1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tục ngữ người Việt và tục ngữ người Hán về văn hóa ứng xử trong gia đình

94 38 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 94
Dung lượng 1,74 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tục ngữ người Việt và tục ngữ người Hán về văn hóa ứng xử trong gia đình Tục ngữ người Việt và tục ngữ người Hán về văn hóa ứng xử trong gia đình Tục ngữ người Việt và tục ngữ người Hán về văn hóa ứng xử trong gia đình luận văn tốt nghiệp,luận văn thạc sĩ, luận văn cao học, luận văn đại học, luận án tiến sĩ, đồ án tốt nghiệp luận văn tốt nghiệp,luận văn thạc sĩ, luận văn cao học, luận văn đại học, luận án tiến sĩ, đồ án tốt nghiệp

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

DING ZHENG DONG

TỤC NGỮ NGƯỜI VIỆT VÀ TỤC NGỮ NGƯỜI HÁN

VỀ VĂN HÓA ỨNG XỬ TRONG GIA ĐÌNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VĂN HỌC VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

THÁI NGUYÊN - 2020

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

DING ZHENG DONG

TỤC NGỮ NGƯỜI VIỆT VÀ TỤC NGỮ NGƯỜI HÁN

VỀ VĂN HÓA ỨNG XỬ TRONG GIA ĐÌNH

Ngành: Văn học Việt Nam

Mã số: 8 22 01 21

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VĂN HỌC VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Ngô Thị Thanh Quý

THÁI NGUYÊN - 2020

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn: “Tục ngữ người Việt và tục ngữ người Hán về

văn hóa ứng xử trong gia đình” là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi dưới sự

hướng dẫn của PGS.TS Ngô Thị Thanh Quý Các nội dung nêu trong luận văn là

kết quả làm việc của tôi và chưa được công bố trong bất cứ một công trình nào khác

Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực, khách quan Các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc

Thái Nguyên, tháng 12 năm 2020

Tác giả luận văn

DING ZHENG DONG

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Bằng sự kính trọng và lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo khoa Ngữ văn, khoa Sau đại học, cán bộ phòng quản lý khoa học trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu tại trường

Đặc biệt, tôi xin trân trọng cảm ơn PGS.TS Ngô Thị Thanh Quý, người

đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Cuối cùng, tôi xin được bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới gia đình, người thân, đồng nghiệp cùng bạn bè đã động viên, quan tâm chia sẻ và tạo mọi điều kiện giúp tôi hoàn thành tốt khoá học này

Thái Nguyên, tháng 12 năm 2020

Tác giả luận văn

DING ZHENG DONG

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC BẢNG iv

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 6

5 Phương pháp nghiên cứu 7

6 Đóng góp của luận văn 7

7 Bố cục luận văn 8

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỤC NGỮ VÀ VĂN HÓA 9

1.1 Khái quát chung về tục ngữ 9

1.1.1 Khái niệm tục ngữ 9

1.1.2 Khái quát nội dung, nghệ thuật của tục ngữ 13

1.2 Khái niệm ứng xử và văn hóa ứng xử 20

1.2.1 Khái niệm về văn hóa 20

1.2.2 Văn hóa ứng xử 21

1.3 Văn hóa ứng xử trong gia đình 22

1.3.1 Gia đình truyền thống của người Việt 22

1.3.2 Gia đình truyền thống của người Hán 27

Tiểu kết chương 1 31

Chương 2 TỤC NGỮ NGƯỜI VIỆT VỀ VĂN HÓA ỨNG XỬ TRONG GIA ĐÌNH 32

2.1 Tổng hợp và phân loại các kiểu quan hệ ứng xử trong gia đình 32

2.2 Các kiểu quan hệ ứng xử và ví dụ minh họa 32

Trang 6

2.2.1 Quan hệ ứng xử cha mẹ - con cái 32

2.2.2 Quan hệ ứng xử vợ - chồng 44

2.2.3 Quan hệ ứng xử anh, chị, em 49

2.2.4 Các quan hệ họ hàng gia tộc khác 52

Tiểu kết chương 2 56

Chương 3 TỤC NGỮ NGƯỜI HÁN VỀ VĂN HÓA ỨNG XỬ TRONG GIA ĐÌNH 57

3.1 Tổng hợp và phân loại các kiểu quan hệ ứng xử trong gia đình 57

3.2 Các kiểu quan hệ ứng xử và ví dụ minh họa 57

3.2.1 Quan hệ ứng xử cha mẹ - con cái 57

3.2.2 Quan hệ ứng xử vợ - chồng 71

3.2.3 Quan hệ ứng xử anh, chị, em ruột 76

3.2.4 Các quan hệ họ hàng gia tộc khác 77

Tiểu kết chương 3 81

KẾT LUẬN 82

TÀI LIỆU THAM KHẢO 84

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1: Các kiểu quan hệ ứng xử trong gia đình 32 Bảng 3.1: Các kiểu quan hệ ứng xử trong gia đình 57

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Ngôn ngữ và văn hoá có quan hệ mật thiết với nhau Hệ thống ngôn ngữ của một dân tộc, trong đó tục ngữ là một bộ phận cấu thành, không những truyền tải văn hoá của dân tộc đó, xét về góc độ lịch sử, còn là tinh hoa về văn hoá của dân tộc Tục ngữ Việt cũng như tục ngữ Hán đều mang đậm tính nhân văn Nó phản ánh một cách sâu sắc và toàn diện cuộc sống văn hoá xã hội của dân tộc Việt và dân tộc Hán Tục ngữ là kết tinh trí tuệ của quần chúng nhân dân qua nhiều thế hệ, là sự tổng kết kinh nghiệm sản xuất và cuộc sống xã hội của quảng đại quần chúng, và còn là sự thể hiện sâu sắc, sinh động văn hoá của dân tộc Việt và dân tộc Hán Vị trí địa lý và lịch sử giao lưu văn hoá lâu đời của nhân dân hai nước Việt - Trung khiến cho tục ngữ Việt và tục ngữ Hán trong sự phát triển và hình thành của mình đã có sự ảnh hưởng, giao thoa lẫn nhau Do đó nghiên cứu tục ngữ Việt và tục ngữ Hán là việc làm có ý nghĩa đối với việc nghiên cứu văn hoá dân tộc hai nước, việc đối chiếu tục ngữ Hán và Việt có giá trị tham khảo quan trọng

Trong bức tranh thể loại văn học dân gian của Việt Nam và Trung Quốc, tục ngữ giữ một vai trò quan trọng, dung chứa nhiều nội dung tư tưởng, cũng như những giá trị, kinh nghiệm của đời sống.Tục ngữ không chỉ được tìm hiểu ở phương diện giá trị phản ánh đời sống, nhận thức, ở những đúc kết kinh nghiệm về tự nhiên, về

xã hội mà còn được khai thác ở nhiều góc độ khác Với nội dung phong phú, bao quát nhiều lĩnh vực, với cấu trúc đặc thù, nhiều loại hình, tục ngữ không chỉ là đối tượng nghiên cứu của ngành văn học dân gian, như quan niệm của một số tác giả trước đây, mà trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học khác như triết học, dân tộc học, tâm lý học, xã hội học Tuy thế cho đến nay việc tìm hiểu nghiên cứu thể loại này có nhiều điều có thể tiếp tục, nhất là những nghiên cứu có yếu tố so sánh để tìm ra những điểm tương đồng và khác biệt trong tư duy thể loại, trong nội dung nghệ thuật thể hiện Đây cũng là một lý do mang tính cấp thiết khiến cho chúng tôi quyết tâm theo đuổi nghiên cứu đề tài

Trang 9

Tiếp nối các công trình nghiên cứu đi trước, chúng tôi quan tâm nghiên cứu nét đẹp về văn hóa ứng xử trong gia đình được thể hiện qua tục ngữ Việt và tục ngữ Hán Thông qua công trình nghiên cứu này, chúng tôi mong muốn được góp một phần công sức vào việc so sánh, tìm ra một số nét tương đồng và khác biệt giữa tục ngữ hai nước Việt - Trung Chúng tôi cũng hy vọng, luận văn bảo vệ thành công sẽ

là một tài liệu tham khảo tin cậy, có giá trị cho những người muốn tiếp tục nghiên cứu, tìm hiểu tục ngữ Việt và tục ngữ Hán trong mối quan hệ đối sánh

Sẽ có nhiều điểm tương đồng, khác biệt trong con đường tiếp thu thể loại tục ngữ, vẻ đẹp của văn hóa thể hiện ở tục ngữ có nhiều điều lý thú, đây là điều còn bỏ ngỏ đối với giới nghiên cứu thể loại Văn học dân gian, chúng tôi mong muốn có thêm những đánh giá, nhận định rõ hơn toàn diện hơn về sự tương đồng và khác biệt này

Bản thân tôi là một người Trung Quốc, tôi yêu mến đất nước, văn hóa và con người Việt Nam Thực hiện đề tài nghiên cứu này, tôi hy vọng được đi sâu tìm hiểu

về văn học, văn hóa nói chung Những nghiên cứu của chúng tôi ở một phương diện nào đó là chiếc cầu nối cho tình hữu nghị giữa hai quốc gia trong thời kỳ hội nhập, toàn cầu hóa hiện nay

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

2.1 Tình hình nghiên cứu tục ngữ ở Việt Nam

Việc sưu tầm biên soạn tục ngữ ở Việt Nam cũng xuất hiện từ rất sớm Chỉ tính trong khoảng 40 năm nửa đầu thế kỉ XX, khá nhiều sách về tục ngữ được biên soạn, xuất bản Cuốn sách biên soạn tục ngữ in bằng chữ quốc ngữ đầu tiên là “Tục ngữ cổ ngữ gia ngôn”, tác giả là Huỳnh Tịnh Của, xuất bản năm 1896 Ngoài ra có thể kể đến một số sách khác như “Nam ngạn chích cẩm” của Phạm Quang Sán (1918), “Việt Nam ngạn ngữ phương ngôn thư” của Nguyễn Văn Lễ (1931) Những cuốn sách này chủ yếu dừng lại ở mức thu thập, biên soạn, có sách xuất hiện thêm phần chú giải tục ngữ

Sau giải phóng, đất nước hoàn toàn thống nhất, các công trình sưu tầm và nghiên cứu Văn học dân gian ở Việt Nam nở rộ, trong đó có tục ngữ Chúng ta có

Trang 10

thể kể đến những công trình nghiên cứu về tục ngữ như: “Tục ngữ Việt Nam” của nhóm Chu Xuân Diên, Lương Văn Đang, Phương Tri; “Tục ngữ Việt Nam, cấu trúc

và thi pháp” của Nguyễn Thái Hòa, “Tìm hiểu thi pháp tục ngữ Việt Nam” của tác giả Phan Thị Đào và nhiều công trình nghiên cứu tục ngữ đăng trong các tạp chí: Ngôn ngữ, Văn hoá dân gian, Văn học cùng một số luận án tiến sĩ nghiên cứu về tục ngữ trong mấy năm gần đây Ở Việt Nam, có thể thấy cách tiếp cận nghiên cứu tục ngữ theo các khuynh hướng sau:

- Tiếp cận cấu trúc cú pháp tục ngữ theo quan điểm ngữ pháp chức năng: Quan điểm phân tích cú pháp tục ngữ theo mô hình đề thuyết đầu tiên có thể

kể đến tác giả Cao Xuân Hạo trong “Ngữ pháp chức năng tiếng Việt” Theo ông,

mô hình đề thuyết có thể phân nhỏ thành câu một bậc và câu nhiều bậc Ông dùng biểu đồ hình cây biểu diễn cấu trúc cú pháp tiếng Việt trong đó bao gồm cấu trúc

cú pháp tục ngữ Việt Tiếp đó là các nhà nghiên cứu: Nguyễn Đức Dương, Hoàng Diệu Minh cùng có quan điểm như nhà nghiên cứu Cao Xuân Hạo Tuy nhiên, nhà nghiên cứu Hoàng Diệu Minh còn chỉ ra rằng, chúng ta có thể hiểu tục ngữ trong mối quan hệ giữa ba bình diện: Kết học, Nghĩa học và Dụng học Đó là mối quan

hệ giữa nội dung và hình thức, mục đích và phương tiện của tục ngữ

- Tiếp cận cú pháp tục ngữ từ góc độ cấu trúc logic - ngữ nghĩa:

