1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Bài tập lớn môn sở hữu trí tuệ

20 2 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bài tập lớn môn sở hữu trí tuệ
Trường học Trường Đại Học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Sở hữu trí tuệ
Thể loại Bài tập lớn
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 49,87 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Câu 1: So sánh nhãn hiệu và tên thương mại?Câu 2: Cơ sở Thái Hưng đã chế tạo và sản xuất ra sản phẩm bút bi đặc biệt khiến bi trơn hơn và ra mực đều hơn. Điểm mấu chốt của chiếc bút bi này là tạo ra khoảng trống giữa viên bi và đầu bút bi – áp dụng nguyên tắc phổ biến trong ngành sản xuất bút bi là thông khí hai đầu của một chất lỏng (mực) để mực chảy đều hơn. Sau 1 năm bán sản phẩm ra thị trường, thấy sản phẩm được người tiêu dùng ưa chuộng, cơ sở Thái Hưng mới nảy sinh ý định đăng ký sáng chế. Theo anh (chị), Cơ sở Thái Hưng có thể đăng ký sáng chế đối với sản phẩm bút bi đặc biệt này không? Tại sao?

Trang 1

ĐỀ BÀI: SỐ 6

Câu 1: So sánh nhãn hiệu và tên thương mại?

Câu 2: Cơ sở Thái Hưng đã chế tạo và sản xuất ra sản phẩm bút bi đặc biệt khiến

bi trơn hơn và ra mực đều hơn Điểm mấu chốt của chiếc bút bi này là tạo ra khoảng trống giữa viên bi và đầu bút bi – áp dụng nguyên tắc phổ biến trong ngành sản xuất bút

bi là thông khí hai đầu của một chất lỏng (mực) để mực chảy đều hơn Sau 1 năm bán sản phẩm ra thị trường, thấy sản phẩm được người tiêu dùng ưa chuộng, cơ sở Thái Hưng mới nảy sinh ý định đăng ký sáng chế

Theo anh (chị), Cơ sở Thái Hưng có thể đăng ký sáng chế đối với sản phẩm bút

bi đặc biệt này không? Tại sao?

Trang 2

Câu 1: So sánh nhãn hiệu và tên thương mại?

MỞ ĐẦU

Hằng ngày, có rất nhiều hàng hóa mới xuất hiện trên thị trường Bạn quan tâm đến điều gì khi bạn muốn mua một sản phẩm nào đó? Điều gì khiến bạn mua sản phẩm đó?

Ấn tượng tổng thể tốt, thương hiệu nổi tiếng, kiểu dáng bắt mắt Không ai có thể phủ nhận đó là những yếu tố quan trọng tác động đến người mua Ta có thể thấy, nhãn hiệu

và tên thương mại là hai đối tượng hoàn toàn khác nhau về bản chất nhưng nhiều người vẫn hay thường bị nhầm lẫn giữa nhãn hiệu và tên thương mại Vậy giữa nhãn hiệu và tên thương mại có những điểm giống nhau gì làm nhiều người vẫn hay bị nhầm lẫn và muốn phân biệt chúng với nhau thì dựa trên những tiêu chí nào Để làm rõ hơn vấn đề

này em xin chọn đề “So sánh nhãn hiệu và tên thương mại” làm đề bài viết bài tiểu

luận của mình

NỘI DUNG

I Một số vấn đề lý luận về nhãn hiệu và tên thương mại.

1 Khái niệm nhãn hiệu:

Tất cả chúng ta đều được tiếp xúc với hàng trăm nhãn hiệu hằng ngày Nhãn hiệu được nhìn thấy trên hầu hết các sản phẩm, gắn trên bản mô tả sản phẩm và bao bì sản phẩm Là khách hàng, chúng ta có thể đưa ra nhiều quyết định, đôi khi những quyết định đó được đưa ra theo ý chí chủ quan, thậm chí chẳng cần nhìn thấy sản phẩm, mà dựa vào danh tiếng và uy tín của nhãn hiệu Vậy, nhãn hiệu là gì?

Theo quy định tại Khoản 16 Điều 4 Luật sở hữu trí tuệ được sửa đổi bổ sung năm

2009 (sau đây gọi là Luật sở hữu trí tuệ) thì: “Nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt,

hàng hóa, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau”.

