Hình dạng của đường cầu sẽ phụ thuộc vào bản chất của sản phẩm cụ thể đó, số lượng người tiêu dùng trong thị trường liên quan và thu nhập cũng như thị hiếu của họ.. KINH TẾ QUẢN LÝ Chươn
Trang 1Qu¶n trÞ Kinh doanh Quèc tÕ
TÀI LIỆU THAM KHẢO - LƯU HÀNH NỘI BỘ
6/2009
Trang 2KINH TẾ QUẢN LÝ
Chương 1 – Giới thiệu môn Kinh tế Quản lý 2
MỤC LỤC
Chương III SẢN XUẤT-CHI PHÍ: LÝ THUYẾT VÀ ƯỚC
LƯỢNG
28
Chương V PHÂN TÍCH RỦI RO VÀ CÁC QUYẾT ĐỊNH
Trang 3KINH TẾ QUẢN LÝ
Chương 1 – Giới thiệu môn Kinh tế Quản lý
3
Chương I GIỚI THIỆU MÔN KINH TẾ QUẢN LÝ
I BẢN CHẤT VÀ PHẠM VI CỦA KINH TẾ QUẢN LÝ
Trong phần này chúng ta xác định bản chất, chức năng của kinh tế quản lý và xem xét mối quan hệ của nó với lý thuyết kinh tế, khoa học ra quyết định và các lĩnh vực chức năng của hoạt động quản trị kinh doanh
1 Khái niệm kinh tế quản lý
Kinh tế quản lý là môn khoa học về vận dụng lý thuyết kinh tế và các công cụ phân tích của khoa học ra quyết định để xem xét cách thức một tổ chức đạt được mục tiêu với hiệu quả cao nhất
Các vấn đề ra quyết định quản lý luôn xuất hiện ở bất cứ tổ chức nào dù cho nó là doanh nghiệp, tổ chức phi lợi nhuận (bệnh viện, trường học) hoặc một cơ quan của chính phủ khi chúng ta tìm cách đạt được mục tiêu đề ra Thí dụ, một doanh nghiệp tìm cách tối đa lợi nhuận trong điều kiện các yếu tố đầu vào là hạn chế và các quy định về pháp luật Một bệnh viện tìm cách chữa cho nhiều bệnh nhân nhất trong điều kiện các nguồn lực có sẵn Một trường đại học có mục tiêu đào tạo nhiều nhất số lượng sinh viên với sự sẵn có về các điều kiện giảng dạy Một tổ chức của chính phủ có thể tìm cách cung cấp một loại dịch vụ cụ thể nào đó cho nhiều người tiêu dùng nhất với mức chi phí thấp nhất Như vậy có thể thấy rằng trong tất cả mọi trường hợp các tổ chức đều có các vấn đề quản lý là tìm cách đạt được các mục tiêu nào đó trong điều kiện các nguồn lực có hạn
Trang 4KINH TẾ QUẢN LÝ
Chương 1 – Giới thiệu môn Kinh tế Quản lý 4
Mục tiêu và các hạn chế có thể khác nhau song quá trình ra quyết định là giống nhau
Hình 1.1 Bản chất của kinh tế quản lý
2 Mối quan hệ của kinh tế quản lý với lý thuyết kinh tế
Một tổ chức có thể ra quyết định quản lý bằng cách vận dụng lý thuyết kinh tế và các công cụ phân tích của khoa học ra quyết định Lý thuyết kinh tế bao gồm kinh tế học vi mô và kinh tế học vĩ mô Kinh tế học vi mô nghiên cứu hành vi kinh tế của các cá thể ra quyết định
Lý thuyết kinh tế Kinh tế học vi mô
Kinh tế học vĩ mô
Các vấn đề về việc ra quyết định quản lý
Khoa học ra quyết định Toán kinh tế Kinh tế lượng
KINH TẾ QUẢN LÍ
Vận dụng lý thuyết kinh tế và công
cụ của khoa học ra quyết định để giải quyết các vấn đề ra quyết định quản lý
GIẢI PHÁP TỐI ƯU ĐỐI VỚI VẤN ĐỀ
RA QUYẾT ĐỊNH QUẢN LÍ
Trang 5Các lý thuyết kinh tế tìm cách dự đoán và giải thích các hành vi kinh tế Các lý thuyết kinh tế thường được xây dựng trên cơ sở các mô hình Các mô hình là sự trừu tượng thực tế bằng cách loại bỏ các chi tiết không quan trọng, chỉ giữ lại các đặc điểm quan trọng nhất của thực tế
Quá trình xây dựng và kiểm định một mô hình kinh tế có thể được mô tả ở hình 1.2 dưới đây Đầu tiên là xây dựng các khái niệm và các giả định về thực thể mà chúng ta sẽ mô hình hoá Đó có thể là thị trường cho một sản phẩm nào đó, toàn bộ nền kinh tế hoặc là một doanh nghiệp Sau đó là phần phân tích về lý thuyết, hay là suy luận logic dựa trên các giả định đã đưa ra Đây là một công việc rất khó khăn vì rằng các suy luận logic từ các giả định có thể là cực kỳ khó và các suy luận đó có thể thay đổi đáng kể khi có sự thay đổi rất nhỏ của các chi tiết của giả định đó Kết quả là bước này thường chiếm tỷ trọng lớn nhất của mọi nỗ lực của các nhà kinh tế khi xây dựng mô hình Sau đó mô hình sẽ được kiểm định so với thực tế Nếu mô hình xây dựng giải thích được thực thể được mô hình hoá thì mô hình đó là có nghĩa
và được sử dụng như công cụ để giải thích và dự đoán hành vi của thực thể Còn trong trường hợp ngược lại, phải xây dựng lại mô hình từ đầu
Hình 1.2: Xây dựng và kiểm định mô hình kinh tế
Dự đoán khung phù hợp > Loại
bỏ mô hình
Trang 63 Mối quan hệ của kinh tế quản lý với các môn khoa học ra quyết định
Kinh tế quản lý liên hệ mật thiết với các môn khoa học ra quyết định Các môn khoa học này sử dụng công cụ toán học và kinh tế lượng để xây dựng và ước lượng các mô hình khoa học nhằm mục tiêu xác định hành vi tối ưu của doanh nghiệp Cụ thể chúng ta dùng kiến thức toán kinh tế để biểu diễn các mô hình dưới dạng các phương trình dựa vào các lý thuyết kinh tế Kinh tế lượng sử dụng các công cụ thống kê (đặc biệt là phép phân tích hồi quy) để ước lượng và dự đoán các mô hình kinh tế dựa vào các số liệu thực tế và lý thuyết kinh tế
Thí dụ, lý thuyết kinh tế cho biết rằng lượng cầu đối với một hàng hoá (Q) là một hàm
số của hàng hoá (P), thu nhập của người tiêu dùng (Y) và giá của hàng hoá liên quan (hàng hoá thay thế và hàng hoá bổ sung P s và P c ) Giả sử thị hiếu không thay đổi, chúng ta có thể xây dựng mô hình sau:
Q = f (P, Y, P c , P s )
Dựa vào các số liệu về Q, P, Y, P c và P s đối với một hàng hoá cụ thể, chúng ta có thể ước lượng mối quan hệ thực nghiệm đó Mối quan hệ này cho biết doanh nghiệp sẽ thay đổi sản lượng (Q) khi các yếu tố khác như P, Y, P c , P s thay đổi và dự báo về cầu đối với hàng hoá
đó trong tương lai Các số liệu rất quan trọng giúp cho bộ máy quản lý đạt được mục tiêu tối
đa hoá lợi nhuận một cách hiệu quả nhất
4 Mối quan hệ của kinh tế quản lý với các lĩnh vực chức năng của lý thuyết quản trị kinh doanh
Sau khi xác định được đối tượng và bản chất của kinh tế quản lý, chúng ta sẽ xem xét mối quan hệ giữa kinh tế quản lý với các lĩnh vực chức năng của lý thuyết quản trị kinh doanh Đó là các môn học như kế toán, tài chính, marketing, quản lý nguồn nhân lực và tổ chức sản xuất Các môn học này nghiên cứu môi trường kinh doanh của các doanh nghiệp và cung cấp các cơ sở cho việc ra quyết định và do đó kinh tế quản lý có thể xem xét như một môn học tổng hợp lý thuyết kinh tế, khoa học ra quyết định và các môn học theo chức năng của quản trị kinh doanh
II LÝ THUYẾT DOANH NGHIỆP
Trong phần này chúng ta sẽ nghiên cứu các hình thức khác nhau của doanh nghiệp, phân tích các ưu nhược điểm của từng loại hình và sẽ giới thiệu các mô hình cơ bản về lý thuyết doanh nghiệp
1 Các hình thức của doanh nghiệp
Trong nền kinh tế thị trường chúng ta thường gặp các loại hình doanh nghiệp sau đây:
1.1 Doanh nghiệp một chủ sở hữu (proprietorship)
Đây là hình thức đơn giản nhất của một tổ chức kinh doanh Doanh nghiệp có một
Trang 71.2 Doanh nghiệp đồng sở hữu (partnership)
Đây là loại hình doanh nghiệp có hai hoặc nhiều hơn chủ sở hữu Họ cùng cung cấp vốn và cùng tham gia vào việc ra quyết định kinh doanh Tuy nhiên, các thành viên có thể đóng vai trò hoàn toàn khác nhau Có thành viên tích cực và có thành viên không tích cực Lợi thế cơ bản của loại hình này là mỗi thành viên có thể chuyên môn hoá theo một lĩnh vực nào
đó của hoạt động kinh doanh, điều này sẽ góp phần nâng cao hiệu quả Tuy nhiên, loại hình doanh nghiệp này có những ưu và nhược điểm giống như doanh nghiệp một chủ sở hữu Vì rằng số lượng thành viên thường ít do đó quá trình ra quyết định tương đối linh hoạt, nhưng các thành viên có thể có trách nhiệm vô hạn đối với các khoản lỗ - đó là nhược điểm lớn nhất của loại hình doanh nghiệp này Sự tồn tại của loại hình doanh nghiệp này phụ thuộc vào sự nhất trí của các thành viên và điều này cũng rất khó duy trì trong các điều kiện biến động của thị trường Loại hình doanh nghiệp này thường được tồn tại trong các ngành kế toán, y tế và luật
1.3 Công ty cổ phần (the joint stock company)
Sự ra đời của công ty cổ phần là một trong những phát minh quan trọng nhất của lịch
sử phát triển kinh tế Có hai loại công ty cổ phần - công ty cổ phần công cộng (Plc) và công ty
cổ phần tư nhân (Ltd) Các công ty cổ phần chịu sự kiểm soát về luật pháp và định kỳ phải báo cáo và cung cấp các thông tin tài chính cho các cơ quan chức trách