Đi theo hướng khảo sát, phân tích tục ngữ từ góc độ logic, nhà nghiên cứu Nguyễn Đức Dân gợi mở hướng nghiên cứu cấu trúc tục ngữ theo quan điểm logic

- ngữ nghĩa Tác giả đưa ra những dẫn chứng cụ thể cho thấy rằng tục ngữ có những cấu trúc đặc thù ít thấy ở câu thông thường Bằng những cấu trúc logic - ngữ nghĩa khái quát, tác giả chứng minh rằng một số câu tục ngữ tuy dùng những phương thức biểu đạt ngôn ngữ khác nhau nhưng lại có cấu trúc logic như nhau

Gần đây, Nguyễn Quý Thành trong luận án tiến sĩ “Cấu trúc cú pháp - ngữ nghĩa của tục ngữ Việt trong sự so sánh với tục ngữ của một số dân tộc khác” tập trung nghiên cứu cấu trúc cú pháp tục ngữ xuất phát từ đặc điểm nội dung khái quát nhất của tục ngữ để tìm hiểu các cấu trúc đặc thù một cách có hệ thống

Trang 11

- Tiếp cận cú pháp tục ngữ từ các kiểu khuôn hình tục ngữ:

Nhà nghiên cứu Nguyễn Thái Hòa trong “Tục ngữ Việt Nam - cấu trúc và thi pháp” đã phân tích cú pháp tục ngữ theo những yếu tố hình thức của tục ngữ: vần, nhịp, kiến trúc sóng đôi Về ngữ nghĩa tục ngữ, tác giả cho rằng một phần gắn với quan hệ cú pháp và phần khác gắn liền với cảnh huống giao tiếp cụ thể, tương đương với kết cấu vừa bề mặt, vừa bề sâu thường thấy của một câu tục ngữ

- Tiếp cận nghiên cứu tục ngữ từ góc độ ngữ nghĩa:

Tục ngữ đặc biệt phong phú trong lĩnh vực đúc kết kinh nghiệm sống, kinh nghiệm sản xuất Nhiều câu tục ngữ có tính khái quát cao, mang đậm nét triết lí, thậm chí có những câu tục ngữ còn được coi như chân lí, là kim chỉ nam soi rọi và dẫn dắt con người trong lĩnh vực đối nhân xử thế Nghiên cứu tục ngữ theo xu hương này tiêu biểu có các tác giả: Chu Xuân Diên, Hoàng Văn Hành, Trần Mạnh Thường, Hoàng Tiến Tựu và Bùi Mạnh Nhị Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu với các công trình của mình cũng chưa có sự đồng thuận trong cách nhìn về ngữ nghĩa của tục ngữ

2.2 Tình hình nghiên cứu tục ngữ ở Trung Quốc

Các nhà nghiên cứu chỉ ra rằng, từ “tục ngữ” xuất hiện sớm nhất trong “Sử kí” của Tư Mã Thiên Vào thời Tiên Tần và thời nhà Hán, tục ngữ và ngạn ngữ thuộc về cùng một khái niệm, cho nên sau này còn có tên gọi là “tục ngạn” Nếu tính từ thế kỉ XVIII, có thể nói là việc sưu tầm và chú thích tục ngữ ở Trung Quốc cũng khá rầm rộ và đạt được những kết quả nhất định Những đầu sách tiêu biểu là

“Thông tục biên”, “Hằng ngôn lục”, “Cổ dao ngạn”, “Thường ngữ lục nguyên” Tuy nhiên, những sách về tục ngữ của thời kì này chủ yếu thiên về sưu tầm, thu thập các câu tục ngữ, không mang tính chất lý luận, nghiên cứu Thậm chí, ngay cả khái niệm: “Tục ngữ là gì ?” cũng rất mơ hồ

Sau khi nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa ra đời (1949), công việc nghiên cứu và thu thập, chỉnh lý tục ngữ đạt được rất nhiều thành quả và có những bước phát triển mới Những chuyên khảo nghiên cứu lí luận về tục ngữ được triển khai toàn diện Có thể kể đến “Ngạn ngữ” của Ôn Đoan Chính, “Tục ngữ” của Mã Quốc

Trang 12

Phàm, Mã Thúc Tuấn, “Trung Hoa ngạn dao nghiên cứu” của Vũ Chiêm Khôn cùng với nhiều bài nghiên cứu chuyên sâu đăng trên các tạp chí khoa học

Nhìn chung, phạm vi nghiên cứu tục ngữ ngày nay tương đối sâu, rộng Các tác giả không những chỉ chú ý đến tính chất, nội dung và hình thức của tục ngữ mà còn chú ý nghiên cứu phương diện ngữ dụng nữa Có thể kể đến một số xu hương nghiên cứu tục ngữ như sau:

- Nghiên cứu tục ngữ từ góc độ cấu trúc cú pháp:

Các nhà nghiên cứu tập trung chú ý phân tích cấu trúc cú pháp tục ngữ Tiêu biểu có: Mã Quốc Phàm, Mã Thúc Tuấn, Vũ Chiêm Khôn Đồng tình với quan điểm chung của các nhà Hán học, cho rằng tục ngữ tương đương với đơn vị câu, tác giả

Mã và Vũ đều phân tích tục ngữ theo quan điểm ngữ pháp truyền thống của tiếng Hán Theo các nhà nghiên cứu này, cấu trúc cú pháp tục ngữ cũng có các kiểu câu đơn, câu ghép và một số cấu trúc đặc thù

- Nghiên cứu tục ngữ từ góc độ ngữ nghĩa:

Các nhà Hán học nhấn mạnh tầm quan trọng của việc nắm vững ngữ nghĩa tục ngữ vì nó liên quan trực tiếp đến việc lí giải và vận dụng tục ngữ một cách chính xác Ngoài ra họ còn đề cập cụ thể đến những vấn đề như: nghĩa mặt chữ và nghĩa thực tế của tục ngữ; tính đơn nghĩa và tính đa nghĩa của tục ngữ; tục ngữ đồng nghĩa

và tục ngữ phản nghĩa, tiêu biểu có: Ôn Đoan Chính, Từ Tông Tài Các tác giả này cho rằng: Tục ngữ là nghĩa được suy ra trực tiếp từ những từ và quan hệ ngữ pháp bao hàm trong tục ngữ Nghĩa thực tế của tục ngữ chỉ nghĩa được sử dụng trong thực tế của tục ngữ Có thể thấy rằng, nghĩa mặt chữ hay nghĩa thực tế cũng tương đương với nghĩa đen hay nghĩa bóng hoặc nghĩa biểu trưng trong tục ngữ Việt Và

đó cũng là những đặc điểm chung về mặt ngữ nghĩa của tục ngữ nhiều dân tộc

2.3 Một số công trình so sánh tục ngữ Việt Nam và Trung Hoa

Riêng về lĩnh vực so sánh, đối chiếu tục ngữ Việt với tục ngữ Hán, các công trình nghiên cứu vẫn còn khá khiêm tốn Việc đối chiếu giữa tục ngữ Hán và tục ngữ Việt có thể thấy được chủ yếu tập trung ở phần giới thiệu trong một vài cuốn

từ điển tục ngữ Hán - Việt như: “Từ điển thành ngữ, tục ngữ Hoa - Việt” (Lê Khánh

Trang 13

Trường, Lê Việt Anh), “Từ điển thành ngữ, tục ngữ Hán - Việt” (Nguyễn Bích Hằng, Trần Thanh Liêm) Các quyển từ điển này chủ yếu là dịch nghĩa các câu tục ngữ, thành ngữ từ tiếng Hán sang tiếng Việt, chưa chuyên sâu nghiên cứu kết cấu hình

thức cũng như nội dung của chúng Vì vậy, với đề tài: Tục ngữ người Việt và tục

ngữ người Hán về văn hóa ứng xử gia đình trong cái nhìn so sánh, chúng tôi góp

phần công sức nhỏ bé của mình vào công việc nghiên cứu tục ngữ nói chung và công việc đối chiếu so sánh tục ngữ Việt với tục ngữ Hán nói riêng Luận văn hoàn thành sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích cho những công trình kế tiếp của chúng tôi và cho những độc giả khác

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu chủ yếu của luận văn là những câu tục ngữ của người Việt trong bộ Kho tàng tục ngữ người Việt (2 tập) do tác giả Nguyễn Xuân Kính chủ biên

- Tục ngữ tiếng Hán, chúng tôi dùng cuốn Từ điển tục ngữ (tiếng Hán) của

Từ Tông Tài, Ứng Tuấn Linh tổng hợp, với 10.300 câu tục ngữ Hán

- Văn hóa ứng xử gia đình được thể hiện trong tục ngữ từ góc nhìn so sánh

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Trong khuôn khổ của luận văn, chúng tôi lựa chọn phạm vi nghiên cứu của luận văn là: Tục ngữ người Việt và tục ngữ người Hán về văn hóa ứng xử gia đình trong cái nhìn so sánh

- Thuật ngữ “tục ngữ Việt” mà chúng tôi đề cập đến trong luận văn đồng nghĩa với “tục ngữ cổ truyền” của người Việt (người Kinh)

- Khái niệm “tục ngữ Hán” trong luận văn tương đương với “tục ngữ cổ truyền” của người Hán

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Mục đích nghiên cứu

- Chúng tôi hướng đến việc làm rõ hơn một số vấn đề lý thuyết về tục ngữ hai nước Việt - Trung, từ đó có những khảo sát, thống kê những câu tục ngữ viết về chủ đề gia đình

- Tìm hiểu nội dung của những câu tục ngữ Việt và tục ngữ Hán đúc rút

Trang 14

những kinh nghiệm ứng xử của con người trong gia đình

- Thấy được sự tương đồng và khác biệt của văn hóa ứng xử của người Việt

và người Hán thể hiện qua tục ngữ cũng như các nguyên nhân của sự giống nhau và khác nhau đó

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Từ mục đích trên,chúng tôi xác định những nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài như sau:

- Khảo sát tục ngữ Việt và tục ngữ Hán để tổng hợp tất cả những câu tục ngữ viết về văn hóa ứng xử trong gia đình Từ đó, chúng tôi tiến hành phân loại các câu tục ngữ trên theo các chủ đề cụ thể

- Tìm hiểu về cách ứng xử trong gia đình của người Việt và người Hán được thể hiện qua những câu tục ngữ

- Chỉ ra được nét đẹp về cách ứng xử trong gia đình của người dân Việt Nam cũng như người dân Trung Hoa được gửi gắm trong những câu tục ngữ Đồng thời, chúng tôi cũng chỉ ra sự giống nhau cũng như nét riêng của cách ứng xử trong gia đình người Việt Nam và người Trung Hoa Cũng từ đó, chúng tôi cũng chỉ ra nét riêng của bức tranh văn hóa cũng như sự giao thoa văn hóa của hai dân tộc được thể hiện qua tục ngữ

5 Phương pháp nghiên cứu

Để hoàn thành nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng phối hợp các phương pháp nghiên cứu chính sau đây: 1) Phương pháp nghiên cứu liên ngành; (2) Phương pháp tiếp cận văn học từ góc nhìn văn hóa; (3) Phương pháp so sánh văn học Ngoài ra, trong quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu, chúng tôi cũng sử dụng kết hợp các thao tác khác như: Phương pháp phân tích tác phẩm, tổng hợp, Phương pháp thống kê - phân loại, phương pháp mô tả,…

6 Đóng góp của luận văn

- Trong công trình của mình, chúng tôi đã chỉ ra một cách có hệ thống và làm sáng tỏ một số nét cơ bản của sự giống và khác nhau về mặt nội dung và nghệ thuật thể hiện cách ứng xử trong gia đình qua tục ngữ của người Việt Nam và người Trung Hoa, đồng thời đã sơ bộ lý giải nguyên nhân của sự tương đồng và khác biệt đó