Nhìn chung, nhãn hiệu là dấu hiệu có thể nhìn thấy được và có khả năng phân biệt, dưới dạng từ ngữ, chữ cái, con số, hình vẽ, ảnh, hình dạng, màu sắc, biểu trưng, nhãn hàng hoặc sự kết hợp của một hoặc nhiều các dấu hiệu này "Nhãn hiệu" là thuật ngữ để chỉ chung nhãn hiệu hàng hóa và nhãn hiệu dịch vụ Với chức năng của công cụ

Trang 3

marketing - truyền đạt tới người tiêu dùng uy tín của sản phẩm dịch vụ mang nhãn hiệu được hình thành bởi trí tuệ mà doanh nghiệp đầu tư cho sản phẩm dịch vụ đó - nhãn hiệu được pháp luật coi là tài sản trí tuệ của doanh nghiệp.1

Khác với Luật SHTT Việt Nam, Luật Châu Âu và Luật Hoa Kỳ quy định mở hơn đối với các dấu hiệu có thể làm nhãn hiệu Đó là bất kỳ dấu hiệu nào có khả năng phân biệt chứ không chỉ bó hẹp ở các dấu hiệu nhìn thấy được như Luật SHTT của Viêt Nam Do đó, các dấu hiệu không thông dụng (unusual) như mùi vị, âm thanh… cũng có khả năng được đăng ký là nhãn hiệu

Ta có thể thấy, nếu theo quy định tại Điều 4 Luật SHTT (giải thích từ ngữ) thì sẽ

bị hiểu rằng dấu hiệu chỉ cần đáp ứng chức năng phân biệt là đủ để được đăng ký nhãn hiệu, trong khi Luật SHTT Việt Nam chỉ chấp nhận các dấu hiệu nhìn thấy được Do

đó, thay vì việc giải thích từ ngữ, Luật SHTT Việt Nam nên xây dựng khái niệm nhãn hiệu để tránh các cách hiểu không thống nhất Luật SHTT không nên chỉ quy định dấu hiệu nhìn thấy được tức là qua thị giác mà nên quy định các dấu hiệu có khả năng phân biệt được qua cả các giác quan khác Bởi vì, Việt Nam đang ngày càng hội nhập sâu rộng với thế giới, các công ty nước ngoài vào Việt Nam đầu tư ngày càng nhiều và như vậy, số lượng đơn đề nghị bảo hộ nhãn hiệu ngày càng tăng Đó là chưa kể khi trình độ dân trí càng cao thì khả năng xuất hiện những nhân tố mới là rất có thể. 2

2 Khái niệm tên thương mại:

Không phải là hàng hóa nhưng tên thương mại lại có ý nghĩa rất lớn trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Tên thương mại là một trong những đối tượng cơ bản của quyền sở hữu công nghiệp, vì vậy, pháp luật rất nhiều quốc gia trên thế giới và pháp luật Việt Nam hiện nay luôn coi trọng việc bảo hộ tên thương mại Tuy nhiên, khái niệm tên thương mại vấn chưa được hiểu thống nhất ở các quốc gia Cho đến nay, chỉ có một Điều ước quốc tế đa phương duy nhất đề cập trực tiếp đến vấn đề bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với tên thương mại – đó là Công ước Paris năm 1883 Nhưng Công ước này không đưa ra một định nghĩa cụ thể về tên thương mại Tên thương mại là một khái niệm được sử dụng trong các văn bản và trong thực tiễn pháp

1http://www.noip.gov.vn/web/noip/home/vn?proxyUrl=/noip/cms_vn.nsf/(agntDisplayContent)?

OpenAgent&UNID=AA7EB0F27C8C2DEA472577730012502A

2 https://luatminhkhue.vn/kien-thuc-luat-so-huu-tri-tue/xay-dung-khai-niem-nhan-hieu-trong-luat-so-huu-tri-tue.aspx

Trang 4

luật Việt Nam, nó tương đương với khái niệm Tiếng Anh trong luật quốc tế là

“Tradename” Không nên nhầm lẫn tên thương mại với nhãn hiệu hàng hóa (Trademark), cũng không nên nhầm lẫn tên thương mại với thương hiệu

Theo quy định tại Khoản 21 Điều 4 Luật SHTT thì: “Tên thương mại là tên gọi

của tổ chức, cá nhân dùng trong hoạt động kinh doanh để phân biệt chủ thể kinh doanh mang tên gọi đó với chủ thể kinh doanh khác trong cùng lĩnh vực và khu vực kinh doanh” Ở đây, ta có thể hiểu lĩnh vực kinh doanh là một mảng của nền kinh tế mà ở đó chủ thể kinh doanh tiến hành các hoạt động kinh doanh của mình để thu lợi nhuận Còn khu vực kinh doanh là là khu vực địa lý nơi chủ thể kinh doanh có bạn hàng, khách hàng, hoặc danh tiếng.