Một ưu điểm lớn nhất của công ty cổ phần là trách nhiệm hữu hạn Công ty hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật về các khoản nợ của công ty Tuy nhiên các cổ đông chỉ chịu trách nhiệm đối với các khoản tiền mà họ đóng góp Điều này đã kích thích được các cá nhân cung cấp vốn để kinh doanh Đây cũng là ưu điểm nổi bật của hình thức tổ chức này vì có thể huy động một nguồn vốn lớn thông qua phát hành cổ phiếu Công ty cổ phần có thể huy động vốn thông qua ba hình thức sau:
- Cổ phiếu ưu đãi;
- Cổ phiếu thông thường;
- Giấy nợ (debenture)
Những người chủ của các cổ phiếu ưu đãi được hưởng ưu tiên trong việc thanh toán lãi
cổ phần (cổ tức) so với các loại cổ phiếu khác Trong hầu hết các trường hợp, mức sinh lời (lãi suất) đối với các cổ phiếu ưu đãi thường được xác định theo tỷ lệ cố định của giá trị danh nghĩa của cổ phiếu Nếu công ty không kiếm được lợi nhuận, chủ nhân của các cổ phiếu ưu đãi không được hưởng lãi cổ tức (trừ khi họ có các cổ phiếu ưu đãi dồn đặc biệt special cumulative P.S, phần lãi sẽ được trả vào năm sau) Nếu lợi nhuận của công ty quá cao, các chủ
cổ phiếu cũng không nhận được thêm ít nào (trừ khi họ có một loại cổ phiếu ưu tiên đặc biệt khác có tên gọi là cổ phiếu thành viên ưu đãi - participating preference shares)
Trang 8Những người chủ sở hữu của các cổ phiếu thông thường phải chịu nhiều rủi ro nhất vì rằng phần họ sẽ được chia là phần lợi nhuận còn lại sau khi đã thanh toán tất cả các khoản Lợi tức của họ phụ thuộc vào mức độ lãi của doanh nghiệp và quyết định của giám đốc về việc xác định lượng lợi nhuận để lại cho doanh nghiệp Hầu hết các cổ phiếu thông thường có quyền bầu ra và vốn cổ phần thông thường của doanh nghiệp là vốn tự có (equity)
Giấy nợ (debenture) không phải là cổ phiếu Sự khác nhau là ở chỗ người có giấy nợ cho doanh nghiệp vay chứ không phải mua cổ phiếu của doanh nghiệp Người có giấy nợ do đó là người cho vay chứ không phải là người sở hữu doanh nghiệp Mức lãi suất đối với giấy nợ là
cố định và việc thanh toán đối với loại giấy nợ này là có thứ tự ưu tiên cao nhất so với tất cả mọi loại cổ phiếu khác Các nhà đầu tư muốn an toàn thì mua loại giấy nợ này
2 Vấn đề sở hữu và quản lý doanh nghiệp
Trong trường hợp doanh nghiệp một chủ sở hữu, cả quyền sở hữu và quyền quản lý thuộc một người Hầu hết các phân tích kinh tế về doanh nghiệp đều dựa vào loại mô hình doanh nghiệp này Doanh nghiệp được mô hình hoá như một thực thể có mục tiêu và tự ra các quyết định Tuy nhiên, sự ra đời của công ty cổ phần đã làm phát sinh các câu hỏi quan trọng
về tính thực tế và hữu ích của cách tiếp cận này Hơn 70 năm trước, Berle và Means (1932) đã chỉ ra rằng phần lớn các công ty của Mỹ các chủ sở hữu chỉ chiếm ít hơn 20% quyền biểu quyết trong các công ty Trong điều kiện đó, người ta cho rằng, khi các cổ phiếu được phổ biến rộng rãi, các cổ đông sẽ có ít tin tức hơn về sự hoạt động của công ty mà họ sở hữu, sự sở hữu công ty sẽ thuộc về bộ máy quản lý vì họ có nhiều thông tin nội bộ hơn về sự hoạt động của công ty
Tranh luận về việc quản lý của chủ sơ hữu và sự quản lý của người quản lý
Vấn đề cơ bản ở đây là khác biệt về mục tiêu của các chủ sở hữu và các nhà quản lý
"Trường phái quản lý" theo nghiên cứu của Berle và Means lập luận rằng những người chủ sở hữu và người quản lý là các nhóm các thể khác nhau và họ có các mục tiêu mâu thuẫn với nhau Những người chủ sở hữu được coi là quan tâm tới lợi nhuận nhiều nhất, còn các nhà quản lý lại quan tâm tới vị trí, niềm tự hào, quyền lực và khả năng kiểm soát công ty theo mục đích riêng của họ Đúng là những người chủ sở hữu của công ty cổ phần không phải là tập hợp các cá nhân là những người quản lý Tuy nhiên, tập hợp các nhà quản lý và tập hợp các chủ sở hữu có thể trùng nhau một phần Vì rằng các nhà quản lý cấp cao đặc biệt là giám đốc thường
có cổ phần do đó họ vừa là người sở hữu vừa là người quản lý Việc phân định rõ ràng ranh giới giữa người quản lý và người chủ sở hữu là tương đối và không hoàn hảo Nếu những nhà quản lý là những người chủ sở hữu và có nguồn thu đáng kể so với thu nhập của họ từ các cổ phiếu thì lợi ích của họ sẽ trùng với lợi ích của chủ sở hữu và nhà quản lý Thậm chí nếu người chủ sở hữu và người quản lý hoàn toàn khác nhau và có những mục tiêu mâu thuẫn với nhau, người quản lý chỉ có khả năng theo đuổi mục đích của họ nếu như họ có khoảng tự do nhất định Chúng ta sẽ được thấy có những lực lượng hạn chế được sự tự do đó của các nhà quản lý:
- Mối đe doạ bị thôn tính (take - over) và thị trường kiểm soát;
Trang 9KINH TẾ QUẢN LÝ
Chương 1 – Giới thiệu môn Kinh tế Quản lý
9
- Ảnh hưởng của cổ đông đặc biệt (institutional shareholders);
- Hoạt động của các thị trường lao động nội bộ
3 Mục tiêu của các doanh nghiệp
Doanh nghiệp là một tổ chức phối hợp và tổ chức các nguồn lực để sản xuất ra hàng hoá hoặc dịch vụ để bán Trong các lý thuyết kinh tế truyền thống, doanh nghiệp thường được giả định là có mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận Tuy nhiên chúng ta có thể thấy các mục tiêu khác của doanh nghiệp như tối đa hoá doanh thu, tối đa hóa lợi ích quản lý Khi theo đuổi các mục tiêu khác nhau, doanh nghiệp sẽ có hành vi khác nhau Trong phần này chúng ta sẽ xem xét hành vi của doanh nghiệp khi theo đuổi các mục tiêu khác nhau đó
3.1 Mô hình tân cổ điển về doanh nghiệp: mô hình này có ba loại giả định liên quan tới mục
tiêu của doanh nghiệp, chi phí và sản lượng và các điều kiện về cầu của doanh nghiệp
3.1.1 Giả định tối đa hoá lợi nhuận
Bộ phận đầu tiên của mô hình tân cổ điển này là mục tiêu của doanh nghiệp là tối đa hoá lợi nhuận Giả định này mang tính mơ hồ (không rõ ràng) vì rằng nó không đề cập tới phạm vi thời gian trong đó lợi nhuận sẽ được tối đa hoá
Trường hợp đơn giản nhất là xem xét mô hình ngắn hạn hay một thời kỳ trong đó mục tiêu của doanh nghiệp là tối đa hoá lợi nhuận Như chúng ta đã biết ngắn hạn là một thời kỳ trong đó doanh nghiệp bị hạn chế bởi số lượng nhất định về nhà máy và thiết bị và có các chi phí cố định mà doanh nghiệp phải chịu cho dù có sản xuất hay không
Trường hợp phức tạp hơn là mô hình nhiều thời kỳ và trong mô hình này mục tiêu của doanh nghiệp là tối đa hoá của cải (Wealth) của các cổ đông hay giá trị của doanh nghiệp (value of the firm), giá trị này được xác định bằng giá trị triết khấu của các khoản lợi nhuận (luồng tiền ròng) của doanh nghiệp Giá trị này được xác định như sau:
πn
n t
Nếu như lợi nhuận của mỗi thời kỳ độc lập với nhau, thì mô hình một thời kỳ và nhiều thời kỳ sẽ nhất quán như nhau Tuy nhiên, vấn đề sẽ phức tạp hơn nếu như lợi nhuận kiếm được tại thời kỳ này có ảnh hưởng tới lợi nhuận sẽ kiếm được trong tương lai, vì rằng trong trường hợp này có thể giá trị của doanh nghiệp sẽ tối đa hoá bằng cách hy sinh lợi nhuận ngắn hạn Thí dụ, một doanh nghiệp độc quyền có thể thu được lợi nhuận tối đa rất cao trong ngắn hạn Tuy nhiên, điều đó có thể lôi kéo các doanh nghiệp khác vào ngành và có thể là đối tượng điều tiết của chính phủ Do vậy, giá trị của doanh nghiệp có thể sẽ tối đa nếu như doanh
Trang 103.1.3 Các điều kiện của cầu
Bộ phận thứ ba của mô hình tân cổ điển về doanh nghiệp là giả định doanh nghiệp biết được thông tin về sản lượng sản phẩm mà doanh nghiệp có thể bán tại mỗi mức giá Chúng ta
sẽ nghiên cứu về cầu chi tiết hơn trong các chương sau, nhưng trong chương này chúng ta nhắc lại cầu phụ thuộc vào hai nhóm nhân tố Thứ nhất, cầu phụ thuộc vào hành vi của người tiêu dùng, họ sẽ xác định tổng cầu đối với sản phẩm của doanh nghiệp Thứ hai, cầu phụ thuộc vào cơ cấu ngành mà doanh nghiệp hoạt động và hành vi của các đối thủ cạnh tranh Thí dụ đơn giản nhất ở đây chúng ta xem xét đó là trường hợp độc quyền, khi mà chỉ có một doanh nghiệp duy nhất cung cấp hàng hoá cụ thể nào đó Trong trường hợp này, cầu của người tiêu dùng đối với sản phẩm do một doanh nghiệp thoả mãn và không có sự khác biệt giữa tổng cầu đối với sản phẩm và cầu đối với doanh nghiệp Hình dạng của đường cầu sẽ phụ thuộc vào bản chất của sản phẩm cụ thể đó, số lượng người tiêu dùng trong thị trường liên quan và thu nhập cũng như thị hiếu của họ
3.1.4 Cân bằng trong mô hình độc quyền tối đa hoá lợi nhuận
Sau khi giả định về mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận và có những hiểu biết nhất định về các điều kiện về cầu, chi phí, chúng ta có thể chuyển sang giai đoạn thứ hai của việc xây dựng
mô hình đó là việc đưa ra các dự đoán logic trên cơ sở các giả định đó Phương pháp được sử dụng ở đây là phương pháp toán tối ưu Chúng ta có thể tóm tắt như sau:
Mục tiêu: tối đa hoá lợi nhuận π(q) → max
Trang 11KINH TẾ QUẢN LÝ
Chương 1 – Giới thiệu môn Kinh tế Quản lý
11
Chúng ta cũng đã biết để tối đa hoá lợi nhuận, các điều kiện sau đây cần phải được thoả mãn:
Điều kiện 1 : dπ/dq = dTR/dq - dTC/dq = 0
Điều kiện 2: d 2 TR/dq 2 < d 2 TC/dq 2
Đó chính là nguyên tắc tối đa hoá lợi nhuận quen thuộc của chúng ta: sản xuất tại một mức sản lượng tại đó doanh thu cận biên bằng chi phí cận biên và độ đốc của đường chi phí cận biên lớn hơn độ dốc của đường doanh thu cận biên Chúng ta có thể minh hoạ điều này trên hình 1.4 sau đây:
Hình 1.4 Trạng thái cân bằng của doanh nghiệp
Trong hình 1.4 này, mức sản lượng tối đa hoá lợi nhuận là Q* và giá tối đa hoá lợi nhuận là P* Trong mô hình đơn giản này, chúng ta thấy rằng sản lượng mà doanh nghiệp sản xuất và bán được giả định là như nhau Nếu không có sự thay đổi về điều kiện của cầu thì doanh nghiệp không có xu hướng thay đổi giá hay sản lượng Doanh nghiệp trong trạng thái cân bằng ngắn hạn
3.1.5 Áp dụng mô hình đơn giản này
Mô hình chúng ta xây dựng trên đây được sử dụng vào các mục đích sau đây Trước hết, theo trường phái chính thống, trên cơ sở của mô hình này chúng ta sẽ dự đoán phản ứng của doanh nghiệp trước sự thay đổi của môi trường Khi các yếu tố của môi trường thay đổi,
mô hình sẽ cho chúng ta biết cách thức ứng xử của doanh nghiệp để đạt được trạng thái cân bằng mới Thí dụ, nếu cầu tăng, cả giá và sản lượng sẽ tăng Nếu chi phí tăng, giá sẽ tăng nhưng sản lượng giảm Biểu sau đây mô tả các đặc điểm so sánh tĩnh của mô hình tối đa hoá lợi nhuận:
Giá Sản lượng
Cầu tăng + +
Cầu giảm - -
Tăng chi phí biến đổi + -
Thuế một lần 0 0
MC
D
Q *
P*
Q
P
MR
Trang 12KINH TẾ QUẢN LÝ
Chương 1 – Giới thiệu môn Kinh tế Quản lý 12
3.1.6 Hạn chế của lý thuyết doanh nghiệp
Lý thuyết doanh nghiệp với giả định rằng mục tiêu của doanh nghiệp là tối đa hoá giá trị của doanh nghiệp bị phê phán là quá hẹp và không thực tế Người ta đã đề xuất ra các lý thuyết rộng hơn Nổi bật nhất trong số các lý thuyết này là các mô hình cho rằng mục tiêu đầu tiên của doanh nghiệp là tối đa hoá doanh thu, tối đa hoá ích lợi của người quản lý và hành vi thoả mãn (satisficing behavior)
3.2 Mô hình tối đa hoá doanh thu
Mô hình này do William Baumol (1958) đề xuất Trong mô hình này, tiền lương của các giám đốc, địa vị của họ và các khoản tiền thưởng thường có quan hệ với quy mô của doanh nghiệp mà họ quản lý Quy mô này được đo bằng doanh thu bán hàng chứ không phải
là lợi nhuận Trong trường hợp đó, các nhà quản lý sẽ quan tâm tới việc tăng doanh số bán hàng chứ không phải là tăng lợi nhuận, và như vậy mục tiêu của doanh nghiệp sẽ là tối đa hoá tổng doanh thu chứ không phải là tối đa hoá lợi nhuận
Xét theo nhiều khía cạnh, mô hình này cũng chia sẻ các đặc điểm cơ bản so với mô hình chuẩn Đó cũng là một mô hình tối ưu hoá trong đó một doanh nghiệp sản xuất một mặt hàng có mục tiêu duy nhất, có thông tin hoàn hảo và biết được các điều kiện của cầu và chi phí Các chi tiết khác so với mô hình chuẩn như chúng ta sẽ thấy dưới đây Trong hình 1.5, doanh nghiệp sẽ chọn mức sản lượng A với mức tổng doanh thu B và lợi nhuận C Chú ý rằng
đó là mức sản lượng cao hơn và mức giá thấp hơn so với mức tối đa hoá lợi nhuận (sản lượng
D và tổng doanh thu E) Một doanh nghiệp tối đa hoá doanh thu sẽ luôn sản xuất nhiều hơn và đặt giá thấp hơn so với một doanh nghiệp tối đa hoá lợi nhuận khi có cùng điều kiện về chi phí
và cầu vì lý do sau đây:
- Để tối đa hoá tổng doanh thu, doanh thu cận biên bằng không
MR = 0;
- Để tối đa hoá lợi nhuận, doanh thu cận biên bằng chi phí cận biên MR=MC;
- Vì chi phí cận biên lớn hơn không, do đó đối với doanh nghiệp tối đa hoá lợi nhuận doanh thu cận biên phải lớn hơn không;
- Do đó doanh thu cận biên của doanh nghiệp tối đa hoá lợi nhuận phải lớn hơn doanh thu cận biên của doanh nghiệp tối đa hoá doanh thu;
- Vì doanh thu cận biên là đường nghiêng xuống, sản lượng cân bằng của doanh nghiệp tối đa hoá doanh thu phải lớn hơn sản lượng cân bằng của doanh nghiệp tối đa hoá lợi nhuận
Trang 13KINH TẾ QUẢN LÝ
Chương 1 – Giới thiệu môn Kinh tế Quản lý
13
Hình 1.5 Mô hình tối đa hoá doanh thu
Như chúng ta đã thấy trong hình 1.5, khi tối đa hoá doanh thu, doanh nghiệp cũng kiếm được một lượng lợi nhuận nhất định Tuy nhiên lượng lợi nhuận đó có thể chưa đủ để thoả mãn các cổ đông và trong nhiều trường hợp tối đa hoá doanh thu còn gây ra thua lỗ cho doanh nghiệp Và do đó mô hình tối đa hoá doanh thu đơn giản là không đủ mà phải kèm thêm một ràng buộc về lợi nhuận tối thiểu phải đạt được
Trong mô hình 1.5, chúng ta cũng thấy ba khả năng có thể xảy ra
Khả năng thứ nhất: Lượng lợi nhuận kiếm được thoả mãn yêu cầu về lợi nhuận tối thiểu PC 1 , sản lượng sẽ được sản xuất ra trùng với sản lượng tối đa hoá doanh thu
Khả năng thứ hai: Lượng lợi nhuận tại mức sản lượng tối đa hoá doanh thu nhỏ hơn yêu cầu tối thiểu về lợi nhuận PC 2 Trong trường hợp này, doanh nghiệp phải cắt giảm sản lượng để đạt được mức lợi nhuận đó (Mức H)
Khả năng thứ 3: khi mức lợi nhuận tối thiểu doanh nghiệp phải đạt được trùng với mức lợi nhuận tối đa mà doanh nghiệp có thể kiếm được (theo tiêu thức MR=MC) lúc này hành vi của doanh nghiệp sẽ giống như hành vi của doanh nghiệp tối đa hoá lợi nhuận cho dù có sự khác biệt về mục tiêu
So sánh hai mô hình
Hai mô hình này có một số điểm giống và khác nhau khi xem xét các đặc điểm so sánh tĩnh Khi cầu tăng, doanh nghiệp trong cả hai mô hình đều ứng xử như nhau: nâng giá và sản lượng Nhưng mô hình tối đa hoá lợi nhuận, khi chi phí cố định tăng lên hay khi trả thuế một lần, thì quyết định sản xuất không thay đổi, còn trong mô hình tối đa hoá doanh thu khi điều
B
ð
PC3 PC2 PC1
Trang 143.3 Mô hình tối đa hoá ích lợi quản lý
Oliver Williamson đưa ra khái niệm "sự ưa thích chi tiêu" để xây dựng mô hình tối đa hoá lợi ích quản lý Theo Williamson, mục tiêu của người quản lý là tối đa hoá lợi ích của chính họ và người quản lý đạt được điều đó bằng cách chi tiêu cho những việc không cần thiết cho công việc nhưng lại thoả mãn mục đích riêng tư Williamson xác định ba loại chi tiêu cơ bản sau:
- Chi tiêu để tuyển thêm biên chế vượt quá mức cần thiết để vận hành doanh nghiệp (S) Điều này làm tăng quyền lực, uy tín và ích lợi của người quản lý khi họ cho là quản lý nhiều nhiều người sẽ thích hơn
- Chi thêm tiền "bổng lộc" cho người quản lý (M) Đó là việc tiêu dùng xa xỉ như ô tô sang trọng, quần áo, tiệc tùng
- Lợi nhuận tự do (Descretionary profit) là lợi nhuận sau thuế cao hơn lượng tối thiểu cần thiết cho các cổ đông Phần đó sẵn có để người quản lý chi tiêu cho các hoạt động nhằm mục tiêu riêng của họ
Như vậy trong mô hình này có các mục tiêu mâu thuẫn và có sự tráo đổi giữa các mục tiêu Mô hình này phức tạp hơn mô hình tối đa hoá lợi nhuận nhiều Ở đây chúng ta chỉ xem xét qua các đặc điểm chung nhất của mô hình
U = f(S, M,D) - lợi ích quản lý U phụ thuộc vào S, M, D
Nếu TR tổng doanh thu, TC tổng chi phí, T thuế thì
- Lợi nhuận thực tế TR - TC - S
- Lợi nhuận báo cáo TR - TC - S - M
Nếu như lượng lợi nhuận tối thiểu sau khi nộp thuế phải có để thoả mãn các cổ đông là
Z thì
D = TR - TC - S - M - T - Z
Giải mô hình này hết sức phức tạp đòi hỏi nhiều công cụ toán như vi phân để giải bài toán tiêu dùng Tuy nhiên, có thể đặt vấn đề như sau: Để tối đa hoá lợi ích (U >max), điều kiện cân bằng cần được thoả mãn:
MUs = MUm = MUd(1-t)
Trong đó t là tỷ lệ thuế lợi nhuận
Từ đó chúng ta có các đặc điểm so sánh tĩnh như sau:
- Nếu cầu giảm, tại mọi mức sản lượng D sẽ giảm Theo giả định của quy luật lợi ích cận biên giảm dần MUd sẽ tăng Trạng thái cân bằng bị vi phạm Để đạt tới trạng thái cân bằng mới, phần lợi nhuận biến đổi phải chuyển cho D từ S và M Do đó sản lượng cân bằng sẽ giảm xuống Trường hợp với chi phí cố định tăng hay trả thuế một lần cũng như vậy
- Nếu thuế đánh vào lợi nhuận tăng lên, (1-t) giảm và do đó MU d(1-t) giảm xuống, chuyển sang S và M do vậy sản lượng tăng
Các công trình nghiên cứu của Herbert Simon đã cho thấy rằng việc điều hành một doanh nghiệp lớn là rất phức tạp Nhiệm vụ các nhà quản lý lại càng phức tạp hơn bởi sự không chắc chắn và thông tin không hoàn hảo Chính vì vậy mà mục tiêu của doanh nghiệp không phải là tối đa hoá lợi nhuận mà chỉ cố gắng đạt được những kết quả nhất định về doanh