Trang 15

Cách tiếp cận của chúng tôi với tư duy bối cảnh là đóng góp của công trình nghiên cứu khi so sánh tục ngữ hai nước được đặt trong nền văn hóa mỗi nước

- Ngoài việc góp phần khẳng định tính độc lập của mỗi dân tộc, chúng tôi còn nhấn mạnh đến cơ sở địa lý, lịch sử, văn hóa, xã hội của mối quan hệ Việt - Trung Do đó, luận văn cũng góp phần giúp cho nhân dân Việt Nam và nhân dân Trung Hoa hiểu nhau hơn, nhằm góp phần quảng bá nền văn hoá của mỗi nước và thúc đẩy mối quan hệ láng giềng đặc biệt Việt - Trung ngày càng phát triển

- Luận văn được bảo vệ thành công sẽ đóng góp thiết thực và có ý nghĩa nhất định cho việc học tập cũng như giảng dạy ngôn ngữ hai dân tộc Luận văn cũng sẽ

là tài liệu đáng tin cậy cho những người quan tâm, hoặc có thể là cơ sở cho những bước nghiên cứu tiếp theo

7 Bố cục luận văn

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, Luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ VĂN HÓA VÀ TỤC NGỮ Chương 2: TỤC NGỮ NGƯỜI VIỆT VỀ VĂN HÓA ỨNG XỬ TRONG GIA ĐÌNH

Chương 3: TỤC NGỮ NGƯỜI HÁN VỀ VĂN HÓA ỨNG XỬ TRONG GIA ĐÌNH

Trang 16

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỤC NGỮ VÀ VĂN HÓA

1.1 Khái quát chung về tục ngữ

1.1.1 Khái niệm tục ngữ

1.1.1.1 Tục ngữ theo quan điểm của người Việt

Từ trước đến nay, ở Việt Nam trong khoa học nghiên cứu về tục ngữ có rất nhiều định nghĩa về thể loại này:

Tục ngữ là thể loại văn học dân gian nhằm đúc kết kinh nghiệm, tri thức của nhân dân dưới hình thức những câu nói ngắn gọn, súc tích, có nhịp điệu, dễ nhớ, dễ truyền đạt, thường gieo vần lưng Nội dung tục ngữ thường phản ánh những kinh nghiệm về lao động sản xuất, ghi nhận các hiện tượng lịch sử xã hội, hoặc thể hiện triết lý dân gian của dân tộc

Tục ngữ được hình thành từ cuộc sống thực tiễn, trong đời sống sản xuất và đấu tranh của nhân dân, do nhân dân trực tiếp sáng tác; được tách ra từ tác phẩm văn học dân gian hoặc ngược lại; được rút ra từ tác phẩm văn học bằng con đường dân gian hóa những lời hay ý đẹp hoặc từ sự vay mượn nước ngoài Giữa hình thức và

nội dung, tục ngữ có sự gắn bó chặt chẽ, một câu tục ngữ thường có hai nghĩa: nghĩa đen và nghĩa bóng Tục ngữ có tính chất đúc kết, khái quát hóa những nhận xét cụ

thể thành những phương châm, chân lý Hình tượng của tục ngữ là hình tượng ngữ ngôn được xây dựng từ những biện pháp so sánh, nhân hóa, ẩn dụ

Đa số tục ngữ đều có vần, gồm hai loại: vần liền và vần cách Các kiểu ngắt nhịp: trên yếu tố vần, trên cơ sở vế, trên cơ sở đối ý, theo tổ chức ngôn ngữ thơ ca

Sự hòa đối là yếu tố tạo sự cân đối, nhịp nhàng, kiến trúc vững chắc cho tục ngữ Hình thức đối: đối thanh, đối ý Tục ngữ có thể có 1 vế, chứa 1 phán đoán, nhưng cũng có thể gồm nhiều vế, chứa nhiều phán đoán

Các kiểu suy luận: liên hệ tương đồng, liên hệ không tương đồng, liên hệ tương phản, đối lập, liên hệ phụ thuộc hoặc liên hệ nhân quả

Nguyễn Văn Tố trong Tục ngữ ta đối với tục ngữ Tàu và tục ngữ Tây: Tục ngữ là câu nói quen trong thế tục, nhiều câu nghĩa lý thâm thúy, ý tứ sâu xa

Trang 17

Dương Quảng Hàm trong Việt Nam văn học sử yếu: Một câu tục ngữ tự nó

phải có ý nghĩa, hoặc khuyên răn, hoặc chỉ bảo điều gì, còn thành ngữ chỉ là lời nói

có sẵn để ta tiện dùng mà diễn đạt một ý, một trạng thái gì cho có màu mè [9, 27]

Vũ Ngọc Phan trong Tục ngữ ca dao dân ca: Tục ngữ là một câu tự nó diễn

đạt trọn vẹn một ý, một nhận xét, một kinh nghiệm, một luân lý, một công lý, có khi

là một sự phê phán Thành ngữ là một bộ phận câu có sẵn mà nhiều người quen dùng nhưng tự riêng nó không diễn được một ý trọn vẹn

Tác giả Vũ Ngọc Phan trong công trình Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam, năm

1985 đã định nghĩa: "Tục ngữ là một câu tự nó diễn đạt trọn ven một ý, một nhận xét, một kinh nghiệm, một lý luận một công lý, có khi là một phê phán" [11, 27]

Trong bài viết Đạo lý trong tục ngữ đăng trên tạp chí Văn học, số 5 năm

1985, Nguyễn Đức Dân đã quan niệm: "Tục ngữ là những câu nói ổn định về cấu trúc, phản ánh những tri thức kinh nghiệm và quan niệm (dân gian) của một dân tộc

về thế giới khách quan, tự nhiên cũng như xã hội" [3, 58 ]

Tác giả Hoàng Tiến Tựu trong công trình Văn học dân gian Việt Nam , tập

2 năm 1990 cho rằng "Tục ngữ là thể loại văn học dân gian nhằm đúc kết kinh nghiệm, tri thức, nêu lên những nhận xét, phán đoán, lời khuyên răn của nhân dân dưới hình thức những câu nói ngắn gọn, giản dị, xúc tích, có nhịp điệu dễ nhớ, dễ truyền'' [25, 109]

Theo Đinh Gia Khánh, Chu Xuân Diên, Võ Quang Nhơn trong Văn học dân gian Việt Nam do nhà xuất Nxb Giáo dục phát hành năm 1998 thì: "Tục ngữ là những câu nói ngắn gọn, có ý nghĩa hàm súc, do nhân dân lao động sáng tạo nên

và lưu truyền qua nhiều thế kỷ" [10, 244]

Qua cách định nghĩa của các nhà nghiên cứu, ta có thể khái quát ngắn gọn về tục ngữ: Tục ngữ là đơn vị ngôn ngữ, có chức năng thông báo, có khả năng tạo câu một cách độc lập dưới dạng lời nói, hình thức của chúng tương đối ổn định, có ý nghĩa khái quát cao, do nhân dân lao động sáng tạo nên và lưu truyền qua nhiều thế

kỷ

Tục ngữ là tấm gương phản chiếu mọi biểu hiện của đời sống dân tộc, mọi quan niệm về đới sống nhân dân về các hiện tượng lịch sử xã hội về đạo đức, tôn

Trang 18

giáo Nó là một thể loại văn học ra đời từ rất sớm, có số lượng phong phú và sức sống bền lâu trong lòng dân tộc

Trong đời sống và tư duy, tục ngữ giúp con người có những kinh nghiệm về cách nhìn nhận, bình giá, ứng xử thực hành về mọi phương diện của cuộc sống Trong ngôn ngữ, tục ngữ làm đẹp, làm sâu sắc thêm lời nói, giúp mọi người diễn đạt cả những điều khó diễn đạt hoặc không tiện nói ra trực tiếp một cách hàm súc, bóng bẩy hơn

Do đó tục ngữ là một di sản hết sức quý báu cần được lưu truyền và gìn giữ

Là sự đúc kết trí tuệ và tâm hồn nhân dân lao động, vì vậy những câu tục ngữ không chỉ là một phán đoán, một triết lý mà nó còn là một văn bản nghệ thuật có giá trị Tục ngữ được ví như "túi khôn nhân gian","kho báu của trí tuệ nhân dân"

1.1.1.2 Tục ngữ theo quan điểm của người Hán

Trong giới nghiên cứu tục ngữ Hán, cũng như trong giới nghiên cứu tục ngữ tiếng Việt, các nhà Hán học cũng chưa có được một định nghĩa thống nhất, rõ ràng

và cặn kẽ về tục ngữ Học giả Ôn Đoan Chính đã thừa nhận: “确定什么是俗语,

ngữ, đương nhiên là một vấn đề khó; Giải thích tục ngữ như thế nào, lại là một vấn

đề còn khó hơn) [43, 47] Thậm chí, ngay cả tên gọi cũng chưa có sự thống nhất, ngoài thuật ngữ tục ngữ, hàng loạt thuật ngữ như: thường là ngắn gọn, có hình ảnh, giàu tính ẩn dụ và phần lớn có vần điệu, có tính thơ (poetic).” Có thể định nghĩa này chưa phải là hoàn hảo nhưng nó thường được trích dẫn và được coi là một trong những định nghĩa tốt nhất bởi nó đã thể hiện được những thuộc tính cơ bản và điển hình cả về hình thức và nội dung của tục ngữ

Để có cái nhìn cụ thể hơn về cách hiểu khái niệm tục ngữ trong giới nghiên cứu tiếng Hán, dưới đây chúng tôi sẽ trình bày một số quan niệm về tục ngữ trong một số từ điển lớn của Trung Quốc và của một số học giả nghiên cứu ngôn ngữ nổi tiếng của Trung Quốc

(1) 俗语是: “约定俗成、广泛流行的定型语句” (Tục ngữ là những ngữ cú định hình, được lưu truyền rộng rãi, hình thành bởi thói quen của quần chúng từ lâu đời) [44, 47]

Trang 19

2)俗语就有以下三个特点:

1、具有群众性。俗语绝大多数是人民群众创造的,说不出具体的作者。俗语既然是群众所创造的,自然为群众所喜闻乐见。

2、具有鲜明的口语性和通俗性。 俗语是通过群众世代口耳相传而流

3、具有相对的定型性。俗语不能是长篇,而是简明凝练的;也不是自由组合的语句,而是约定俗成,具有定型性的特点。但俗语在结构上又有很大的灵活性,同一个俗语可以有很多变体,有的可以调换部分词语,改变说法;有的可以增加一部分,有的可以颠倒语序。所以俗语的定型性只能是相对的,不是绝对的。

(Tục ngữ có ba đặc điểm sau:

1 Vốn có tính quần chúng Đại đa số tục ngữ là do quần chúng nhân dân sáng tạo ra, không có tác giả cụ thể Tục ngữ do quần chúng nhân dân sáng tạo ra, đương nhiên được quần chúng thích nghe, thích nói

2 Vốn có tính khẩu ngữ và tính đại chúng một cách rõ ràng Tục ngữ được lưu truyền rộng rãi từ đời này sang đời khác qua lời ăn tiếng nói của quần chúng cho nên tính khẩu ngữ của nó rất mạnh, không thể tách rời chữ “tục”

3 Vốn có tính định hình tương đối Tục ngữ không thể là trường thiên (đoạn văn dài), mà là những câu ngắn gọn súc tích; cũng không phải là những ngữ cú được tạo ra một cách tự do, mà được hình thành do thói quen của quần chúng từ lâu đời,

có đặc điểm định hình Về mặt kết cấu, tục ngữ lại có tính linh hoạt rất lớn, cùng một tục ngữ có thể có rất nhiều biến thể, có tục ngữ có thể thay đổi từng bộ phận tục ngữ, thay đổi cách nói; có tục ngữ lại có thể tăng thêm một bộ phận, có tục ngữ lại có thể thay đổi trật tự từ Cho nên tính định hình của tục ngữ chỉ là tương đối, không phải tuyệt đối.) [44, 12]

3)什么是俗语:只要是语言通俗,反映出人民的心愿,记录了社会生活和人生经验,这些话早已被群众广泛使用,道理深刻,意思新鲜,说得形象生动简炼透辟,这样的语句一般是既定型而又灵活的,人们把它叫做俗语,俗话,老俗话,大俗话。

