1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Môi trường và con người ppt

59 548 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Môi trường và Con người ppt
Trường học Đại học Kinh tế Kỹ thuật Công nghiệp
Chuyên ngành Môi trường và con người
Thể loại Bài giảng
Năm xuất bản 2007
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 59
Dung lượng 835,48 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những vấn đề về môi trường được nêu ra ở mọi nơi, mọi lúc như: Tài nguyên khai thác đang trở nên cạn kiệt, dân số đang bùng nổ ở nhiều nơi, nguồn năng lượng không còn dùng được bao lâu,

Trang 1

BỘ CÔNG THƯƠNG TRƯỜNG §¹i häc KINH TẾ KỸ THUẬT CÔNG NGHIỆP

Trang 2

MỞ ĐẦU VỀ MÔN HỌC MÔI TRƯỜNG VÀ CON NGƯỜI

I Khái niệm về khoa học môi trường

Cách đây khoảng vài thập kỷ đã xuất hiện môn khoa học liên ngành mới gọi là khoa học

môi trường Thật ra, khoa học môi trường xuất hiện từ lâu nhưng chưa được nói đến rõ ràng như hiện nay Con người nghiên cứu để khai thác tối đa cho mình các tài nguyên thiên nhiên, xây dựng những ngôi nhà ở tốt nhất cho đời sống và sức khoẻ của mình… Nhưng gần đây do xuất hiện rất nhiều vấn đề về môi trường nên khoa học môi trường mới được chú ý bởi nhiều người có nghề nghiệp khác nhau, ở các nước khác nhau thậm chí đến cả giới tính và lứa tuổi khác nhau Những vấn đề về môi trường được nêu ra ở mọi nơi, mọi lúc như: Tài nguyên khai thác đang trở nên cạn kiệt, dân số đang bùng nổ ở nhiều nơi, nguồn năng lượng không còn dùng được bao lâu, ô nhiễm đất, nước, không khí và các chất độc hại xảy ra xung quanh chúng ta…

Khoa học Môi trường ở trên thế giới và ở Việt Nam

Kể từ sau hội nghị quốc tế về bảo vệ môi trường ở Stockholm 1972, khoa học môi trường ở trên thế giới đã được phát triển mạnh mẽ Nhiều viện nghiên cứu về môi trường đã được thành lập, nhiều trường đại học đã được xây dựng các khoa, các bộ môn chuyên đào tạo cán bộ khoa học công nghệ môi trường Nhiều tạp chí về khoa học công nghệ và công nghệ môi trường đã được xuất bản Tương tự như vậy chúng ta đã có trong tay nhiều sách giáo khoa, sách chuyên khảo về khoa học môi trường và công nghệ môi trường Trung bình hằng năm có khoảng 30 hội nghị quốc tế có liên quan đến môi trường

Ở Việt Nam, nhận thức về sự cần thiết bảo vệ môi trường cũng đã có từ khá sớm Giáo trình sinh thái học được giảng dạy ở đại học từ các năm 60 Vườn quốc gia Cúc Phương được thành lập từ năm 1960 Bác Hồ kêu gọi nhân dân trồng cây mỗi khi Tết đến từ những năm cuối thập kỷ 50 Hội bảo vệ thiên nhiên và môi trường ở ta được thành lập từ năm 1987 Luật bảo vệ môi trường được quốc hội thông qua năm 1993 Chương trình nghiên cứu cấp nhà nước

về bảo vệ môi trường được thực hiện liên tục từ năm 1980 đến nay Bộ khoa học công nghệ và môi trường chính thức chịu trách nhiệm chỉ đạo và quản lý môi trường từ năm 1992

Công tác bảo vệ môi trường đòi hỏi phải có:

- Nhận thức đầy đủ và dẫn liệu môi trường luôn cập nhật

- Một đội ngũ cán bộ khoa học và kỹ thuật giỏi về khoa học môi trường và công nghệ môi trường

- Một đường lối chính sách đúng đắn về bảo vệ môi trường

- Một sự đầu tư thích đáng về vật chất, tiền bạc và nhân lực cho công tác bảo vệ môi trường

Một nước nghèo và kém phát triển như nước ta đòi hỏi phải cố gắng hết sức mới giải quyết được các vấn đề môi trường

II Đối tượng và nhiệm vụ của khoa học môi trường

Hiểu môi trường là gồm tất cả những cái bao quanh chúng ta như không khí đại dương lục địa cũng như những sinh vật sống ở đó, cũng có nghĩa môi trường là của tất cả chúng ta, của cả loài người trên Trái đất Cần giới hạn môi trường hẹp hơn liên quan đến một cộng đồng, một điểm dân cư, một vùng, một quốc gia… Sinh thái học là môn khoa học thuộc sinh

học nghiên cứu mối quan hệ giữa sinh vật và môi trường bao quanh nó Khoa học môi trường

là khoa học nghiên cứu tổng thể môi trường liên quan đến đời sống phát triển kinh tế xã hội của con người Ta có thể coi khoa học môi trường như là sinh thái học nhân văn cũng được

Tất nhiên khoa học môi trường có đầy đủ ý nghĩa hơn: Lấy tổng thể tự nhiên đất, nước, không

Trang 3

khí, sinh vật kinh tế xã hội của con người làm đối tượng nghiên cứu của mình Môi trường trong một giới hạn nào đấy cùng nghĩa với hệ sinh thái Sinh thái học định nghĩa hệ sinh thái

là một đơn vị tự nhiên ở đó có mối quan hệ thống nhất một quần xã sinh vật với môi trường

vô sinh của nó

Nhiệm vụ của khoa học môi trường là phải tìm ra các biện pháp giải quyết về vấn đề môi trường ở thời đại ngày nay, thời đại tương ứng với xã hội công nghiệp và hậu công nghiệp Đó là các vấn đề:

- Gia tăng dân số hợp lý

- Sản xuất nông lâm ngư nghiệp vùng biển

- Phòng chống xử lý ô nhiễm cho các môi trường

- Xây dựng các khu công nghiệp, đô thị, điểm dân cư vững bền

- Khai thác hợp lý và bảo vệ các tài nguyên thiên nhiên

- Quản lý tốt môi trường, phòng tránh các rủi ro của môi trường

III Mối quan hệ của khoa học môi trường với các khoa học khác

Trước hết cần phân biệt khoa học môi trường và công nghệ môi trường Công nghệ môi trường là công nghệ xử lý ô nhiễm các loại Công nghệ môi trường có thể hiểu một cách rộng rãi hơn là các công nghệ khai thác hợp lý tài nguyên thiên nhiên, công nghệ phục hồi các hệ sinh thái, công nghệ quản lý môi trường…Phải nghiên cứu đầy đủ về môi trường mới lựa chọn được công nghệ thích hợp và hiệu quả Các phân môn của khoa học môi trường gồm sinh học môi trường, địa học môi trường, hoá học môi trường, kinh tế xã hội học môi trường, y học môi trường…

Khoa học môi trường là một khoa học liên (gian) ngành Giải quyết vấn đề môi trường cần đến rất nhiều ngành khoa học khác nhau do đó khoa học môi trường cần có quan hệ chặt chẽ với nhiều ngành khoa học khác

Trước hết là mối quan hệ với các ngành khoa học tự nhiên: Sinh học là khoa học nghiên cứu về sự sống các sinh vật, sinh thái học là khoa học nghiên cứu về mối tương quan giữa sinh vật và môi trường Các khoa học trái đất như địa lý học, địa chất học, hải dương học, thuỷ văn học… là các khoa học nghiên cứu về những thành phần của môi trường tự nhiên

Tiếp đến là các ngành khoa học xã hội, kinh tế, nhân văn Giải quyết các vấn đề môi trường không thể thiếu các khía cạnh của các ngành khoa học này Các ngành khoa học như chính trị, pháp luật cũng được đề cập tới

Sau cùng là các ngành khoa học công nghệ, kỹ thuật cũng cần được sử dụng mỗi khi phải giải quyết vấn đề môi trường

Trang 4

Chương 1: Các khái niệm cơ bản về sinh thái học

1.1 Sinh vật và môi trường

1.1.1 Sinh vật

Sinh vật và thế giới vô sinh xung quanh (môi trường) có quan hệ khăng khít với nhau và thường xuyên tác động qua lại lẫn nhau Sinh vật gồm có:

a) Các nhóm thực vật chính

- Thực vật bậc thấp: Có tảo nước mặn và tảo nước ngọt

- Thực vật bậc cao: rêu, quyết, hạt trần, hạt kín

b) Động vật

- Sự giống nhau giữa động vật và thực vật:

Cơ thể động vật có cấu tạo tế bào, có các hoạt động sống như dinh dưỡng, hô hấp, sinh trưởng thường xuyên được diễn ra trong cơ thể như ở thực vật

- Sự khác nhau giữa động vật và thực vật:

Thực vật tổng hợp được chất hữu cơ từ CO2 và H2O bằng năng lượng mặt trời còn động vật chỉ có thể dùng chất hữu cơ có sẵn lấy từ động vật và thực vật khác Ngoài ra động vật còn có cơ quan di chuyển, có hệ thần kinh, các giác quan mà ở thực vật không có

c) Vi khuẩn, nấm và địa y

- Vi khuẩn: Là những sinh vật hết sức đơn giản c¬ thể chỉ gồm một tế bào, chưa có nhân

và không có chất diệp lục, chúng sống hoại sinh và kí sinh

- Nấm: Nấm khác với tảo ở chỗ không có chất diệp lục nê đời sống chúng là hoại sinh hoặc kí sinh giống như vi khuẩn

- Địa y: (Là những mảng vảy màu xanh xám bám vào vỏ cây)

Địa y là một dạng đặc biệt được hình thành do sự chung sống giữa một số loại tảo và nấm Các sợi nấm hút nước và muối khoáng cung cấp cho tảo Tảo nhờ có chât diệp lục sử dụng được những chất đó để tạo thành những chất dinh dưỡng nuôi sống cả hai bên, thành ra trong cuộc sống chung này tảo và nấm đều có vai trò nhất định, không bên nào phụ thuộc vào bên nào Hình thức sống này được gọi là sống cộng sinh