Trang 154 Phạm vi quốc tế của kinh tế quản lý
Ngày nay, rất nhiều hàng hoá và dịch vụ chúng ta sử dụng là hàng hoá nhập khẩu Các doanh nghiệp cũng nhập khẩu nhiều nguyên nhiên liệu và bán sản phẩm ra nước ngoài Đặc biệt hơn nữa là các doanh nghiệp trong nước phải chịu sức ép lớn của cạnh tranh ngay trên thị trường trong nước và quốc tế Xu hướng quốc tế hoá ngày càng trở nên phổ biến và các yếu tố sản xuất được di chuyển tự do hơn Các công ty đa quốc gia hoạt động ở hầu hết các nước trên thế giới Như vậy có thể nói rằng tính quốc tế hoá xảy ra trong cả lĩnh vực tiêu dùng cũng như sản xuất Vì vậy thật quan trọng khi tính đến xu thế này trong nghiên cứu kinh tế quản lý để phản ánh đúng hiện thực đang diễn ra
Trang 161 Đường cầu thị trường
1.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến cầu
Các lý thuyết kinh tế về hành vi của người tiêu dùng cho thấy rằng nói chung đường cầu đối với sản phẩm của ngành dốc xuống, biểu thị khi giá sản phẩm giảm xuống thì người tiêu dùng sẽ mua nhiều hơn Tuy nhiên giá của sản phẩm không phải là yếu tố duy nhất ảnh hưởng đến lượng cầu Rất nhiều yếu tố có thể ảnh hưởng đến cầu về một sản phẩm Đó là:
Thị hiếu và sở thích của người tiêu dùng (T)
Mức quảng cáo về các sản phẩm khác, đặc biệt là sản phẩm bổ sung và sản phẩm thay thế (Ac , As)
Lãi xuất (i)
Sự sẵn có của tín dụng (C)
Kỳ vọng của người tiêu dùng về giá cả và cung trong tương lai (E)
Các yếu tố này có thể biểu thị chung trong một hàm số sau:
Qd = f(P0, Pc, Ps, Yd, T, Ao , Ac, As, I, C, E)
nên sự chú ý thường tập trung vào đường cầu, biểu thị mối quan hệ giữa giá của bản thân sản phẩm và lượng cầu Tuy nhiên cần phải nhớ rằng giá của bản thân sản phẩm chỉ là một trong các yếu tố ảnh hưởng đến cầu
Trang 17KINH TẾ QUẢN LÝ
1.2 Đường cầu
Đường cầu, như thí dụ biểu thị ở hình 2.1 biểu thị các số lượng một sản phẩm sẽ được
mua ở các mức giá khác nhau, với điều kiện các yếu tố khác ảnh hưởng đến cầu không đổi
(Ceteris Paribus)
Hình 2.1: Đường cầu
Giá của bản thân hàng hoá thay đổi gây ra sự vận động dọc theo đường cầu Các yếu
tố khác thay đổi thì gây ra sự dịch chuyển của đường cầu
2 Co giãn của cầu theo giá
Đường cầu nói chung là dốc xuống nhưng độ dốc của đường cầu lại khác nhau với
từng hàng hoá Có thể sử dụng độ dốc của đương cầu để đo mức độ phản ứng của cầu đối với
giá Tuy nhiên thước đo đó sẽ thay đổi khi chúng ta biểu thị giá và lượng trên các trục với các
tỷ lệ khác nhau Một cách tốt hơn để đo mức độ phản ứng của cầu đối với những thay đổi
trong giá là sử dụng khái niệm co giãn của cầu theo giá của bản thân hàng hoá Khái niệm này
được định nghĩa như sau:
Phần trăm thay đổi trong lượng cầu
Phần trăm thay đổi trong giá
hoặc Thay đổi trong lượng giá
Ep = - * - Thay đổi trong giá lượng
Trang 18KINH TẾ QUẢN LÝ
Chương 2 – Phân tích cầu
18
2.1 Co giãn đoạn và co giãn điểm
"Co giãn đoạn" là co giãn trong một khoảng có thể đo được của đường cầu, như ở đoạn AB
ở hình 2.2
Hình 2.2 Co giãn của cầu theo giá trong một đoạn
Co giãn của cầu có thể có những giá trị khác nhau cho cùng một đoạn trên đường cầu,
hai giá trị khác nhau nhưng cũng không hợp lý Cách tốt hơn là định nghĩa co giãn đoạn có thể có hai giá trị, phụ thuộc vào xu hướng của giá và lượng
Trên hình 2.2 khi các điểm A và B tiến lại gần nhau thì sự khác nhau giữa hai giá trị của co giãn đoạn là rất nhỏ Nếu khoảng cách AB là vô cùng nhỏ thì đoạn AB sẽ trở thành một điểm và co giãn đoạn được thay thế bằng bằng co giãn điểm:
2.2 Mối quan hệ giữa co giãn và doanh thu
Vì co giãn của cầu theo giá của bản thân hàng hoá đo mức độ phản ứng của cầu đối với sự thay đổi giá nên rõ ràng phải có mối quan hệ giữa mức độ co giãn và doanh thu Nếu cầu co giãn thì một sự giảm giá dẫn đến sự tăng lớn hơn trong lượng cầu và kết quả là doanh thu sẽ tăng Ngược lại nếu cầu là không co giãn thì giảm giá dẫn đến một sự tăng ít hơn trong lượng cầu do đó doanh thu sẽ giảm Vậy khi cầu là co giãn thì doanh thu thay đổi ngược chiều với giá Khi cầu không co giãn thì doanh thu thay đổi cùng chiều với giá
Trang 19KINH TẾ QUẢN LÝ
Hình 2.3 Co giãn và doanh thu cận biên
Hình 2.3 đề cập sâu hơn về mối quan hệ này- sử dụng đường cầu tuyến tính để minh hoạ mối quan hệ giữa co giãn của cầu theo giá của bản thân hàng hoá và doanh thu cận biên Doanh thu cận biên được định nghĩa là sự thay đổi trong tổng doanh thu khi bán thêm một đơn vị sản phẩm
Hình trên cho thấy khi cầu là co giãn (giữa các điểm X và Y), doanh thu cận biên dương Điều này cho thấy để bán thêm một đơn vị sản phẩm giá chỉ phải giảm đi một phần rất nhỏ, do đó tổng doanh thu tăng Ở điểm Y, độ co giãn bằng âm một, doanh thu cận biên bằng không, điều này biểu thị tổng doanh thu giữ nguyên khi giá thay đổi Khi cầu là không co giãn (giữa các điểm Y và Z), doanh thu cận biên âm Điều này cho thấy để bán thêm một đơn vị sản phẩm giá phải thay đổi lớn hơn, vì thế tổng doanh thu giảm
2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến co giãn của cầu theo giá
Độ co giãn của cầu theo giá của bản thân hàng hoá phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố Rõ nhất là sự tồn tại của các hàng hoá thay thế Nếu có nhiều hàng hóa với mức độ thay thế càng cao thì cầu về hàng hoá đang xem xét càng co giãn Điều này còn hàm ý rằng mức độ co giãn phụ thuộc vào việc chúng ta đang xét loại hàng hóa nào Nếu hàng hóa đang xét là "Thịt" thì hàng hóa thay thế gần nhất cũng có những đặc điểm khác biệt rất nhiều Vì vậy, cầu về thịt là không co giãn Ngược lại, nếu hàng hóa đang xét ở một phạm vi hẹp hơn, ví dụ là "thịt lợn" thì các hàng hóa thay thế sẽ có những đặc tính gần giống với thịt lợn hơn và cầu về thịt lợn sẽ
co giãn hơn
Yếu tố thứ hai ảnh hưởng đến co giãn của cầu là tỷ trọng của tổng thu nhập của người tiêu dùng chi cho hàng hoá đang xem xét Nếu phần chi tiêu cho một hàng hoá chiếm tỷ trọng lớn trong thu nhập của người tiêu dùng thì sự thay đổi của giá sẽ ảnh hưởng đến lượng cầu Mặt khác nếu phần chi tiêu cho hàng hoá đó chỉ chiếm một phần rất nhỏ trong thu nhập của người tiêu dùng thì họ sẽ ít nhạy cảm hơn với thay đổi giá và do đó cầu về hàng hoá đó sẽ có
xu hướng không co giãn
Lượng
Giá
Đường cầu/Doanh thu trung bình
Doanh thu cận biên
X
Y
Z
Trang 203 Co giãn của cầu theo thu nhập
Cầu không chỉ phản ứng với sự thay đổi giá của bản thân hàng hoá mà còn phản ứng với các yếu tố khác Mức độ của sự phản ứng đó được đo bằng các thước đo co giãn khác
Co giãn của cầu theo thu nhập được định nghĩa là:
Phần trăm thay đổi trong lượng cầu
EI = -
Phần trăm thay đổi trong thu nhập
Co giãn của cầu theo thu nhập trong một khoảng được cho bởi:
Thay đổi trong lượng cầu Thu nhập của người tiêu dùng
Độ lớn và dấu của co giãn của cầu theo thu nhập phụ thuộc vào bản chất của hàng hoá đang xem xét và mức thu nhập của người tiêu dùng
Trong trường hợp hàng thiết yếu thì co giãn của cầu theo thu nhập là dương nhưng nhỏ hơn một Trong trường hợp hàng xa xỉ thì co giãn của cầu theo thu nhập lớn hơn một Trong trường hợp hàng hoá bình thường, bao gồm cả hàng thiết yếu và hàng xa xỉ, thì co giãn của cầu theo thu nhập là dương Trong trường hợp hàng hoá thứ cấp thì co giãn của cầu theo thu nhập là âm
4 Co giãn chéo
Co giãn chéo biểu thị mức độ phản ứng của cầu hàng hoá này đối với giá của hàng hoá khác Các hàng hoá khác quan trọng nhất là các hàng hoá thay thế ở mức độ cao và hàng hóa
bổ sung Co giãn chéo giữa hai hàng hoá A và B được định nghĩa như sau:
Eab = -
Co giãn chéo trong một đoạn được cho bởi:
Eab = - * -
Trang 21KINH TẾ QUẢN LÝ
Co giãn chéo tại một điểm được cho bởi:
Trong trường hợp hai hàng hoá có mối quan hệ bổ sung thì co giãn chéo có dấu âm Trong trường hợp hai hàng hóa không có mối quan hệ gì rõ rệt thì co giãn chéo bằng không
Co giãn chéo có thể là hữu ích trong việc đi đến một định nghĩa thích hợp về thị trường hoặc ngành Nếu ngành được định nghĩa là một nhóm các doanh nghiệp sản xuất các sản phẩm có thể thay thế cho nhau ở mức độ cao thì cũng tương đương như nói rằng ngành là một nhóm doanh nghiệp sản xuất các hàng hoá có co giãn của cầu theo giá chéo là số dương