Trang 20

(Tục ngữ là gì: chỉ cần ngôn ngữ thông tục, phản ánh được tâm nguyện của nhân dân, ghi lại được cuộc sống xã hội và kinh nghiệm nhân sinh, những lời này được dân chúng sử dụng rộng rãi từ lâu đời, đạo lí sâu sắc, ý tứ rõ ràng, lời nói có hình tượng, sinh động, ngắn gọn súc tích, những câu nói như vậy nói chung vừa định hình vừa linh hoạt, mọi người gọi đó là tục ngữ, tục thoại, lão tục thoại, đại tục thoại) [43, 31]

Tục ngữ quả là một loại hình độc đáo về cấu trúc cũng như ngữ nghĩa trong ngôn ngữ, chính vì lẽ đó định nghĩa khái quát về tục ngữ cho thật đầy đủ, hoàn chỉnh mọi mặt không phải là chuyện đơn giản Những định nghĩa về tục ngữ của các nhà Việt ngữ cũng như Hán ngữ nêu ở trên tuy có những nội dung cơ bản như nhau nhưng mỗi định nghĩa còn mang thêm nét riêng biệt cho dù là rất nhỏ Việc tìm ra một định nghĩa phản ánh đầy đủ những thuộc tính cơ bản của khái niệm là công việc không dễ, cần thời gian, và sự góp sức của nhiều người Để đáp ứng nhiệm vụ mà luận văn đặt ra, chúng tôi xác lập một định nghĩa tạm thời làm cơ sở để khảo sát, nghiên cứu như sau: “Tục ngữ là những câu nói ngắn gọn, súc tích, giàu hình ảnh đúc kết kinh nghiệm, tri thức dân gian của một dân tộc về thế giới khách quan, tự nhiên cũng như xã hội, có tính cố định tương đối, chủ yếu do quần chúng nhân dân sáng tác”

1.1.2 Khái quát nội dung, nghệ thuật của tục ngữ

1.1.2.1.Khái quát về nội dung:

a Tục ngữ Việt:

Tục ngữ phản ánh những nhận định, quan niệm của nhân dân về lao động về các hiện tượng lịch sử xã hội, về tư tưởng, đạo đức, các hiện tượng tự nhiên, kinh nghiệm sản xuất

- Phản ánh những kinh nghiệm về lao động sản xuất:

Tục ngữ về lao động sản xuất phản ánh một số nét chính điều kiện và phương thức lao động của nhân dân, phản ánh đặc điểm đời sống dân tộc Những kinh nghiệm

về lao động sản xuất được đúc kết trong quá trình khắc phục thiên nhiên của nhân dân lao động phổ biến rộng rãi, trở thành tri thức khoa học kỹ thuật dân gian Ví dụ

Trang 21

như những kinh nghiệm về quy luật diễn biến của thời tiết khí hậu: Mây thành vừa hanh vừa giá; Trăng quầng trời hạn, trăng tán trời mưa Trong quá trình lao động

sản xuất ở các ngành nghề nông nghiệp, ngư nghiệp, một số nghề thủ công lâu đời, nhân dân cũng đã đúc kết được rất nhiều kinh nghiệm Trong đó, những kinh nghiệm

về làm ruộng chiếm đa số: Nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống; Chim cập cợi, mùa đợi nhau Tục ngữ về lao động sản xuất thể hiện tinh thần sáng tạo của nhân

dân trong lao động và chủ yếu là kinh nghiệm thực tiễn

- Ghi nhận các hiện tượng lịch sử xã hội:

Tục ngữ nói về các hiện tượng lịch sử xã hội là bộ phận chủ yếu, phản ánh những tập quán, thị hiếu, sự đấu tranh của nhân dân, những ký ức về thời kỳ lịch sử

xa xưa của dân tộc : Ăn lông ở lỗ; Năm cha ba mẹ Một số hiện tượng lịch sử: Hăm mốt Lê Lai, hăm hai Lê Lợi; Lê tồn Trịnh tại, Lê bại Trịnh vong Bên cạnh

đó, tục ngữ Việt Nam còn phản ánh những đặc điểm sinh hoạt gia đình và xã hội,

sinh hoạt vật chất và tinh thần của nhân dân trong thời phong kiến: Dưa La, cà Láng, nem Bảng, tương Bần, nước mắm Vạn Vân, cá rô Ðầm Sét; Lấy vợ đàn bà, làm nhà hướng Nam; Mồng bảy hội Khám, mồng tám hội Dâu, mồng chín đâu đâu trở về hội Dóng Những nét sinh hoạt của nông thôn Việt Nam: Phép vua thua lệ làng; Ðất có lề, quê có thói; Một miếng giữa làng bằng một sàng xó bếp Phản ánh tổ chức gia đình và những quan điểm thân tộc của nhân dân: Một ngưòi làm quan cả

họ được nhờ; Sẩy cha còn chú, sẩy mẹ bú dì Phản ánh đời sống người lao động

và những quan hệ xã hội trong xã hội phong kiến: Lấy bát mồ hôi đổi bát cơm; Cá lớn nuốt cá bé

- Thể hiện triết lý dân gian của dân tộc:

Tục ngữ thể hiện chủ nghĩa nhân đạo chân chính của nhân dân lao động Tư

tưởng này biểu hiện trước hết ở những quan niệm về con người: Một mặt người hơn mười mặt của; Người sống của còn, người chết của hết Biểu hiện ở thái độ, đánh giá về lao động, cách xét đoán con người qua lao động: Tay làm hàm nhai, tay quai miệng trễ; Của một đồng, công một nén Tục ngữ thể hiện lòng tự hào, ngợi ca đất nước giàu đẹp, con người tài hoa: Thứ nhất kinh kỳ, thứ nhì Phố Hiến; Ăn Bắc, mặc Kinh; Trai Cầu Vồng, Yên Thế, gái Nội Duệ, Cầu Lim câu tục ngữ thể hiện tinh

Trang 22

thần đấu tranh của nhân dân lao động chống áp bức, bóc lột: Muốn nói oan, làm quan mà nói; Ðược làm vua, thua làm giặc Tục ngữ phản ánh khá phong phú

những đức tính của nhân dân lao động, thể hiện truyền thống tư tưởng, đạo đức của

nhân dân thông qua những nhận xét, suy ngẫm rất sâu sắc về hiện thực: Chớ thấy sóng cả mà ngã tay chèo; Có công mài sắt có ngày nên kim; Ðói cho sạch, rách cho thơm Nhân dân còn đề cập đến những biểu hiện khác: Ðèn nhà ai nấy sáng; Giàu đổi bạn, sang đổi vợ; Giàu trọng, khó khinh Tục ngữ là những kinh nghiệm của

nhân dân trong đời sống thục tiễn, song, nhiều tục ngữ phản ánh những nhận thức

triết học thô sơ có tính chất duy vật tự phát: Thầy bói nói dựa; Có bột mới gột nên hồ; Cái sẩy nẩy cái ung

b, Tục ngữ Hán

Cũng giống như tục ngữ của người Việt, tục ngữ của người Hán cũng phản ánh rất đầy đủ những sinh hoạt đời sống, những phong tục tập quán của con người trong xã hội Trung Hoa Cụ thể:

- Tục ngữ phản ánh về kinh nghiệm sản xuất

Khởi nguồn của nền kinh tế Trung Hoa chính là làm nông nghiệp và người dân Trung Hoa cũng rất thành thục với những công việc đồng áng với việc trồng trọt làm chính Vì vậy, người dân Hán cũng đúc rút được những kinh nghiệm quý báu của việc làm nông gắn với các mốc thời gian trong năm Tục ngữ Hán cũng ghi lại rất cụ thể những kinh nghiệm này, chẳng hạn: 谷雨前后, 裁瓜种豆(cốc vũ tiền hậu, tài qua chủng đậu): có nghĩa: Trước và sau tiết Cốc vũ là thời gian tốt cho việc thu hoạch dưa và trồng đậu (Cốc vũ là một trong hai mươi bốn tiết khí, là khoảng thời gian giữa tháng Tư); 过了清明节, 插秧不停歇 (Quá liễu Thanh minh tiết, tháp ương bất đình yết), có nghĩa: Qua tiết Thanh minh, cấy mạ không ngừng nghỉ (Tiết Thanh minh là một trong hai mươi bốn tiết khí, là khoảng thời gian đầu tháng Tư Qua tiết Thanh mình là vào vụ cấy trồng)

- Tục ngữ phản ánh về hiện tượng thời tiết

Cũng là một đất nước nông nghiệp, người Hán cũng rất chú trọng quan sát các hiện tượng tự nhiên bởi các hiện tượng đó có ảnh hưởng lớn đến mùa màng, để

Trang 23

từ đó có sự chuẩn bị cần thiết đối phó với những biến đổi của thời tiết Ví dụ: 蚯蚓滚路天将雨 (khâu dẫn cổn lộ thiên tương vũ): có nghĩa: Giun đất bò ra đường là trời sắp mưa Người Hán chia thời tiết trong một năm thành hai mươi bốn tiết, ứng với các mùa để từ đó thuận lợi cho việc gieo trồng theo mùa vụ Một trong các tiết

đó là tiết Hạ Chí, cũng nói đến hiện tượng tự nhiên: 夏至东风飘, 麦子顺水捞 (hạ chí đông phong phiêu, thê tử thuận thủy lao): có nghĩa: Hạ chí có gió đông, sẽ với lúa mạch dưới nước (Hạ chí cũng là một trong hai mươi bốn tiết khí vào khoảng ngày hai mươi mốt, hai mươi hai tháng Sáu Nếu vào ngày hạ chí có gió Đông thổi thì năm đó sẽ mưa nhiều, mùa màng của người dân sẽ gặp bất lợi Người dân từ các hiện tượng tự nhiên thường thấy theo kinh nghiệm mà có sự chuẩn bị trước để phòng

chống lại thiên tai do thiên nhiên gây ra

- Tục ngữ phản ánh triết lý nhân văn

Cũng giống như tục ngữ của người Việt, tục ngữ của người Hán còn có nội dung nói về truyền thống văn hóa dân tộc với những triết lý sống rất chân thực, sống động và mang nhiều ý nghĩa Ví dụ: 百艺通, 不如一艺精 (bách nghệ thông, bất như nhất nghệ tinh), có nghĩa: Biết trăm nghề không bằng giỏi một nghề Câu tục ngữ giúp người đọc liên tưởng tới câu: Một nghề thì sống đống nghề thì chết, của người Việt Câu tục ngữ đã cho thấy sự tương đồng trong lối suy nghĩ của người dân hai nước với hai nền văn hóa khác nhau nhưng có sự giao thoa văn hóa Câu tục ngữ sau cũng có hiện tượng trùng lặp ý như vậy: 良药苦口利于病, 忠言逆耳利于行 (lương dược khổ khẩu lợi vu bệnh, trung ngôn nghịch nhĩn lợi vu hành), có nghĩa: Thuốc đắng miệng có lợi cho bệnh, lời nói thẳng khó lọt tai có lợi cho hành động (Thuốc đắng giã tật, sự thật mất lòng) Người Hán cũng rất coi trọng việc học hành của con cái, chính điều này cũng được tục ngữ của người Hán ghi lại: 家有黄金用斗量, 不如送子到学堂 (gia hữu hoàng kim dùng đấu lượng, bất như tống tử đáo học đường), có nghĩa: Nhà có nhiều vàng dùng đấu đong, không bằng gửi con đến chốn học đường

Tục ngữ của người Hán còn chỉ ra những triết lý sống mà không phải ai trong chúng ta ngày nay cũng nghĩ được và làm được: 赐子千金, 不如教子一艺 (tứ tử

Trang 24

thiên cân, bất như giáo tử nhất nghệ), có nghĩa: Cho con nghìn vàng, không bằng dạy con một nghề; 生命在于运动 (sinh mệnh tại vu vận động), có nghĩa: cuộc sống chính là sự vận động; 与其有病求医, 不如无病早防 (dữ kỳ hữu bệnh cầu y, bất như vô bệnh tảo phòng), có nghĩa: Đến khi có bệnh cầu cứu thầy thuốc, không bằng chưa có bệnh mà sớm có đề phòng Những tri thức này vẫn còn giá trị cho đến tận ngày nay và đường như đã trở thành chân lý của cuộc sống

