật lịch sử anh hùng như Trần Hưng Đạo, được thờ cúng trong các điện, đền, phủ khắp vùng Bắc Bộ Các di tích này phản ánh mối liên hệ sâu sắc giữa cộng đồng địa phương và các giá trị tâm linh, tạo nên bản sắc văn hóa đặc trưng của miền đất này.
Tín ngưỡng thờ cụ tổ nghề:
Ngoài ngành kinh tế nông nghiệp thuần nông, các ngành nghề thủ công truyền thống rất phổ biến ở các làng quê vùng văn hóa Bắc Bộ Những làng nghề này dần được phát triển thành các làng nghề chuyên nghiệp, góp phần thúc đẩy kinh tế địa phương Việc thờ các ông tổ nghề như dệt, gốm, đúc đồng là nét văn hóa tín ngưỡng không thể thiếu của cư dân vùng Bắc Bộ, thể hiện lòng kính trọng và gìn giữ truyền thống dân tộc.
Lễ hội là hình thức sinh hoạt văn hoá lớn thể hiện nét đặc trưng của vùng văn hoá Bắc Bộ, chứa đựng các hình thức tín ngưỡng nội tại, phản ánh đời sống nông nghiệp trồng lúa nước của cư dân địa phương Ban đầu, lễ hội xuất phát từ mục đích giải trí, dần dần trở thành phần không thể thiếu của văn hoá tín ngưỡng qua các thời kỳ lịch sử, đa dạng về loại hình, thời gian, không gian và nội dung Các lễ hội như lễ hội mùa xuân, lễ hội vùng, lễ hội cả nước, đều mang đậm tính chất lễ hội nông nghiệp như thờ mẹ lúa, thần mặt trời, cầu mưa, thể hiện rõ nét tín ngưỡng tôn giáo gắn liền với đời sống hàng ngày Những lễ hội truyền thống nổi bật như hội chùa Hương, hội Đền Hùng, hội Gióng, hội Lim là kết tinh của tinh hoa văn hoá dân tộc được giữ gìn qua nhiều thế hệ, phản ánh quá trình phát triển dài lâu và nội dung phong phú Theo GS Đinh Gia Khánh, lễ hội là một sinh hoạt tập thể long trọng, mang lại niềm phấn chấn và gắn kết cộng đồng chặt chẽ hơn, giúp mỗi người thấy mình vươn lên với sức mạnh tập thể, qua đó thể hiện rõ nét đặc trưng văn hoá tín ngưỡng của dân tộc Việt Nam.
Những đặc sản đồng bằng Bắc Bộ
5.1 Các món ăn mang đậm bản sắc vùng Đồng Bằng Bắc Bộ
Bánh đa cua Hải Phòng
Hình 1: Bánh đa cua – Hải Phòng
Ai sinh ra và lớn lên bên những cánh đồng lúa xanh mướt đều nhớ về món cua đồng dân dã, đặc trưng của vùng quê Việt Nam Tháng sáu, cua bò ra chân lúa, nhặt một lúc là đầy giỏ, chiều về cả nhà thưởng thức bát canh cua đậm đà vị quê hoặc cháo cua mát lành buổi sáng Từ cua, người phụ nữ đảm đang chế biến nhiều món ăn ngon như cua rang muối, cua sốt me, bún riêu cua, bánh đa cua, nhưng bánh đa cua vẫn là món ăn được yêu thích nhất, đặc biệt trong mùa hè nhờ vị thanh mát, ngọt lành Bánh đa cua có nguồn gốc từ Hải Phòng, đã trở thành phần góp phần làm phong phú nét văn hóa ẩm thực đất Kinh kỳ trong vài chục năm gần đây Đây là món ăn phù hợp mọi mùa, mùa hè thể hiện màu xanh mướt của rau muống đầm, mùa đông mang lại vị ấm béo ngậy của cua đồng.
Nguyên liệu nấu ăn từ đồng ruộng, như cua đồng, lá lốt, rau muống, không phải là những thứ cao sang hay đắt đỏ, nhưng chính từ những sản phẩm quê mùa này, qua bàn tay khéo léo của các bà, các chị, đã tạo nên những đặc sản nổi bật Một bát bánh đa cua ngon, hấp dẫn cần hội tụ đủ năm màu sắc: nâu hồng của gạch cua, nâu sậm của bánh đa, xanh mướt của lá lốt, rau muống, hành lá, cùng màu đỏ tươi của trái ớt và vàng rộm của hành khô Sự kết hợp hài hòa giữa màu sắc bắt mắt và hương vị thơm ngon, béo ngậy đã tạo nên sức hấp dẫn khó cưỡng, níu chân thực khách dù chỉ một lần thưởng thức.
Điểm đặc biệt làm nên sự hấp dẫn của bánh đa cua không phải từ các nguyên liệu phổ biến như rau muống, chả lá lốt, vị cua đồng hay hành phi, mà chính là từ chiếc bánh đa đỏ tinh tế – đặc sản nổi tiếng của Hải Phòng.
Bánh đa màu nâu sậm, được tráng công phu với sợi bánh mỏng, mềm, dai, giòn và đậm đà hương vị, muốn ngon cần ngâm vào nước lã rồi chần qua Thứ bánh này xuất xứ từ làng Dư, Hàng Kênh, gần trung tâm thành phố Hải Phòng, cung cấp món ăn cho toàn thành phố và các vùng khác của cả nước Nghề làm bánh đòi hỏi người làm phải nắm vững bí quyết từ khâu ngâm gạo, chế nước xay bột, pha bột đến điều chỉnh lửa trong quá trình tráng bánh để đảm bảo thành phẩm vừa giòn, dai, vừa quánh Trong bài hát về Hải Phòng, nhạc sĩ Trần Tiến đã ca ngợi: "Người Hải Phòng thật thà như bánh đa cua," thể hiện phẩm chất chân chất của người dân nơi đây và nhấn mạnh giá trị văn hóa của món bánh đặc trưng này.
Và khi nào có dịp đến Hải Phòng, bạn nên thử một lần ăn bánh đa cua để có thể chia sẻ
"cảm xúc thật thà" của món ăn độc đáo này.
Hình 2:Phở bò – Hà Nội
Phở được cho là hình thành vào đầu thế kỷ 20, với hai quan điểm tranh cãi về nơi xuất hiện đầu tiên tại Việt Nam là Nam Định và Hà Nội Cả hai địa phương đều góp phần làm cho món ăn này trở nên nổi tiếng và phổ biến rộng rãi trên khắp đất nước.
Phở có nguồn gốc đa dạng với nhiều giả thuyết khác nhau, trong đó có ý kiến cho rằng món ăn này bắt nguồn từ món "ngầu yụk phẳn" của Quảng Đông, hay từ món "xáo trâu" với sợi bún của Việt Nam, sau đó biến tấu thành "xáo bò" dùng bánh cuốn Một giả thuyết khác cho rằng phở chịu ảnh hưởng từ phương pháp chế biến món thịt bò hầm của Pháp, như pot-au-feu, kết hợp với các loại gia vị và rau thơm trong ẩm thực Việt Nam.
Phở có nguồn gốc từ miền Bắc Việt Nam và bắt đầu lan tỏa vào miền Trung, miền Nam từ những năm 1950 Sau thất bại của Pháp ở Đông Dương và chia cắt Việt Nam thành hai miền, người miền Bắc di cư vào Nam năm 1954 và mang theo món phở, góp phần hình thành những biến thể riêng của món ăn này. -**Sponsor**Phở có nguồn gốc từ miền Bắc Việt Nam và lan rộng vào miền Trung và miền Nam từ những năm 1950 Sự di cư của người dân từ miền Bắc vào miền Nam năm 1954 đã mang theo món phở, dẫn đến sự khác biệt trong cách chế biến Tìm hiểu thêm về lịch sử và sự phát triển của phở tại [Novakid Global ARABIC](https://pollinations.ai/redirect-nexad/sAEGNpBZ), nơi khám phá văn hóa và ngôn ngữ Việt Nam trở nên thú vị và dễ dàng hơn bao giờ hết Hãy để Novakid giúp bạn khám phá những nét đẹp văn hóa ẩn sau mỗi món ăn Việt Nam!
Ngày nay, phở đã có những phương pháp chế biến và hương vị khác nhau Tại Việt Nam, có những tên gọi để phân biệt chúng là: Phở Bắc (ở miền Bắc), phở Huế (ở miền Trung) và phở Sài Gòn (ở miền Nam) Thông thường thì phở miền Bắc đặc trưng bởi vị mặn còn miền Nam thì ngọt và nhiều rau Bánh phở ở miền Nam nhỏ hơn ở miền Bắc. Trước đây, chỉ có phở bò chín với đầy đủ "chín-bắp-nạm-gầu", về sau, thực khách chấp nhận cả phở tái, phở gà Đi xa hơn, có nhà hàng thử nghiệm với cả thịt vịt, ngan nhưng không mấy thành công Ngoài ra còn một số món ẩm thực từ nguyên liệu bánh phở truyền thống như phở cuốn, loại phở xuất hiện vào thập niên 1970 là phở xào, của thập niên 1980 là phở rán…
Rươi tứ kỳ- Hải Dương
Hình 3:Rươi Tứ Kỳ - Hải Dương
Câu ca dao nổi tiếng của người dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương, "Bao giờ cho đến tháng mười, bát cơm thì trắng bát rươi thì đầy", gợi nhớ về mùa rươi mỗi năm vào cuối thu Mùa rươi là dịp đặc biệt trong năm, mang ý nghĩa thu hoạch bội thu và gắn liền với nét đẹp văn hóa ẩm thực địa phương Người dân địa phương háo hức chờ đợi mùa rươi để thưởng thức những món ăn truyền thống, đồng thời thể hiện sự đoàn kết, gắn bó của cộng đồng trong mùa vụ đặc biệt này Mùa rươi không chỉ là thời điểm thu hoạch mà còn là biểu tượng của sự kỳ vọng, no đủ và đóa hoa ẩm thực đặc trưng của vùng đất Hải Dương.
Mang trong mình tinh hoa ẩm thực Việt, con rươi là nguyên liệu đặc biệt để chế biến những món ăn dân dã và thơm ngon như chả rươi, rươi kho, mắm rươi, nem rươi, rươi rang muối, rươi cuốn lá lốt, rươi xào củ niễng, canh riêu rươi và các món từ măng tươi hay củ cải Con rươi còn gọi là "rồng đất" ở Việt Nam, sinh sống chủ yếu ở vùng nước lợ và thỉnh thoảng bơi ngược dòng vào sông hoặc bò lên mặt đất Loài sinh vật này thường tìm kiếm thức ăn trong đám rong, cỏ biển, dưới đá hoặc trong cát, bùn, khiến chúng trở thành một loài sinh vật vô cùng bí ẩn với nhiều câu chuyện chưa có lời giải đáp chính xác Với giá trị quý hiếm và hương vị đặc trưng, con rươi ngày càng trở thành đặc sản nổi tiếng tại Hải Dương được nhiều người yêu thích và tìm thưởng thức.
Hình 4:Cá thính - Vĩnh Phúc
Cá thính, hay còn gọi là "cá muối chua", là đặc sản nổi tiếng của vùng chiêm trũng Lập Thạch, Vĩnh Phúc, nổi bật với phương pháp chế biến đặc biệt Đây không chỉ đơn thuần là món ăn mà còn là nghề truyền thống gắn bó bao đời của người dân địa phương.
Tuy nguyên liệu đơn giản, cách chế biến không khó, nhưng để có được hũ (chum, vại, chĩnh, lọ ) cá muối chua ngon "chuẩn vị" và "chín" đều lại phụ thuộc rất nhiều vào kinh nghiệm của người làm cá thính.
5.2 Các bảo tồn và phát huy giá trị di sản Để bảo tồn và phát huy giá trị di sản một cách hiệu quả, cần tập trung vào một số công việc sau:
Bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa là yếu tố then chốt trong phát triển du lịch bền vững, đòi hỏi phải đặt nguyên tắc bảo tồn lên hàng đầu, không hy sinh di sản để phát triển du lịch bằng mọi giá Để đạt được mục tiêu vừa phát triển du lịch vừa bảo tồn di sản, cần xác định rõ quan điểm phát triển theo hướng bền vững dựa trên bốn trụ cột: văn hóa, môi trường, xã hội và kinh tế Môi trường tự nhiên và cảnh quan sinh thái phải được xác định là điều kiện tiên quyết để đảm bảo sự phát triển dài hạn của ngành du lịch, đồng thời giải quyết hài hòa lợi ích các bên tham gia, đề cao vai trò của cộng đồng địa phương trong việc hưởng lợi Du lịch phát triển bền vững còn phải chú ý đến các yếu tố giới, tỷ lệ thất nghiệp mùa vụ và xóa bỏ hiện tượng chèo kéo khách, nhằm duy trì hoạt động kinh tế lâu dài Lợi nhuận từ du lịch cần được phân bổ công bằng, góp phần xóa đói giảm nghèo và cân bằng giữa phát triển kinh tế truyền thống và du lịch, đồng thời thúc đẩy sự tham gia của cộng đồng trong các hoạt động du lịch bền vững.