và có giá trị lớn Nếu co giãn chéo có thể ước lượng được thì chúng có thể được dùng để chia nền kinh tế ra thành các ngành theo một phương pháp có ý nghĩa về mặt kinh tế
5 Đường cầu đối với một doanh nghiệp
Trong khi thông tin về cầu thị trường là rất có ích đối với một doanh nghiệp thì các doanh nghiệp lại có xu hướng quan tâm nhiều hơn đến cầu về sản phẩm của bản thân mình so với cầu của cả ngành Điều này phụ thuộc vào cơ cấu cạnh tranh của ngành mà ta sẽ xem xét sau
Trường hợp đơn giản nhất- ngành là độc quyền thuần tuý- Trong ngành này chỉ có một doanh nghiệp sản xuất sản phẩm đang xem xét và không có khả năng cho các doanh nghiệp khác gia nhập ngành Trong trường hợp đó đường cầu đối với cá nhân một doanh nghiệp là đường cầu đối với cả ngành
Trường hợp thứ hai là cạnh tranh hoàn hảo, ở đó có nhiều doanh nghiệp sản xuất các sản phẩm giống nhau Trong trường hợp này giá được xác định bởi tác động qua lại của cung cầu và mỗi doanh nghiệp chỉ có thể bán hết số lượng hàng hóa ở giá đó Nếu bán ở mức giá cao hơn thì họ sẽ không bán được sản phẩm nào Vì thế, đường cầu đối với cá nhân doanh nghiệp là đường nằm ngang
Trong trường hợp mà cơ cấu thị trường không phải là độc quyền cũng không phải là cạnh tranh hoàn hảo thì cầu đối với sản phẩm của doanh nghiệp phụ thuộc vào nhiều yếu tố
Thứ nhất là độ co giãn của cầu thị trường Nếu cầu thị trường là co giãn hoàn toàn thì các doanh nghiệp sẽ không thể bán sản phẩm của mình ở giá khác với giá ban đầu
Yếu tố thứ hai ảnh hưởng đến co giãn của cầu đối với một doanh nghiệp là mức độ khác biệt hóa của sản phẩm hoặc sự trung thành của khách hàng với sản phẩm Nếu sản phẩm
có sự khác biệt lớn và người mua cực kỳ trung thành với doanh nghiệp thì đường cầu sẽ dốc xuống chứ không phải là nằm ngang Thực chất mỗi doanh nghiệp sẽ là một "nhà độc quyền
mi ni", sản xuất sản phẩm không có sản phẩm khác thay thế ở mức độ cao Ngược lại nếu các sản phẩm giống nhau và người tiêu dùng không có sự trung thành với sản phẩm thì đường cầu
sẽ nằm ngang
Yếu tố thứ ba ảnh hưởng đến co giãn của cầu đối với sản phẩm của một doanh nghiệp
là thị phần Nếu doanh nghiệp có thị phần lớn thì khi doanh nghiệp giảm giá, để cầu của doanh nghiệp có thể tăng lên một chút ít sẽ cần thu hút một phần đáng kể khách hàng của các
doanh nghiệp đối thủ Ngược lại nếu doanh nghiệp có thị phần nhỏ trên thị trường thì khi
Trang 22Đối với các sản phẩm không có sự khác biệt hóa Needham (1978) đã đưa ra phương trình sau để biểu thị các yếu tố khác nhau ảnh hưởng đến co giãn của cầu đối với sản phẩm của cá nhân một doanh nghiệp:
(Em+Es.Er)
Ef = -
Sf
Em là co giãn của cầu thị trường
Sf là thị phần của doanh nghiệp
Sr là thị phần của các đối thủ
6 Co giãn của cầu và sức mạnh của người mua
Khi phân tích cơ cấu ngành, người ta sử dụng "mô hình năm lực lượng" Một trong
"năm lực lượng" đó là sức mạnh của người mua Sức mạnh đó được xác định bởi hai nhóm
Nếu có sự khác biệt sản phẩm và nhãn hiệu hàng hóa thì sẽ làm giảm độ nhạy cảm đối với giá
Ảnh hưởng của sản phẩm đó đến chất lượng của sản phẩm hoặc dịch vụ của người mua Nếu sản phẩm bán ra đó là một bộ phận then chốt trong việc duy trì chất lượng hoặc giảm chi phí của sản phẩm của người mua thì họ sẽ không nhạy cảm với giá
Động cơ mua hàng hóa của người ra quyết định Nếu những người mua là quản lý của một công ty thì họ sẽ có nhiều động cơ khác nhau Có một số động cơ khuyến khích họ nhạy cảm hơn với giá, một số động cơ khác lại khiến họ không chú trọng đến giá
Hai yếu tố đầu tiên đã được đề cập đến ở phần các yếu tố ảnh hưởng đến co giãn của cầu theo giá của bản thân hàng hoá Các yếu tố còn lại minh hoạ tầm quan trọng của khách hàng
Trang 23KINH TẾ QUẢN LÝ
là doanh nghiệp, khác với người tiêu dùng Cần nhớ rằng phân tích kinh tế thường tập trung vào khách hàng là người tiêu dùng, nhưng người tiêu dùng chỉ là một loại khách hàng Đối với nhiều doanh nghiệp thì hành vi của những khách hàng doanh nghiệp lại là quan trọng nhất
II ƯỚC LƯỢNG CẦU
Rõ ràng là về mặt nguyên lý các khái niệm cầu và co giãn của cầu là rất quan trọng đối với quá trình ra quyết định của doanh nghiệp Tuy nhiên những khái niệm lý thuyết này chỉ có thể ứng dụng trong thực tế nếu có thể ước lượng được về lượng cầu và độ co giãn Đây là một nhiệm vụ khó nhưng có thể thực hiện được bằng nhiều cách Sự phân biệt quan trọng nhất cần phải lưu ý là ước lượng và dự đoán Ước lượng cố gắng lượng hoá các mối quan hệ giữa cầu và các yếu tố ảnh hưởng đến nó, còn dự đoán thì cố gắng xác định lượng cầu ở một thời gian nào đó trong tương lai
1 Ước lượng đơn giản về co giãn đoạn
Một cách đơn giản nhất để ước lượng co giãn của cầu thị trường là quan sát số lượng bán trước và sau khi có sự thay đổi giá và giả định rằng hai kết hợp giá và lượng đã biết đó là nằm trên cùng một đường cầu
Hình 2.4: Ước lượng trực tiếp co giãn trong một đoạn
Ưu điểm của phương pháp này là nó đơn giản bởi vì việc ước lượng có thể thực hiện được dựa trên một sự thay đổi giá Nhược điểm thứ nhất của nó là kết quả về mối quan hệ giữa giá và lượng cầu có thể không chính xác vì có sự thay đổi số lượng hàng lưu trong kho khi có sự thay đổi giá Nếu người bán tin rằng có sự tăng giá thì số lượng hàng lưu trong kho
sẽ tăng lên, ngược lại khi tin rằng có sự giảm giá thì số lượng hàng lưu trong kho lại ít đi Nhược điểm thứ hai là không có gì đảm bảo rằng hai kết hợp giá/lượng quan sát thấy đó nằm trên cùng một đường cầu Hoàn toàn có thể xảy ra trường hợp cả đường cung và đường cầu đều dịch chuyển và điểm cân bằng mới chuyển từ A đến B
Trang 24KINH TẾ QUẢN LÝ
Chương 2 – Phân tích cầu
24
2 Ước lượng kinh tế lượng các đường cầu
Phương pháp thứ hai phức tạp hơn để ước lượng cầu là sử dụng "kinh tế lượng" Đây là một phân tích thống kê các số liệu kinh tế bằng việc sử dụng các kỹ thuật hồi quy bội Ví dụ
kỹ thuật này cho phép sử dụng các số liệu về cầu và các yếu tố ảnh hưởng đến cầu để ước lượng các hệ số của hàm cầu Dạng tổng quát của hàm cầu là:
Qd = f(Po, Pc, Ps, Yd,T, Ac, As, I,C, E)
Phương trình dạng này cho thấy số lượng hàng hoá được cầu là một hàm số của tất cả các yếu tố ảnh hưởng đến nó, mà không xác định một dạng hàm cụ thể nào cho mối quan hệ giữa biến phụ thuộc (Qd) và từng biến độc lập (Po, Pc, Ps, Yd ,T, Ac, As , I,C, E)
Nếu cần ước lượng các hệ số thì cần phải chọn một dạng hàm cụ thể Các dạng phổ biến nhất là hàm cầu tuyến tính và hàm cầu mũ
Qd = a+b1Po+b2Pc+b3Ps+b4Yd+b5T+b6Ao+b7Ac+b8As+b9I+b10C+b11E
Nếu có các số liệu về mỗi biến và các số liệu này là đầy đủ để có thể áp dụng kỹ thuật thống kê về hồi quy bội thì hệ số tự do (a) và các hệ số biểu thị ảnh hưởng của mỗi yếu tố đến
thể dự đoán lượng cầu nếu có các giá trị của một trong các yếu tố ảnh hưởng bằng cách thay các giá trị này vào hàm số trên
của hàm cầu không cho ta ước lượng trực tiếp độ co giãn của cầu Nhưng việc tính toán này là đơn giản Định nghĩa co giãn của cầu theo giá của bản thân hàng hoá có thể viết là:
mà từ hàm cầu ta thấy
n khác bao gồm co giãn theo thu nhập, co giãn chéo và co giãn theo quảng
o đ
ước lượng độ co giãn Tuy nhiên dạng tuyến
ạng mũ Dạng này có thể viết như sau:
Việc xác định hàm cầu tuyến tính cho phép
tính này đã dựa trên giả định rằng với bất kỳ một sự thay đổi giá luôn có một ảnh hưởng như nhau đến lượng cầu bất kể đó là mức giá nào Giả định đó mâu thuẫn với phần lớn các tư duy kinh tế, bao gồm cả các lý thuyết về hành vi của người tiêu dùng Vì vậy người ta thường sử dụng một cách xác định khác để ước lượng cầu
Phương án thay thế phổ biến nhất cho dạng tuyến tính là d
Ep= 1*
Trang 25KINH TẾ QUẢN LÝ
sẽ được những ước lượng trực tiếp về các độ co giãn khác nhau của cầu Đây
được sử dụng phổ biến nhất để ước lượng, nhưng cũng cần phải lưu ý rằng nó lại dựa trên giả định rằng các độ co giãn là không đổi
Việc ước lượng hàm cầu như trên là chấp nhận được nhưng vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề thống kê nằm trong việc đạt đến những
cậy nào Trước hết, phương pháp hồi quy bội không cho ta một mối quan hệ chính xác giữa lượng cầu và mỗi một trong các yếu tố ảnh hưởng đến nó Nó chỉ biểu thị mối quan hệ "phù hợp nhất" với số liệu đã có Trong một số trường hợp mối quan hệ "phù hợp nhất" này chỉ giải thích được một phần rất nhỏ những thay đổi trong lượng cầu Nếu như vậy hàm số đã xác định sẽ có giá trị thấp trong việc ước lượng và dự đoán cầu