- Đặc sản nổi tiếng của từng địa phương

Tục ngữ Hán cũng còn nói đến những đặc sản của nhiều địa phương gắn với những đặc sản nối tiếng Chẳng hạn: 东北三件宝,人参、貂皮、鹿茸角 (Đông Bắc tam kiện bảo: nhân sâm, báo bì, lộc nhung giác): có nghĩa: Vùng Đông Bắc có ba loại bảo vật: nhân sâm, da báo, nhung hươu 生在苏州,穿在杭州,吃在广州,死在柳州 (sinh tại Tô Châu, xuyên tại Hàng Châu, ngật tại Quảng Châu, tử tại Liễu Châu), có nghĩa: sinh ra ở Tô Châu, mặc tại Hàng Châu, ăn tại Quảng Châu, chết tại Liễu Châu Người dân Trung Hoa đều biết rằng, Tô Châu là nơi không chỉ có phong cảnh và con người nổi tiếng xinh đẹp mà người dân nơi đây còn nổi tiếng tài hoa, uyên bác, học thức hơn người; Hàng Châu là thành phố nổi tiếng về hàng lụa, sản phẩm may mặc; Quảng Châu là nơi giao lưu của nhiều nền văn hóa ẩm thực nên

đồ ăn vô cùng phong phú; Liễu Châu là thành phố nổi tiếng với nhiều loại gỗ tốt, người chết cũng chọn gỗ tốt để đóng quan tài Vì vậy, người dân Trung Hoa thường truyền tụng nhau về những nơi đó, và ngày nay vẫn vậy, ví dụ như lụa Hàng Châu vẫn nổi tiếng không ngừng Hay, khi nói về thành Lạc Dương người dân có câu: 洛阳牡丹甲天下 (Lạc Dương mẫu đơn giáp thiên hạ), có nghĩa: Hoa mẫu đơn ở Lạc Dương đẹp nhất thiên hạ Người ta cũng còn biết đến Sài Câu Bảo với câu tục ngữ: 柴沟堡的熏肉, 沙城的酒, 涮羊肉好不过张家口 (Sài Câu Bảo đích hun nhục, Sa Thành đích tửu, loát dương nhục hảo bất quá Trương Gia Khẩu), có nghĩa: Thịt hun khói ngon nhất là ở Sài Câu Bảo, rượu ngon nhất là ở Sa Thành, thịt dê tái ngon nhất là ở Trương Gia Khẩu

Trang 25

1.1.2.2 Khái quát về nghệ thuật:

a, Tục ngữ Việt:

Những đặc điểm nghệ thuật của tục ngữ biểu hiện một cách tập trung những đặc điểm của ngôn ngữ Việt Nam

- Nội dung và hình thức của tục ngữ có mối quan hệ chặt chẽ:

Giữa hình thức và nội dung tục ngữ có sự gắn bó chặt chẽ, ở tục ngữ là hình thức nội dung Tính chất bền vững của tục ngữ biểu hiện cả về mặt nội dung lẫn hình thức Tục ngữ có tính đa nghĩa: Một câu tục ngữ thường có hai nghĩa: nghĩa

đen và nghĩa bóng Ví dụ:

+ Tre già, măng mọc: Nghĩa đen: khi cây tre già đi, sẽ có cây măng non mọc lên kế tiếp; nghĩa bóng: chỉ con người, thế hệ này già đi sẽ có thế hệ kế cận tiếp sau

+ Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng: nghĩa đen: tất cả những gì để gần mực

thì đều bị màu của mực lấn sang và đều có mùa đen, ngược lại: để gần đèn thì ánh sáng của đèn làm cho mọi vật đều sáng; nghĩa bóng: chơi với người xấu sẽ xấu theo, chơi với người tốt sẽ tốt lên

- Tính hình tượng:

Tục ngữ có tính chất đúc kết, khái quát hóa những nhận xét cụ thể thành những phương châm, chân lý, xu hướng này thể hiện bằng ngôn từ đều qua lối tư duy hình tượng, lối nói hình tượng và được cụ thể hóa qua các biện pháp so sánh,

nhân hóa, ẩn dụ Ví dụ: Kẻ cắp gặp bà già; Ăn mày đánh đổ cầu ao; Người sống đống vàng; Ðũa mốc mà chòi mâm son; Thuận vợ thuận chồng, tát biển đông cũng cạn

- Vần điệu và sự hòa đối:

Ða số tục ngữ đều có vần Gồm 2 loại: vần liền và vần cách

+ Con lên ba cả nhà học nói

+ Chê thằng một chai, lấy thằng hai nậm

Nhịp điệu là yếu tố quan trọng trong tục ngữ Các kiểu ngắt nhịp: trên yếu tố vần, trên cơ sở vế, trên cơ sở đối ý, theo tổ chức ngôn ngữ thơ ca

+ Ðường đi hay tối, nói dối hay cùng

Trang 26

+ Trai ba mươi tuổi đương xoan

Gái ba mươi tuổi đã toan về già

Sự hòa đối là yếu tố tạo sự cân đối, nhịp nhàng, kết cấu vững chắc cho tục

ngữ Hình thức đối: đối thanh, đối ý:

+ Cơm treo, mèo nhịn đói

+ Ðược làm vua, thua làm giặc

- Hình thức ngữ pháp:

Tục ngữ có thể có 1 vế, chứa 1 phán đoán; Tục ngữ thường gồm có 2 vế, chứa 2 phán đoán; Tục ngữ có thể gồm nhiều vế, chứa nhiều phán đoán Những phán đoán trong tục ngữ thường không hiện rõ và đầy đủ Phần lớn những phán

đoán trong tục ngữ là những phán đoán khẳng định: Của người bồ tát; Chó treo, mèo đậy; Thuốc đắng dã tật, sự thật mất lòng

b, Tục ngữ Hán

- Hình thức gắn chặt với nội dung

Cũng giống như tục ngữ của người Việt, tục ngữ của người Hán cũng có hình thức gắn bó chặt chẽ với nội dung Một câu tục ngữ thông thường cũng bao gồm nghĩa đen và nghĩa bóng Ví dụ: 种瓜得瓜,种豆得豆 (chủng qua đắc qua, chủng đậu đắc đậu), có nghĩa: Trồng dưa được dưa, trồng đậu được đậu Thực tế trồng loại cây nào thì con người sẽ thu hoạch loại quả hay sản phẩm thuộc về cây đấy, đó là nghĩa thực Còn nghĩa bóng: người nào làm điều tốt, điều thiện sẽ được đền đáp và ngược lại Ở một ví dụ khác: 老猫不在家,耗子上房笆 (lão miêu bất tại gia, hào

tử thượng phòng ba), có nghĩa: mèo già không ở nhà, chuột con chạy khắp phòng

- Tính hình tượng

Khi diễn tả một hiện tượng nào đó, người Hán cũng dùng cách nói đầy hình ảnh mang tính biểu tượng cao Chẳng hạn, khi nói về đối tượng làm ăn không chân thực, gian dối, nói một đường làm một nẻo, người Hán thường có câu: 挂羊头, 卖

狗 肉 (quải dương đầu, mại cẩu nhục), có nghĩa: treo đầu dê, bán thịt chó Hay, khi nói về sự cố gắng, lòng kiên trì của con người, tục ngữ Hán có câu: 只要功夫深,铁杵磨成针 (chủ yếu công phu thâm, thiết chử ma thành trâm), có nghĩa: chỉ cần

Trang 27

có công phu thâm hậu, thanh sắt cũng mài được thành cây trâm Hoặc, khi nói về lòng biết ơn của con người, tục ngữ Hán lại có câu: 吃饭不忘种谷人 (ngật phan bất vong chủng cốc nhân), có nghĩa: ăn cơm không quên người trồng lúa; 吃水莫忘源,烧柴莫忘山 (ngật thủy mạc vong nguyên, thiêu sài mạc vong sơn), có nghĩa: uống nước chớ quên nguồn, đốt lửa chớ quên núi

- Sự hiệp vần

Cũng giống như tục ngữ Việt, tục ngữ Hán cũng có đặc điểm là sự hiệp vần Chính điều này giúp cho người đọc, người học sễ nhớ dễ học Ví dụ: 夫唱妇随 (phu xướng phụ tùy), có nghĩa: chồng hát vợ phụ họa theo Ở đây, cách phát âm phu - phụ có sự hiệp vần, chúng giống nhau về phần phiên âm và chỉ khác nhau về thanh điệu Câu tiếp sau: 不见棺材不落泪 (bất kiến quan tài bất lạc lệ), có nghĩa: không thấy quan tài không rơi lệ Ở câu này, cấu trúc 不…不… tạo nên sự hài hòa về vần điệu cũng giúp người đọc dễ nhớ Hay ở câu sau: 父不慈,子不孝 (phụ bất từ, tử bất hiếu), có nghĩa: bố không nhân từ, con bất hiếu, các từ 慈,子 ( ci zi ) cũng hiệp vần với nhau, tạo nên âm điệu cho câu tục ngữ

- Hình thức ngữ pháp: Tục ngữ của người Hán cũng có hình thức ngữ pháp tương đồng với hình thức ngữ pháp của tục ngữ Việt Chúng tôi hy vọng sẽ đi phân tích sâu hơn ở công trình nghiên cứu tiếp sau

1.2 Khái niệm ứng xử và văn hóa ứng xử

1.2.1 Khái niệm về văn hóa

* Khái niệm về "văn hóa"

Triết gia Lưu Hướng thời Tây Hán cho rằng văn hóa là lấy cái đẹp để giáo hoá Đến thời hiện đại, nhà văn hoá học Taylor (người Anh) định nghĩa: văn hoá là một tổng thể phức tạp bao gồm tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, pháp luật, phong tục và cả những năng lực, thói quen mà con người đạt được trong xã hội Theo E.Henriotte: Văn hoá là cái gì còn lại sau khi người ta đã quên đi tất cả, là cái vẫn thiếu khi người ta đã học tất cả

Trong nghĩa tiếng Hán văn hóa được hiểu là sự biến cải, thay đổi làm cho đẹp ra ("văn": vẻ đẹp ; "hóa": biến đổi) Văn hóa là sản phẩm của loài người, nó

Trang 28

được tạo ra bởi sự phát triển trong mỗi quan hệ qua lại giữa con người và xã hội

Nó tác động trở lại trong việc cải tạo, duy trì sự bền vững, trật tự xã hội của loài người Mọi yếu tố về vật chất có thể mất đi trong dòng chảy của thời gian nhưng văn hóa được truyền từ đời này sang đời khác, những nét đẹp văn hóa sẽ được tồn tại duy trì phát triển trường tồn theo thời gian, trong đời sống con người

Năm 2002, UNESCO đã đưa ra định nghĩa về văn hóa như sau: “Văn hóa nên được đề cập đến như là một tập hợp của những đặc trưng về tâm hồn, vật chất, tri thức và xúc cảm của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội và nó chứa đựng, ngoài văn học và nghệ thuật, cả cách sống, phương thức chung sống, hệ thống giá trị, truyền thống và đức tin”

Như vậy, có nhiều cách định nghĩa khác nhau về văn hóa nhưng các học giả đều khẳng định văn hóa là hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra nó được tích lũy trong hoạt động thực tiễn, trong sự tác động qua lại giữa con người và môi trường tự nhiên, xã hội Văn hóa được biểu hiện trực tiếp qua hành vi ứng xử con người với con người, con người với thế giới xung quanh

Và văn hóa được hiểu là một trường nghĩa rộng bao hàm nhiều nét văn hóa đặc trưng cho từng khía cạnh khác nhau mang tính khác biệt rõ rệt: văn hóa xã hội, văn hóa gia đình, văn hoá ăn, văn hoá mặc, văn hóa sống, văn hóa giao tiếp,… Mỗi nét văn hóa có vị trí và đặc điểm riêng Văn hóa bao giờ cũng gắn liền với sự phát triển,

là chìa khóa của sự phát triển và tiến bộ xã hội

1.2.2 Văn hóa ứng xử

* Ứng xử là gì ?