Ví dụ: Tên thương mại: Công ty cổ phần bánh kẹo Hải Châu, Công ty TNHH sữa Mộc Châu… Ta thấy, Công ty CP hay Công ty TNHH là mô tả loại hình tổ chức, “bánh kẹo”, “sữa” – là chỉ lĩnh vực sản xuất, kinh doanh; “Hải Châu” hay “Mộc Châu” sẽ là tên riêng, tên để phân biệt chủ thể kinh doanh

II Sự giống và khác nhau giữa nhãn hiệu và tên thương mại:

1 Sự giống nhau:

- Thứ nhất, nhãn hiệu và tên thương mại đều là đối tượng của quyền sở hữu công

nghiệp, đều thuộc nhóm chỉ dẫn thương mại có chức năng phân biệt nguồn gốc hàng hóa, dịch vụ Thường được gắn trên hàng hóa, bao bì, biển hiệu, giấy tờ giao dịch…

- Thứ hai, nhãn hiệu và tên thương mại đều phải là những dấu hiệu nhìn thấy

được

- Thứ ba, nhãn hiệu và tên thương mại đều phải có khả năng phân biệt, đều không

được trùng với nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lí của người khác được xác lập trước

2 Sự khác nhau giữa nhãn hiệu và tên thương mại:

* Nhãn hiệu và tên thương mại nói chung đều là đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp, hay nói rộng hơn là quyền sở hữu trí tuệ Sở hữu những đối tượng này tức là

Trang 5

nắm trong tay quyền về sở hữu trí tuệ Tuy vậy, đối với mỗi đối tượng khác nhau, cách thể hiện quyền cũng khác nhau, do đó cần thiết phân biệt hai đối tượng này để việc xác lập và sử dụng quyền được hiệu quả nhất Sự khác biệt của 2 đối tượng này ta có thể nhận biết thông qua các tiêu chí sau:

2.1.Chức năng:

Theo khái niệm nêu trên thì ta có thể thấy:

- Nhãn hiệu có chức năng dùng để phân biệt, hàng hóa, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau với nhau, ta có thể thấy, chức năng của nhãn hiệu gắn với hàng hóa, dịch vụ

- Còn chức năng của tên thương mại là để phân biệt chủ thể kinh doanh mang tên gọi đó với chủ thể kinh doanh khác trong cùng lĩnh vực và khu vực kinh doanh; ta có thể thấy, chức năng của tên thương mại gắn với chủ thể kinh doanh

2.2 Dấu hiệu :

Khoản 1 Điều 72 Luật SHTT quy định:

“Nhãn hiệu được bảo hộ nếu đáp ứng các điều kiện sau đây:

1 Là dấu hiệu nhìn thấy được dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh, kể cả hình ba chiều hoặc sự kết hợp các yếu tố đó, được thể hiện bằng một hoặc nhiều mầu sắc.”…

Theo khoản 1 Điều 78 Luật SHTT thì:

“Tên thương mại được coi là có khả năng phân biệt nếu đáp ứng các điều kiện sau đây:

1 Chứa thành phần tên riêng, trừ trường hợp đã được biết đến rộng rãi do sử dụng.”…

Từ các quy định trên ta có thể thấy các dấu hiệu được sử dụng làm nhãn hiệu và tên thương mại có sự khác nhau

Trang 6

- Đối với nhãn hiệu, các dấu hiệu được sử dụng làm nhãn hiệu bao gồm chữ cái, từ

ngữ, hình ảnh, kể cả hình ba chiều hoặc sự kết hợp giữa hình và chữ Với nhãn hiệu có

thể bảo hộ cách trình bày, mầu sắc, kiểu chữ…

- Còn đối với tên thương mại dấu hiệu được sử dụng làm tên thương mại chỉ là từ ngữ Với tên thương mại chỉ bảo hộ cách gọi

2.3 Căn cứ xác lập quyền :

Điểm a Khoản 3 Điều 6 Luật SHTT quy định:

“… nhãn hiệu…được xác lập trên cơ sở quyết định cấp văn bằng bảo hộ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo thủ tục đăng ký quy định tại Luật này hoặc công nhận đăng ký quốc tế theo quy định của điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên; đối với nhãn hiệu nổi tiếng, quyền sở hữu được xác lập trên cơ sở sử dụng, không phụ thuộc vào thủ tục đăng ký”.

