Nẻo về văn hóa văn minh Việt Nam * Việt Nam nước non ngàn dặm Lê Văn Hảo PHẦN 2: Nét đặc sắc của một vùng văn hóa : hơn trăm lễ hội của Thăng Long ngàn năm Mới đây, giữa nhiều hoạt động
Trang 2Nẻo về văn hóa văn minh Việt Nam
* Việt Nam nước non ngàn dặm
Lê Văn Hảo
PHẦN 2:
Nét đặc sắc của một vùng văn hóa : hơn trăm lễ hội của Thăng Long ngàn năm
Mới đây, giữa nhiều hoạt động quan trọng, các nhà Hà Nội học đã làm một việc rất có ý nghĩa là thống kê và mô tả rành mạch 113 lễ hội Thăng Long trên tổng số 240 lễ hội Việt Nam đã ghi nhận được Đó là những lễ hội hiện còn hay mới phục hồi trên địa bàn 7 quận nội thành và 5 huyện ngoại thành, quả là một kỷ lục trên một vùng văn hóa rộng 900 km2, với ba triệu dân
(Lễ hội Thăng Long, Lê Trung Vũ chủ biên, 2001).
113 lễ hội Thăng Long diễn ra từ tháng Giêng đến tháng (Mười) Một âm lịch, nhiều nhất là trong ba tháng đầu năm và tháng Tám (có đến 101 lễ hội, phần lớn là hội làng, hội đình, hội chùa, hội đền), với khoảng 10 hội mang tính chất toàn miền, toàn quốc : những hội liên quan đến Quang Trung Nguyễn Huệ (Đống Đa), An Dương Vương (Cổ Loa), Gióng (nhiều làng), Hai Bà Trưng (nhiều làng), Lý Ông Trọng (làng Chèm), Từ Đạo Hạnh (làng Láng) ; liên quan đến thuần phong mỹ tục và văn hóa nghệ thuật dân gian : thổi cơm thi, đua trải (thuyền), hát ả đào (làng Thị Cầu, Đăm, Lỗ Khê, Lệ Mật và nhiều nữa)
Chỉ có Thăng Long xưa mới có tứ trấn Đông Đoài Bắc Nam, một phương thức sáng tạo không gian thiêng của tổ tiên ta phủ
lên bốn phương trời, từ đó nảy sinh sức mạnh của thần thánh, hỗ trợ cho uy lực quyền vua thêm vững mạnh mà đất nước và
nhân dân cũng thêm phồn thịnh và yên vui Do đó Thăng Long có lễ hội tứ trấn : hội đền Bạch Mã (ở phương đông), hội đền Voi
Phuc( (ở phương tây), hội quán Trấn Vũ (ở phương bắc), hội đền Kim Liên (ở phương Nam) là những lễ hội lớn của kinh đô xưa nhằm giữ vững mối tương quan nội lực của một vùng đất anh hùng và văn hiến
Và cũng chỉ Thăng Long xưa mới có tứ bất tử, bốn vị thần có công với dân với nước nên được tôn vinh lâu dài trong sinh hoạt văn hóa chốn kinh kỳ, và lễ hội tứ bất tử, gồm hội Tầm Xá, hội Phù Đổng, hội phủ Tây Hồ và hội Chử đạo tổ vẫn thịnh hành
để đề cao những thánh Tản, thánh Gióng, mẫu Liễu Hạnh, Chử Đồng Tử, và đề cao luôn nàng Tiên Dung vì cả hai đều là biểu tượng cho lòng nhân hậu, hiếu thảo, vị tha, cho tình yêu bền vững không phân biệt sang hèn, giàu nghèo, cho tinh thần năng nổ kinh doanh, đi đôi với ý chí hạnh phúc, nghị lực đổi đời
Vì vậy, số lượng lớn và chất lượng của lễ hội Thăng Long có một tầm cao văn hiến đáng kể
Từ cuộc sống không ngừng sáng tạo đến con người thanh lịch của chốn kinh kỳ ngàn năm
Đã nói đến một ngàn năm tinh hoa văn hóa nghệ thuật của đất Thăng Long từ khi có tháp Báo Thiên, chuông Qui Điền, đã nói đến nghệ thuật ẩm thực, văn hóa lễ hội thì cũng phải nói đến cuộc sống không ngừng sáng tạo nơi 36 phố phường, với hàng chục, hàng trăm ngành nghề, sản phẩm thủ công mỹ thuật mỹ nghệ : từ tranh Hàng Trống, tranh Kim Hoàng đến gốm Bát Tràng, giấy dó Bưởi, tơ lụa, chạm bạc, chạm gỗ, sơn mài, khảm trai, đúc tượng, đúc chuông, trồng rau, trồng hoa làm cho cuộc sồng thêm đẹp, vui, hấp dẫn
Từ bao đời các nghệ sĩ, nghệ nhân Thăng Long không ngừng sáng tạo những vở chèo, vở tuồng, tiết mục múa rối, chuyện tích dân gian, ca múa nhạc dân gian, trò chơi, trò diễn, thuần phong mỹ tục, cùng với hàng trăm đình chùa, đền miếu để tô điểm
cho kinh đô như các nhà Hà Nội học đã tổng kết trong bộ Địa chí văn hóa dân gian Thăng Long Đông Đô Hà Nội (1991) Quên sao được những bài ca dao đa tình : Chàng về thiếp nhớ đăm đăm, Giường trên chiếu dưới ai nằm đêm nay, Chàng
về thiếp nhớ lắm thay, Giường trên chiếu dưới đêm nay ai nằm.
Trang 3Quên sao được những làn điệu chèo : hát cách, hát sắp, làn ngay, làn thảm, sử xuân,
sử rầu, cách cú, đường trường, gà rừng, lới lơ với những hình tượng khó quên : Thị Kính hàm oan, Thị Mầu lẵng lơ, Xúy Vân giả dại, Đào Huế đánh ghen, Tuần Ty ngọng nghịu
Quên sao được những làn điệu ca trù, hát xẩm, qua biểu diễn của những nghệ sĩ dân gian thiên tài Quách Thị Hồ, Hà Thị Cầu
Kể sao cho hết những sáng tạo trăm màu nghìn vẻ của chốn kinh kỳ mãi mãi tiêu biểu cho nền văn minh Việt Nam, cho nét thanh lịch Việt Nam qua những dáng dấp Hà Nội vô cùng đáng yêu !
Rồi một câu hỏi được đặt ra : những phẩm chất gì đã làm nên tinh hoa ấy ? Theo nhà Hà Nội học Nguyễn Vinh Phúc :
"Trước hết đó là yêu nước, yêu dân tộc Thứ đến là nghị lực, một nghị lực lớn kết tinh của ý chí mạnh mẽ, khả năng hành động
và đức tính bền bỉ Kế đó là chất thông minh và tài hoa Thông minh thì nhạy cảm, nghĩ nhanh, lắm sáng kiến, đồng thời cũng năng động Luôn luôn tạo ra cái mới, sản phẩm mới, thơ văn mới, nghệ thuật mới ; óc sáng lại thêm khéo tay và tài hoa nên nghề giỏi, sản phẩm - vô thể và hữu thể - đều tinh xảo, hoàn mỹ Cuối cùng là lòng nhân hậu Kẻ Chợ là thương trường lớn, mà thương trường là chiến trường nhưng con người vẫn giữ được lòng nhân hậu Dân tứ chiếng đến quần cư mà hòa đồng, mà nương tựa vào nhau Ở thôn quê có người hàng xóm, hàng xã thì kinh đô có người hàng phố, hàng phường với nhau Tất cả làm ra chất lịch lãm Tràng An, sang mà tinh tế, mà ý nghĩa của nó là lòng tôn trọng các giá trị tinh thần, đạo lý, văn hóa trong làm
ăn, ứng xử, sinh hoạt lành mạnh"
Đã có nhiều năm sống ở Hà Nội tôi cảm nhận sâu sắc lới nói ấy là sự thật
Bốn xứ Đông - Đoài - Nam - Bắc của đại vùng văn hóa đồng bằng Bắc bộ Bốn vùng văn hóa : bốn xứ Đông-Đoài-Nam-Bắc
Giữa lòng miền đồng bằng Bắc Bộ, cái nôi của nền văn minh sông Hồng, nền văn hóa Việt cổ , có vùng văn hóa Thăng
Long-Hà Nội , và chung quanh bốn phương tám hướng có bốn vùng văn hóa Đông Đoài Nam Bắc đã làm nên đại vùng văn hóa Bắc Bộ Việt Nam ngàn năm.
Người Thăng Long xưa tự hào mình là người Kẻ Chợ và gọi những kẻ từ khắp nơi khắp chốn đến với kinh đô, là dân tứ xứ ( Đông Đoài Nam Bắc ) hay dân tứ trấn (Hải Đông, Sơn Tây, Sơn Nam, Kinh Bắc) hay dân tứ chiếng (chữ "chiếng" đọc trại từ chữ trấn mà ra) với sắc thái xem thường (nhiều hay ít) : "trai tứ chiếng, gái giang hồ".
Rời Thăng Long, đi theo hướng tây-đông rồi nam-bắc, chúng ta sẽ lần lượt làm quen với bốn vùng văn hóa gọi theo người
xưa là : xứ Đoài , vùng đất của các tỉnh trung du Phú Thọ, Vĩnh Phúc và tỉnh đồng bằng Hà Tây ngày nay ; xứ Đông, vùng đất của các tỉnh Hưng Yên, Hải Dương, lên một chút là Hải Phòng, xuống một chút là Thái Bình ; xứ Nam là vùng đất của Hà Nam, Nam Định, xuống một chút là Ninh Bình ; và xứ Bắc, vùng đất của Bắc Ninh, Bắc Giang ngày nay.
Văn hóa xứ Đoài, từ trung du đến đồng bằng Bắc Bộ
Xứ Đoài có Phú Thọ, Vĩnh Phúc ở phía bắc, Hà Tây ở phía nam, tiếp giáp Thăng Long - Hà Nội Phú Thọ - Vĩnh Phúc là đất trung du, nơi gặp gỡ của ba dòng sông lớn : Hồng, Lô, Đà, nơi có kinh đô Phong Châu của vua tổ Hùng Vương, nơi người Việt cổ tổ tiên ta, con cháu rồng Lạc tiên Âu, đã dựng nước Văn Lang rồi Âu Lạc, đã sáng tạo nên những trống đồng, thạp đồng
to đẹp, tượng trưng cho một văn hóa Đông Sơn hay văn hóa Lạc Việt, hay văn minh sông Hồng cách nay trên dưới ba ngàn
năm
Từ lâu dân ta vẫn luôn tâm niệm :
"Dù ai đi ngược về xuôi,
Nhớ ngày giỗ Tổ mùng mười tháng ba".
Trang 4"Tổ" ấy là các vua Hùng và hội đền Hùng từ xưa đến nay vẫn là một lễ hội lớn của cả dân tộc Tại xã Hy Cương (huyện
Phong Châu, Phú Thọ), đền Hùng là một quần thể kiến trúc hoành tráng gồm nhiều đền đài và di tích, mỗi năm tiếp đón hàng
chục vãn khách hành hương giỗ tổ Bên cạnh lăng vua Hùng có giếng ngọc, nơi các công chúa Ngọc Hoa, Tiên Dung đã từng soi bóng; có cột Đá Thề, tương truyền vua Thục đã dựng để thề nguyền gìn giữ cơ nghiệp Hùng Vương.
Trong ngày hội đền trên núi Nghĩa Lĩnh có nghi lễ rước voi với ý nghĩa muôn loài qui phục vua Hùng, có người Mường và người Việt cùng đánh trống đồng, cồng chiêng, cùng rước cỗ (bánh dầy, bánh chưng, xôi nhiều màu), rước kiệu bay, đua thuyền
rồng trên hồ Đa Vai dưới chân núi Tất cả để tỏ lòng biết ơn vua Tổ đã dựng nước, thương dân, dạy dân trồng lúa, tắm chung với dân trên các bến sông Hồng Lô Đà ( Bạch Hạc, Việt Trì ) một địa chỉ quen thuộc của các nhà khảo cổ học Việt Nam hôm qua
và ngày nay
Người Việt nào muốn nghe những điệu dân ca, những điệu múa cổ nhất, xin mời đến một số làng ở Phú Thọ gặp những
nhóm gái trai đã kết nghĩa với nhau để hát ghẹo trong ngày hội xuân Họ hát những bài rất trữ tình, và hai bên gọi nhau là quan
anh, quan chị, tự mình xưng là em, cho nên hát ghẹo Phú Thọ còn có tên là hát Anh Chị Cũng có thể làm quen với những
phường Xoan (ở các làng Thét, Phù Đức, Kim Đới, An Thái của huyện Phong Châu để thưởng thức các điệu hát Xoan, múa
Xoan, của các họ Xoan biểu diễn tại nhiều đình làng từ mùng 5 tết đến hết mùng 10 tháng 4 lịch âm Mỗi cuộc hát Xoan gồm ba
chặng : lề lối, quả cách và bỏ bộ Hát và múa đều tuân theo trình tự nghiêm ngặt và phong cách cổ kính.
Rời tiểu vùng văn hóa đất tổ Phú Thọ-Vĩnh Phúc đi về hướng nam sẽ gặp tiểu vùng văn hóa Hà Tây của xứ Đoài (trấn Sơn
Tây xưa) Tỉnh lỵ của Hà Tây, thị xã Hà Đông chỉ cách Hà Nội 11 km Hà Tây có hai núi : Tam Đảo, Ba Vì (còn gọi là Tản Viên)
cao 1.280 mét, quê hương của Sơn Tinh mà dân địa phương cung kính gọi là thánh Tản, hay Tản Viên sơn thánh được thờ ở
nhiều đình, đền, miếu
Hà Tây có bốn sông : Hồng, Đà, Đáy, Nhuệ Đây là quê hương của nhiều anh hùng, danh nhân, từ Hai Bà Trưng, Phùng
Hưng đến Ngô Quyền, Nguyễn Trãi, nơi có nhiều làng nghề nổi tiếng : gấm và lụa vân Vạn Phúc, lụa, the, lĩnh La Khê, tiện gỗ
Nhị Khê, thợ nề thợ mộc làng Chàng Bên cạnh nhiều đền thờ anh hùng, danh nhân là những ngôi chùa danh bất hư truyền : Đậu, Mía, Thầy, Hương Tích, Tây Phương đã cùng với những ngôi đình cổ kính nhất của các thế kỷ 16, 17 : Chu Quyến (đình Chàng), Tây Đằng, Yên Sở, Sơn Lộ, Hạ Hiệp đã đi vào lịch sử văn hóa nghệ thuật Việt Nam
Về âm nhạc dân gian, Hà Tây nổi tiếng với hai loại dân ca nghi lễ : hát Rô (Dô) và hát Chèo Tàu, thịnh hành cách nay nhiều
thế kỷ Hát Rô ở xã Liệp Tuyết, huyện Quốc Oai gồm 22 bài được hát lên để tôn vinh thánh Tản, trong đó có 10 bài vừa hát vừa
múa, gọi là hát bỏ bộ Sôi nổi hơn nữa là hội hát Chèo Tàu ở bốn thôn của xã Tân Hội, huyện Đan Phượng, gắn với tục sùng
bái và thờ cúng Hai Bà Trưng, Triệu Quang Phục, Lý Phật Tử Đây là một tập hợp nhiều diễn xướng , nghi lễ, điệu hát và điệu
múa trình bày trên các sân khấu mô phỏng hình thuyền ( tàu ) và voi ( tượng ) thu hút đông đảo khán thính giả xứ Đoài, Thăng
Long và các xứ khác
Trong hàng chục lễ hội của Hà Tây, hội Chùa Hương là vô địch về thời gian mở hội (từ rằm tháng giêng đến hết tháng ba)
cũng như về số lượng khách hành hương vãn cảnh (nhiều chục vạn nam phụ lão ấu) Nếu khách du có sức khoẻ , nhiệt tình hay đức tin thì có thể dự hội nhiều ngày , qua nhiều lộ trình đồi suối dài nhiều kilômét giữa một tắng cảnh tuyệt vời từ bến Đục qua suối Yến để đến với hơn một chục đền chùa hang động mà điểm đỉnh là động Hương Tích " Nam thiên đệ nhất động " mịt
mù hương khói Khắp nơi vang lên tiếng chào " nam mô a di đà Phật " thành kính và nhân hậu, thỉnh thoảng bị phá bỉnh bởi những tiếng tán thán lạc đề " nam mô chao ôi là đẹp " hay " nam mô chao ôi là mệt " của tuổi trẻ nghịch ngợm trêu nhau nhưng rồi tuổi già cũng sẵn sàng mỉm cười bỏ qua
Chùa Hương với dòng nước xanh xiết bao êm đềm
Con thuyền đưa tôi tới nơi thần tiên"
Văn hóa xứ Đông, từ vịnh Hạ Long đến sông nước Thái Bình
Xứ Đông có hạt nhân là trấn Hải Đông xưa, nhưng bao gồm một vùng văn hóa rộng lớn ở phía đông Thăng Long, đó là phần đất bắt đầu từ Hưng Yên-Hải Dương, ngược lên phía bắc đến Hải Phòng, Quảng Ninh, xuôi về phía nam đến tận Thái Bình Đây là quê hương của Nguyễn Bỉnh Khiêm, Lê Hữu Trác, Lê Quí Đôn với nhiều di tích thắng cảnh : lăng vua Trần, đền Chử Đồng, Phố Hiến, đền Kiếp Bạc thờ đức thánh Trần, Côn Sơn mang kỷ niệm bất diệt của Nguyễn Trãi
Xứ Đông cũng có nhiều sông, hồi, đầm: các sông Hồng, Thái Bình , Kinh Thầy, hồ Nhân Huệ, đầm Dạ Trạch Đặc sản xứ
Đông được cả nước hâm mộ là nhãn lồng Hưng Yên, vải thiều Thanh Hà, gà Đống Cao, táo Gia Lộc, bánh đậu xanh Hải
Dương
Nói đến xứ Đông, trước hết phải nhắc đến Phố Hiến vang bóng một thời như dân ta đã ca ngợi : "nhất Kinh Kỳ, nhì Phố
Hiến", từng là một đô thị thương nghiệp quan trọng của Đại Việt của các thế kỷ 17, 18 ở Đàng Ngoài Nằm bên bờ sông của thị
xã Hưng Yên, Phố Hiến đã dung nạp nhiều thương điếm của Hà Lan (từ 1637), Anh (từ 1673), Pháp (từ 1680), v.v Bên cạnh các thương điếm của Trung Quốc, Nhật Bản đã có mặt từ thế kỷ 16 Từ Phố Hiến, thương nhân Đại Việt đã xuất khẩu ra nhiều
Trang 5nước Á-Âu những mặt hàng có giá trị : quế, sa nhân, xạ hương, lưu huỳnh, thiếc, đồ sành sứ (Bát Tràng, Chu Đậu), đồ sơn, đường, gạo, vải, nhãn, cau, hồ tiêu cùng một số mặt hàng quí hiếm như bông vải, lụa, đũi, sa
Phố Hiến có 20 phố phường vừa sản xuất vừa buôn bán như Hàng Cau, Hàng Cá, Hàng Da, Hàng Nón Hoa, Hàng Nhuộm,
Hàng Sũ Phố Hiến còn nổi tiếng với đình Hiến Nam, chợ quốc tế Vạn Lai Triều Cảnh quan buôn bán tại đây cũng tấp nập như
Hội An xứ Đàng Trong cùng thời, nhưng với thời gian Phố Hiến dần dần bị sa sút và đã suy tàn vào cuối thế kỷ 18
Về ca nhạc dân gian, hát đúm là một sinh hoạt dân ca có ở nhiều vùng của đồng bằng Bắc Bộ nhưng độc đáo nhất và nổi tiếng là hát đúm Thủy Nguyên của vùng Hải Phòng Đây là tiếng hát của những cô thợ dệt, những bà mẹ quay xa do cảm hứng
trong khi vừa dệt vải kéo sợi vừa nghe tiếng xa quay sè sè, tiếng ống suốt ro ro, tiếng thoi đưa lách cách mà bật lên tiếng hát
Hội chọi trâu Đồ Sơn được tổ chức hàng năm như nhân dân vùng Hải Phòng và xứ Đông từng tâm niệm :
"Dù ai buôn đâu bán đâu
Mồng mười tháng tám chọi trâu thì về"
Ba làng Đồ Sơn, Đồ Hải, Ngọc Xuyên gồm 14 thôn, mỗi thôn chọn một trâu đực từ 8 đến 10 tuổi cho một chàng trai chưa
vợ và khỏe mạnh chăn nuôi Cuối tháng 7 có chọi thử chọn ra ba đôi trâu khỏe nhất để thi chọi ngày hội Đấu trường (gióng) là khu đất trống trước đình làng Đồ Sơn Sáng ngày hội, từng cặp trâu thi có vải che mắt được trịnh trọng rước vào gióng trong tiếng trống thúc liên hồi Bỏ vải che mắt ra, chúng bắt đầu chọi nhau giữa tiếng reo hò ầm ĩ của nhiều ngàn khán giả Làng nào
có trâu thắng sẽ được thưởng Nhưng được hay thua tất cả đều biọ mổ thịt tế thần, tế xong thịt được chia cho cả ba làng và những người có công nuôi trâu Đây là lễ hội vừa đề cao tinh thần thượng võ vừa khuyến khích tài năng chăn nuôi con vật có ích của nghề nông
Hội Chử Đồng Tử diễn ra tại làng Yên Vinh, xã DạTrạch, huyện Châu Giang, Hải Dương, nơi có đầm Dạ Trạch Hội gồm
nhiều trò hấp dẫn như lễ dâng hương ghi nhớ công ơn vợ chồng Tiên Dung, Chử Đồng đối với dân, múa Tiên, múa Sư Tử, múa
Con Đĩ đánh bồng, đấu vật, chọi gà, bắt vịt Cái đinh của hội là đám rước kiệu Tiên Dung và Chử Đồng, một đám rước thật dài
và thật trọng thể qua nhiều bờ bãi quanh làng về đến đền Dạ Trạch là một dịp để dân làng và dân vùng thưởng thức các tiết mục diễn xướng, trò chơi dân gian tiêu biểu của xứ Đông
Hội đền Kiếp Bạc là lễ hội lớn của toàn xứ và toàn quốc, thuở xưa được đại diện của triều đình chủ trì, tổ chức tại xã Vân
Yên, huyện Chí Linh, Hải Dương, để tưởng niệm anh hùng dân tộc Trần Hưng Đạo, qua nhiều nghi lễ và trò vui mà nổi bật là lễ dâng hương trọng thể và cuộc thi bơi trãi tưng bừng, kỷ niệm cuộc thủy chiến xưa trên sông Bạch Đằng hiển hách do hai tì tướng Yết Kiêu và Dã Tượng chỉ huy Đêm đến hàng ngàn khúc chuối cắm nến, cắm hương được thả xhống sông để tưởng niệm các chiến sĩ đội thủy quân của đức thánh Trần Nhiều nghi lễ cúng bái, sóc thẻ, lên đồng diễn ra trong suốt mấy ngày hội không làm phai mờ tinh thần yêu nước, ghi nhớ chiến công có một không hai của quân và dân Đại Việt chống rợ Mông Cổ đã reo rắc tai họa cho nhiều dân tộc Á Âu thời Trung Cổ
Hội Chùa Keo của xã Duy Nhất, huyện Vũ Thư, Thái Bình, gồm hội Xuân và hội Thu Hội Xuân mở từ mùng 4 Tết, kéo dài
nhiều ngày với nhiều trò vui : thi thổi cơm, thi bắt vịt, thi ném pháo Hội Thu diễn ra từ 13 đến rằm tháng 9 với nhiều tiết mục hấp dẫn : lễ rước kiệu thánh Không Lộ, múa vồ ếch, múa chèo cạn ban đêm, thi bơi trãi ban ngày với sự tham gia của 8 giáp.
Mỗi trãi có 24 tay đua , mặc khố, chít khăn, đua ba vòng trên khúc sông Thái Bình trước chùa
Ở miền Bắc nhiều nơi có chùa mang tên chùa Keo nhưng nổi tiếng nhất là Chùa Keo Thái Bình với một kiệt tác của kiến
trúc tôn giáo Việt Nam là tháp chuông thật đẹp đẽ, cao 12 m, gồm ba tầng treo ba quả chuông lớn nhỏ, bộ khung của tháp
chuông làm bằng gỗ quí, kết cấu phức tạp, tinh vi, gồm một hệ thống cột, xà, đấu, con sơn, lan can liên kết nhau chủ yếu bằng
mộng ngầm, nâng 12 mái ngói với 12 đầu đao uốn cong như 12 cánh của một đóa sen vĩ đại đang nở
Vùng văn hóa xứ Nam, với di tích của ba triều đại và một vùng thiên nhiên đẹp
Xứ Nam là trấn Sơn Nam xưa, vùng đất của ba tỉnh Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình Xã Trường Yên, huyện Hoa Lư, nay
còn di tích Hoa Lư, kinh đô của Đại Cồ Việt thời Đinh-tiền Lê, từ 968 đến 1009 trước khi Lý Thái Tổ dời đô ra Thăng Long.
Thành Hoa Lư với diện tích hơn 300 hecta đã giữ lại cho những nhà khảo cổ học Việt Nam hàng trăm di vật quí báu như những
cột kinh Phật, những viên gạch lớn mang dòng chữ : "Giang Tây quân" hay "Đại Việt quốc quân thành chuyên", các di tích cung điện cho phép nói đến một văn hóa Hoa Lư (thế kỷ 10) trước thời kỳ nở rộ của văn hóa Thăng Long (thế kỷ 11-18).
Ở các huyện Gia Viễn, Hoa Lư, Nho Quan của Ninh Bình, núi đá vôi bị xâm thực mạnh để lại giữa vùng đồng trũng một
thắng cảnh "vịnh Hạ Long trên cạn" Thắng cảnh Bích Động được gọi là Nam Thiên đệ nhị động (sau chùa Hương), hang Tam
Cốc và động Địch Lộng có chùa được gọi là Nam Thiên đệ tam động, thắng cảnh núi Non Nước (Dục Thúy), nhà thờ Phát Diệm,
một kiệt tác được xây dựng cuối thế kỷ 19 theo nghệ thuật kiến trúc hoàn toàn Việt Nam như một ngôi đình vĩ đại, vườn quốc
gia Cúc Phương Tất cả đã biến tiểu vùng văn hóa Ninh Bình thành một khu vực vào loại đẹp đẽ nhất của tổ quốc.
Hà Nam-Nam Định, trước hết là quê hương của các vua Trần (1226-1400) Tại thôn Tức Mạc, xã Lộc Vương, ngoại thành
Nam Định, có đền Trần gồm đền Thượng và đền Hạ Đền Thượng thờ 14 vua và các tướng nhà Trần Đền Hạ thờ Trần Hưng
Trang 6Đạo của các tướng có công đánh dẹp quân Mông-Nguyên Quanh đó còn có đền thờ Trần Thủ Độ, Trần Quang Khải Hội đền
Trần mở ba năm một lần vào tháng 3 là một lễ hội lớn của xứ Nam.
Hội Trường Yên ở Ninh Bình được tổ chức tại đền vua Đinh Tiên Hoàng và đền vua Lê Đại Hành với nhiều trò diễn : rước
rồng, cờ lau tập trận, kéo chữ, đua thuyền trên sông Hoàng Long Hội mở từ mùng 10 đến rằm tháng 3 và kết thúc bằng trò đốt pháo bông truyền thống: các nghệ nhân pháo bông tài giỏi nhất của xứ Nam đã sáng tạo được hình ảnh vua Đinh mặc hoàng bào cưỡi rồng hiện lên rực rỡ giữa không trung Đây là kỳ công của mỹ thuật mỹ nghệ dân gian không thấy ở các lễ hội khác
Hội Phủ Giầy, mở từ mùng một đến mùng 10 tháng 3 tại xã Kim Thái, huyện Vụ Bản, Nam Định Nghi thức đáng chú ý là lễ
rước kiệu thánh mẫu Liễu Hạnh từ Núi Gôi về hai phủ Tiêu Hương và Vân Cát Có thể đây là đám rước long trọng nhất, tốn kém
nhất với nhiều cô gái đồng trinh đẹp đẽ có vinh dự được chọn để khiêng long đình, võng lọng, cờ quạt của Thánh Mẫu Sau
đám rước , nghi lễ lớn thứ hai là trò Kéo Chữ (xếp chữ), một trò đồng diễn thể dục công phu và đẹp mắt để xếp cho được nhiều chữ Hán mang ý nghĩa chúc tụng như " thiên hạ, thái bình " , "quốc thái, dân an " Hội còn nhiều sinh hoạt văn hóa dân gian khác như hát văn, chèo, tuồng, trống quạn, ca trù, đấu vật, kéo co, chọi gà Kiến trúc Phủ Giầy chưa phải là cổ kính nhưng
vẫn đẹp: đây là quần thể đền đài mang dấu ấn văn hóa nhà Nguyễn cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 cùng thời với lăng Khải Định,
và có qui mô hoành tráng hiếm thấy trong hệ thống hệ thống kiến trúc tôn giáo Việt Nam
Hội vật võ Liểu Đôi, tổ chức tại làng Liễu Đôi, huyện Thanh Liêm, Hà Nam, từ mùng 5 đến mùng 10 tháng giêng, là lễ hội
mang tinh thần thượng võ sâu sắc và có qui mô lớn trong hệ thống lễ hội truyền thống Hội diễn ra tại đền Thánh Ông họ Đoàn
và đền Tiên Bà họ Bùi Điều đặc biệt là tại hội vật võ này có nhiều thiếu nữ và phụ nữ cùng tham gia với đao, côn, kiếm Lễ nổi
lửa được cử hành tượng trưng cho ánh hào quang phát ra từ kiếm thần của Thánh Ông, sau đó là lễ trao gươm, lễ múa cờ tụ nghĩa, rồi hội vật bắt đầu với nghi thức và lề luật riêng của Liễu Đôi Sau đấu vật là các cuộc thi côn, quyền, kiếm và các cuộc thi nấu các món ăn dân giã bằng lươn, ốc, ếch, cá Lễ hội độc đáo và kỳ lạ này hàng năm thu hút đông đảo nhân dân nhiều vùng
lân cận
Trong lãnh vực ca múa nhạc dân gian, xứ Nam có một thể loại độc đáo là hát dậm Quyển Sơn, còn gọi là hát dậm Hà Nam,
một hệ thống dân ca nghi lễ được trình diễn trước bàn thờ danh tướng Lý Thường Kiệt tại đền Quyển Sơn Toàn bộ cuộc mùa
hát gồm nhiều chặng được hát lên bằng nhiều làn điệu dân ca khác nhau với những tiếng đưa hơi rất cổ kính như " lê là lê lết lê
lết lê la là lai hồi la " Thể loại dân ca này chỉ dành cho nghệ nhân nữ : khi hát các cô gái xếp thành hai hàng trước bàn thờ, bà
trùm đứng một mình ở giữa gõ sên đánh nhịp, các cô vừa hát vừa múa và làm động tác chèo thuyền Sáng tạo dân gian cổ kính này còn nhiều điều bí ẩn đối với các nhà âm nhạc học và dân tộc học
Vùng văn hóa xứ Bắc, nơi hội tụ hài hòa của vua chúa, tôn giáo và văn nghệ dân gian
Xứ Bắc, vùng đất của trấn Kinh Bắc xưa, của hai tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang nay, là một vùng văn hóa nổi tiếng của tổ quốc,
nơi ghi dấu Kinh Dương Vương (lăng mộ còn tại A Lữ, Đình Tổ, huyện Thuận Thành, Bắc Ninh), Lạc Long Quân (đền thờ còn tại Bình Ngô, An Binh, huyện Thuận Thành, Bắc Ninh), và Âu Cơ (miếu thờ còn tại A Lữ) ; cũng là nơi phát tích của triều Lý (thôn Cổ Pháp, huyện Từ Sơn) : "thứ nhất Cổ Bi, thứ nhì Cổ Loa, thứ ba Cổ Pháp".
Xứ Bắc có Luy Lâu, là một trung tâm Phật giáo Việt Nam quan trọng ở miền Đông Á vào đầu công nguyên thời Bắc thuộc,
tương đương với hai trung tâm lớn của Phật giáo Trung Hoa cùng thời là Lạc Dương và Bình Thành
Xứ Bắc là nơi còn lưu giữ những ngôi chùa, ngôi đình có giá trị lịch sử và nghệ thuật quan trọng nhất của Việt Nam: chùa
Dâu, Long Hàm, Lục Tổ, Phật Tích, Đức La, Tam Sơn, Vĩnh Nghiêm ; đình Lỗ Hạnh, Thổ Hà, Phù Lưu, Phù Lão, Đình Diềm, Đình Bảng
Xứ Bắc có nhiều làng nghề nổi tiếng : dệt tơ lụa và nhuộm (Đình Bảng), gốm, sành, sứ (Thổ Hà và Bát Tràng), đồ thêu (thị
xã Bắc Ninh) cùng những đặc sản : giò chả Từ Sơn, cam Bố Hạ, cát sâm Yên Thế
Xứ Bắc cũng là nơi đã sáng tạo ra những đỉnh cao của văn nghệ dân gian : truyền thống ăn ngon, mặc đẹp "ăn Bắc, mặc
Kinh", tranh Đông Hồ, hát Quan Họ, hội Lim cũng là nơi nổi tiếng về truyền thống thượng võ và hiếu học Đây là quê hương
của người anh hùng làng Dóng :
"Trừ giặc còn hiềm ba tuổi đời là muộn
Cưỡi mây vẫn giận chín tầng trời chửa cao"
( Phá tặc đãn hiềm tam tuế vãn
Đằng vân do hận cửu thiên đê )
Cao Bá Quát
Xứ Bắc cũng là xứ sở của rất nhiều ông nghè, ông cống, tiến sĩ, trạng nguyên : "một giỏ sinh đồ, một bồ ông cống, một
đống ông nghè, một bè ông trạng" hay "một bồ tiến sĩ, một bị trạng nguyên, một thuyền bảng nhãn"
Nói đến vùng văn hóa xứ Bắc phải nhắc đến hai đỉnh cao của nó : hát Quan Họ và hội Lim.
Xuất xứ Kinh Bắc, có lẽ hát Quan Họ đã xuất hiện từ thời Lý thế kỷ 11 và những nghệ nhân dân gian già trẻ của 49 làng quan họ Bắc Ninh xưa nay làm chúng ta kinh ngạc và thán phục vì những canh hát thâu đêm của họ trong hội làng, trước cửa
Trang 7chùa, trên sườn đồi, trên mặt hồ.
Liền anh quan họ mang ô lục soạn, quấn khăn nhiễu tam giang, áo lương, quần trắng ; liền chị quan họ có nón quai thao,
khăn mỏ quạ, áo mớ ba, khuyên vàng, xà tích Trong canh hát thâu đêm suốt sáng, gái trai quan họ mời chào nhau, tâm tình với
nhau bằng lời thơ tiếng hát Họ hát đôi (đôi nữ, đôi nam) và hát đối (đối lời, đối giọng) Những đội hát gồm nhiều cặp quan họ
gái và trai được đào tạo theo kiểu truyền nghề từ thế hệ già đến thế hệ trẻ Khi " thành đôi " rồi ít khi " xé cặp " Hát đôi được
phân công người hát chính và người hát luồn Quan họ có tới hai trăm làn điệu khác nhau ( Trần Linh Quý và Hồng Thao, Tìm
hiểu dân ca quan họ, Hà Nội, 1997 ).
Hát đối quan họ còn gọi là " nam tòng nữ " , là trò chơi ca nhạc cao siêu, nhất là khi thi hát Hát quan họ luôn luôn đối giọng và đối lời Liền chị hát bài "Mười thương" thì liền anh trả lời bằng bài "Mười nhớ", nhưng phải đúng giai điệu đó
Làn điệu quan họ đặc sắc nhất có lẽ là bài "Giã bạn":
Người ơi, người ở đừng về
Người về em những khóc thầm
Bên song vạt áo ướt đầm như mưa
Người về em đứng trông theo
Trông nước nước chảy trông bèo bèo trôi
Người về em dặn tái hồi
Yêu em xin chớ đứng ngồi với ai
Người về em dặn lời rằng
Đâu hơn người lấy đâu bằng đợi em
Đỉnh cao của nghệ thuật và văn hóa quan họ là hội Lim, diễn ra tại xã Lũng Giang, huyện Tiên Sơn, Bắc Ninh, ngày và suốt
đêm 13 tháng Giêng
Hát ngoài đồi : trong ngày hội Lim các liền anh liền chị đi chơi thành từng nhóm nhỏ, bên nam chưa có bạn thì tìm bên nữ
mời họ xơi trầu, nếu nữ thuận nhận trầu tức là nhận lời hát cùng với nam ; cũng có khi nữ chủ động mời nam xơi trầu trước
Trong khi hát với nhau, nếu thấy ăn ý về giọng hát và cách đối xử thì hẹn nhau đến một ngày nào đó gặp lại xin kết nghĩa (kết
bạn quan họ) với nhau cho đến trọn đời
Hát trong nhà : quan họ khách được hẹn mời từ trước, buổi sáng đến thẳng hội Quan họ bạn đến cổng làng Lim là hát
mừng làng đầu năm mới, mứng nhà, mừng bạn Quan họ chủ đứng ở sân hát đón khách và hát chúc mừng lại, đưa khách vào
nhà, cất nón, cất ô rồi ngồi xuống giường ở hai gian bên cạnh, hoặc hai bên tràng kỷ đối diện nhau mà hát Không nói bằng lời, tất cả diễn ra hoàn toàn bằng lời thơ, tiếng hát
Hát trên thuyền : gái trai bơi thuyền trên ao hồ hay trên sông Làng Bịu (bên cạnh làng Lim) mà hát đối đáp.
Hội Lim là hội giao duyên thi tài của gái lịch trai thanh Điều thú vị là theo phong tục sở tại, gái trai quan họ đã kết nghĩa với nhau thì không lấy nhau, nhưng gái có chồng và trai có vợ vẫn có thể kết nghĩa và hát với nhau trọn đời, không hề có chuyện ghen tuông, mặc dầu những bài hát quan họ chứa đầy chất thơ lãng mạn của tâm hồn Họ như là những diễn viên trên một sân khấu tình yêu lý tưởng, hát xong ai về nhà nấy để mà thương mà nhớ Thực là một phong tục văn nghệ, một văn hóa tình cảm ít thấy trên quả đất này
Xứ Thanh * Xứ Nghệ, gạch nối giữa hai đại vùng văn hóa Bắc và Trung
Xứ Thanh, xứ Nghệ, dải đất cổ kính kết nối hai đại vùng văn hóa châu thổ Bắc Bộ và ven biển miền Trung
Xứ Thanh, xứ Nghệ là cách gọi dân gian thân quen đối với vùng đất
Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh ngày nay
Thanh Hóa có biển đẹp Sầm Sơn, sông Mã bất kham, động Bích Đào kỳ ảo, nhiều di chỉ đá cũ, đá mới, đồng thau lừng danh : Núi Đọ, Đa Bút, Đông Sơn ; nhiều làng mạc cổ : Kẻ Rỵ, Kẻ Chè, Cổ Bôn, Cổ Đô, Bột Đà Trang, Bô Lỗ Trang ; nhiều phong tục lễ hội, trò múa, dân ca độc đáo : trò Xuân Phả, hát ả đào, ví phường vải, hò sông Mã Xứ Thanh cũng là quê hương
Trang 8của Bà Triệu, Lê Hoàn, Lê Lợi, Hồ Quí Ly, các chúa Trịnh, chúa Nguyễn, vua Nguyễn, cho nên còn đây đền vua Bà, đền Đồng
Cổ, thành Tây Đô, di tích Lam Kinh
Nghệ An-Hà Tĩnh nào chịu kém thua về truyền thống lịch sử-văn hóa lâu đời : di chỉ Làng Vạc, Hang Bua, Đền Cuông thờ vua Thục (sánh vai đền miếu Cổ Loa ngoài Bắc), đền và mộ Mai Hắc Đế, Đền Cờn, Đình Hoành Sơn, Phượng Hoàng Trung Đô (suýt qua mặt Phú Xuân nếu Quang Trung không mất quá sớm) ; những di tích lưu niệm Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ, Phan Bội Châu, Hồ Chí Minh
Thiên nhiên xứ Thanh : Động Bích Đào, biển Sầm Sơn, vườn quốc gia Bến En
Đất nước Việt Nam là nơi có vô số hang động đẹp tuyệt vời Năm 2001, Nguyễn Quang Mỹ và Haward Limbert đã đồng chủ biên một công trình song ngữ đồ sộ là cuốn Kỳ quan hang động Việt Nam - The wonders of Vietnamese Caves , kèm hơn
200 ảnh ( 24 X 24 cm) và nhiều bản đồ từ Lạng Sơn đến Quảng Bình ( nơi có động Phong Nha di sản thiên nhiên thế giới ) nhưng không hiểu sao hai học giả này lại bỏ quên động Bích Đào bất hủ của Thanh Hóa
Còn gọi là động Từ Thức, do gắn với huyền thoại về cuộc tình duyên đẹp dở dang giữa người trần Từ Thức với nàng tiên Giáng
Kiều Động Bích Đào nằm ở dãy núi Thần Phù (xã Nga Thiện, huyện Nga Sơn) Lê Quý Đôn ở thế kỷ 18 đã từng đến đây tức cảnh đề thơ : " Áo gai phiêu bạt thân Từ Thức / Mây nước già dăm mặt Giáng Hương / Thiên Thai bao kẻ từng xây mộng / Nào biết Thiên Thai cũng hí trường ! "
Hệ thống động Bích Đào gồm Động Ngoài, Động Giữa, Động Trong với vô số vú đá, măng đá : Kho Gạo, Kho Tiền, Rồng
ấp trứng vàng, Phường Bát Âm (lấy dùi gỗ gõ vào từng vú đá nghe phát ra những thanh âm nhiều cung bậc giống tiếng chiêng cồng, thanh la, trống, khánh, chuông, mõ), Bàn Cờ, Áo Mũ, Ngọn Nến, Hương Án, Đường Lên Trời, Đường Xuống Cõi Âm trăm màu ngàn sắc lấp lánh theo sức tưởng tượng dân gian Gần động Bích Đào có động Bạch Ác, động Mắt Voi, Chùa Tiên đã
đi vào ca dao : " Trăng trong gió mát thảnh thơi / Thuyền tình mượn chén hồng mai thay trà " Ngoài các di tích và thắng cảnh
, du khách sẽ thích hai đặc sản là chiếu cói Nga Sơn bền đẹp và thịt lệch ( còn gọi là nhệch ) một giống lươn lớn sống ở vùng
cửa sông nước lợ, thơm ngon và rất béo bổ Lệch khoẻ một cách kỳ là, coi chừng khi bắt những con lệch lớn nhất chúng có thể quấn gẫy cánh tay Vì người ta cho rằng lệch thưởng thức với rượu ngon là món ăn có tác dụng tăng gân cốt, làm hết mỏi gối chồn chân
Biển Sầm Sơn , cách thành phố Thanh Hóa 16 km, không những là một bãi tắm tuyệt vời mà còn có một quần thể di tích
danh thắng hấp dẫn
Bãi tắm Sầm Sơn chạy dài hàng chục km, gồm ba bãi cát mịn chen với
núi đá đủ các hòn lớn nhỏ, nằm ngồi hay chồng lên nhau , với muôn hình ngàn vẻ Giữa rừng cây bóng mát có đền Độc Cước, đền Tô Hiến Thành, đền Hoàng Minh Tự, đền Cô Tiên, chùa Khải Minh Trên đường từ đền Độc Cước đến đền Cô Tiên, du khách sẽ gặp hai hòn đá thật lớn chồng lên trên một bệ đá chênh vênh, lấy tay đẩy thấy rung rinh, thế mà chúng đã đứng trụ vững chãi với gió mưa bão táp không biết tự thuở nào Dân gian hình dung đây là biểu tượng cặp uyên ương chung thủy và đặt
tên là hòn Trống Mái , một thắng cảnh của biển Sầm Sơn đã đi vào cổ tích và ca dao : " Dù ai mưa gió bão bùng / Thiếp tôi vẫn
giữ thủy chung với chàng "
Cách thành phố Thanh Hóa 36 km, Vườn quốc gia Bến En (huyện Như Xuân) vừa là khu bảo tồn các nguồn gien (gènes)
thực vật, động vật quí hiếm vừa là khu du lịch nghỉ dưỡng lý tưởng Vườn rộng hơn 16.600 ha, với hồ rộng 4.000 ha, trên mặt nước nhô lên 24 đảo lớn nhỏ ; trong hồ có nhiều loài cá, baba, đặc biệt có giống cá mè Sông Mực ngon nổi tiếng xưa nay Cùng
Trang 9với hồ, Bến En có rừng nguyên sinh phong phú gồm 462 loài cây thuộc 125 bộ : song, mây dùng làm đồ mỹ nghệ, hương bài, màng tang, sến trẩu làm nước hoa, các giống phong lan làm cây cảnh; cây dược liệu có tới 300 loài ; gỗ quí có lim, lát hoa, chò chỉ, đinh hương Co cay lim chu vi den 2,06 m cao gần 50 m già đã mấy thế kỉ Khu vực rừng và hồ còn có tới 300 loài côn trùng và trên 200 giống vật, trong đó có nhiều giống quí hiếm : voi, báo, cọp, gấu ngựa, sói đỏ, vượn đen, vượn bạc má Khí hậu Bến En mát mẻ trong lành, nhiệt độ trung bình 25 ° thích hợp cho việc nghỉ ngơi, du lịch, nghiên cứu khoa học suốt cả bốn mùa giữa bức tranh sơn thủy hữu tình và hoành tráng
Xứ Thanh, đất anh hùng và đế vương : đến Bà Triệu, đền Lê Đại Hành, thành Tây Đô, khu di tích Lam Kinh
Nếu vùng Mê Linh, Xứ Đoài, có hai chị em Bà Trưng, thì Xứ Thanh có hai anh em Bà Triệu : sau khi người anh hùng chống giặc Ngô là Triệu Quốc Đạt mất, cô em Triệu Thị Trinh, dân gian quen gọi là Bà Triệu, được tướng sĩ tôn lên làm chủ soái thay anh Bà mặc áo giáp vàng, cài trâm vàng, đi guốc ngà, cưỡi voi trận, nói lời khí phách : "Ta chỉ muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp bằng sóng dữ, chém cá kình biển Đông, đánh đuổi giặc Ngô, giành lại giang sơn, cởi ách nô lệ chớ không chịu khom lưng làm tì thiếp " Bà lập căn cứ tại làng Bồ Điền ( h Hậu Lộc ngày nay ) và đã nhiều lần đánh bại quân Ngô Chúng khiếp sợ kháo nhau : " Múa ngang ngọn giáo chống cọp dễ / Đối mặt vua Bà khó lắm thay ! "
Tháng 2 năm 248, tướng Ngô là Lục Dận đem đại quân đến đánh, bà anh dũng hy sinh tại Bồ Điền Đền bà được dựng tại đấy, dưới chân ngọn núi Bân Cách đền 1 km trên đỉnh núi Tùng là mộ Bà; dưới chân núi có mộ 3 anh em họ Lý cũng người làng Bồ Điền , là tùy tướng của Bà Hằng năm, đến 22 và 23 tháng hai âm lịch, hàng vạn dân khắp vùng, khắp tỉnh hành hương
về đây tưởng nhớ vị anh hùng trong một lễ hội lớn có rước kiệu, múa rồng, biểu diễn võ thuật
Đền thờ Lê Đại Hành dựng tại xã Xuân Lập, huyện Thọ Xuân, trên mảnh đất rộng 40.000 m2 Được sự ủng hộ của thái hậu nhà Đinh Dương Vân Nga, Đại Hành hoàng đế đã đánh tan quân xâm lược Tống ở phía bắc và khuất phục quân Chămpa ở phía nam, giữ vững nền độc lập dân tộc Hiện nay trong đền vua Lê còn giữ nhiều hiện vật quí hiếm : hai trống đồng Đông Sơn
cỡ lớn, một đỉnh đồng, một bình hương đồng đen, một chục chiếc choé, một chiếc dĩa đá màu hồng gọi là dĩa Ngọc Tuyết, đường kính 50 cm, ở giữa lòng đĩa có hai dòng chữ Nho màu đỏ : " Sông Nam một mảnh tuyết / Vượng khí vạn năm còn " Lễ hội đền vua Lê, diễn ra hai ngày 7, 8 tháng ba âm lịch, với các trò chơi đấu vật, múa võ cũng là một lễ hội lớn của xứ Thanh
Cách thành phố Thanh Hóa 45 km, ở phần đất của ba làng Tây Giai, Xuân Giai và Đông Môn (huyện Vĩnh Lộc), một bức thành đá đồ sộ đứng sừng sững từ hơn 600 năm nay , đó là thành Tây Đô (còn gọi là Tây Kinh, Tây Giai) mà từ lâu nhân dân quen gọi là thành nhà Hồ, bởi lẽ người chủ trương xây dựng nó là Hồ Quí Ly, đừng đầu một triều đại ngắn ngủi đầu thế kỷ 15 (1400-1407)
Trong giai đoạn này, nhà Trần suy thoái nghiêm trọng Kinh đô Thăng Long hai lần bị quân Chămpa cướp phá Triều Minh ở phía bắc nước Đại Việt cũng có âm mưu thôn tính nước ta Hồ Quý Ly lúc ấy là quan đầu triều giỏi chữ nghĩa, giàu tham vọng, muốn lật đổ nhà Trần lên làm vua để thực hiện những cải cách cần thiết hòng cứu vãn tình thế Năm 1397 Hồ Quý Ly từ Thăng Long cử Đỗ Tỉnh vào Thanh Hóa, quê hương của họ Hồ, tìm một căn cứ địa vững chắc để xây dựng thành trì và chuẩn bị dời
đô Vùng đất huyện Vĩnh Lộc có địa thế khá hiểm yếu nên đã được chọn làm nơi dựng đô mới sẽ gọi là Tây Đô
Thành được xây cấp tốc chỉ sau ba tháng (giêng-ba 1397) đã hoàn thành về mặt phòng thủ Thành hình chữ nhật, hai mặt nam-bắc dài 900 m, hai mặt đông-tây dài 700 m, cao trung bình 5 - 6 m, có nơi đến 10 m Thành được đắp đất, mặt ngoài tường thành được ốp đá, toàn những phiến đá rất lớn, dài tới 4,5 m, rộng trên 1 m, nặng tới 15-20 tấn Mặt trong tường thành đắp đất thoai thoải để quân lính lên xuống dễ dàng Khối lượng đất sử dụng ước tính trên dưới 1 triệu m3 Mặt thành rộng có đường để voi ngựa đi lại và bố trí các ụ pháo Thành có bốn cổng : tiền, hậu, tả, hữu Ba cổng hậu, tả, hữu cao 5,4 m , rộng 5,8 m, dày 13,7 m Riêng cổng tiền hướng chính nam đồ sộ nhất và vẫn còn hầu như nguyên vẹn : dài tới 30 m, dày 14 m gồm 2 cửa: hai cửa hai bên cao 7,8 m, rộng 5 m, cửa giữa cao 8 m, rộng 5,8 m
Trong nội thành Tây Đô có điện Hoàng Nguyên, Thái miếu, các cung Diên Thọ, Phú Cực, hồ Dực Tương nguy nga tráng
lệ không thua kém Thăng Long Tại Tây Đô đã được tổ chức hai kỳ thi thái học sinh (tiến sĩ), năm 1400 và 1405.Đi dọc bốn phía thành nhà Hồ, nhìn những phiến đá khổng lồ chồng khít lên nhau, chúng ta tự hỏi người xưa cách nay hơn 6 thế kỷ đã sử dụng những phương tiện, phương pháp gì để có thể vận chuyển và đưa lên cao những khối đá lớn nặng đến thế ?
Ở thế kỷ 16 Phùng Khắc Khoan đã có thơ " Sáng sớm qua Tây Đô " : " Nhuận Hồ phụ tử nay đâu tá ? Để gió lẻ loi quấn quýt người " ! Giữa thế kỷ 20, học giả Louis Bezacier đánh giá thành nhà Hồ là " một trong những tác phẩm đẹp nhất của nền
Trang 10kiến trúc Việt Nam xưa " (Hương Nao, Những thắng tích của xứ Thanh, 1997).
Khu di tích Lam Kinh (tên ghép từ Lam Sơn và Kinh Đô) cách Thanh Hóa 50 km, thuộc xã Xuân Lam, huyện Thọ Xuân, quê hương anh hùng dân tộc Lê Lợi, căn cứ địa đầu tiên của Khởi Nghĩa Lam Sơn, đã có từ đầu thế kỷ 15, sau khi triều hậu Lê được thành lập Từ đó về sau đã được nhiều lần bổ sung, tu sửa Ngoài những cung điện như Quảng Đức, Sùng Hiếu , Lam Kinh còn có nhiều lăng miếu như Vĩnh Lăng của Lê Thái Tổ, Hựu Lăng của Lê Thái Tôn, Chiêu Lăng của Lê Thánh Tôn, v.v Trải qua bao biến thiên lịch sử, các công trình kiến trúc xưa đã bị hủy hoại, chỉ còn một số dấu tích : bốn con rồng đá, những kiệt tác điêu khắc thế kỷ 15 và quí nhất là bia Vĩnh Lăng làm bằng một phiến đá cao 2,97 m, rộng 1,94 m, dày 0,27 m, đặt trên lưng một con rùa đá lớn đẹp Bia được dựng năm 1433, trên mặt bia ghi tiểu sử và công trạng Lê Thái Tổ (Lê Lợi) do Nguyễn Trãi soạn Đây là tấm bia thuộc loại đẹp nhất, lớn nhất, có giá trị lịch sử và văn học cao trong kho tàng bi ký Việt Nam
Thiên nhiên xứ Nghệ và truyền thống lịch sử văn hóa lâu đời của một vùng địa linh nhân kiệt
Từ thuở đất nước có tên Văn Lang, xứ Nghệ đã là một trung tâm của nền văn hóa Đông Sơn nổi tiếng , với di chỉ Làng Vạc
và nhiều di chỉ khác ( Hà Văn Tấn chủ biên, Văn Hóa Đông Sơn ở VN, 1994) Từ thời Bắc thuộc đến thời cận-hiện đại, xứ Nghệ
" non xanh nước biếc " của Hang Bua, Cửa Lò, Núi Hồng, Sông Lam đã ghi lại dấu tích bao anh hùng, hào kiệt, và danh nhân, từ vua Thục (Đền Cuông), vua Mai (đền Mai Hắc Đế), vua Quang Trung (Phượng Hoàng Trung Đô) đến Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ, Phan Bội Châu cùng với những công trình nghệ thuật như đình Hoành Sơn, đình Trung Cần, những làng văn hóa Tiên Điền, Trường Lưu, Cổ Đạm Xứ Nghệ đã cống hiến cho tổ quốc biết bao văn nghệ sĩ, nhà văn hóa, nhà bác học làm rạng danh văn hóa , văn minh Việt Nam
Xứ Nghệ có hai nơi thờ Thục An Dương Vương : đền Đức Vua ở Nghi Xách ( huyện Nghi Lộc ) và đền Cuông ở Diễn An ( huyện Diễn Châu) Nếu đền và đình Cổ Loa tọa lạc giữa đất Cổ Loa là nơi vua Thục xây thành, dựng nước Âu Lạc thì đền Cuông được đặt giữa sườn núi Mộ Dạ, gần nơi vua từ giã cõi đời " Chớ đem thành bại luận anh hùng " và anh hùng là bất tử Thục An Dương Vương của chúng ta không hề chết vì thần Rùa Vàng đã rẽ nước đưa vua xuống Biển Đông Nhà thơ Chu Mạnh Trinh đã nói lên nỗi niềm của người đời sau đối với cha con vua Thục :
"Nghĩa cha sâu thẳm, cạn tình chồng
Giãi nỗi kỳ oan mãi chửa thông ! "
(thơ đề am Mỵ Châu, Cổ Loa)
Tôi kể ngày xưa chuyện Mỵ Châu
Trái tim lầm chỗ để trong đầu
Nỏ thần sơ ý trao tay giặc
Nên nỗi cơ đồ đắm biển sâu
(Tố Hữu)
Cách thành phố Vinh 22 km, ven sông Lam, trên phần đất thị trấn Nam Đàn có đền thờ Mai Thúc Loan, người anh hùng đã
có công đánh đuổi giặc Đường, lập nước Vạn Xuân ở thế kỷ 8 Cách đền vua Mai 3 km, ngược dòng sông Lam, là khu mộ vua dưới chân núi Đụn Ngày xưa hằng năm tại đền và mộ vua, nhiều hội lễ được tổ chức trọng thể: hội Đền rằm tháng giêng, hội giỗ hoàng hậu rằm tháng 7, hội giỗ vua rằm tháng 9 âm lịch Hội đền mùa xuân có qui mô lớn, trang nghiêm và đông đảo nhất với nhiều trò vui : rước kiệu, đánh vật, bắn nỏ, chọi gà, đua thuyền, đánh đu, cờ người, múa hát rôm rả trong nhiều ngày Tháng 10-1788, Nguyễn Huệ quyết định đóng đô ở Nghệ An, giao cho trấn thủ Thận và cố vấn Nguyễn Thiếp tổ chức xây dựng thành Phượng Hoàng Trung Đô ở khu vực núi Dũng Quyết, vùng Bến Thủy, thành phố Vinh ngày nay Thành ngoài xây bằng đất và đá ong, hình tứ giác, chu vi 2.820 m, bờ thành cao 3-4 m, diện tích 22 ha, bao quanh thành ngoại là con hào rộng
30 m, sâu 3 m Thành nội xây bằng gạch vồ và đá ong, chu vi 1.680 m, với hai dãy hành lang nối liền với điện Thái Hòa, nơi vua thiết triều
Tháng 11-1789 thúc giục Nguyễn Thiếp hoàn thành việc xây dựng Trung Đô và sau đó Quang Trung đã làm việc tại đây ít nhất là hai lần : tháng 5-1791 và tháng 1-1792 Nhưng sáu tháng sau, vua đột ngột qua đời nên không kịp dời đô từ Phú Xuân
ra Trung Đô Nhà sử học và nhà văn hóa học hôm nay có lẽ không lầm khi cho rằng Trung Đô là chứng tích hào hùng thể hiện đầu óc chiến lược và tầm nhìn văn hóa của người anh hùng dân tộc trong quá trình đấu tranh thống nhất đất nước và xây dựng cuộc sống an lạc, ấm no cho dân khi vua khẳng định : " Nay kinh đô Phú Xuân hình thế trắc trở, mà trị an Bắc Hà sự thế rất khó khăn ( ) Chỉ đóng đô ở Nghệ An là độ dường vừa cân phân vừa có thể khống chế được trong Nam ngoài Bắc, và sẽ giúp cho người tứ phương đến kêu kiện tiện việc đi về " (tờ chiếu 1/10/1788) Phải chăng đó là một biểu hiện tư tưởng thân dân của Quang Trung ?
Xứ Thanh, xứ Nghệ đã và đang gìn giữ cho dân tộc một kho tàng văn nghệ dân gian độc đáo , đẹp đẽ
Xứ Thanh, xứ Nghệ đã sản sinh nhiều truyện cười, truyện trạng, đóng góp to lớn vào nền văn hóa trào phúng dân gian
Về truyện cười xứ Thanh, trong năm 1987, Nguyễn Đức hiền và Hà Văn Tấn cho công bố cuốn Trạng Quỳnh lần đầu tiên đưa ra lý giải thuyết phục về mối liên hệ giữa nhân vật lịch sử Nguyễn Quỳnh quê ở Thanh Hóa và trạng Quỳnh dân gian, hình