“Ứng” là đáp lại một tác động Từ “xử” là dùng thái độ, hành động để làm hiện lên kết quả của một thái độ, hành vi khác, dựa trên sự phân định rõ mức độ đúng sai của thái độ, hành vi đó

Từ điển tiếng Việt định nghĩa về ứng xử như sau: “Ứng xử ở đây được hiểu

là xử sự, xử thế thể hiện thái độ tình cảm, hành động thích hợp trước những việc có quan hệ giữa mình với người khác” [19, 1395 ]

* Văn hóa ứng xử là gì ?

Văn hóa ứng xử là tập hợp những nét đẹp thể hiện qua các thái độ, hành động

Trang 29

phân xử, thế ứng xử, đối ứng với một thái độ, hành vi khác thể hiện triết lý sống, các lối sống, lối suy nghĩ, lối hành động của một cá nhân, một cộng đồng người trong việc trong việc ứng xử và giải quyết những mối quan hệ giữa con người với

tự nhiên, với xã hội từ nhỏ đến lớn

Theo các nhà nghiên cứu văn hóa học thì văn hóa ứng xử là một phạm trù vô

cùng rộng lớn Trong cuốn Cơ sở văn hóa, tác giả Trần Ngọc Thêm đã đề cập đến

văn hóa ứng xử trong môi trường tự nhiên văn hóa ứng xử trong môi trường xã hội được nhìn nhận từ những góc độ khác nhau: Quan hệ với tự nhiên - chiều cao; Quan

hệ với xã hội - chiều rộng; Quan hệ với chính mình - chiều sâu; Quan hệ với tổ tiên mai sau - chiều lịch sử

Văn hoá ứng xử có vai trò rất quan trọng trong đời sống thường nhật và đời sống tâm linh của dân tộc Việt Nam nói riêng và của nhân loại nói chung Nét đặc trưng nổi bật nhất của văn hoá ứng xử là hành vi ứng xử của con người với cá nhân với cá nhân, với cộng đồng xã hội và với chính bản thân mình Hay nói cách khác, văn hoá ứng xử chính là nét đặc trưng mang bản sắc văn hóa dân tộc Văn hóa ứng

xử có rất nhiều cách thể hiện khác nhau nó không chỉ thể hiện qua lời nói, có thể biểu hiện thông qua cử chỉ, ánh mắt, điệu bộ, hay nó còn được thể hiện qua chữ viết Tuy nhiên trong các cách thể hiện khác nhau đó văn hóa ứng xử được thể hiện qua giao tiếp bằng lời nói là quan trọng nhất Thông qua lời nói có thể hiểu thế nào là

có văn hóa, vừa tôn trọng người nói chính là tôn trọng chính mình Khi ứng xử có văn hóa là thể hiện người có nhân cách, khí chất, người có giáo dục, có tầm văn hóa

Khi nói đến phạm trù trong triết lý văn hóa ứng xử nó là một phạm trù bao gồm hai yếu tố lớn: triết lý ứng xử trong gia đình và triết lý ứng xử trong xã hội Trong khuôn khổ của đề tài, chúng tôi nghiên cứu vấn đề sự thể hiện văn hóa ứng

xử gia đình trong tục ngữ của người Việt và tục ngữ của người Hán

1.3 Văn hóa ứng xử trong gia đình

1.3.1 Gia đình truyền thống của người Việt

Gia đình là tế bào của xã hội, nơi duy trì nòi giống, là môi trường quan trọng

Trang 30

hình thành, nuôi dưỡng và giáo dục nhân cách con người, bảo tồn và phát huy văn hoá truyền thống tốt đẹp, chống lại các tệ nạn xã hội, tạo nguồn nhân lực phục vụ

sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Ở thời đại nào văn hoá gia đình cũng là nền tảng cho văn hoá xã hội Văn hoá gia đình giàu tính nhân văn, nhân bản, đề cao giá trị đạo đức, xây dựng nếp sống văn hoá trật tự, kỷ cương, hun đúc tâm hồn, bản lĩnh con người

Từ thời nguyên thủy cho tới ngày nay, gia đình luôn tồn tại và là nơi đáp ứng những nhu cầu cơ bản về đời sống vật chất và tinh thần cho các thành viên trong gia đình Một số nhà nghiên cứu xã hội học đã có sự so sánh giữa gia đình loài người với cuộc sống bầy đàn của động vật Họ khẳng định rằng gia đình loài người luôn luôn bị ràng buộc theo các điều kiện văn hóa xã hội của con người, bị ràng buộc bởi các quy định, các chuẩn mực giá trị, sự kiểm tra và sự tác động xã hội Vì thế theo các nhà xã hội học, thuật ngữ gia đình chỉ nên dùng để gọi gia đình loài người nói riêng mà thôi

Theo cách hiểu truyền thống: Gia đình là một nhóm người gắn bó với nhau bởi quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc quan hệ nuôi dưỡng qua đặc trưng giới tính thông qua quan hệ hôn nhân Họ cùng chung sống và chung kinh tế

Từ những cách hiểu khác nhau về gia đình, ta có thể đưa ra một định nghĩa

chung như sau: Gia đình như một nhóm xã hội nhỏ, đồng thời như một thiết chế xã hội mà có vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình xã hội hóa con người Gia đình là một thiết chế xã hội đặc thù, một nhóm xã hội nhỏ mà các thành viên của nó gắn bó với nhau bởi quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc quan hệ con nuôi, bởi tính cộng đồng về sinh hoạt, có trách nhiệm đạp đức với nhau nhằm đáp ứng nhu cầu riêng của các thành viên như thực hiện tính tất yếu của xã hội [57, 1] Cấu

trúc gia đình được xác định chính là những thành tố tạo nên gia đình và quan hệ qua lại giữa các thành tố đó Nói một cách khác, cấu trúc gia đình là số lượng, thành phần và mối quan hệ giữa các thành viên và các thế hệ trong gia đình Từ đây, ta có thể thấy gia đình được cấu trúc theo chiều dọc và chiều ngang: Chiều ngang là quan

hệ hôn nhân và chiều dọc là quan hệ huyết thống

Trang 31

Quan niệm gia đình truyền thống:

Tác giả Lê Ngọc Văn trong cuốn Gia đình và biến đổi gia đình ở Việt Nam cho rằng: "Gia đình Việt Nam truyền thống là sản phẩm của xã hội nông nghiệp trồng lúa nước mà tiêu biểu là đồng bằng Bắc Bộ Nông nghiệp trồng lúa nước trong điều kiện công cụ sản xuất thô sơ, lạc hậu phù hợp với đơn vị sản xuất nhỏ

đó là gia đình" [27, 75] Gia đình Việt Nam truyền thống được tuân thủ theo sự ước

lệ về mặt thời gian Thực tế những đặc trưng của gia đình Việt Nam truyền thống vẫn được lưu giữ trong nhiều gia đình hiện đại thông qua các giá trị như truyền thống yêu nước, cần cù lao động, hiếu học, tôn trọng tình cảm, sống tình nghĩa, thủy chung… Văn hoá trong gia đình Việt Nam truyền thống được hình thành trên cơ sở kết hợp giữa nền văn hoá bản địa nảy sinh trong xã hội dựa trên nền tảng của nền sản xuất nông nghiệp lúa nước với hệ thống tư tưởng Nho giáo và triết lý đạo Phật

về gia đình Khái niệm văn hoá gia đình có thể được hiểu là hệ thống những giá trị, chuẩn mực đặc thù điều tiết mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình và giữa gia đình với xã hội, phản ánh bản chất của các hình thái gia đình đặc trưng cho các cộng đồng, các tộc người được hình thành và phát triển qua lịch sử lâu dài của đời sống gia đình, gắn liền với những điều kiện phát triển kinh tế, môi trường tự nhiên

và xã hội

Quan niệm gia đình hiện đại:

Gia đình là một xã hội thu nhỏ, trong đó hiện diện đầy đủ các quan hệ xã hội như quan hệ kinh tế, quan hệ giáo dục, quan hệ văn hóa, quan hệ tổ chức Gia đình hiện đại là gia đình trong thời đại hiện nay chúng ta đang sống Nói rộng ra

là gia đình trong xã hội công nghiệp hóa, hiện đại hóa Nó đối lập với gia đình truyền thống, là sản phẩm của xã hội công nghiệp, gia đình hiện đại có điểm khác với gia đình trong xã hội nông nghiệp Những biến chuyển xã hội đã và đang dội vào gia đình trên mọi phương diện và đưa đến những hệ quả đa chiều Thiết chế

có tính bền vững này cũng đang vận động, đổi mới và thích ứng với nhu cầu của thời đại [58, 1]

Theo dòng chảy của thời gian, cũng như sự phát triển của xã hội quan niệm

Trang 32

về gia đình đã có sự thay đổi Trong gia đình truyền thống thì người chồng, người đàn ông hoặc người lớn tuổi nhất trong gia đình sẽ là người làm chủ quyết định mọi việc lớn nhỏ trong gia đình, họ hàng, xã hội Gia đình hiện đại không còn theo quan niệm cũ nữa mà nó phụ thuộc vào các yếu tố như: người làm chủ gia đình phải là người có uy tín, có thu nhập cao, không phụ thuộc vào giới tính Có thể thấy trong quan niệm về gia đình hiện đại đã thể hiện một tư tưởng tiến bộ của con người về

sự tự do, bình đẳng trong xã hội Mỗi thời đại có cách định nghĩa khác nhau về gia đình nhưng nó vẫn mang một đặc điểm chung trong việc thể hiện quan hệ ruột thịt giữa các thành viên trong gia đình Đó chính là nét đặc trưng văn hóa của gia đình

- Gia đình ba thế hệ (hay gia đình truyền thống): Là gia đình bao gồm ông

bà, cha mẹ, và con cái còn được gọi là tam đại đồng đường

- Gia đình bốn thế hệ trở lên: Là gia đình nhiều hơn ba thế hệ: gia đình bốn thế hệ còn gọi là tứ đại đồng đường

Dưới cái nhìn xã hội học, cùng với quy mô các thế hệ trong gia đình có thể phân chia gia đình thành hai loại:

- Gia đình nhỏ (bao gồm gia đình hai thế hệ hoặc gia đình hạt nhân) là mỗi quan hệ giữa vợ chồng, và con cái, giữa con với bố mẹ

- Gia đình lớn (gia đình ba thế hệ hoặc gia đình mở rộng) đây được coi là gia đình truyền thống liên quan đến dạng gia đình trong quá khứ Đó là một nhóm người ruột thịt của một vài thế hệ chung sống với nhau dưới một mái nhà, thường từ ba thế hệ trở lên

Trong cuốn Cơ sở văn hóa Việt Nam của Trần Ngọc Thêm đã dẫn: Quan hệ

huyết thống là quan hệ theo hàng dọc, theo thời gian: nó là cơ sở của tôn ti Người Việt có hệ thống tôn ti rất chi ly, phân biệt rạch ròi tới chín thế hệ (gọi là cửu tộc):

Trang 33

Trong cửu tộc, mỗi thành viên có vị trí đặc biệt: ông bà cha mẹ là những bậc đáng kính, những bậc sinh thành dưỡng dục, con cháu phải biết vâng lời, hiếu thảo ngoan ngoãn, để ông bà cha mẹ vui lòng Đây là nền tảng hiếu kính trong gia đinh người Việt [22, 68]

Đặc điểm về thiết chế gia đình Việt Nam truyền thống:

Theo Trần Đình Hượu, gia đình Việt Nam là một thiết chế trung tâm của xã hội: "Gia đình là một thiết chế xã hội mang màu sắc dân tộc và đánh dấu tiến trình phát triển về văn hóa Gia đình điều chỉnh chức năng của các cộng đồng ấy… Gia đình không chỉ là đơn vị cuối cùng của xã hội mà còn là mẫu hình để tổ chức xã hội

và nhà nước Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của dân tộc ta được nâng lên thành đạo hiếu - đạo tổ tiên