Điểm b Khoản 3 Điều 6 Luật SHTT quy định:

“ Quyền sở hữu công nghiệp đối với tên thương mại được xác lập trên cơ sở sử dụng hợp pháp tên thương mại đó”.

Về căn cứ xác lập quyền ta có chỉ ra sự khác biệt giữa nhãn hiệu và tên thương thương mại từ các quy định trên như sau:

- Căn cứ xác lập quyền đối với nhãn hiệu: Quyền sở hữu đối với nhãn hiệu có thể được xác lập thông qua hai cơ chế là đăng ký với cơ quan có thẩm quyền hoặc tự động xác lập khi đáp ứng một số điều kiện nhất định Hiện nay, cơ chế tự động chỉ được áp dụng đối với nhãn hiệu nổi tiếng là nhãn hiệu được người tiêu dùng biết đến rộng rãi trên toàn lãnh thổ Việt Nam Các nhãn hiệu nổi tiếng thường là các nhãn hiệu đã tồn tại lâu đời, được sử dụng rộng rãi trên nhiều quốc gia và được nhiều người biết đến Chủ

sở hữu nhãn hiệu nổi tiếng không cần phải tiến hành đăng ký bảo hộ đối với nhãn hiệu của mình. 

Đối với các nhãn hiệu thông thường, quyền sở hữu chỉ được xác lập khi tiến hành

đăng ký nhãn hiệu với cục SHTT Quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu sẽ được

Trang 7

xác lập trên cơ sở quyết định cấp văn bằng bảo hộ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo thủ tục đăng ký Các quy định pháp luật hiện nay về bảo hộ nhãn hiệu áp

dụng nguyên tắc nộp đơn đầu tiên, để chấp nhận bảo hộ nhãn hiệu của người đăng ký trước dựa vào ngày nộp đơn Hay nói cách khác, trong trường hợp có nhiều người nộp đơn khác nhau cùng đăng ký các nhãn hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn, người đăng ký trước sẽ được xem xét cấp văn bằng bảo hộ nếu đáp ứng đầy đủ điều kiện quy định của pháp luật

Ngoài ra, do Việt Nam là thành viên của Thỏa ước Madrid, pháp luật SHTT Việt Nam cũng áp dụng nguyên tắc quyền ưu tiên Theo đó, nếu một người đã nộp đơn hợp

lệ lần đầu tiên tại một quốc gia thành viên khác của Thỏa ước Madrid về đăng ký nhãn hiệu Quốc tế có thể nộp đơn yêu cầu bảo hộ nhãn hiệu đó tại Việt Nam và đơn nộp sau

đó được coi như nộp cùng ngày với đơn đầu tiên Nguyên tắc này cũng được áp dụng trong trường hợp doanh nghiệp Việt Nam muốn đăng ký nhãn hiệu tại một quốc gia khác là thành viên của Nghị định thư Madrid

- Cũng do tên thương mại thường là thành phần tên riêng của tên doanh nghiệp hoặc được sử dụng thường xuyên trong hoạt động kinh doanh của mỗi chủ thể kinh doanh, nên quyền sở hữu tên thương mại được xác lập trên cơ sở thực tiễn sử dụng hợp pháp tên thương mại đó tương ứng với khu vực và lãnh thổ kinh doanh, mà không cần

thực hiện thủ tục đăng ký tên thương mại đó tại Cục Sở hữu trí tuệ Cho nên, căn cứ

xác lập quyền đối với tên thương mại được xác lập trên cơ sở sử dụng hợp pháp tên thương mại đó. Điều này hoàn toàn khác với việc xác lập quyền sở hữu trí tuệ đối với nhãn hiệu (như đã nói ở trên) - đối tượng này cần phải đăng ký mới được bảo hộ

Vậy, như thế nào là sử dụng hợp pháp tên thương mại? Ở đây, sử dụng hợp pháp

chính là tên thương mại đó phải đáp ứng các điều kiện bảo hộ quy định tại Điều 76, Điều 78 Luật SHTT: đó là nó phải có khả năng phân biệt ( tên thương mại phải chứa thành phần tên riêng, trừ TH nó được biết đến rộng rãi do sử dụng; tên thương mại phải không trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với tên thương mại của người khác

đã sử dụng trước trong cùng lĩnh vực và khu vực kinh doanh và không trùng hoặc

Trang 8

tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu của người khác hoặc với chỉ dẫn địa lý