Thứ hai, các giá trị ước lượng được của các hệ số trong phương trình cầu là những ước lượng tốt (được gọi là BLUES) nếu những giả định về sai s
giá trị cầu ước lượng được bằng phương trình và giá trị thực tế) Nếu không thì phải thực hiện những sự điều chỉnh khác nhau, nhưng chẳng có sự điều chỉnh nào là thoả mãn hoàn toàn Vấn đề thứ ba là sự xác định đường cầu Khi các nhà thống kê đã thu nhập được rất nhiều các quan sát về giá của hàng hoá theo thời gian, và mức cầu ở mỗi mức giá thì ngườkết luận rằng đường thẳng nối tất cả các tập hợp cuả các quan sát đó là đường cầu Trong hình 2.5 đó là đường ABC
C B
Trang 26KINH TẾ QUẢN LÝ
Chương 2 – Phân tích cầu
26
đường cầu giữ nguyên ở vị trí cũ (tức là không có yếu tố nào khác ngoài giá thay đổi trong
trình
Điều tra người tiêu dùng là chọn một mẫu người tiêu dùng và xác định xem họ sẽ phản
t
là cách duy nhất để có được thông tin về những phản ứng
Một phương pháp khác để ước lượng cầu là " Phân tích người tiêu dùng" Những người
ng
n sát có thể phát sinh theo nh
khoảng thời gian quan sát) mà chỉ có đường cung dich chuyển thì các tập hợp đó sẽ nằm trên một đường cầu Nhưng các tập hợp đó cũng lại có thể phát sinh từ sự dịch chuyển của cả đường cầu và đường cung như ở hình 2.5(b), trong trường hợp đó AB không biểu thị đường cầu nào cả
Vấn đề thứ ba này có thể sử lý được nhưng rất phức tạp và đòi hỏi việc ước lượng một
mô hình được tạo nên từ hệ nhiều phương trình chứ không phải là một phương trình
Mặc dù phương pháp ước lượng cầu còn nhiều hạn chế nhưng rất nhiều nỗ lực đã được thực hiện để ước lượng cầu và co giãn bằng cách sử dụng các phương pháp dựa trên một phương
3 Các phương pháp Marketing để ước lượng cầu
a Điều tra người tiêu dùng và quan sát người tiêu dùng
quan, các chi phí quảng cáo, và các yếu tố ảnh hưởng đến cầu khác Công việc này có thể tiến hành bằng cách hỏi trực tiếp người ở các trung tâm thương mại hoặc bằng việc sử dụng các phiếu điều tra do các chuyên gia Marketing thiết kế và chuyển đến người tiêu dùng trả lời Về mặt lý luận các câu hỏi điều tra người tiêu dùng có thể cung cấp một phần lớn thông tin hữu ích cho doanh nghiệp Thực tế các thông tin này có khi không chính xác vì người tiêu dùng đôi khi hoặc không thể hoặc không sẵn sàng trả lời một cách trung thực Phương pháp này cũng có khi phát sinh chi phí cao nếu quy mô của mẫu chọn là lớn và cần sự phân tích tỉ mỉ
hoặc lập kế hoạch phụ cho điều tra người tiêu dùng bằng quan sát người tiêu dùng Quan sá
người tiêu dùng là thu thập các thông tin về sở thích của người tiêu dùng thông qua việc xem
về giá và các điều kiện kinh doanh tương lai Điều tra người tiêu dùng cũng có thể có ích trong việc suy ra tính cảnh giác của người tiêu dùng đối với một chiến dịch quảng cáo của doanh nghiệp Hơn nữa nếu điều tra chỉ ra rằng người tiêu dùng không cảnh giác với những chênh lệch giá giữa sản phẩm của doanh nghiệp và các sản phẩm cạnh tranh thì đó có thể là một chỉ dẫn tốt rằng cầu về sản phẩm của doanh nghiệp là không co giãn theo giá
b Phân tích người tiêu dùng
phẩm, trưng bày, giá của các sản phẩm cạnh tranh và các yếu tố khác ảnh hưởng đến cầu Những người tham gia trong thí nghiệm này có thể được chọn sao cho biểu thị sát nhất các đặc tính kinh tế xã hội của thị trường hàng hóa mà doanh nghiệp đang xem xét Những người
Trang 27KINH TẾ QUẢN LÝ
tham gia có động cơ mua các sản phẩm mà họ mong muốn nhất vì họ thường được cho phép giữ lại sản phẩm đã mua Như vậy, phân tích người tiêu dùng thực tế hơn là điều tra người tiêu dùng Bằng việc có thể kiểm soát được môi trường, phân tích người tiêu dùng còn có thể tránh được những khó khăn không ngờ tới của giai đoạn thử nghiệm thị trường thực sự
Tuy nhiên phân tích người tiêu dùng cũng có những hạn chế nghiêm trọng Thứ nhất, kết quả
thu được là đáng ngờ vì những người tham gia biết rằng họ đang ở trong một tình huống nhân tạo và
ọ đan
ng được thực hiện trong các thị trường thực Có nhiều cách
trong việc xác định chiến lược giá tốt nhất cho mình và trong việc kiểm
một tình huống thực Thứ hai, mẫu chọn những người tham gia thường là nhỏ vì chi phí thực hiện
thí nghiệm cao Do đó việc suy luận về hành vi của thị trường từ kết quả của một thí nghiệm dựa trên một mẫu nhỏ là nguy hiểm Mặc dù có những hạn chế này, phân tích người tiêu dùng vẫn có thể cung cấp thông tin hữu ích về cầu đối với sản phẩm của doanh nghiệp, đặc biệt là phân tích người tiêu dùng được bổ sung bằng điều tra người tiêu dùng
c Thử nghiệm thị trường
nghiêm ngặt, thử nghiệm thị trườ
để thực hiện thử nghiệm thị trường Cách thứ nhất là chọn một số thị trường với các đặc tính kinh tế xã hội tương tự và thay đổi một số yếu tố ảnh hưởng đến cầu ở các thị trường đó ví dụ giá hàng hoá, bao bì, số lượng hoặc các phương pháp xúc tiến bán hàng trong các thị trường hoặc cửa hàng đó Sau đó lần lượt ghi chép những phản ứng (mua sắm) của người tiêu dùng trong các thị trường khác nhau Bằng việc sử dụng những số liệu hoặc các điều tra thống nhất doanh nghiệp còn có thể xác định được ảnh hưởng của độ tuổi, giới tính, trình độ học vấn, thu nhập và quy mô gia đình đến cầu về một hàng hoá Cách thứ hai là doanh nghiệp có thể thay đổi lần lượt một trong số các yếu tố ảnh hưởng đến cầu trong sự kiểm soát của mình đối với một thị trường cụ thể trong một thời gian và ghi chép các phản ứng của người tiêu dùng
Ưu điểm của thử nghiệm thị trường là có thể thực hiện trên quy mô lớn để đảm bảo tính chính xác của kết quả và người tiêu dùng không biết rằng họ đang thực hiện sự thử nghiệmTuy nhiên, thử nghiệm thị trường cũng có nhược điểm Một trong các nhược điểm đó là để cho chi phí của thử nghiệm thấp thì phải thử nghiệm trên một quy mô rất nhỏ và trong một khoảng thời gian tương đối ngắn, vì thế những suy luận cho toàn bộ thị trường là đáng ngờ Những sự kiện bất thường như đình công hoặc thời tiết quá xấu có thể làm cho kết quả bị sai lệch trong các thử nghiệm không kiểm soát được Các đối thủ cạnh tranh cũng có thể ngầm phá huỷ thử nghiệm bằng việc thay đổi giá và các yếu tố khác ảnh hưởng đến cầu trong sự kiểm soát của họ Họ cũng có thể giám sát thử nghiệm và thu được những thông tin rất hữu ích mà doanh nghiệp không muốn để lộ Cuối cùng, doanh nghiệp có thể mất khách hàng thường xuyên của mình trong quá trình tăng giá ở những thị trường mà doanh nghiệp thử nghiệm với giá cao
Mặc dù có những nhược điểm như vậy nhưng thử nghiệm thị trường vẫn là rất có ích đối với doanh nghiệp
nghiệm bao bì, các chiến dịch xúc tiến và chất lượng sản phẩm khác nhau Thử nghiệm thị trường là cực kỳ hữu ích trong quá trình đưa ra một sản phẩm mới ở nơi mà không có các số liệu khác Chúng cũng có thể là rất hữu ích trong việc làm thay đổi các kết quả của các kỹ thuật thống kê sử dụng để ước lượng cầu
Trang 28Chương III
SẢN XUẤT-CHI PHÍ: LÝ THUYẾT VÀ ƯỚC LƯỢNG
I HÀM SẢN XUẤT VÀ ĐƯỜNG ĐỒNG LƯỢNG
Các đầu vào là các tài nguyên sử dụng trong việc sản xuất ra hàng hoá, dịch vụ Để tiện phân tích, các đầu vào được chia thành 3 nhóm là lao động (bao gồm cả khả năng quản lý), tư bản và đất đai hoặc tài nguyên thiên nhiên Mỗi nhóm đầu vào này lại gồm nhiều loại đầu vào cơ bản khác nhau Các đầu vào cũng được chia thành các đầu vào cố định và biến đổi Các đầu vào cố định là các đầu vào không thay đổi trong quá trình xem xét hoặc thay đổi được nhưng với chi phí rất cao Ngược lại đầu vào biến đổi là những đầu vào có thể dễ dàng thay đổi được
Khoảng thời gian mà trong đó ít nhất một đầu vào cố định được gọi là ngắn hạn, còn khoảng thời gian mà trong đó tất cả các đầu vào đều biến đổi được gọi là dài hạn Độ dài của thời hạn phụ thuộc vào ngành Trong ngắn hạn doanh nghiệp có thể tăng sản lượng bằng việc
sử dụng nhiều hơn đầu vào biến đổi cùng với các đầu vào cố định Trong dài hạn doanh nghiệp có thể thay đổi quy mô nhà máy và máy móc thiết bị Trong dài hạn công nghệ thường được cải tiến do đó có thể đạt được nhiều sản phẩm hơn từ một lượng đầu vào đã cho, hoặc cùng một mức sản lượng với ít đầu vào hơn
Hàm sản xuất là một phương trình, một bảng số liệu hoặc một hình biểu thị số lượng
sản phẩm cực đại mà một doanh nghiệp có thể sản xuất ra trong một thời kỳ bằng mỗi tập hợp đầu vào Công nghệ được giả định là giữ nguyên trong suốt thời kỳ phân tích
Để đơn giản ta giả định doanh nghiệp chỉ sản xuất một sản phẩm bằng hai đầu vào lao động (L) và tư bản (K) Như vậy phương trình tổng quát của hàm sản xuất dạng này là : Q = f(K,L);
KINH TẾ QUẢN LÝ
Chương 3 – Sản xuất – Chi phí: Lý thuyết và ước lượng
28
Trang 29KINH TẾ QUẢN LÝ
Chương 3 – Sản xuất – Chi phí: Lý thuyết và ước lượng 29
Số lượng sản phẩm (Q) là một hàm số của số lượng lao động và tư bản sử dụng trong sản xuất: “lao động” là số công nhân sử dụng, “tư bản” là lượng máy móc thiết bị sử dụng trong sản xuất Giả định tất cả các đơn vị lao động và tư bản là đồng nhất
Ví dụ ở bảng 3.1 cho 1 hàm số giả thiết biểu thị các mức sản lượng (Q) mà một doanh nghiệp có thể sản xuất ra bằng các kết hợp đầu vào tư bản (K) và lao động (L) khác nhau
Bảng 3.1 Hàm sản xuất với hai đầu vào biến đổi
Hàm sản xuất được giả định là có một số tính chất sau :
+ Cả K và L đều có thể chia nhỏ đến vô cùng và là những biến độc lập
+ Hàm sản xuất là hàm liên tục do đó sản lượng tăng dần khi K hoặc L, hoặc cả 2 tăng
2 Hàm sản xuất với một đầu vào biến đổi
thay đổi số lượng đầu vào kia thì ta có thể rút ra tổng sản phẩm (TP) của đầu vào biến đổi Như biểu thị ở bảng 4.1, nếu giữ nguyên số lượng tư bản là 1 đơn vị và cho số lượng lao động thay đổi từ 1 đến 6 thì tổng sản phẩm của lao động được cho ở dòng cuối cùng của bảng đó
Từ biểu số liệu tổng sản phẩm ta có thể xác định được sản phẩm trung bình và sản phẩm cận biên của lao động Sản phẩm trung bình (APL) bằng tổng sản phẩm chia cho số lượng lao
một đơn vị thay đổi trong số lượng lao động sử dụng gây ra Nghĩa là :
APL = TP/L
MPL = Δ TP/ Δ L Bảng 3.2 cho ta tổng sản phẩm, sản phẩm trung bình và sản phẩm cận biên của lao động với các số liệu từ hàm sản xuất cho ở bảng 4.1
Trang 30Sản phẩm trung bình của lao động
Sản phẩm cận biên của lao động
và sản phẩm cận biên của lao động
Mối quan hệ và xu hướng vận động của tổng sản phẩm, sản phẩm trung bình và sản
phẩm cận biên được minh hoạ trên đồ thị ở hình 3.1 khi vẽ các đường tổng sản phẩm, sản
phẩm trung bình và sản phẩm cận biên của lao động tương ứng
Trang 31Từ hình trên ta thấy lúc đầu tổng sản phẩm tăng lên do đó sản phẩm cận biên tăng Sau đó sản phẩm cận biên giảm dần Phần dốc xuống của đường sản phẩm cận biên phản ánh quy luật năng suất cận biên (hiệu suất) giảm dần Nội dung của quy luật được phát biểu như sau: khi sử dụng ngày càng nhiều một số lượng đầu vào biến đổi với một lượng đã cho đầu vào cố định thì sau một thời điểm nào đó hiệu suất của đầu vào biến đổi sẽ giảm dần
Mối quan hệ giữa sản phẩm trung bình và sản phẩm cận biên có thể sử dụng để định nghĩa các giai đoạn của quá trình sản xuất đối với lao động (đầu vào biến đổi) Từ gốc toạ độ đến điểm cực đại của sản phẩm trung bình là giai đoạn I của quá trình sản xuất đối với lao động khi tổng sản phẩm và sản phẩm trung bình đang tăng nhưng sản phẩm cận biên tương ứng đã giảm xuống Giai đoạn II của quá trình sản xuất đối với lao động là nối tiếp giai đoạn I đến khi sản phẩm cận biên bằng 0 Phần mà sản phẩm cận biên âm là giai đoạn III của quá trình sản xuất đối với lao động vì sản phẩm cận biên của nó âm, ngay cả khi lao động được sử dụng miễn phí Tương tự, cũng không nên hoạt động ở giai đoạn I của quá trình sản xuất đối với lao động vì nó tương ứng với giai đoạn III của tư bản Như vậy, người quản lý hợp lý sẽ hoạt động ở giai đoạn II của quá trình sản xuất đối với lao động Ở đó sản phẩm cận biên của
cả 2 yếu tố đều dương nhưng đang giảm Tất nhiên điểm chính xác mà người quản lý sẽ chọn
là điểm nào trong giai đoạn này còn phụ thuộc vào giá các đầu vào
3 Sử dụng tối ưu đầu vào biến đổi
Để tối đa hoá lợi nhuận doanh nghiệp phải mở rộng việc sử dụng lao động cho đến tận khi một đơn vị lao động sử dụng thêm đem lại doanh thu thêm được từ việc bán các sản phẩm
mà đơn vị lao động đó tạo ra bằng chi phí bỏ thêm để thuê đơn vị lao động đó
Doanh thu thêm được từ việc sử dụng thêm một đơn vị lao động gọi là sản phẩm
nhân với doanh thu cận biên thu được từ việc bán sản phẩm sản xuất thêm :
Chi phí bỏ thêm để thuê thêm một đơn vị hay chi phí tài nguyên cận biên của lao động
Như vậy doanh nghiệp phải thuê lao động cho đến khi :
và đây chính là điều kiện để doanh nghiệp tối đa hoá lợi nhuận của mình
Để minh hoạ xem xét ví dụ đơn giản sau đây Giả sử một doanh nghiệp bán sản phẩm của mình trong thị trường cạnh tranh hoàn hảo (chấp nhận giá 10$/ đơn vị sản phẩm) và thuê lao động trong thị trường lao động cạnh tranh hoàn hảo (với giá đầu vào không đổi hay giá thuê lao động là 20$), khi đó ta có sản phẩm doanh thu cận biên của lao động và chi phí tài nguyên cận biên của lao động được cho ở bảng 4.3
Số lượng lao động tối ưu doanh nghiệp thuê là 3,5 đơn vị lao động
KINH TẾ QUẢN LÝ
Chương 3 – Sản xuất – Chi phí: Lý thuyết và ước lượng 31
Trang 32Doanh thu cận biên = P
Sản phẩm doanh thu cận biên
Chi phí tài nguyên cận biên
vào K và L có thể được biểu thị
bằng đường đồng lượng trên đồ
thị Một đường đồng lượng biểu
thị những kết hợp đầu vào khác
nhau mà doanh nghiệp có thể sử
dụng để sản xuất ra mức sản
lượng nhất định Đường đồng
lượng cao hơn biểu thị mức sản
lượng cao hơn, đường đồng lượng
thấp hơn biểu thị mức sản lượng
thấp hơn Biểu thị các số liệu ở
ý nghĩa (dốc lên) của các đường đồng lượng Đường OVI nối tất cả các điểm có độ dốc bằng không của các đường đồng lượng Các điểm ở phía phải của đường này cho thấy MPL là âm, tương ứng với giai đoạn III của sản xuất đối với lao động Đường OZI nối tất cả các điểm có
độ dốc bằng vô cùng của các đường đồng lượng Các điểm nằm ở phía trái của đường đồng lượng có MPK là âm, tương ứng với giai đoạn III của sản xuất đối với tư bản
12Q
Trang 33KINH TẾ QUẢN LÝ
Chương 3 – Sản xuất – Chi phí: Lý thuyết và ước lượng 33
Như vậy phần dốc xuống của đường đồng lượng nằm ở trong đường vòng biểu thị khu vực kinh tế của sản xuất Đó là giai đoạn II của sản xuất đối với lao động và tư bản, ở đó cả
bên ngoài khu vực này
Tỷ lệ thay thế kỹ thuật cận biên
Trong khu vực kinh tế, các đường đồng lượng dốc xuống dưới Điều này có nghĩa là nếu doanh nghiệp muốn giảm số lượng tư bản sử dụng trong sản xuất thì phải tăng số lượng lao động để vẫn ở trên đường đồng lượng cũ Giá trị tuyệt đối của độ dốc của đường đồng lượng gọi là tỷ lệ thay thế kỹ thuật cận biên (MRTS) Vận động dọc theo đường đồng lượng xuống phía dưới tỷ lệ thay thế kỹ thuật cận biên của lao động cho tư bản là -ΔK/ΔL MRTS
đều biểu thị cùng một mức sản lượng Như vậy vận động dọc theo đường đồng lượng xuống phía dưới thì lượng sản phẩm được thêm do sử dụng thêm lao động phải bằng lượng sản phẩm
bị mất do sử dụng ít tư bản hơn trước Cụ thể là phần tăng thêm trong lượng lao động (ΔL)
(ΔL).(MPL) = - (ΔK).(MPK)
Do đó
Trong khu vực kinh tế các đường đồng lượng không những là có độ dốc âm mà còn lồi
so với gốc toạ độ Lý do là khi vận động xuống phía dưới dọc theo đường đồng lượng thì
vậy độ dốc của đường đồng lượng và MRTS giảm dần
5 Kết hợp đầu vào tối ưu
Trang 34Trong đó TC là tổng chi phí, w là mức lương giờ của lao động, L là số lượng lao động sử dung, r là giá thuê tư bản, K là số lượng tư bản Phương trình trên là phương trình tổng quát
của đường đồng phí Nó biểu thị những kết hợp tư bản và lao động khác nhau mà doanh nghiệp sử dụng với một tổng chi phí đã cho Độ dốc của đường đồng phí là tỷ lệ giá của hai đầu vào Bởi vì phương trình đường đồng phí có thể viết lại là :
K = TC/r - w/r.L Kết hợp đầu vào tối ưu để tối thiểu hoá chi phí hoặc tối đa hoá sản lượng
Kết hợp đầu vào tối ưu để doanh nghiệp tối thiểu hoá chi phí hoặc tối đa hoá sản lượng nằm ở tiếp điểm giữa đường đồng lượng và đường đồng phí Tại đó độ dốc của đường đồng lượng bằng độ dốc của đường đồng phí :
L
K
Như vậy để tối thiểu hoá chi phí sản xuất (hay tối đa hoá sản lượng) tỷ số giữa sản phẩm hiện vật cận biên của lao động trên một đơn vị chi phí đầu vào lao động phải bằng tỷ số giữa sản phẩm cận biên của tư bản trên một đơn vị chi phí đầu vào tư bản
Tối đa hoá lợi nhuận
Để tối đa hoá lợi nhuận doanh nghiệp phải sử dụng mỗi đầu vào cho đến khi sản phẩm doanh thu cận biên của một đầu vào bằng chi phí tài nguyên của đầu vào đó Với giá đầu vào không đổi doanh nghiệp có thể sử dụng một đầu vào cho đến khi sản phẩm doanh thu cận biên của nó bằng giá phải trả cho nó Như vậy để tối đa hoá lợi nhuận của việc sử dụng các đầu vào lao động và tư bản doanh nghiệp phải sử dụng cho đến khi :
Trang 356 Hiệu suất của quy mô
“Hiệu suất của quy mô” đề cập đến mức độ thay đổi của sản lượng do sự thay đổi trong lượng các đầu vào sử dụng trong quá trình sản xuất gây ra Có 3 loại hiệu suất của quy mô: không đổi, tăng và giảm Nếu số lượng tất cả các đầu vào sử dụng tăng lên một tỷ lệ nhất định, sản lượng cũng tăng lên một tỷ lệ đúng bằng thế thì quá trình sản xuất biểu thị hiệu suất không đổi của quy mô, nếu sản lượng tăng lớn hơn tỷ lệ đó thì quá trình sản xuất có hiệu suất tăng của quy mô, nếu sản lượng tăng lên một tỷ lệ nhỏ hơn thế thì quá trình sản xuất có hiệu suất giảm của quy mô Nghĩa là với hàm sản xuất tổng quát :
mô, còn ở các mức sản lượng lớn thì xảy ra điều ngược lại
7 Công nghệ và tính cạnh tranh quốc tế
Đổi mới là yếu tố quan trọng nhất đối với tính cạnh tranh dài hạn của doanh nghiệp cả
ở trong và ngoài nước Về cơ bản có 2 kiểu đổi mới : đổi mới sản phẩm (đưa ra sản phẩm mới hoặc sản phẩm cải tiến) và đổi mới quá trình (đưa ra quá trình sản xuất mới hoặc cải tiến quá
trình sản xuất cũ) Phần lớn các đổi mới đều là đổi mới dần dần và gồm những cải tiến nhỏ ít nhiều có tính liên tục về sản phẩm hoặc quá trình chứ không phải là sự đột phá công nghệ
KINH TẾ QUẢN LÝ
Chương 3 – Sản xuất – Chi phí: Lý thuyết và ước lượng 35
Trang 36Hơn nữa, phần lớn các đổi mới đều gồm việc hiện thực hoá về mặt thương mại các ý tưởng có thể là của nhiều năm trước
phẩm cải tiến đòi hỏi một bản đồ đồng lượng mới biểu thị các kết hợp đầu vào khác nhau tạo
ra mỗi mức sản lượng của sản phẩm mới hoặc sản phẩm cải tiến đó Còn đổi mới quá trình có thể được biểu thị bằng sự dịch chuyển của đường đồng lượng về phía gốc toạ độ Điều đó thể hiện mỗi mức sản lượng có thể được sản xuất ra bằng cách sử dụng các đầu vào ít hơn trước Doanh nghiệp phải không ngừng đổi mới một cách tích cực thì mới có thể tránh được bị các doanh nghiệp khác thôn tính
II CHI PHÍ NGẮN HẠN VÀ DÀI HẠN
Các phân tích trên đây đã chỉ ra số lượng mỗi yếu tố sản xuất cần sử dụng để tối thiểu hoá chi phí cho mỗi mức sản lượng cụ thể, với giả định là số lượng đầu vào tư bản và lao động
có thể thay đổi nhưng giá các đầu vào và công nghệ vẫn giữ nguyên Mỗi kết hợp mức sản lượng và chi phí tạo ra một điểm trên đường chi phí dài hạn của doanh nghiệp Nếu thực hiện cho nhiều mức sản lượng khác nhau ta sẽ thu được đường tổng chi phí dài hạn Dạng của đường tổng chi phí và chi phí trung bình dài hạn phụ thuộc vào hiệu suất của quy mô mà hàm sản xuất biểu thị Nếu có hiệu suất tăng của quy mô thì đường chi phí trung bình dài hạn sẽ dốc xuống dưới Nếu có hiệu suất giảm của quy mô thì đường chi phí trung bình dài hạn sẽ dốc lên và có hiệu suất không đổi của quy mô thì đường chi phí trung bình dài hạn sẽ nằm ngang
Trong ngắn hạn đầu vào tư bản là cố định Tổng chi phí ngắn hạn là tổng chi phí của kết hợp đầu vào tối ưu ở tiếp điểm giữa đường đồng lượng và đường đồng phí Các yếu tố xác định chi phí ở đây là sự chia nhỏ chi phí cố định cho một số lượng sản phẩm lớn và hiệu suất giảm dần
1 Các đường chi phí ngắn hạn
Các đường chi phí ngắn hạn được biểu thị trong hình 3.5
ra đường chi phí cố định trung bình (AFC) dốc xuống Chi phí biến đổi (VC) tăng dần, độ dốc lúc đầu giảm (biểu thị chi phí cận biên giảm) và sau đó tăng (biểu thị chi phí cận biên tăng) tạo ra đường chi phí biến đổi trung bình (AVC) lúc đầu giảm sau đó tăng Kết hợp chi phí cố định trung bình và chi phí biến đổi trung bình cho đường tổng chi phí trung bình (ATC) hình chữ U và cắt đường chi phí cận biên (MC) ở điểm tối thiểu
KINH TẾ QUẢN LÝ
Chương 3 – Sản xuất – Chi phí: Lý thuyết và ước lượng
36
Trang 372 Các đường chi phí dài hạn
Trong dài hạn doanh nghiệp có thể tự do lựa chọn bất kỳ kết hợp đầu vào nào mà doanh nghiệp cho rằng có lợi nhất và trong dài hạn doanh nghiệp phải quan tâm đến các quyết định đầu tư
Hình 3.6 Đường chi phí dài hạn
Các chi phí trong dài hạn chủ yếu phụ thuộc vào tính kinh tế của quy mô mà các kết hợp nhà máy và máy móc thiết bị lớn hơn có được
Có thể dựng được các đường chi phí dài hạn từ một tập hợp các đường chi phí ngắn hạn Vì mỗi đường chi phí ngắn hạn biểu thị cách thức thay đổi của chi phí khi doanh nghiệp có một mức cố định đầu vào tư bản (hoặc bị hạn chế ở một kết hợp nhà máy và thiết bị đã cho), nên dài hạn có thể coi là thời hạn mà doanh nghiệp lựa chọn tự đặt mình trên đường chi phí ngắn hạn nào Như vậy đường chi phí trung bình dài hạn được tạo bởi các đoạn của các đường chi
Q C
AB
D•
O
Q C
Q1
Trang 38KINH TẾ QUẢN LÝ
Chương 3 – Sản xuất – Chi phí: Lý thuyết và ước lượng
38
phí ngắn hạn như hình 3.6
hợp nhà máy và máy móc thiết bị trong một ngành mà ở đó chỉ có 3 kết hợp nhà máy và máy
trong trường hợp này chúng ta đã giả định các yếu tố sản xuất có thể chia nhỏ đến vô cùng, vì thế lượng tư bản sử dụng có thể tăng thêm những phần rất nhỏ, tạo ra vô số các kết hợp nhà máy, máy móc thiết bị Trong trường hợp đó có vô số các đường chi phí trung bình ngắn hạn
và đường chi phí trung bình dài hạn sẽ trở thành đường trơn và liên tục Mỗi điểm trên đường chi phí trung bình dài hạn tương ứng với một điểm trên đường chi phí trung bình ngắn hạn Đường chi phí trung bình dài hạn là đường bao của các đường chi phí trung bình ngắn hạn
3 Mối quan hệ giữa các chi phí ngắn hạn và dài hạn
Chúng ta có thể coi chi phí ngắn hạn gắn với quá trình sản xuất có một nhà máy Nếu nhà doanh nghiệp muốn tăng sản lượng trong một thời gian dài hơn, có thể cần phải xây dựng thêm nhà máy thứ hai, và sau đó là nhà máy thứ ba, thứ tư v.v , như thế chúng ta có chi phí ngắn hạn gắn với mỗi một trong các nhà máy này Do đó sẽ có một loạt các đường chi phí ngắn hạn gắn với mỗi mức tư bản sử dụng trong sản xuất Quan hệ giữa những đường này với các đường chi phí dài hạn của hãng có thể lý giải như sau
Hình 3.7 Tổng chi phí ngắn hạn và dài hạn
Trong hình 3.7, đường tổng chi phí ngắn hạn cho một mức cụ thể của tư bản sẽ tiếp
suy ra mối quan hệ giữa các chi phí cận biên và các chi phí trung bình ngắn hạn và dài hạn Nghĩa là ở các mức sản lượng khác tổng chi phí và chi phí trung bình trong ngắn hạn cao hơn trong dài hạn
LTC STC
CBA
FC(K1) Chi phí
Sản lượng
Trang 39KINH TẾ QUẢN LÝ
Chương 3 – Sản xuất – Chi phí: Lý thuyết và ước lượng 39
Hình 3.8: Quan hệ giữa chi phí ngắn hạn và dài hạn
Thứ hai, ở hình 3.7, vì độ dốc của hai đường tổng chi phí bằng nhau ở điểm A tại sản lượng
trái điểm A, đường tổng chi phí trung bình dài hạn có độ dốc lớn hơn đường tổng chi phí trung bình ngắn hạn và ở bên phải thì ngược lại Từ đó chúng ta có thể suy ra rằng đường chi phí cận biên ngắn hạn cắt đường chi phí cận biên dài hạn ở phía bên dưới và bên trái sản lượng Q1 như biểuthị ở hình 3.8
4 Các hàm chi phí tuyến tính và phân tích hoà vốn
4.1 Các hàm chi phí tuyến tính
Các hàm chi phí nghiên cứu trên đây đều là các hàm phi tuyến suy ra từ các nguyên lý kinh tế cơ bản hiện thân trong hàm sản xuất và các khái niệm kinh tế như nguyên lý hiệu suất giảm dần Nhiều nhà kinh tế cho rằng đây là các dạng thích hợp nhất của các đường chi phí Nhưng các phương pháp ra quyết định trong kinh doanh, bao gồm cả những phương pháp được các nhà kế toán sử dụng là lấy các đường chi phí biến đổi trung bình tuyến tính Cơ sở lý thuyết cho các hàm này là không chắc chắn nhưng chúng lại thường được sử dụng trong xác định chi phí để phân tích hoà vốn Các đường FC, VC, TC là những đường thẳng, AVC = const, do đó MC = AVC, ATC = AVC + AFC nên các đường AFC và ATC đều dốc xuống Tất nhiên khi sử dụng các nhà quản lý và kế toán biết những hạn chế của các hàm chi phí tuyến tính này do đó chỉ áp dụng cho một số các đường chi phí chứ không phải cho tất cả
Trang 40Cận biên an toàn = Doanh thu bán hàng thực tế - Doanh thu bán hàng hoà vốn Đôi khi các nhà
kế toán dùng tỷ số cận biên an toàn :
Kết quả thu được từ phương pháp phương trình cũng đúng như thế
Lợi nhuận = Doanh thu bán hàng - Chi phí biến đổi - Chi phí cố định
0 = P.Q - AVC.Q - FC
P - AVC Mẫu số của vế trái của phương trình trên là “đóng góp trên một đơn vị sản phẩm” hay