Người con trưởng là người đứng đầu gia đình chịu trách nhiệm trước pháp luật về hết thảy mọi hành vi của những người trong nhà Pháp luật phạt nhẹ lỗi của người bố mà trừng trị nghiêm khắc lỗi của con trai Gia đình cũng là nơi quan trọng nhất để duy trì đạo đức trung hiếu, được coi là giá trị nền tảng của xã hội truyền thống; là đơn vị kiểm soát cá nhân Từng cá nhân trong một gia đình bị ràng buộc

và kiểm soát bằng luân lý, phong tục, lễ nghi và pháp luật

Ứng xử của gia đình người Việt truyền thống:

Những nét đẹp ứng xử trong gia đình đã hình thành nên nhiều giá trị văn hoá mang tính truyền thống của người Việt như: Sự hoà thuận, chung thuỷ, tình nghĩa, lòng yêu thương, hy sinh cho con cái, tôn trọng, hiếu đễ với cha mẹ, anh em Gia đình truyền thống Việt Nam được xây dựng trên nền tảng của gia đạo, gia phong và gia lễ Nhiều gia đình Việt Nam xưa nhờ biết duy trì lối ứng xử có văn hoá đã tạo

ra nền nếp, kỷ cương để mọi người cùng noi theo Chính gia lễ, gia phong ấy là cái gốc của gia đình, giữ cho con người Việt Nam, gia đình và xã hội Việt Nam một sức sống mãnh liệt và sự trong sáng với cội nguồn Văn hóa ứng xử trong gia đình Việt Nam luôn là một đề tài được quan tâm và coi trọng Cha ông ta luôn răn dạy các thế hệ tiếp nối cách giao tiếp ứng xử nhân văn trong truyền thống gia đình người Việt Vì thế, những câu ca dao, tục ngữ đã đúc rút những kinh nghiệm, cách ứng xử quý báu trong quan hệ gia đình Từ khi sinh ra, con người luôn gắn bó, biết ơn đấng

Trang 34

sinh thành nuôi dưỡng với tình cảm quý trọng: Phụ tử tình thâm; Xương cha, da mẹ;

Cá chuối đắm đuối vì con… Con cái phải báo hiếu với cha mẹ, là niềm tự hào của

cha mẹ Từ chữ hiếu đã nâng lên thành đạo làm con Đạo làm con luôn ơn sinh thành, tiếp nhận giáo dục của gia đình, nhà trường, xã hội để trở thành người có tài, có đức;

là công dân tốt biết cống hiến sức lực, trí tuệ cho đất nước, xã hội; biết làm việc nhân, điều thiện, tích đức tâm; phụng dưỡng cha mẹ khi về già, thờ cúng cha mẹ đã

khuất… Đó cũng là xuất phát của việc thờ cúng tổ tiên bày tỏ tấm lòng ghi ơn: Uống nước nhớ nguồn Bên cạnh đó, mối quan hệ ứng xử giữa anh chị em trong nhà cũng

luôn được đề cao Mối quan hệ máu mủ ấy không gì có thể sánh bằng, không gì có

thể chia cắt: Cắt dây bầu dây bí/Chẳng ai cắt dây chị dây em

Quan niệm quan hệ vợ chồng là do “ông tơ bà nguyệt” se duyên Nhưng khi hai người đã về ở một nhà thì ngoài tình vợ chồng, “nghĩa tào khang” là trách nhiệm chung xây dựng gia đình, duy trì giống nòi, nuôi dạy con cái, tôn tình nghĩa vợ

chồng thành đạo vợ chồng: Đốn cây ai nỡ dứt chồi/Đạo chồng nghĩa vợ giận rồi lại thương; Thuận vợ, thuận chồng tát bể Đông cũng cạn…

Những nét đẹp ứng xử trong gia đình đã hình thành nên nhiều giá trị văn hoá mang tính truyền thống của người Việt như: Sự hoà thuận, chung thuỷ, tình nghĩa, lòng yêu thương, hy sinh cho con cái, tôn trọng, hiếu đễ với cha mẹ, anh em… Nhiều gia đình Việt Nam xưa nhờ biết duy trì lối ứng xử có văn hoá đã tạo ra nền nếp, kỷ cương để mọi người cùng noi theo Chính gia lễ, gia phong ấy là cái gốc của gia đình, giữ cho con người Việt Nam, gia đình và xã hội Việt Nam một sức sống mãnh liệt và sự trong sáng với cội nguồn

1.3.2 Gia đình truyền thống của người Hán

Một gia đình là một đơn vị xã hội gồm hai người trở lên, thường bắt nguồn

từ huyết thống, hôn nhân và nhận con nuôi Có sự chăm sóc lẫn nhau và hỗ trợ cảm xúc trong các mối quan hệ của nhau và việc duy trì các mối quan hệ dựa trên các cam kết hoặc trách nhiệm mà không giới hạn thời gian định trước Khái niệm gia đình truyền thống là mở rộng quy mô của gia đình là lý tưởng quan trọng nhất Gia đình gánh vác nhiều chức năng như sản xuất, sinh đẻ, giáo dục xã hội, tôn giáo và

Trang 35

an sinh xã hội Tuy nhiên, khi xã hội tiếp tục phát triển, cấu trúc gia đình dần bị thu hẹp và các chức năng của các gia đình truyền thống được chia sẻ bởi các hệ thống

xã hội khác nhau

Dựa trên thị tộc: Gia đình (nghĩa là tổ chức xã hội được hình thành bởi họ và

tổ tiên cùng tồn tại) là trung tâm của các hoạt động xã hội và lợi ích chung của gia đình cao hơn lợi ích cá nhân Người Hán truyền thống cho rằng, nhiều con hơn và nhiều phước lành hơn Ủng hộ việc có nhiều con trai, gia đình nhiều thế hệ, quy mô gia đình lớn, mọi người coi việc duy trì nòi giống và thờ cúng tổ tiên là một trách

nhiệm quan trọng Tác giả Vũ Ngọc Phan trong công trình Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam, năm 1965 đã định nghĩa: "Tục ngữ là một câu tự nó diễn đạt trọn ven một

ý, một nhận xét, một kinh nghiệm, một lý luận một công lý, có khi là một phê phán”

[18, 29] Trong gia đình "lòng hiếu thảo" có chức năng duy trì mối quan hệ giữa người lớn tuổi và tổ tiên, tổ tiên cũng phù hộ để gia đình, gia tộc có thể đoàn kết và hòa nhập "Lòng hiếu thảo" cũng có chức năng giữ vai trò chuẩn mực mong muốn dạy dỗ trẻ em phục tùng cả cha lẫn mẹ

Xã hội người Hán truyền thống là xã hội nhấn mạnh vào uy quyền và nhân phẩm: Xã hội truyền thống dựa trên việc đề cao sức mạnh nam giới, trong khi mối quan hệ quyền lực giữa những người thân dựa trên nguyên tắc tôn trọng lâu dài đối với trẻ và già, nam và nữ Những người lớn tuổi, chủ yếu là người cha, sẽ là những người ra quyết định trong gia đình hoặc gia tộc, và có quyền kiểm soát tài sản gia đình và phân xử các tranh chấp trong gia đình Ngoài ra, trong xã hội truyền thống của người Hán, đàn ông được cực kỳ coi trọng, vị thế của đàn ông cao hơn phụ nữ

và phụ nữ chỉ là một vật sở hữu của của đàn ông Hành vi của phụ nữ cần phải dựa trên nguyên tắc: tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử Trong sự phát triển của lịch sử loài người, gia đình có mối quan hệ huyết thống được gắn kết bởi

sự xuất phát từ một nguồn cội, mối quan hệ hôn nhân được hình thành bởi sự kết hợp của hai giới tính và các mối quan hệ hỗ trợ Ba mối quan hệ tạo thành cấu trúc cốt lõi của gia đình Trong số đó, mối quan hệ huyết thống và mối quan hệ hôn nhân

là cơ sở và liên kết để xác định bản chất của gia đình, và cũng là một cơ sở quan

Trang 36

trọng để nghiên cứu chức năng gia đình Với sự phát triển của xã hội, mối quan hệ gia đình và sự sắp xếp của nó chắc chắn sẽ thay đổi, do đó làm thay đổi cấu trúc gia đình, chức năng và khái niệm gia đình Các con đường phát triển lịch sử và xã hội khác nhau giữa các thời đại lịch sử cũng đã tạo ra các mô hình gia đình và khái niệm văn hóa gia đình khác nhau ở Trung Hoa Xã hội Trung Hoa truyền thống có xu hướng lấy gia đình làm trung tâm, và gia đình là đơn vị cơ bản hoặc tế bào của đời sống xã hội Với người Trung Hoa nói chung và người Hán nói riêng, khái niệm gia đình ngày nay không chỉ giới hạn ở những người có quan hệ huyết thống, mà từ quan hệ huyết thống được nâng lên thành cấp độ xã hội và chính trị theo "mô hình khác biệt", "cha và bộ trưởng" là kết quả của một phần chế độ chính trị mở rộng theo lối quan hệ gia trưởng Văn hóa Nho giáo làm nổi rõ bản chất gia trưởng của mối quan hệ huyết thống trong quan hệ xã hội Trung Hoa thời bây giờ Biểu hiện

đó đã cho thấy tầm quan trọng của lòng trung thành và lòng hiếu thảo đối với sự ổn định của trật tự nhà nước, và đặt "Cai quản gia đình" và "cai trị đất nước" vào cùng một vị trí

Văn hóa truyền thống Hán mở rộng đạo đức gia đình như lòng hiếu thảo và tôn trọng tổ tiên đối với gia đình và tổ quốc Họ tin rằng đạo đức gia đình theo lối gia trưởng nên được sử dụng để duy trì đất nước như lòng hiếu thảo Trong mắt người dân, lòng hiếu thảo là xương sống của việc duy trì toàn bộ trật tự xã hội Lòng hiếu thảo bắt nguồn từ tình yêu huyết thống tự nhiên, tình yêu đối với gia đình với

tổ quốc, bản chất con người là tốt sinh ra với trái tim nhân hậu, và toàn nhân loại cũng được sinh ra như thế

Người Hán lấy sự hòa hợp trong gia đình làm nền tảng của sự hòa hợp xã hội

và thiết lập nghĩa vụ và trách nhiệm của các thành viên trong gia đình trên cơ sở tình cảm và tình yêu, đây là một yếu tố tích cực trong đặc điểm truyền thống văn hóa gia đình Hán nói riêng và văn hóa Trung Hoa nói chung Chính vì gia đình có địa vị chính trị và văn hóa độc đáo trong xã hội Trung Hoa mà khái niệm "gia đình"

có ý nghĩa rất đặc biệt Nhưng thời đại ngày nay, quy mô của gia đình đã trở nên nhỏ hơn Quan niệm hôn nhân của người hiện đại đã thay đổi, bị ảnh hưởng bởi chủ

Trang 37

nghĩa cá nhân, chọn lối sống độc thân hoặc kết hôn muộn, và số lượng gia đình có thành viên độc thân đang tăng lên Ngoài ra, nhiều cặp vợ chồng không còn sống với gia đình bản địa của họ sau khi kết hôn, và quy mô gia đình đã trở nên nhỏ hơn

Do việc thực hiện chính sách một con ở Trung Hoa đại lục trong những năm qua,

nó cũng đã hạn chế nhu cầu sinh nhiều con của người dân Các thành viên của gia đình truyền thống cần phải làm việc cùng nhau để tăng thu nhập, và sau đó gia đình phân phối tài sản Trong xã hội hiện đại, các thành viên trong gia đình chủ yếu làm việc ở bên ngoài gia đình để có thu nhập, kinh tế của họ tương đối độc lập và họ có khả năng tự tổ chức các gia đình cốt lõi của mình Mối quan hệ ruột thịt trong gia đình cũng ngày càng mờ nhạt hơn Quan niệm về chăm sóc người già đang thay đổi

An sinh tuổi già của xã hội hiện đại ngày càng trở nên hoàn hảo Cha mẹ có xu hướng dựa vào tiền tiết kiệm cá nhân và thậm chí hệ thống an sinh xã hội để hỗ trợ người già Khi trình độ học vấn của phụ nữ được cải thiện, tình trạng kinh tế và xã hội của họ cũng không ngừng được cải thiện, giảm đi sự phụ thuộc vào chồng, mối quan hệ giữa chồng và vợ dần dần bị phá vỡ