đã được bảo hộ trước ngày tên thương mại đó được sử dụng)

Quyền sở hữu công nghiệp đối với tên thương mại theo quy định của pháp luật Việt Nam được xác lập trên cơ sở sử dụng hợp pháp tên thương mại đó mà không phụ thuộc vào bất kỳ thủ tục đăng ký nào Việc đăng ký tên chủ thể kinh doanh theo quy định của pháp luật về thủ tục đăng ký kinh doanh, thủ tục đăng ký hoạt động của doanh nghiệp và của các chủ thể kinh doanh khác chỉ có ý nghĩa ghi nhận ý định sử dụng tên gọi của chủ thể đó mà không có ý nghĩa xác lập quyền Tên thương mại là tên gọi của

tổ chức, cá nhân dùng trong hoạt động kinh doanh, vì vậy, phải có sự tồn tại của  tổ chức, cá nhân mang tên thương mại thì việc sử dụng tên thương mại mới có ý nghĩa về mặt pháp lý Tuy nhiên, việc có được giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh không phải

là cơ sở pháp lý tuyệt đối để cho rằng quyền sở hữu công nghiệp đối với tên thương mại

đã được xác lập Để được xác lập, tên thương mại còn phải được sử dụng thông qua các hoạt động kinh doanh Chủ sở hữu quyền đối với tên thương mại là tổ chức, cá nhân tiến hành hoạt động đăng ký kinh doanh dưới tên thương mại đó Trường hợp trong cùng một lĩnh vực kinh doanh và trên cùng một địa bàn kinh doanh có nhiều người cùng sử dụng một tên thương mại thì quyền đối với tên thương mại thuộc về người sử dụng đầu tiên.3

Về mặt nguyên tắc, quyền đối với tên thương mại mang tính không hạn chế về mặt thời gian Điều đó có nghĩa là, sau khi đã xác lập quyền đối với tên thương mại, chủ thể kinh doanh có thể sử dụng nó mà không bị bất cứ một hạn chế nào về mặt thời gian, khi mà chủ thể kinh doanh còn tồn tại và tên thương mại còn thể hiện đúng hình thái tổ chức của chủ thể đó Nếu địa vị pháp lý của chủ thể kinh doanh thay đổi, ví dụ như do kết quả của việc tổ chức lại doanh nghiệp hay thay đổi chủ doanh nghiệp, thì những thay đổi đó cần được đưa vào tên thương mại, đương nhiên quyền đối với tên thương mại sẽ chấm dứt khi chủ thể kinh doanh chấm dứt sự tồn tại của mình

2.4

Điều kiện bảo hộ :

3 http://tcdcpl.moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/phap-luat-kinh-te.aspx?ItemID=150

Trang 9

- Theo pháp luật SHTT Việt Nam, nhãn hiệu được bảo hộ nếu đáp ứng các điều

kiện: là dấu hiệu nhìn thấy được dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh, kể cả

hình ba chiều hoặc sự kết hợp các yếu tố đó, được thể hiện bằng một hoặc nhiều mầu sắc; có khả năng phân biệt hàng hoá, dịch vụ của chủ sở hữu nhãn hiệu với hàng hoá, dịch vụ của chủ thể khác; không thuộc các trường hợp được quy định tại Điều 73 và

Điều 74 Luật SHTT Như vậy, bất kỳ dấu hiệu nào nếu thỏa mãn các điều kiện nêu trên đều có thể được pháp luật bảo hộ dưới danh nghĩa là nhãn hiệu. 

- Tên thương mại phải có tính phân biệt, vì không phải bất kỳ tên thương mại nào cũng được pháp luật bảo hộ, để được bảo hộ theo pháp luật sở hữu trí tuệ, nhìn chung, tên thương mại phải có khả năng phân biệt chủ thể kinh doanh mang tên đó với chủ thể kinh doanh khác trong cùng lĩnh vực và khu vực kinh doanh Sự phân biệt này cần thiết được đặt ra trong cùng một lĩnh vực và khu vực kinh doanh với các yếu tố phân biệt chủ yếu như: Phân biệt về hàng hóa, dịch vụ, hoạt động, cơ sở kinh doanh Thông qua những yếu tố này, để cá thể hoá chủ thể kinh doanh này với chủ thể kinh doanh khác Điều này cũng có thể được hiểu là nếu tên thương mại của hai chủ thể kinh doanh trùng nhau hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn nhưng hai chủ thể kinh doanh trong hai lĩnh vực khác nhau, thuộc hai lãnh thổ khác nhau, thì vẫn được chấp nhận bảo hộ Cùng lĩnh vực và khu vực kinh doanh là hai điều kiện song song đi đôi với nhau, nếu thiếu một trong hai yếu tố đó, thì tên thương mại sẽ không được bảo hộ Chẳng hạn như, hai tên thương mại trùng nhau nhưng hai chủ thể kinh doanh lại không hoạt động trên một khu vực địa lý, tuy rằng họ kinh doanh trong cùng một lĩnh vực hoặc hai chủ thể kinh doanh

ở trên cùng một khu vực địa lý nhưng lại không kinh doanh trên cùng một lĩnh vực cũng không được pháp luật chấp nhận bảo hộ

Dấu hiệu phân biệt của tên thương mại được thể hiện cụ thể như sau:

+ Chứa thành phần tên riêng, trừ trường hợp đã được biết đến rộng rãi: Nếu tên thương mại chỉ có phần mô tả thì không được bảo hộ, bởi lẽ phần mô tả không có khả năng tạo nên tính phân biệt cho tên thương mại (hai doanh nghiệp có tên thương mại khác nhau có thể có phần mô tả giống nhau), vì vậy, tên thương mại bắt buộc phải chứa thành phần tên riêng để tạo ra sự phân biệt giữa các chủ thể kinh doanh

Trang 10

+ Tên thương mại không trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với tên thương mại mà người khác đã sử dụng từ trước trong cùng lĩnh vực và khu vực kinh doanh Tên trùng là trường hợp tên của doanh nghiệp yêu cầu đăng ký được viết và đọc bằng tiếng Việt hoàn toàn giống với tên của doanh nghiệp đã đăng ký

Tên gây nhầm lẫn với tên của các doanh nghiệp khác là: Tên bằng tiếng Việt của doanh nghiệp yêu cầu đăng ký được đọc giống như tên doanh nghiệp đã đăng ký; tên bằng tiếng Việt của doanh nghiệp yêu cầu đăng ký chỉ khác tên doanh nghiệp đã đăng

ký bởi ký hiệu “&”; ký hiệu “-”; chữ “và”; tên viết tắt của doanh nghiệp yêu cầu đăng

ký trùng với tên viết tắt của doanh nghiệp khác đã đăng ký; tên bằng tiếng nước ngoài của doanh nghiệp yêu cầu đăng ký trùng với tên bằng tiếng nước ngoài của doanh nghiệp khác đã đăng ký; tên riêng của doanh nghiệp yêu cầu đăng ký khác với tên riêng của doanh nghiệp đã đăng ký bởi một hoặc một số số tự nhiên, số thứ tự hoặc một số chữ cái tiếng Việt (A, B, C…) ngay sau tên riêng của doanh nghiệp đó, trừ trường hợp doanh nghiệp yêu cầu đăng ký là doanh nghiệp con của doanh nghiệp đã đăng ký; tên riêng của doanh nghiệp yêu cầu đăng ký khác với tên riêng của doanh nghiệp đã đăng

ký bởi từ “tân” ngay trước, hoặc “mới” ngay sau tên của doanh nghiệp đã đăng ký; tên riêng của doanh nghiệp yêu cầu đăng ký chỉ khác tên riêng của doanh nghiệp đã đăng

ký bởi các từ “miền Bắc”, “miền Nam”, “miền Trung”, “miền Tây”, “miền Đông” hoặc các từ có ý nghĩa tương tự; trừ trường hợp doanh nghiệp yêu cầu đăng ký là doanh nghiệp con của doanh nghiệp đã đăng ký; tên riêng của doanh nghiệp trùng với tên riêng của doanh nghiệp đã đăng ký

+ Không trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu của người khác hoặc với chỉ dẫn địa lý đã được bảo hộ trước ngày tên thương mại đó được sử dụng Tên thương mại và nhãn hiệu đều có chức năng chỉ dẫn cho người tiêu dùng về hàng hoá, dịch vụ đó của cơ sở sản xuất kinh doanh nào, đều đưa ra một kết quả chung rằng

ai là người chịu trách nhiệm về những hàng hóa, dịch vụ đó, bởi vậy, nếu đã có nhãn hiệu thuộc quyền của người khác đã được xác lập trước thời điểm tên thương mại được bắt đầu thì đương nhiên chủ thể kinh doanh sẽ không được sử dụng tên thương mại đó nữa

Ngày đăng: 16/03/2023, 11:54

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w