1.1.2 Môi trường

Môi trường bao gồm tất cả những gì xung quanh sinh vật, tất cả các yếu tố vô sinh và hữu sinh có tác dụng trực tiếp hoặc gián tiếp lên sự sinh sống, phát triển và sinh sản của sinh vật Mỗi sinh vật đều sống trong môi trường và chịu tác động của các nhân tố sinh thái của môi trường

Sinh vật có khả năng thích nghi nhất định và phong phú với các điều kiện khác nhau của môi trường Khả năng thích nghi của sinh vật đã tạo điều kiện cho sinh vật phân bổ trong các môi trường khác nhau

- Về mặt vật lý trái đất được chia thành các quyển sau:

Thạch quyển – Môi trường đất : Bao gồm vỏ trái đất có độ dày 60 – 70 km và 2- 8 km dưới đáy đại dương Thành phần và tính chất của thạch quyển tương đối ổn định và ảnh hưởng đến sự sống trên trái đất

Thuỷ quyển – Môi trường nước : Đại dương, sông ngòi, ao hồ, nước ngầm, băng tuyết, hơi nước Thuỷ quyển đóng vai trò duy trì sự sống và cân bằng khí hậu toàn cầu

Trang 5

Khí quyển – Môi trường không khí: Từ mặt đất đến độ cao 100 km là lớp không khí tầng đối lưu bao quanh trái đất Nó đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong việc duy trì sự sống

và quyết định tính chất khí hậu và thời tiết toàn cầu

- Về mặt sinh học – Môi trường sinh quyển : Bao gồm sâu 100 m trong Thạch quyển và cao 20 km trong khí quyển, sâu 8 km trong thuỷ quyển

Sinh quyển bao gồm các thành phần hữu sinh và thành phần vô sinh có quan hệ chặt chẽ và tương tác phức tạp với nhau Trong sinh quyển, ngoài vật chất năng lượng còn có thông tin với tác dụng duy trì cấu trúc và cơ thể tồn tại phát triển của các vật sống Dạng thông tin phức tạp và phát triển cao nhất là trí tuệ con người , có tác động ngày càng mạnh mẽ đến sự tồn tại và phát triển của trái đất

- Tuỳ theo mục đích và nội dung nghiên cứu khái niệm chung về “ môi trường của con người” được phân thành: Môi trường thiên nhiên, môi trường xã hội và môi trường nhân tạo Môi trường thiên nhiên gồm các nhân tố thiên nhiên: vật lý, hoá học và sinh học tồn tại khách quan bên ngoài ý muốn con người hoặc ít chịu sự chi phối của con người

Môi trường xã hội bao gồm mối quan hệ giữa con người với con người

Môi trường nhân tạo gồm những nhân tố vật lý, sinh học xã hội do con người tạo nên

và chịu sự chi phối của con người

Ba loại môi trường này tồn tại cùng nhau, xen lẫn nhau và tương tác chặt chẽ lẫn nhau Các thành phần của môi trường không tồn tại ở dạng tĩnh mà luôn có sự chuyển hoá trong

tự nhiên , diễn ra theo chu kỳ và thông thường ở dạng cân bằng Sự cân bằng này đảm bảo cho

sự sống trên trái đất phát triển ổn định Các chu trình phổ biến như C, N, P … Khi các chu trình này không giữ được ở trạng thái cân bằng thì sự cố về môi trường sẽ xảy ra tác động đến

sự tồn tại của con người và sinh vật

Môi trường gồm các nhân tố sinh thái vô sinh và hữu sinh

 Nhân tố vô sinh: Bao gồm tất cả các nhân tố không sống của thiên nhiên có ảnh hưởng đến cơ thể sinh vật như khí hậu, nhiệt độ, không khí, độ ẩm, ánh sáng, tốc độ gió, hướng gió, các nhân tố về thổ dưỡng, thuỷ văn, khí tượng, lưu tốc dòng chảy

 Nhân tố hữu sinh: Bao gồm các sinh vật và mọi tác động của chúng lên cơ thể sinh vật Nhân tố con người bao gồm mọi tác động trực tiếp của con người lên cơ thể sinh vật

Môi trường sống của con người – Môi trường nhân văn là tổng hợp các điều kiện vật lý, kinh tế xã hội bao quanh và có ảnh hưởng tới sự sống và phát triển của từng cá nhân và cộng đồng con người Môi trường sống của con người là cả vũ trụ bao la, trong đó hệ mặt trời và trái đất là bộ phận có ảnh hưởng trực tiếp và rõ rệt nhất Trong môi trường sống này luôn tồn tại sự tương tác giữa các thành phần vô sinh và hữu sinh

Ảnh hưởng của các yếu tố sinh thái hữu sinh lên đời sống sinh vật

Các sinh vật đều trực tiếp hay gián tiếp ảnh hưởng đến nhau ảnh hưởng gián tiếp là ảnh hưởng thông qua các yếu tố sinh thái khác của môi trường Ảnh hưởng trực tiếp giữa các sinh vật chủ yếu dưới dạng quan hệ về nơi ở và tổ sinh thái

Hai cá thể sống ở tự nhiên (cùng một nơi) có thể có 8 kiểu quan hệ với nhau tuỳ theo mức độ lợi hại khác nhau mà ta goi là:

- Bàng quan: Khi cả hai loài không ảnh hưởng gì đến nhau Ví dụ cây rừng và con Hổ

- Cạnh tranh: Khi cả hai loài đều bị hại Ví dụ cá Chuối và cá Vược cạnh tranh nhau vì thức ăn

- Cộng sinh: Khi cả hai loài đều có lợi khi cần thiết phải sống bên nhau như cây Cam

và con Kiến, Tảo và Nấm

Trang 6

- Hợp sinh: Cả hai loài đền có lợi nhưng không nhất thiết phải sống bên nhau như con Sáo và con Trâu

- Hội sinh: Khi một loài có lợi còn loài kia không có gì như cây họ đậu (có lợi) và vi khoẩn cố định đạm sống ở rễ

- Hãm sinh: Khi một loài không bị ảnh hưởng gì còn một loài bị hại như Nấm và vi khuẩn (hại)

- Ký sinh: Khi một loài có lợi còn loài kia bị hại trong mối quan hệ sống bắt buộc như con sán và con lợn

- Vật ăn thịt và con mồi: Khi một loài được lợi còn loài kia bị hại như con Sáo và con Châu Chấu

Yếu tố sinh thái hữu sinh cần nói tới là các sinh vật làm thức ăn Thức ăn (chất và lượng) ảnh hưởng quan trọng đến đời sống động vật Động vật có thể ăn thực vật (như côn trùng, bò,…) hoặc có thể ăn động vật khác (như chim ăn côn trùng…) Thưc vật hay động vật dùng làm thức ăn lại chịu ảnh hưởng của các yếu tố vô sinh hay hữu sinh khác của môi trường nên mối quan hệ này(giữa vật đi ăn và vật bị ăn – vật ăn thịt và con mồi) rất phức tạp Trong quá trình tiến hoá cả vật ăn thịt và con mồi đều có các thích nghi để tồn tại Số lượng của chúng cũng vậy: Dao động lên xuống chịu hậu quả của nhau trong một trạng thái cân bằng tương đối

mà ta gọi là cần bằng động

Yếu tố sinh thái hữu sinh tiếp cần nói đến là sự cạnh tranh Sự cạnh tranh có thể là giữa các cá thể của cùng một loài hoặc các loài khác nhau Sự canh tranh cùng loài được thể hiện như tập tính chiếm cứ lãnh thổ ăn thịt lẫn nhau… như cá Vược mẹ ăn thịt cá Vược con Mật

độ quần thể càng lớn thì sự cạnh tranh trong loài càng gay gắt Sự cạnh trạnh trong loài đưa đến sự phân hoá về tổ sinh thái và nơi ở và như vậy đã đóng góp vào sự tiến hoá của loài Sự cạnh tranh khác loài được định nghĩa và sự cạnh tranh của hai hay nhiều loài cùng sống trong một hệ sinh thái (một nơi) để đảm bảo cho sự tồn tại của mình Các loài càng gần nhau (về vị trí phân loại ) thì sự cạnh tranh càng gay gắt Sự cạnh tranh khác loài có thể dẫn đến loài này

bị loài kia tiêu diệt Đó là nguyên lý huỷ diệt trong cạnh tranh Sự cạnh tranh khác loài ảnh hưởng đến sự phân bố địa lý, sự phân hoá tổ sinh thái, nơi ở … và như vậy là nguồn gốc tiến hoá của sinh vật

1.2 Quần thể, quần xã sinh vật

1.2.1 Quần thể sinh vật

Khái niệm quần thể sinh vật: Tập hợp tất cả các cá thể của cùng một loài và cùng sống chung trong một nơi gọi là quần thể sinh vật

Quần thể là một nhóm cá thể của một loài, khác nhau về kích thước, lứa tuổi, giới tính…phân

bổ trong vùng phân bổ của loài, chúng tự giao phối với nhau để tạo nên cá thể mới Quần thể

là một tổ chức của sinh vật cao hơn cá thể có đặc trưng riêng về cấu trúc, mức sinh sản, mức

tử vong, biến động về số lượng cá thể, điều chỉnh vùng phân bổ của mình Mỗi quần thể có một kích thước (hay số lượng cá thể, sinh khối) xác định sự “cân bằng”với khả năng “ dung nạp” (chứa) của môi trường Nghiên cứu về quần thể thì điều quan trọng nhất là phải xác định được kích thước của nó, phải tính được số lượng cá thể của nó

Mỗi quần thể có sự phân bổ theo không gian những cá thể của nó Có 3 kiểu phân bổ: Phân bổ đều, phân bổ ngẫu nhiên, và phân bổ theo nhóm Phân bổ theo nhóm là kiểu phân bổ phổ biến Phân bổ đều thường xuất hiện trong điều kiện môi trường đồng nhất như ở nước, đồng cỏ hay vùng cực

Trang 7

Mỗi quần thể đều có cấu trúc về thành phần tuổi, về tỷ lệ giới tính riêng Cấu trúc tuổi của mỗi quần thể phản ánh tỷ lệ của từng nhóm tuổi trong quần thể ra sao Cấu trúc giới tính là

tỷ lệ giữa số lượng cá thể đực và cá thể cái Cấu trúc tuổi và giới tính có ảnh hưởng quan trọng đến tỷ lệ sinh tử và biến động số lượng của quần thể Ta thường dùng tháp tuổi để biểu thị đặc trưng này

Mỗi quần thể có đặc trưng riêng về tốc độ tăng trưởng, về kích thước (số lượng) và sự biến động về số lượng cá thể theo thời gian Sự thay đổi về số lượng cá thể phụ thuộc vào hai yếu tố: tỷ lệ sinh tức là số cá thể được sinh ra (trên một kích cỡ quần thể) Có hai yếu tố khác

là số cá thể di cư sang sống ở ngoài quần thể và số cá thể từ ngoài quần thể nhập vào

Một đặc trưng nữa của quần thể là sự biến động số lượng cá thể theo mùa và theo thời gian nhiều năm Biến động theo mùa là do mùa sinh sản nhiều, và mùa tử vong nhiều và những mùa này mang tính chất chu kỳ Biến động theo chu kỳ nhiều năm phụ thuộc vào nhiều yếu tố môi trường mà quần thể chịu tác động như kẻ địch, dịch bệnh, cơ sở thức ăn, thời tiết, khai thác bởi con người…

Tồn tại và phát triển trong các điều kiện môi trường nhất định , mỗi quần thể đều có những thích nghi riêng Nếu sự thay đổi về điều kiện vẫn nằm trong giới hạn thích ứng thì quần thể tồn tại và phát triển, nếu vượt ra khỏi giới hạn đó thì quần thể sẽ đi đến tiêu diệt

1.2.2 Quần xã sinh vật

Quần xã sinh vật là tổ hợp của quần thể của ít nhất hai loài phân bổ trong một nơi nhất định (mà ta gọi là sinh cảnh) Chúng tương tác với nhau và với môi trường tạo nên chu trình dòng vật chất và năng lượng Sự thống nhất của một phức hợp động vật, thực vật và vi sinh vật trong một quần xã với môi trường vô sinh bao quanh chúng hình thành nên một hệ sinh thái

Ví dụ trong ao có quần thể cá, tôm, cua, hến, beo,

- Quần xã rõ ràng là một tổ chức sinh vật cao hơn quần thể Quần xã có các đặc trưng sau:

- Cấu trúc thành phần loài và số lượng cá thể của từng loài Đặc trưng này xác định tính

đa dạng của quần xã Những quần xã mà số lượng loài ít, thì thường số lượng cá thể các loài rất nhiều

- Cấu trúc về không gian tức là sự phân bổ theo không gian của các sinh vật trong quần

- Cấu trúc về dung lượng

- Theo thời gian các quần xã đều có sự biến đổi

1.3 Hệ sinh thái

1.3.1 Định nghĩa

Mỗi quần xã sinh vật (bao gồm nhiều quần thể sinh vật) cùng với khu vực sống của quần

xã thường tạo thành một hệ thống tương đối ổn định và hoàn chỉnh được gọi là hệ sinh thái

Hệ sinh thái = Quần xã sinh vật + môi trường vô sinh

Các hệ sinh thái được xếp vào 3 nhóm:

- Nhóm hệ sinh thái trên cạn VD: rừng nhiệt đới, sa mạc,…

- Nhóm hệ sinh thái nước mặn VD: sinh thái ven biển, sinh thái vùng khơi:

- Nhóm hệ sinh thái nước ngọt VD: ao hồ, sông, suối,…

1.3.2 Cấu trúc hệ sinh thái

Mỗi một hệ sinh thái bao giờ cũng có 2 bộ phận cấu thành đó là: Thành phần hữu sinh (thành phần sống) và thành phần vô sinh (thành phần không sống)

Trang 8

Loài ăn thịt – vật tiêu thị bậc 2,3, n là sinh vật tiêu thụ chỉ ăn các loài động vật

Loài ăn tạp – vật tiêu thụ bậc 1 hoặc bậc 2,3,…n là loài ăn cả cây cỏ và động vật

- Vật phân huỷ: vi khuẩn, nấm, mốc,… có khả năng phân huỷ các chât hữu cơ thành các chất vô cơ đơn giản

b Thành phần vô sinh: gồm các chất hoá học được chia làm 2 nhóm như sau:

1.3.3 Đặc trưng cơ bản của hệ sinh thái

a Sơ đồ hệ sinh thái với vòng tuần hoàn vật chất và dòng dịch chuyển năng lượng

Hệ sinh thái là đơn vị chức năng cơ bản của sinh thái học Ta biết Hệ sinh thái bao gồm sinh vật và môi trường vô sinh, trong đó cả 2 đều có tác động qua lại với nhau, duy trì sự sống tồn tại trên trái đất

Sinh vật muốn tồn tại trên trái đất phải có đủ chất dinh dưỡng để nuôi sống cơ thể ở thực vật có khả năng tự tổng hợp nên chất hữu cơ để nuôi dưỡng cơ thể mà động vật không có được Quá trình tổng hợp đó là quá trình quang hợp của cây xanh

ánh sáng MT

CO2 + 6H2O  C6H12O6 + 6O2

Clorphyll

Trang 9

Dòng dịch chuyển năng lượng:

Bất kỳ hệ sinh thái nào cũng có một dòng dịch chuyển năng lượng từ ánh sáng mặt trời (dạng quang năng) vào cơ thể sinh vật, qua quá trình quang hợp + muối khoáng dưới lòng đất, chúng tạo thành năng lượng hoá năng dự trữ trong cây và nuôi dưỡng chúng Khi sinh vật tiêu thụ ăn sinh vật sản xuất thì năng lượng trong sinh vật sản xuất được chuyển sang cho sinh vật tiêu thụ hấp thụ Khi các sinh vật tiêu thụ chết đi, sinh vật phân huỷ thực hiện chức năng của mình là phân huỷ tạo thành một phần năng lượng nuôi dưỡng sinh vật sản xuất, phần còn lại phân tán vào môi trường

Như vậy, nhìn vào sơ đồ ta thấy, dòng năng lượng là dòng hở, một chiều, chuyển dịch từ bậc nọ sang bậc kia (từ SVSX sang SVTT)

Trang 10

Vòng tuần hoàn vật chất:

Tất cả các sinh vật đều cần những chất nhất định để tồn tại CO2 và H2O là những chất

vô cơ quan trọng cho sự quang hợp ở thực vật từ đó cung cấp năng lượng thực phẩm đến sinh vật Dưới tác dụng của ánh sáng và diệp lục, các chất vô cơ đó tạo thành đường Glucozơ (C6H12O6) nuôi dưỡng chúng Các SVTT ăn SVSX, các chất dinh dưỡng trong SVSX được chuyển sang cho SVTT Khi SVTT chết đi, các vi sinh vật phân giải thực hiện chức năng phân giải các chất hữu cơ thành các chất vô cơ, trong quá trình phân huỷ chúng thải ra các chất thải của mình, các chất thải này một phần được tái tạo phục vụ cho sự tồn tại các sinh vật trên trái đất, một phần phát tán trở lại môi trường

Tóm lại: Dòng dịch chuyển năng lượng xảy ra đồng thời với dòng tuần hoàn vật chất ở

hệ sinh thái Dòng năng lượng không được sử dụng lại mà chúng phân tán, mất đi dưới dạng nhiệt (dòng năng lượng là dòng hở), còn dòng vật chất là dòng khép kín, nhiều vòng Dòng vật chất đã nói lên Định luật bảo toàn khối lượng: “Vật chất không tự nhiên sinh ra hoặc mất đi,

mà nó chỉ chuyển từ dạng này sang dạng khác mà thôi”

b) Chuỗi thức ăn và mạng lưới thức ăn

Các thành phần của quần xã sinh vật gắn bó với nhau bằng những mối quan hệ và quan hệ dinh dưỡngcó vai trò cực kì quan trọng được thể hiện qua chuỗi thức ăn và mạng lưới thức ăn

- Chuỗi thức ăn: Là một dãy nhiều loài sinhvật có quan hệ dinh dưỡng với nhau Mỗi loài là một mắt xích, vừa là sinh vật tiêu thụ mắt xích phía trước vừa là sinh vật bị mắt xích phía sau tiêu thụ

Trong chuỗi thức ăn thường có: sinh vật sản xuất, sinh vật tiêu thụ và sinh vật phân huỷ

Ví dụ: Cỏ châu chấu rắn đại bàng vsv phân huỷ

- Mạng lưới thức ăn: Mỗi loài trong quần xã sinh vật thường là mắt xích chung của nhiều chuỗi thức ăn Các chuỗi thức ăn có nhiều mắt xích chung tạo thành mạng lưới thức ăn VD: sâu bọ chim sẻ

Cỏ châu chấu rắn đại bàng vsv phân huỷ

Thỏ cáo

1.3.4 Chu trình Cacbon và chu trình Nitơ trong tự nhiên

Tất cả các cơ thể đều cần những chất nhất định để sống Cacbon đioxit và nước là vật liệu thô quan trọng cho sự quang hợp – quá trình mà qua đó tất cả các cơ thể thu được năng lượng thực phẩm Nitro là một thành phần của chất protein, chất đặc trưng của cây cối động vật, photpho và canxi rất cần cho xương và răng

Với những chất đó có từ đâu? Mặc dù trái đất có một nguồn năng lượng liên tục –mặt trời – nhưng nó không có được nguồn vật chất vô hạn Với tất cả mục đích thực tiễn, số lượng vật chất trên trái đất là cố định và có giới hạn Nhưng đã hàng triệu năm nay các vật chất cần thiết cho đời sống liên tục được quay vòng và tái tuần hoàn trong hệ sinh thái của trái đất Theo cách này, c¸c cơ thể sống không chỉ nhận được các chất dinh dưỡng cần thiết mà còn đóng vai trò chủ yếu trong việc tái tuần hoàn chung

Khác với nguồn năng lượng một chiều qua các mạng lưới thực phẩm, sự vận động của các vật chất trong hệ sinh thái được hoàn thiện qua một loạt các chu trình phụ phức tạp, liên kết với nhau và giới hạn bởi trái đất

Trang 11

Ta cú thể mụ tả chu trỡnh cỏc bon trong tự nhiờn như sau:

Dưới tỏc dụng của ỏnh sỏng, cõy xanh hấp thụ khớ CO2 trong khớ quyển biến nú thành cacbonhydrat để cõy phỏt triển Động vật sống bằng thức ăn từ thực vật Bị vựi lấp dưới dất và trong điều kiện thiếu khụng khớ động thực vật bị phõn huỷ thành than Than gỗ khi bị đốt chỏy nhả lại khớ CO2 cho khớ quyển

Chu trỡnh C bao gồm nhiều chu trỡnh phụ:

- Sự trao đổi cỏc bon giữa cơ thể và khớ quyển Cỏc cõy xanh nhận CO2 từ khụng khớ rồi qua quỏ trỡnh quang hợp nú tổng hợp C vào thực phẩm Cả sinh vật sản xuất và sinh vật tiờu thụ chuyển một phần chất cỏc bon này trong thực phẩm trở lại thành CO2 như một sản phẩm phụ của sự hụ hấp

Chất CO2 này sau đú được thải ra khớ quyển Chất C thấm vào cõy cối và động vật chết cũng được quay trở về khớ quyển dưới tỏc dụng của vi sinh vật phõn huỷ Ngoài ra cõy chết và xỏc động vật vựi lấp lõu năm tạo thành than đỏ,dầu và khớ đốt Cỏc vật chất này khi bị đốt chỏy cho năng lượng để thực hiện cụng việc và C cú trong nhiờn liệu kết hợp với oxi trong khụng khớ tạo thành CO2 rồi đi vào khớ quyển

- Sự trao đổi chất CO2 giữa khớ quyển và đại dương: Sự trao đổi xuất hiện giữa bề mặt tiếp giỏp nước và khụng khớ và sự trao đổi này tăng thờm do tỏc động của giú và súng biển Tại đõy nguồn CO2 xuất hiện theo hai hướng Một sự tăng chất CO2 trong khớ quyển cú khuynh hướng được làm cõn bằng bởi cỏc đại dương tăng cường hấp thụ cacbon dioxit và điều này giữ mức cacbon cõn bằng trong khớ quyển Ngược lại, tức là khi hàm lượng CO2 trong khớ quyển giảm thỡ đại dương sẽ giải phúng lượng CO2 cần thiết vào khớ quyển để bự lại

- Sự hỡnh thành đỏ vụi, đolomit và đỏ phiến sột cú chứa than: Qua nhiều quỏ trỡnh hỡnh thành đỏ, chất cacbon được kết hợp thành vụi cỏc thành phần này của nền đỏ Sau đú là cỏc quỏ trỡnh hoỏ học và lý học (sự phong hoỏ) cú thể phõn ly cỏc chất đú và giải phúng CO2 vào khớ quyển

CO2 đại dương

Phân huỷ Phân huỷ

Trang 12

b) Chu trình Nitơ

- Nitơ là một thành phần của protein, chất nitơ rất cần thiết đối với tất cả các dạng của sự sống

- Các quá trình chuyển hoá nitơ tự do thành hợp chất:

Dưới tác dụng của tia chớp (điện năng của sét) nitơ và oxi trong khí quyển kết hợp với nhau tạo thành các oxit rồi chuyển thành axit nitric, axit nitric theo nước mưa vào trong đất thành nitrat, dạng này được cây cối hấp thụ

Nitơ tự do trong khí quyển

Tổng hợp NH3 Vi khuẩn Vi khuẩn tia sét

Amoniac Vi khuẩn trong đất Nitrat Tan trong nước Oxit của nitơ

Thải ra Thối rữa Rễ cây hấp thụ

Protein động vật ĐV ăn Protein thực vật

Kết luận : Nói đến HST là nói đến những tác động qua lại giữa các cơ thể sống tạo nên

HST đó Nói đến năng lượng, nguồn vật chất ta phải thấy được mỗi một chu trình có ảnh hưởng và tác động đối với các chu trình khác xung quanh nó Khi ta xác định sự ổn định của môi trường thì ta phải nghiên cứu sự cân bằng của hệ sinh thái

Trang 13

Chương 2: Ô nhiễm không khí và bảo vệ

môi trường không khí

2.1 Ô nhiễm không khí

2.1.1 Khái niệm:

Khí quyển: là lớp mỏng ngoài cùng bao quanh trái đất và rất cần thiết cho sự sống: Oxy

cần thiết cho sự hô hấp của động vật và thực vật; Cacbonic cần thiết cho quá trình quang hợp; Nitơ là một trong những nguyên tố cơ bản của protein và Ozon bảo vệ chúng ta tránh các tia tử ngoại có hại của ánh sáng mặt trời

Tầng khí quyển có độ cao khoảng 2.000 km phía trên bề mặt trái đất và thường xuyên chịu ảnh hưởng của vũ trụ và mặt trời Tầng khí quyển được chia thành 4 vùng chính (tầng đối lưu, bình lưu, tầng giữa và tầng nhiệt lưu)

Tầng đối lưu chứa tới 90% phân tử không khí gồm 78% N2, 21% O2, 0.03 CO2 và còn lại

là các khí khác Tại vùng này, các phản ứng hoá học thường diễn ra nhanh trong đó bao gồm

cả quá trình quang hợp và cố định Nitơ

Tầng bình lưu dầy khoảng 17-18 km; phần thấp của tầng này là lớp Ozon (O3) Ozon tạo thành lớp màng mỏnghấp thụ các bức xạ tử ngoại có hại của ánh sáng mặt trời, bảo vệ sự sống trên trái đất

Tầng giữa

Tầng nhiệt

Ô nhiễm không khí: Môi trường không khí bị coi là ô nhiễm khi các thành phần bị biến đổi

khác với trạng thái bình thường Chất gây ô nhiễm là chất có trong khí quyển ở nồng độ cao hơn nồng độ bình thường của nó trong không khí hoặc chất đó thường không có trong không khí

Sự ô nhiễm không khí là kết quả của việc thải ra các khí, hơi, giọt và các lượng khí khác

có nồng độ vượt quá thành phần bình thường trong không khí gây nên các tác động có hại hoặc gây sự khó chịu (do mùi, do bụi…)

2.1.2 Tiêu chuẩn vệ sinh về ô nhiễm môi trường không khí

Trong tiêu chuẩn vệ sinh ở nước ta thường sử dụng đơn vị đo lường nồng độ chất độc hại

là số mg chất độc hại trong 1m3 không khí (mg/m3) Cách dùng đơn vị đo này rất thuận lợi,vì

dù chất độc hại ở thể khí, thể lỏng hay thể rắn đếu có thể đo lường qua trọng lượng là mg Đồng thời đơn vị đo lường này còn có thể dễ dàng đánh giá liều lựơng độc hại đưa vào cơ thể

đi qua đường hô hấp

Đối với khu vực đô thị các tiêu chuẩn chất lượng môi trường không khí được sử dụng làm

cơ sở pháp lí để Nhà nước và nhân dân kiểm tra, kiểm soát môi trường, xử lí các vi phạm môi trường và đánh giá các tác động môi trường…Tiêu chuẩn chất lượng môi trường không khí bao gồm:

- Tiêu chuẩn chất lượng môi trường không khí xung quanh nhà máy, xí nghiệp, giao thông,… đó là chất lượng môi trường không khí xung quanh

- Tiêu chuẩn chất lượng nguồn thải (khí thải từ ống khói của nhà máy, từ ống xả của xe…)

Trên cơ sở các kết quả nghiên cứu về nghiên cứu vệ sinh y học, người ta cũng được thiết lập các tiêu chuẩn đảm bảo cho môi trường không khí xung quanh tương đối sạch Mức độ trong sạch của không khí được đo bằng nồng độ chất độc hại chứa trong một đơn vị trọng

Trang 14

lượng hay thể tích không khí, đơn vị đo lường thường là trọng lượng chất ô nhiễm chứa trong

1 m3 không khí (mg/m3) hoặc tỉ lệ bách phân theo thể tích hay trọng lượng (ppm – một phần triệu)

* Theo sự phân loại của Liên Xô, mức độ ô nhiễm không khí như bảng 2.1

Bảng 2.1 Tiêu chuẩn vệ sinh đối với môi trường không khí

Hàm lượng tối đa của bụi và SO2 trong các khu vực như sau:

- Trong khu vục dân cư: SO2 < 0.05 mg/m3

Lượng VSV trong 1 m3 không khí

VSV tổng số Cầu khuẩn VSV tổng số Cầu khuẩn

Bảng 2.3 Bảng tiêu chuẩn tối đa về nồng độ các chất trong không khí

Trang 15

Bảng 2.4 Giá trị giới hạn các thông số cơ bản trong không khí xung quanh

STT Thông số Trung bình 1 giờ Trung bình 8 giờ Trung bình 24 giờ

2.1.3 Nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường không khí

a Do các phương tiện giao thông có động cơ

Ở các nước đang phát triển, vấn đề ô nhiễm không khí do động cơ ô tô gây ra chưa đến

mức nghiêm trọng như ở các nước công nghiệp phát triển cao Các chất gây ô nhiễm không khí do hoạt động của phương tiện xe cộ là chất oxyt cacbon và hợp chất của chì, ngoài ra còn

có các khí khác như Hydrocacbon và Oxyt Nitơ Các chất này dưới tác dụng của năng lượng mặt trời, tạo nên những chất gây thành sương mù, kích thích mắt, làm tổn hại cây cối

Động cơ ô tô còn sinh ra những chất có thể gây ung thư thực nghiệm trên động vật Lượng khí xả ra do các phương tiện ô tô như sau:

Loại khí thải Lượng chất thải kg/ngày chạy xe

Thể tích

CO (%)

Thể tích

NO (1/106)

Thể tích Hydro(%)

b Nguồn ô nhiễm công nghiệp

Từ các nhà máy điện: Nguồn chủ yếu do sự đốt than Các hạt bụi từ quá trình đốt than

bao gồm số lượng lớn là C, silicat (SiO2), nhôm (Al2O3) và Fe2O3 hoặc Fe3O2 được phát ra dưới dạng tro bay Các chất khí đồng thời cũng được bốc ra từ quá trình đốt than

Trang 16

Từ công nghiệp khác: Như các nhà máy hoá chất, cơ khí, luyện kim, sản xuất vật liệu

xây dựng, điện nguyên tử phát ra các chất phóng xạ…

Bảng 2.6 Các thành phần khí xả

Từ nhà máy điện (kg/tấn than đốt)

c Ô nhiễm môi trường do sinh hoạt của con người:

- Nguồn ô nhiễm này do các bếp đun nấu, các lò sưởi sử dụng nhiên liệu than, củi, dầu, khí đốt…

- Các khí thải xả ra từ đun nấu và sưởi bao gồm:

Adehyt (HCHO) 0.005 lb/tấn than đốt = 0.002 kg/tấn than đốt

2.2 Tác động của ô nhiễm không khí

2.2.1 Ảnh hưởng đến khí hậu, thời tiết

Người ta đưa ra quy định phân loại nước mưa như sau:

Tiêu chuẩn chất lượng nước mưa

Trang 17

>7.0 Mưa kiềm cao

Những trận mưa axit rơi gây nhiều hậu quả khác nhau đối với môi trường:

- Các axit trong mưa hoà tan đá vôi, cẩm thạch, vữa làm các công trình kiến trúc trở nên

lỗ trỗ, yếu đi về mặt cơ học

- Tác động đến nông lâm nghiệp: phá hoại cây cối mùa màng, làm giảm năng suất Tạo

ra sự quá dư thừa phân bón trong đất và trong nước

Do các lượng khí này quá cao trong không khí nhất là trong các thành phố công nghiệp

Sự ô nhiễm này sẽ ảnh hưởng xấu đến con người Các nitơ oxit cũng đóng góp vào quá trình tạo ra các chất oxi hoá làm ảnh hưởng xấu đến sức khỏe và hại cây cối thực vật, chính các nitơ oxit có thể làm cho cây cối bị cằn cỗi kếm phát triển.Sự bốc hơi amoniac từ các khu vực nông nghiệp cũng góp phần không nhỏ vào sự axit hoá môi trường

Sự axit hoá đất, nước và rừng ảnh hưởng đến sự cân bằng tự nhiên giữa các sinh vật và môi trường Khi môi trường bị axit hoá thì các vi sinh vật phân huỷ, các thực vật sẽ không thể tồn tại được Sự axit hoá này gây khó khăn cho việc chuyển hoá các chất dinh dưỡng và làm chậm quá trình phân huỷ các chất hữu cơ Việc chuyển hoá các chất dinh dưỡng kém làm cho thực vật bị vàng , vi sinh vật yếu đi, nếu sự axit hoá quá thì một số loài sẽ không tồn tại

do aixit hoá gây nên thiếu các chất dinh dưỡng tự nhiên như Ca và Mg Thuỷ ngân nằm trong các hạt được giải phóng ra thành các loại có hoá trị cao hơn và khi sự axit hoá tăng thì có thể làm cho nồng độ thuỷ ngân trong cả ao hồ phần nào cũng tăng lên Thuỷ ngân là một thành phần tự nhiên của trái đất nhưng ở thế kỷ trước lượng thuỷ ngân tăng do công nghiệp phát sinh

Mưa axit không phải là nguyên nhân duy nhất gây nên axit hoá Mặt đất còn bị axit hoá

do cây cối trong quá trình phát triển hấp thụ chất dinh dưỡng Khi cây cối chết và bị phân

Trang 18

huỷ, các hợp chất cơ bản được giải phóng ra và duy trì sự cân bằng trên trái đất Khi thu hoạch mùa màng trên đồng ruộng và khi khai thác các cánh rừng vật chất sinh học bị mang đi nơi khác và không bị phân huỷ tại chỗ, sự cân bằng bị ảnh hưởng Hầu hết sự axit hoá có thể giải thích bằng cái gọi là axit hoá sinh học Sự axit hoá ở các tầng sâu hơn trong lòng đất cũng có thể giảng giải bằng quá trình mưa axit

Để giảm bớt hiệu quả của mưa axit trong một khoảng thời gian ngắn, người ta có thể cho thêm vôi xuống các hồ đầm Nhưng về lâu dài thì vấn đề axit hoá phát sinh ra phải được giảm bớt Từ trước tới nay việc điều chỉnh lưu lượng H2S thải ra dễ hơn việc điều chỉnh lượng nitơ oxit vì nito oxit thải ra từ các phương tiện giao thông rất nhiều

b Hiệu ứng lồng (nhà )kính

Hình 2: Sơ đồ mô phỏng hiệu ứng lồng kính

Bức xạ mặt trời chiếu xuống trái đất là bức xạ sóng ngắn dễ dàng xuyên qua lớp khí quyển Ngược lại bức xạ nhiệt từ bề mặt trái đất phản xạ lại không trung là bức xạ sóng dài bị một số khí trong khí quyển giữ lại và hấp thụ làm nhiệt độ trái đất tăng lên hiện tượng này gọi là hiệu ứng nhà kính

Các hoạt động của con người trong thế kỷ trước đã làm tăng lượng khí lồng kính trong khí quyển Thật khó có thể ước tính được hiệu quả của sự gia tăng này Nhiều người đã lo lắng trước sự tăng lên rõ ràng của nhiệt độ kéo theo sự thay đổi về khí hậu

Hiệu ứng lồng kính có thể gia tăng hơn các vùng đất bỏ hoang và làm phức tạp hơn cho điều kiện trồng trọt ở nhiều nơi trên thế giới Khắp đó đây vấn đề này là vấn đề lớn Hệ thống sinh thái của trái đất vô cùng phức tạp và thật khó có thể thấy được những gì thay đổi trong khoảng thời gian mà ta xem xét Lượng CO2 ngày càng cao hơn bất kỳ thời gian nào trong quá khứ

Trang 19

Hình 3: Băng tan do nhiệt độ bề mặt trái đất nóng lên

Nhiều loại khí lồng kính khác có khả năng giữ nhiệt trong không khí tốt hơn CO2 nhưng lượng của các khí đó thấp hơn nên dẫn tới tổng hiệu ứng của các loại khí này thấp hơn Một số loại khí lồng kinh quan trọng hơn CO2 là Metan, NO2, Ozon và CFC

Một số hoạt động của con người phát sinh khí lồng kính như:

- CO2, Metan: Do sự đốt cháy, than, xăng, dầu, củi và các nhiên liệu; trong nông nghiệp: sản sinh ra từ động thực vật, trồng trọt lúa

- NO2: Do phân đạm, sự đốt cháy

- Ôzon: Do các phản ứng quang hoá

- CFC: Do bơm nhiệt, tủ lạnh, sản xuất bột plastic

Biện pháp phòng ngừa là giảm khí lồng kính trên hành tinh xuống (đến năm 2005 phải giảm khí CO2 xuống 20%)

c Sự phá vỡ tầng Ôzôn (O 3 )

Trong tầng bình lưu ở độ cao khoảng 25km trên bề mặt trái đất có một tầng mỏng ozon , tầng khí này có tác dụng như một bộ lọc để lọc các bức xạ cực tím phát ra từ mặt trời Phá vỡ tầng Ôzôn sẽ dẫn đến tăng bức xạ cực tím xuống trái đất ở bề mặt trái đất khi bức xạ tăng có thể làm nhiệt độ tăng gây nên nhiều ung nhọt ở thân thể con người Bức xạ này có thể làm hại cây cối hoa màu cũng như các loài động vật Nếu không có tầng Ozon thì sự sống trên trái đất không thể tồn tại

Trang 20

Hình 4: Lỗ hổng tầng ozon ở Nam cực (ảnh chụp năm 2006)

Tầng Ozon bị phá thủng bởi một số khí nhân tạo và khí tự nhiên song khí nhân tạo tác động mạnh mẽ nhất Hầu hết các hợp chất bị clo hoá và brom hoá gây ảnh hưởng đến tầng Ozon Hợp chất được biết nhiều nhất là CFC (Freon) CFC như là các tác nhân làm lạnh trong máy lạnh và bơm nhiệt

Ozon là một loại khí vừa có lợi vừa có hại đối với môi trường Ngoài chưc năng như là một bộ lọc để lọc bức xạ cực tím trong tầng bình lưu, nó còn hoạt động như là một loại khí lồng kính ở các tầng thấp hơn trong khí quyển Lượng Ozon gia tăng cũng góp phần vào việc tăng nhiệt độ trái đất Trên bề mặt trái đất Ozon sinh ra khí hydro cacbon và NO2 phản ứng dưới tác dụng của ánh sáng mặt trời Khí Ozon gây hại cho cây cối và sức khỏe con người Khí Ozon phá huỷ các hợp chất nào lưu lại lâu dài trong khí quyển Điều này có nghĩa là nếu như việc sản sinh các hợp chất này có thể chấm dứt hoàn toàn hôm nay thì việc phá vỡ tầng Ozon vẫn tiếp tục trong một thời gian dài

Biện pháp bảo vệ tầng Ozon Nhiều hội nghị của các nhà khoa học có tên tuổi trên thế giới yêu cầu các quốc gia hạn chế và ngừng hẳn việc chế bán khí Freon đề ra biện pháp thu hồi phân huỷ Freon và sử dụng các khí CFC ít nguy hiểm hơn hoặc thay thế bằng các sản phẩm

khác

2.2.2 Ảnh hưởng đến sức khoẻ của con người và động thực vật:

a Đối với con người:

* Các loại bụi:

Bụi là tập hợp nhiều hạt vật chất vô cơ hoặc hưu cơ, có kích thước nhỏ bé tồn tại trong không khí dưới dạng bụi bay, bụi lắng, hơi, khói và sương mù

Người ta thường dựa vào các đặc tính khác nhau của bụi để phân loại

+ Theo nguồn gốc: bụi hữu cơ, bụi vô cơ, bụi tự nhiên, bụi nhân tạo

+ Theo kích thước : > 10 m : bụi

0,110 m : sương mù

< 0,1 m : khói

+ Theo tác hại của bụi: bụi gây viêm mũi, ung thư, nhiễm trùng, xơ phổi,…

Tác hại bụi: gây bệnh phổi, bệnh đường hô hấp, bệnh ngoài da, bệnh ở đường tiêu hoá…

* Các chất độc hại trong không khí :

Nguồn gốc: do sản xuất công nghiệp và quá trình đốt cháy nhiên liệu thải ra môi trường không khí các chất độc hại

Phân loại : Dựa vào tác dụng chủ yếu của chất độc

Trang 21

Gây ngạt hoá học : CO hoá hợp chất khác làm mất khả năng vận chuyển O2 của hồng cầu làm cho hô hấp bị rối loạn

+Nhóm 4: Chất tác dụng hệ thần kinh trung ương , gây mê, gây tê như các loại rượu mạnh, H2S, CS2, xăng

+ Nhóm 5 : chất gây độc : hidrocacbua halogen, CH3Cl, CH3Br

Gây tổn thương cho hệ thống tạo máu: C6H6, Pb, As, Cd, Hg,

Các chất độc hại có thể xâm nhập vào cơ thể theo đường hô hấp, đường tiêu hoá, thấm qua da, qua các tuyến mồ hôi, lỗ lông chân

b Đối với động thực vật:

* Động vật:

Nói chung, động vật được chăn nuôi cũng như động vật hoang dại đều rất nhạy cảm

với ô nhiễm môi trường không khí lớn hơn con người Ở một số nước công nghiệp lớn, một số loài động vật đã diệt vong vì ô nhiễm môi trường Người ta đã biết lợi dụng tính nhạy cảm đó

để phát hiện và đánh giá ô nhiễm môi trường không khí Ví dụ như người ta đã dùng chim Bạch Yến để phát hiện khí độc hại trong mỏ than, cũng như trên tàu chở than Các loài động vật ăn rau - cỏ còn bị bệnh vì ăn phải rau - cỏ có bám bụi hơi khí độc hại hoặc các thực vật đã

bị nhiễm độc hại Sau đó, con người sẽ bị nhiễm độc vì ăn các loài động vật và thực vật đã chứa đựng các chất ô nhiễm độc hại Tác hại của ô nhiễm môi trường không khí đối với các loài bò sát và các loài chim rất nhạy cảm

* Thực vật:

Hầu hết các chất ô nhiễm trong môi trường không khí đều có tác dụng xấu đến thực

vật, gây ảnh hưởng có hại đối với nghề nông và nghề làm vườn Biểu hiện chính của nó là làm cho cây trồng chậm phát triển, đặc biệt là sương khói quang hoá đã gây tác hại khốc liệt đối với các loại rau như rau diếp, đậu Hà Lan, lúa, ngô, các loại cây ăn quả và các loại phong lan Những thành phần ô nhiễm trong môi trường không khí như sulfurơ (SO2), hydro florua (HF), natri clorua (NaCl), các hơi, bụi từ công nghiệp luyện đồng, chì, kẽm, nhuộm v.v… đặc biệt là hơi khí bốc ra từ các lò nung vôi, nung gạch thủ công, ngay cả khi nồng độ của chúng còn thấp cũng đã làm chậm quá trình sinh trưởng của thực vật, nồng độ cao làm vàng lá, làm hoa quả bị lép, bị nứt, bị thui và mức độ cao hơn thì lá cây cũng như hoa quả đều

trường, hàng năm nhà máy phải chi hàng trục triệu đồng để đền bù nông dân vì khí SO2 và

CO2 của lò nung gạch thải ra đã làm táp lúa, hoặc lúa ra đòng nhưng bị lép

Tuy vậy, cá biệt cũng có những chất ô nhiễm có tác dụng tốt đối với thực vật, có tác dụng tăng cường sinh trưởng cây, đặc biệt là đối với các loại tảo như là các chất photpho, nitơ và cacbon

2.2.3 Các chất độc hại

Loài người và tất cả loài sinh vật khác luôn luôn phải tiếp xúc với các chất độc hại Một số chất như thuỷ ngân, chì luôn được sử dụng với lượng nhỏ Nhưng ngày nay các quá

Trang 22

trình công nghệ đã sử dụng chúng với mức nguy hiểm và thải chúng vào môi trường Một số sản phẩm bao gồm thuốc diệt côn trùng và các loại hoá chất công nghiệp mà chỉ một lượng nhỏ đã gây chết người đã được tìm thấy trong không khí, nước, đất và trong thực phẩm Rất nhiều hoá chất có tính gây ung thư, đột biến gien, quái thai

Độc tính là khả năng mà hoá chất có thể gây bệnh tật và giết người Một đơn vị đo của độc tính là LD50 liều lượng của một chất mà có thể giết chết 50% số dân thử nghiệm Độc tính được đo bằng các đơn vị chất độc trên mỗi kg trọng lượng thân thể Ví dụ : Loại hoá chất giết chết người có thể gây chứng ngộ độc thịt, một loại chất độc thực phẩm, có lượng LD50 là 0,0014 miligam/Kg trong các người nam giới đã trưởng thành Có nghĩa là nếu liều lượng này chỉ là 0,14 miligam tương đương với vài hạt muối mà cho mỗi người nam giới trưởng thành ăn (mà mỗi người nặng 100 Kg), thử nghiêm 100 người thì khoảng 50 người trong số ấy sẽ chết Các liều lượng nguy hiểm chết người tuy nhiên không phải từ các độc chất Ngày nay các ngành công nghiệp và chính phủ đã quan tâm nhiều hơn đến các liều dùng có hại nhỏ nhất, hoặc các liều dùng theo nguồn độc tố cũng như các ảnh hưởng phụ

Độc tính tương đối của một hoá chất độc phụ thuộc và lứa tuổi, giới tính và sức khoẻ của người tiếp xúc, một liều dùng có thể gây nguy hại cho người này nhưng lại chỉ gây triệu chứng nhẹ cho người khác Độc tính hơn nữa phụ thuộc và trường hợp chất đó thâm nhập vào cơ thể con đường nào Nói chung các hoá chất thâm nhập qua da chậm hơn so với đường hô hấp và tiêu hoá Vì vậy khi chất độc này dây vào da thì ít gây ốm đau hơn là khi người ta không may nuốt và hít phải Việc tiếp xúc lâu dài với độc tố làm cho việc xác định các chỉ số độc tố phức tạp hơn Sự tiếp xúc bộc phát là một lần tiếp xúc kéo dài từ vài giây đến vài ngày Sự tiếp xúc lâu dài là sự tiếp xúc liên tục hoặc cách nhật nhưng kéo dài trong nhiều ngày, nhiều tuần, nhiều tháng hoặc nhiều năm Sự tiếp xúc bộc phát thường là nguyên nhân của tai nạn bất ngờ

Ví dụ khi Clo thoát ra từ một toa xe téc bị phá vỡ và tức thì gây chết người và làm nhiều người mang bệnh suốt đời Sự tiếp xúc đột xuất thường được mọi người biết đến nhưng sự tiếp xúc lâu dài với liều lượng nhỏ hoá chất độc hại gây hại lớn cho sức khỏe của cộng đồng nhưng lại

ít được quan tâm Ví dụ hàng triệu người dân thành phố liên tục bị tiếp xúc với mức độ thấp các chất ô nhiễm trong không khí như SO2 sinh ra do việc đốt than và dầu mỡ Nhiều người

đã chết vì bệnh phù phổi hoặc bệnh tim mạch mà những bệnh ấy có thể do tiếp xúc lâu dài với lượng nhỏ chất ô nhiễm không khí

Việc sử dụng các chỉ số độc tính để xác định mức độ an toàn cho con người tiếp xúc với độc tố hiện nay vẫn còn khó khăn: Một số viện khảo sát nghiên cứu đã được tiến hành Các nhà khoa học phải dựa vào các thông số từ những sự tiếp xúc trực tiếp đột xuất của con người với độc tố, hoặc thường xuyên hơn dựa trên thông số từ các cuộc thử nghiệm trên súc vật Nhưng các chuyên gia y tế cũng không thể hoàn toàn tin cậy dựa vào kết quả thử nghiệm trên động vật để áp dụng cho người Vì vậy rất khó xác định mức độ tiếp xúc an toàn cho bất

kỳ hoá chất nào

Nhưng chúng ta đã chú ý các chất độc không chỉ gây ra ngộ độc trực tiếp mà còn gây ra ung thư, quái thai hoặc đột biến gen Trong các cuộc thử nghiệm trên động vật, một số lớn chất được biết có thể gây ung thư có thể tìm thấy lẫn trong không khí, nguồn nước và thực phẩm, chúng bao gồm các sợi amiăng, kim loại cadimi, niken và các hợp chất của crôm, vinyl clorit và các tác nhân của các loại chất dẻo tổng hợp, chất “hắc ín” trong khói thuốc lá Tia phóng xạ từ các vật liệu phóng xạ và các thiết bị phát tia X, các tia cực tím cũng có thể gây ung thư Ngay cả ánh mặt trời cũng gây ung thư: Tia cực tím từ mặt trời được cho là nguyên nhân gây ung thư da Sợi amiăng là khoáng chất chịu lửa được sử dụng nhiều trong công nghiệp xây dựng và ngành chế tạo các sản phẩm như các lớp đệm phanh ô tô rõ ràng là nguyên nhân gây tử vong ung thư hơn bất kì chất nào mà ta gặp ở nơi làm việc

Trang 23

Một số chất gây ô nhiễm môi trường không những gây ra ung thư mà còn gây quái thai,

tử vong ở trẻ sơ sinh Các tác nhân gây quái thai đựơc biết đến là thuỷ ngân metyl, các tia X và tia phóng xạ được phát ra từ các chất phóng xạ Người mẹ mang thai mà hút thuốc cũng là nguyên nhân gây khuyết tật cho đứa con Các hợp chất thuỷ ngân, chì, tia cực tím, các tia X và các tia phóng xạ phát ra từ những vật liệu phóng xạ là những tác nhân gây ra xảy thai, chết thai, đần độn, bệnh tim, dị dạng về xương, khớp và các khuyết tật khác

Có nhiều nỗ lực để xác định mức độ an toàn đối với các chứng ung thư, quái thai biến đổi gen, nhưng cũng gặp nhiều điều cản trở như trước đây người ta thường gặp phải khi xác định mức độ LD50 Các thí nghiệm cho ra các kết quả khác nhau phụ thuộc từng lứa tuổi, giới tính, sức khoẻ, chủng tộc và thời gian tiếp xúc cũng như con đường mà chất độc thâm nhập vào cơ thể Một điều khó khăn lớn trong việc nghiên cứu khả năng gây bệnh ung thư là bệnh ung thư chỉ phát ra sau 10 đến 20 năm tiếp xúc với chất có tính chất ung thư

2.3 Giải pháp phòng chống ô nhiễm môi trường không khí:

2.3.1 Giải pháp qui hoạch:

Việc quy hoạch đô thị nông thôn, bố trí khu công nghiệp khu dân cư nói chung, hoặc quy hoạch bố trí một công trình cụ thể có ý nghĩa quan trọng đối với việc phòng chống ô nhiễm môi trường không khí

Cần bố trí sắp xếp các công trình hợp lí theo mặt bằng, theo địa hình, theo không gian, phải đáp ứng các yêu cầu về môi trường

Một số nguyên tắc trong việc thiết lập mặt bằng chung khu công nghiệp để phòng chống

ô nhiễm môi trường không khí

- Hình thành các nhà máy với các tổ hợp công nghệ độc lập

- Hợp khối

- Phân khu hợp lí theo các giai đoạn phát triển mở rộng

- Tập trung các đường ống công nghệ (nghĩa là: trong nhà máy: phân định rõ khu sản xuất, khu phụ trợ, kho hàng, khu hành chính… Cần sắp xếp để khi mở rộng quy mô không ảnh hưởng đến sản xuất, tạo điều kiện khai thác nhà máy thuận lợi, dễ dàng tập trung các nguồn thải, các thiết bị sạch, các hệ thống xử lí không khí, các thiết bị kiểm tra kiểm soát và báo động ô nhiễm môi trường

2.3.2 Giải pháp cách li vệ sinh làm giảm sự ô nhiễm:

- Tuỳ theo công nghệ sản xuất và khối lượng chất thải gây ra ô nhiễm môi trường không khí xung quanh mà thiết kế cách li vệ sinh giữa khu nhà máy và khu dân cư Thường thì dải cách ly ở trong khoảng 50 – 1000m

- Dải cách ly này nhằm đảm bảo để nồng độ chất độc hại ở khu vực dân cư không vượt quá nồng độ cho phép

Bảng 2.7 Khoảng cách vệ sinh theo mức độc hại của xí nghiệp công nghiệp

Chiều rộng vùng cách ly (m) 1000 500 300 100 50

2.3.3 Giải pháp công nghệ kỹ thuật

Mục đích hoàn thiện công nghệ SX, sử dụng công nghệ tiên tiến hiện đại, công nghệ SX kín, giảm các khâu thủ công, áp dụng cơ giói hoá và tự động hoá trong dây chuyền SX, tăng năng suăt lao động, đảm bảo chất lượng sản phẩm, an toàn cho người lao động và vệ sinh môi trường

Trang 24

Với giải pháp này thì chất độc hại không toả ra hoặc toả ra rất ít vào môi trường không khí xung quanh, các khí thải được thu gom tập trung theo đường ống kín thải ra ngoài

2.3.4 Giải pháp kỹ thuật làm sạch khí thải

Căn cứ vào thành phần, tính chất, kích thước và khối lượng chất thải mà sử dụng các công nghệ làm sạch khác nhau

Ví dụ : thu gom và lọc bụi trước khi thải khí ra ngoài thì dựa vào kích thước hạt bụi , vận tốc tách các hạt bụi ra khỏi không khí… ( lọc li tâm, lưới lọc kim loại…)

2.3.5 Giải pháp sinh học

Mục đích là đảm bảo hệ sinh thái cân bằng quan trọng nhất là cây xanh (có tác dụng điều hoà khí hậu, ban ngày cây xanh hấp thụ nhiệt bức xạ mặt trời, hút CO2 và thải O2 Nơi có nhiều cây xanh nhiệt độ thấp, có tác dụng che nắng, giảm bớt tiếng ồn gây cảm giác thoải mái

dễ chịu Ngoài ra không khí có bụi khi đi qua lùm cây thì một số bụi bị giữ lại giúp cho không khí sạch hơn Ngoài ra cây xanh còn có phản ứng với các chất độc hại nhanh hơn người và động vật)

2.3.6 Giải pháp quản lí, luật bảo vệ môi trường không khí :

- Có luật bảo vệ môi trường, các tiêu chuẩn vệ sinh, thành lập các cơ quan kiểm tra kiểm soát quản lí về môi trường cụ thể

- Nếu đơn vị sản xuất nào không chấp hành nghiêm chỉnh luật bảo vệ môi trường thì sẽ bị ngừng sản xuất, đền bù thiệt hại

- Khuyến khích các nhà máy áp dụng công nghệ dây chuyền hiện đại

- Tổ chức kiểm soát chất thải

Trang 25

Chương 3: Ô nhiễm nước và bảo vệ môi trường nước

3.1 Nguồn nước

3.1.1 Các nguồn nước trên trái đất

Nước được phát sinh từ trong lòng đất, từ các thiên thạch và lớp trên của khí quyển trái đất

Nước chủ yếu trên trái đất (nước ngọt, nước mặn và hơi nước) đều bắt đầu từ lòng đất (nước hình thành trong quá trình này là khi thoát dần ra lớp vỏ ngoài thì biến thể thành chất khí, bốc hơi cuối cùng ngưng tụ lại thành nước Các khối nước ban đầu thoát ra và ngưng tụ lại tràn ngập tại miền trũng tạo nên đại dương và sông hồ nguyên thuỷ) Như vậy nước trong

tự nhiên luôn vận động và thay đổi trạng thái

Nước trên trái đất được chia thành 3 nguồn chủ yếu: nước mặt, nước ngầm và hơi nước Nguồn nước sông, ngòi, ao hồ, chiếm thể tích rất nhỏ trong tổng số lượng nước trên trái đất nhưng là nguồn nước chính cung cấp cho đời sống hàng ngày của chúng ta Và nguồn nước này luôn luôn được tái tạo nhờ chu trình thuỷ lực

3.1.2 Chu trình thuỷ lực

Sự vận động của nước trên mặt đất và trong khí quyển thực hiện một cách tự nhiên theo

5 dạng cơ bản: Mưa – dòng chảy – thấm bốc hơi – ngưng tụ và thành mưa

Nước vận động trong chu trình này là nhờ bức xạ sóng ngắn của mặt trời Năng lượng mặt trời chuyển nước từ đại dương và đất liền vào khí quyển bằng 2 quá trình: bay hơi và thăng hoa

+ Quá trình bay hơi: Do các tia bức xạ mặt trời tới trái đất và và chúng bị hấp thụ 1 phần và chuyển đổi thành nhiệt năng làm cho khí quyển nóng lên và từ đó hâm nóng lớp nước

bề mặt ở đại dương và đất liền trong các thể lỏng khác nhau làm chúng bay hơi

+ Quá trình thăng hoa: là quá trình chuyển thể từ rắn sang thể hơi; đóng tuyết, băng mất dần ngay cả khi dưới nhiệt độ thành khói

Như vậy nước thu nhận từ năng lượng mặt trời và bốc hơi (như ta biết: trên khí quyển có

sự khác nhau về nhiệt độ các vùng tạo ra mật độ không khí không đồng đều làm cho không khí chuyển động tạo thành gió và hơi nước bốc lên với không khí nóng tới tầng cao khí quyển thì ngưng tụ lại thành trạng thái lỏng (dạng hạt nhỏ) Sau đó lại rơi xuống mặt đất và đi đến các vùng trên trái đất

3.1.3 Tầm quan trọng của nước:

- Nước là tài nguyên rất cần thiết cho sự sống trên trái đất Được coi là nguồn “khoáng sản” đặc biệt vì tàng trữ một nguồn năng lượng lớn phục vụ cho nhu cầu nhiều mặt của con người

- Chiếm 70% trọng lượng cơ thể con người Nước chiếm 80% của trọng lượng các cơ

- Ngày nay đã khám phá thêm nhiều khả năng to lớn của nước đảm bảo cho nền văn minh nhân loại VD: dùng trong chế biến thực phẩm, sản xuất điện…

- Nước tham gia vào các mắt lưới trong lưới thức ăn Cây hút nước từ đất Các sinh vật tiêu thụ khác nhau đều sử dụng nước và qua quá trình trao đổi chất, một phần nước lại quay về đất hoặc khí quyển

Vì vậy nước không thể thiếu được đối với đời sống con người và sinh vật

3.1.4 Những vấn đề về nguồn nước:

Trang 26

* Thiếu nước ngọt:

Chỉ một phần rất nhỏ từ nguồn nước phong phú trên hành tinh mà chúng ta có thể sử

dụng được là nước ngọt Có khoảng 97% là nước biển mặn chỉ còn lại khoảng 3% nước ngọt trong đó có tới 2.997% lượng nước nàybị đóng băng và chôn sâu ở các vùng Bắc cực, chỉ còn lại 0.003% của tổng thể tích nước trên Trái đất là để sử dụng Phần này bao gồm nước ngầm, hơi nước, nước mặt từ các sông hồ và độ ẩm từ đất Số lượng nước ngọt có thể sử dụng luôn được tuần hoàn trong chu trình hydro Về định lượng và định tính, nước giữ vai trò chính trong việc chuyển đổi những hệ sinh thái do con người tạo ra và trong việc ổn định hoá những

hệ sinh thái này

Có bốn nguyên nhân của sự khan hiếm nước ngọt:

- Do khí hậu khô

- Do hạn hán

- Do sự làm khô hạn

- Do áp lực sử dụng nước

* Quá nhiều nước: Một số quốc gia có đủ nước mưa hàng năm nhưng hầu hết lại nhận

được trong cùng một thời gian Ví dụ ấn Độ, 90% cử lượng mưa hàng năm đổ xuống vào mùa mưa khoảng từ tháng bẩy đến tháng chín Những cơn mưa kéo dài như trút xuống kéo dài làm ngập đất, lấy đi các chất dinh dưỡng của đất, làm trôi lớp đất mặt và là nguyên nhân gây ra các cơn lụt Sự đô thị hoá làm tăng các cơn lụt là do việc thay thế cây xanh và đất bởi các công trình, đường cao tốc,…điều đó dẫn đến tăng tốc độ dòng chảy của các dòng nước mưa Nừu mực nước biển tăng trong các thế kỉtới như dự báo thì một số vùng thấp ven biển, vùng đất ẩm

ướt, các vùng đất trồng sẽ bị chìm xuớng dưới mực nước biển

3.2 Ô nhiễm nguồn nước và sự ảnh hưởng của nó tới môi trường

3.2.1 Các nguồn chủ yếu gây ô nhiễm môi trường nước

a Nguồn nhân tạo

* Nguồn thành thị: Bao gồm nước thải ra từ các khu sinh hoạt của dân cư có thể đã được thu bởi hệ thống thoát nước, qua các trạm xử lý trước khi xả ra nguồn

Nguồn thành thị cũng bao gồm hỗn hợp nước thải và nước mưa chảy trực tiếp ra nguồn nước mà không qua xử lý

* Nguồn nông nghiệp: Bao gồm các loại phân hoá học, thuốc trừ sâu, diệt cỏ… Là

những nguồn gây ô nhiễm đáng kể Tổng số các chất thải nông nghiệp xả vào nguồn nước khá lớn, đặc biệt là những vùng nông nghiệp đã phát triển

b Nguồn tự nhiên: bao gồm các loại sau:

* Nước mưa: xả vào nguồn một lượng lớn các chât hữu cơ từ quá trình phân huỷ động vật và thực vật, các chất hữu cơ từ xói mòn đất Đôi khi trong đất mùn còn chứa nhiều chất mềm và mầu

* Các sinh vật nước đồng thời cũng là nguồn tự nhiên gây ô nhiễm Thông thường,

sự phát triển của động vật và thực vật trong nước phụ thuộc vào chất dinh dưỡng có trong nguồn Khi chất dinh dưỡng trong nguồn quá nhiều thì các sinh vật sẽ phát triển mạnh và khi chết đi gây ô nhiễm cho nguồn

3.2.2 Các chất gây ô nhiễm môi trường nước

* Các chất thải hữu cơ có nguồn gốc từ động thực vật: Là nguồn chất gây ô nhiễm

chủ yếu trong các nguồn nước Các chất này thường chiếm tỷ lệ cao trong nước thải sinh hoạt

đô thị, nước thải công nghiệp chế biến thực phẩm Thành phần hữu cơ của của nước thải sinh hoạt và nước thải của một số ngành sản xuất được nêu trong bảng 3.1 và 3.2

Trang 27

Bảng 3.1 Thành phần đặc trưng của nước thải sinh hoạt

Chất ô nhiễm trong nước thải Nồng độ (mg/lít)

Loại mạnh Loại yếu Trung bình

Bảng 3.2 Thành phần nước thải của một số ngành công nghiệp

Ngành công nghiệp Chất ô nhiễm trong nước thải nồng độ (mg/lít)

Trang 28

tác dụng với NO3 để tạo thành N2, CO2, H2O thực hiện quá trình khử Nitrat dưới tác dụng của các vi khuẩn khử Nitơ Sau đó là quá trình phân huỷ yếm khí tạo ra CH4, H2S gây nên sự ô nhiễm

Sự có mặt của các hợp chất chứa nitơ và phốt pho với hàm lượng lớn trong nguồn nước như mặt sông, hồ gây nên hiện tượng nở hoa của nước

Hiện tượng nở hoa của nước là sự phát triển quá mức của các loài tảo lam, tảo lục trong

nước ngọt khi trong nước có quá nhiều chất hữu cơ Nitơ và phốt pho, tạo nên sự "phú dưỡng" trong các sông hồ Sự tích luỹ các chất dinh dưỡng này sẽ khiến cho các loài tảo sinh sôi nảy

nở nhanh chóng, làm cho hệ sinh thái thuỷ sinh trong nước bị phá hoại nghiêm trọng Sau đó khi tảo chết đi, trong quá trình phân huỷ cần tới một lượng oxy hòa tan trong nước khiến cho

độ thiếu hụt oxy tăng lên và nước ở trạng thái yếm khí gây mùi khó chịu

Hiện tượng nở hoa của nước không những phá hoại chất lượng nguồn nước mà còn làm ảnh hưởng tới cảnh quan mặt nước

* Các chất hữu cơ tổng hợp

+ Các hoá chất hữu cơ từ nước thải công nghiệp: Các tác nhân gây ô nhiễm điển hình từ nước thải các ngành công nghiệp được thể hiện ở bảng 3.3

Bảng 3.3 Các chất gây ô nhiễm điển hình từ nước thải công nghiệp

Chế biến sữa

BOD, pH, SS

Màu, tổng P, N, TOC, độ

đục, toChế biến đồ hộp, rau quả

đông lạnh

BOD, COD, pH, SS, TDS Màu, tổng P, N, TOC, to

Chế biến bia, rượu BOD, COD, pH, SS, chất rắn có

Trang 29

Hoá chất hữu cơ BOD, COD, pH, TSS, TDS, dầu

loại nặng, phenol, toHoá dầu

NH4+, BOD, Crom, COD, dầu, pH, phenol, SS, to

Cl-, CN, Pb, N, P, TOC,

Zn, độ đục Nhiệt điện

NH4+, BOD, Crom, COD, dầu, pH, phenol, SS, to

Cu, Fe, TDS, Zn

+ Thuốc bảo vệ thực vật chiếm một vị trí độc đáo trong số những chất gây ô nhiễm

môi trường Ngược lại với những chất gây ô nhiễm khác, thuốc trừ sâu được người ta phân tán

ra môi trường tự nhiên để diệt một số loài sâu hại Người ta phân ra 3 loại sau đây:

Các loại thuốc trừ sâu: Bao gồm chủ yếu:

- Các hợp chất clo hữu cơ được điều chế bằng cách clo hoá các phân tử vòng thơm hoặc các phân tử dị vòng (DDT, lindan) Những chất này không tan trong nước và bền tới 10 năm

- Các hợp chất photpho hữu cơ là những este của rượu và axit photphoric (paration, malation) nhanh chóng bị phân giải sinh học trong nước

- Những cacbonat là những este của axit N-metyl cacbamic Những loại này ít độc hại đối với các động vật máu nóng

Các loại thuốc trừ nấm: Thông dụng nhất là những loại thuốc trừ nấm thuỷ ngân

hữu cơ Chúng được dùng phối hợp với thuốc trừ sâu clor hữu cơ để bảo quản hạt giống

Các loại thuốc trừ cỏ: Những loại chính là:

- Các dẫn xuất của axit phenoxy axetic

- Các triazin

Các loại thuốc trừ sâu thể hiện những tác động khác nhau lên môi trường:

- Những tác dụng độc hại trực tiếp đối với các loài động vật và thực vật

- Làm giảm tiềm năng sinh vật của những loài bị nhiễm thuốc

- Làm biến mất nhiều loài và như vậy làm mất cân bằng của các quần thể đồng thời làm tăng nhanh chóng nhiều loài do mất kẻ đi săn chúng làm mồi

Hiện nay trên thế giới có tổng cộng, khoảng 31 triệu ha trồng trọt đã nhận hàng năm: -100.000 tấn chất hữu cơ tổng hợp

- 60.000 tấn lưu huỳnh

- 7.500 tấn đồng, thông qua hơn 500 chế phẩm thương mại

* Các chất vô cơ độc hại

* Các vi sinh vật gây bệnh

* Các chất phóng xạ

* Các chất gây lắng đọng và bồi lấp dòng chảy

3.2.3 Chỉ tiêu đánh giá sự ô nhiễm nước

a/ Chỉ tiêu vật lí

Nhiệt độ, màu, mùi vị, độ đục, độ dẫn điện (chủ yếu đánh giá về mặt định tính độ nhiễm bẩn của nước do các loại chất thải công nghiệp)

b/ Chỉ tiêu hoá học

Ngày đăng: 03/04/2014, 06:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ HST vớ i dòng vật chất và dòng nă ng lư ợ ng - Môi trường và con người ppt
v ớ i dòng vật chất và dòng nă ng lư ợ ng (Trang 9)
Bảng 2.3. Bảng tiêu chuẩn tối đa về nồng độ các chất trong không khí - Môi trường và con người ppt
Bảng 2.3. Bảng tiêu chuẩn tối đa về nồng độ các chất trong không khí (Trang 14)
Bảng 2.5. Thành phần của khí thoát ra tuỳ vào từng loại trạng thái khởi động động cơ - Môi trường và con người ppt
Bảng 2.5. Thành phần của khí thoát ra tuỳ vào từng loại trạng thái khởi động động cơ (Trang 15)
Hình 2: Sơ đồ mô phỏng hiệu ứng lồng kính - Môi trường và con người ppt
Hình 2 Sơ đồ mô phỏng hiệu ứng lồng kính (Trang 18)
Bảng 3.2. Thành phần nước thải của một số ngành công nghiệp - Môi trường và con người ppt
Bảng 3.2. Thành phần nước thải của một số ngành công nghiệp (Trang 27)
Bảng 3.1. Thành phần đặc trưng của nước thải sinh hoạt - Môi trường và con người ppt
Bảng 3.1. Thành phần đặc trưng của nước thải sinh hoạt (Trang 27)
Bảng 3.3. Các chất gây ô nhiễm điển hình từ nước thải công nghiệp - Môi trường và con người ppt
Bảng 3.3. Các chất gây ô nhiễm điển hình từ nước thải công nghiệp (Trang 28)
Bảng 4.1 Các phương pháp xử lý phế thải rắn công nghiệp thông dụng  Mức - Môi trường và con người ppt
Bảng 4.1 Các phương pháp xử lý phế thải rắn công nghiệp thông dụng Mức (Trang 41)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w