Trang 38

Tiểu kết chương 1

Một nhà nghiên cứu Hán ngữ đã nhận xét, tục ngữ là loại ngôn ngữ hóa thạch sống, kết tinh trí tuệ quần chúng về thế giới quan, nhân sinh quan Trải qua chiều dài lịch sử, những tinh hoa trí tuệ này không những không mất đi, trái lại còn được gọt giũa, trâu chuốt, được bảo lưu, gìn giữ, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác mà vẫn giữ nguyên giá trị vốn có của nó Tuy nhiên, việc nghiên cứu tục ngữ cho đến ngày nay dường như vẫn chưa khai thác hết các gia trị của tục ngữ Vì thế, việc nghiên cứu tục ngữ luôn đòi hỏi các học giả cần phải chuyên sâu, toàn diện hơn nữa trong công việc tiến hành thẩm định giá trị vững bền của tục ngữ, nhằm đưa tục ngữ đạt đến vị trí xứng đáng đúng với tầm vóc vốn có của nó trong ngôn ngữ của mỗi dân tộc

Trong chương 1, chúng tôi nêu lên một số nét tổng quan về tục ngữ Chúng tôi cũng đã giới thiệu một số nhận định về tục ngữ của các nhà Hán học và Việt học

về khái niệm tục ngữ Công trình đã cố gắng trình bày một cách tóm tắt nhưng rõ ràng một số khái niệm về tục ngữ, đồng thời chúng tôi cũng đã tổng hợp một số nét khái quát về nội dung cũng như về nghệ thuật của tục ngữ Việt và tục ngữ Hán Bên cạnh đó, ở chương này, chúng tôi cũng đã tổng hợp một số các khái niệm, quan điểm về văn hóa, văn hóa ứng xử, gia đình truyền thống của người Việt và gia đình truyền thống của người Hán Tất cả những điều này làm nền tảng để chúng tôi tiếp tục triển khai nội dung nghiên cứu ở các chương sau

Trang 39

Chương 2 TỤC NGỮ NGƯỜI VIỆT VỀ VĂN HÓA ỨNG XỬ TRONG GIA ĐÌNH 2.1 Tổng hợp và phân loại các kiểu quan hệ ứng xử trong gia đình

Qua quá trình khảo sát 16.069 câu tục ngữ Việt, chúng tôi tổng hợp được 454 câu tục ngữ nói về văn hóa ứng xử trong gia đình Những câu tục ngữ đó được phân loại cụ thể ở bảng dưới đây:

Bảng 2.1: Các kiểu quan hệ ứng xử trong gia đình STT QUAN HỆ ỨNG XỬ SỐ LƯỢNG TỶ LỆ %

Bảng thống kê cho chúng ta thấy, câu tục ngữ phản ánh mối quan hệ cha mẹ

- con cái có số lượng nhiều nhất Sau đó, câu tục ngữ nói về mối quan hệ vợ - chồng cũng có số lượng tương đương Tiếp theo, số lượng những câu tục ngữ nói về tình anh chị em xếp ở vị trí thứ ba, và sau đó là những câu tục ngữ nói về một số mối quan hệ khác Kết quả này hoàn toàn hợp lý bởi vì các vị trí một, hai, ba đều là những mối quan hệ giường cột cơ bản trong một gia đình Các đối tượng trong những mối quan hệ này đều có cường độ tương tác với nhau đều đặn với tần số lớn nhất trong cuộc sống thường ngày của chúng ta Tục ngữ có nhiệm vụ ghi lại sự tiếp xúc qua lại thường xuyên hàng ngày những thành viên đó trong gia đình

2.2 Các kiểu quan hệ ứng xử và ví dụ minh họa

2.2.1 Quan hệ ứng xử cha mẹ - con cái

Mối quan hệ cha mẹ - con cái là mối quan hệ có độ bao quát rộng bao gồm các mối quan hệ: cha mẹ với con ruột, cha mẹ với con dâu, cha mẹ với con rể Với mỗi đối tượng, cha mẹ lại có cách ứng xử khác nhau nhưng nhìn chung cách ứng

xử của cha mẹ và con cái đều xoay quanh hai trạng thái: tích cực và tiêu cực Chúng

Trang 40

tôi khảo sát và tổng hợp được 162/454 câu tục ngữ Việt nói về các trạng thái ứng

xử này Những câu tục ngữ đã tổng hợp được phân chia theo các nội dung cụ thể như sau:

2.2.1.1 Ứng xử giữa cha mẹ và con ruột

- Cha mẹ đối đãi với con cái bằng sự yêu thương của tình ruột thịt:

Sinh con ra, cha mẹ nào cũng thương con, sẵn sàng hy sinh tất cả để con mình được sống và lớn lên trong điều kiện tốt nhất có thể Chính vì vậy, ca dao Việt Nam

ca ngợi công lao cha mẹ:

Công cha như núi Thái Sơn Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra

Công cha nghĩa mẹ đếm đong sao cho hết được Chính vì vậy, bên cạnh những làn điệu du dương của ca dao khắc ghi công lao cao dày của cha mẹ đối với con cái

thì tục ngữ Việt Nam cũng có có những câu ca tương tự như thế: Cha mẹ nuôi con biển hồ lai láng; Cha mẹ nuôi con bằng trời bằng bể Tác giả dân gian Việt Nam đã

lấy hình ảnh nước trong hồ, hình ảnh bầu trời mặt bể để so sánh với công lao cha mẹ nuôi dạy con cái Đây đều là những hình tượng không có giới hạn về kích thước, khối lượng hay hạn định về không gian Điều đó cho thấy, con người dẫu có đi hết cuộc đời cũng không đếm được công lao cha mẹ dành cho con Dân gian Việt Nam cũng

có bài ca Đếm sao: Đố ai đếm được lá rừng/Đố ai đếm được mấy tầng trời cao/ Đố

ai đếm được vì sao công lao cha mẹ nuôi con cũng giống như lá rừng, như số tầng

trời cao, số vì sao trên bầu trời, làm sao mà đếm được

Tình yêu thương của cha mẹ dành cho con càng được thể hiện rõ hơn ở câu

tục ngữ: Con dại cái mang; Làm mẹ mang thân trâu Câu tục ngữ Con dại cái mang

nói về hình ảnh thay con gánh vạ của người làm cha làm mẹ Vì khi trẻ con chưa trưởng thành, mọi việc con gây ra người đi đều tìm đến cha mẹ để cáo trạng và tính

nợ trên đầu cha mẹ Lúc này, cha mẹ chính là bồ chịu chửi thay con Hoặc nặng hơn, cha mẹ phải thay con trả nợ, đền bù mọi tổn thất mà con gây hại cho người khác Thử hỏi, nếu không phải bản thân đứt ruột đẻ ra, có ai người dưng thay con chịu tội như

vậy ! Câu tục ngữ sau: Làm mẹ mang thân trâu nói đến sự vất vả, khổ cực của người

Ngày đăng: 03/02/2021, 10:47

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Thúy Anh (2011), Cơ sở văn hóa Việt Nam, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở văn hóa Việt Nam
Tác giả: Thúy Anh
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2011
2. Triều Ân, Hoàng Quyết (1996), Từ điển thành ngữ - tục ngữ dân tộc Tày”, Nxb Văn hóa Dân tộc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thành ngữ - tục ngữ dân tộc Tày
Tác giả: Triều Ân, Hoàng Quyết
Nhà XB: Nxb Văn hóa Dân tộc
Năm: 1996
3. Nguyễn Đức Dân (1999), “Đạo lý trong tục ngữ”, Tạp chí văn học (5), tr. 57 - 66 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đạo lý trong tục ngữ”, "Tạp chí văn học
Tác giả: Nguyễn Đức Dân
Năm: 1999
4. Chu Xuân Diên, Đinh Gia Khánh (1973), Lịch sử Văn Học Việt Nam Văn học dân gian Việt Nam (tập2), Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Văn Học Việt Nam Văn học dân gian Việt Nam
Tác giả: Chu Xuân Diên, Đinh Gia Khánh
Nhà XB: Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp
Năm: 1973
5. Nguyễn Đăng Duy (2002), Văn hóa học Việt Nam, Nxb Văn hóa Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa học Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Đăng Duy
Nhà XB: Nxb Văn hóa Thông tin
Năm: 2002
6. Cao Huy Đỉnh (1974), Tìm hiểu tiến trình văn hóa Việt Nam, Nxb Khoa học Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu tiến trình văn hóa Việt Nam
Tác giả: Cao Huy Đỉnh
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 1974
7. Lê Quý Đức, Vũ Thy Huệ (2003), Người phụ nữ trong văn hóa gia đình đô thị, Nxb Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người phụ nữ trong văn hóa gia đình đô thị
Tác giả: Lê Quý Đức, Vũ Thy Huệ
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2003
8. Nguyễn Bích Hà (2010), Giáo trình văn học dân gian, Nxb Đại học Sư Phạm - Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình văn học dân gian
Tác giả: Nguyễn Bích Hà
Nhà XB: Nxb Đại học Sư Phạm - Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2010
9. Dương Quảng Hàm (2005), Việt Nam Văn học sử yếu, Nxb Trẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam Văn học sử yếu
Tác giả: Dương Quảng Hàm
Nhà XB: Nxb Trẻ
Năm: 2005
10. Đinh Gia Khánh, Chu Xuân Diên (1973), Lịch sử văn học Việt Nam - Văn học dân gian, Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử văn học Việt Nam - Văn học dân gian
Tác giả: Đinh Gia Khánh, Chu Xuân Diên
Nhà XB: Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp
Năm: 1973
11. Đinh Gia Khánh, Chu Xuân Diên, Võ Quang Nhơn (2003), Văn học dân gian Việt Nam, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học dân gian Việt Nam
Tác giả: Đinh Gia Khánh, Chu Xuân Diên, Võ Quang Nhơn
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2003
12. Nguyễn Xuân Kính (2002), Kho tàng tục ngữ Việt Nam, Nxb Văn hóa Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kho tàng tục ngữ Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Xuân Kính
Nhà XB: Nxb Văn hóa Thông tin
Năm: 2002
13. Nguyễn Xuân Kính - Nguyễn Thúy Loan - Phạm Lan Hương - Nguyễn Luân (2002), Kho tàng tục ngữ người Việt, Nxb Văn hóa Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kho tàng tục ngữ người Việt
Tác giả: Nguyễn Xuân Kính - Nguyễn Thúy Loan - Phạm Lan Hương - Nguyễn Luân
Nhà XB: Nxb Văn hóa Thông tin
Năm: 2002
14. Nguyễn Lân (1989), Từ điển thành ngữ và tục ngữ Việt Nam, Nxb Văn hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thành ngữ và tục ngữ Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Lân
Nhà XB: Nxb Văn hóa
Năm: 1989
15. Phạm Viết Long (2017), Tục ngữ ca dao về quan hệ gia đình, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tục ngữ ca dao về quan hệ gia đình
Tác giả: Phạm Viết Long
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2017
16. Đỗ Quang Lưu (1979), “Tục ngữ châm ngôn và thời đại”, Tạp chí văn học (5), tr. 101 -102 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tục ngữ châm ngôn và thời đại”, "Tạp chí văn học
Tác giả: Đỗ Quang Lưu
Năm: 1979
18. Vũ Ngọc Phan (2003), Tục ngữ Ca dao Dân ca Việt Nam, Nxb Khoa học Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tục ngữ Ca dao Dân ca Việt Nam
Tác giả: Vũ Ngọc Phan
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 2003
19. Hoàng Phê (2009), Từ điển tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tiếng Việt
Tác giả: Hoàng Phê
Nhà XB: Nxb Đà Nẵng
Năm: 2009
20. Ngô Thị Thanh Quý (2010), Tìm trong tục ngữ nét văn hóa Việt, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm trong tục ngữ nét văn hóa Việt
Tác giả: Ngô Thị Thanh Quý
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2010
22. Trần Ngọc Thêm (2004), Cơ sơ văn hóa, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sơ văn hóa
Tác giả: Trần Ngọc Thêm
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2004

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm