1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bước đầu nghiên cứu hội chứng đỏ da toàn thân do thuốc doc

5 597 4
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 184,99 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc mua bán thuốc dễ dàng và sự lạm dụng thuốc trong cộng đồng đã làm cho tình hình dị ứng thuốc ngày càng gia tăng với nhiều hội chứng phức tạp, trong đó hội chứng đỏ da toàn thân ĐDTT

Trang 1

Bước đầu nghiên cứu hội chứng đỏ da toàn thân

do thuốc

Nguyễn Văn Đoàn

Bộ môn Dị ứng Trường Đại học Y Hà Nội

Nghiên cứu 169 bệnh nhân có hội chứng ĐDTT điều trị nội trú tại Khoa Dị ứng –MDLS BV Bạch Mai từ năm 1991-2001 cho thấy: Kháng sinh là nguyên nhân chủ yếu (62,3%) trong số 12 nhóm thuốc gây đỏ da toàn thân, "họ" kháng sinh hay gặp là Beta-lactam (77,5%) ĐDTT thường xuất hiện muộn (53,3%) Có 16 triệu chứng của đỏ da toàn thân là: đỏ da toàn thân, ngứa, sốt, phù Quincke, bong vẩy… Máu lắng tăng, bạch cầu tăng và có tổn thương tế bào gan là những thay đổi đáng kể Thời gian điều trị trung bình bệnh nhân ĐDTT nội trú là: 9,1± 5,2 ngày Có 4 loại thuốc và dịch truyền thường được dùng trong điều trị là: Solu-medrol, Dimedrol, Vitamin C và dung dịch glucose 5% Không có bệnh nhân ĐDTT nào tử vong trong thời gian điều trị nội trú

I Đặt vấn đề

Dị ứng thuốc là một tai biến do thuốc hay

gặp và nghiêm trọng Biểu hiện lâm sàng có

khi khá phức tạp [4]

Trong những năm gần đây cùng với sự phát

triển của công nghiệp dược trong nước nhiều

công ty dược phẩm nước ngoài được phép kinh

doanh tại Việt Nam do vậy số lượng và chủng

loại thuốc tăng nhanh đến mức chóng mặt Việc

mua bán thuốc dễ dàng và sự lạm dụng thuốc

trong cộng đồng đã làm cho tình hình dị ứng

thuốc ngày càng gia tăng với nhiều hội chứng

phức tạp, trong đó hội chứng đỏ da toàn thân

(ĐDTT) chiếm một tỉ lệ cao [2]

Tiến hành nghiên cứu hội chứng đỏ da

toàn thân do thuốc từ 1/1991 đến 12/2001

chúng tôi nhằm mấy mục đích sau:

1 Tìm hiểu những thuốc gây đỏ da toàn thân

2 Tìm hiểu một số biểu hiện lâm sàng và

xét nghiệm của hội chứng đỏ da toàn thân

3 Một số kết quả điều trị hội chứng đỏ da

toàn thân

II Đối tượng và phương pháp

nghiên cứu

1 Đối tượng nghiên cứu:

Tất cả bệnh nhân đã được chẩn đoán xác

định đỏ da toàn thân do dị ứng thuốc, điều trị

nội trú tại Khoa Dị ứng -MDLS Bệnh viện

Bạch Mai từ 1/1991 đến 12/2001

2 Phương pháp nghiên cứu:

Hồi cứu cắt ngang

169 bệnh án đã đươc chọn lọc với các tiêu

chuẩn chặt chẽ sau:

a) Có tiền sử đã dùng thuốc gây dị ứng (phương pháp khai thác tiền sử dị ứng thuốc

được áp dụng theo mẫu khai thác tiền sử dị ứng của Bộ môn Dị ứng và Khoa Dị ứng- MDLS Bệnh viện Bạch Mai)

b) Có hội chứng ĐDTT sau khi dùng thuốc (hội chứng ĐDTT gồm một số triệu chứng sau: sốt; ngứa; da phần lớn của cơ thể hoặc da toàn thân đỏ như tôm luộc; loét hoặc nổi bọng nước ở

kẽ chân tay hay những nếp gấp khác; có thể có tổn thương gan, thận hoặc một số cơ quan khác c) Có phản ứng phân huỷ mastocyte dương tính với thuốc đã gây dị ứng: phản ứng phân huỷ mastocyte theo phương pháp Ishimova dựa theo nguyên tắc: khi dị nguyên

đặc hiệu lọt vào cơ thể lần thứ 2 trở đi, nó sẽ kết hợp với kháng thể IgE đã gắn sẵn trên màng mastocyte (tế bào mast đã mẫn cảm) Phức hợp Dị nguyên-Kháng thể này làm thay

đổi cấu trúc màng cũng như chuyển hoá nội tại của tế bào, làm giải phóng các hoá chất trung gian Dựa vào tỷ lệ số lượng tế bào mast

bị phân huỷ để đánh giá kết quả phản ứng

3 Xử lý số liệu:

Phương pháp thống kê y học

III Kết quả

1 Các thuốc gây đỏ da toàn thân ở bệnh nhân điều trị nội trú tại Khoa Dị ứng-MDLS

1.1.Các nhóm thuốc gây đỏ da toàn thân:

Với 207 thuốc gây ĐDTT cho169 bệnh nhân chia thành các nhóm sau: Kháng sinh chiếm vị trí hàng đầu (62,3%); nhóm hạ sốt, giảm đau, chống viêm không steroid: 8,2%; thuốc Đông y: 7,2% Kết quả cụ thể trong bảng 1

Trang 2

Bảng 1: Các nhóm thuốc gây đỏ da toàn thân

2 Hạ sốt, giảm đau, chống viêm không steroid 17 8,2

1.2 Các thuốc kháng sinh và "họ" kháng sinh gây đỏ da toàn thân

Bảng 2 Các thuốc và "họ" kháng sinh gây đỏ da toàn thân

6 Rocephin

Beta-lactam (77,5%)

1 0,8

8 Streptomycin

Aminoglycosid

10 Bactrim

Co-trimaxazol

Trong 129 kháng sinh gây ĐDTT, Ampicillin hay gặp nhất (41,8%); "họ" KS Beta-lactam

chiếm tỷ lệ cao nhất (77,5%); Aminoglycosid: 9,3%; Co-trimoxazol: 5,4%

Trang 3

2 Đặc điểm lâm sàng trên bệnh nhân

đỏ da toàn thân do dị ứng thuốc

2.1 Một số đặc điểm người bệnh

2.1.1 Tuổi và giới

Trong số 169 bệnh nhân ĐDTT có 96 nữ

(56,8%); 73 nam (43,2%); Lớp tuổi 20-39 gặp

nhiều nhất (41,4%); lớp tuổi từ 0-19: 24,3%; Người

bệnh ít tuổi nhất là 2,5 tháng; cao nhất là 98 tuổi

2.1.2 Đường dùng của thuốc:

Đa số bệnh nhân chỉ có 1 đường dùng

thuốc (156 bệnh nhân = 92,3%); 2 đường

dùng thuốc là 13 người (7,7%)

2.1.3 Tiền sử dị ứng thuốc

Số bệnh nhân có tiền sử dị ứng là 85

người( 50,29%); Không có tiền sử dị ứng là

84 người (49,71%)

2.1.4.Thời gian xuất hiện triệu chứng dị ứng

Triệu chứng ĐDTT thường xảy ra muộn

hay gặp nhất là sau 01 ngày (53,3%); thời

gian từ 6 giờ-01 ngày là 22,5%; 3,5% có biểu

hiện dị ứng trước 01 giờ

2.2 Biểu hiện lâm sàng của hội chứng đỏ

da toàn thân do dị ứng thuốc

Triệu chứng đỏ da toàn thân xuất hiện ở

tất cả 169 người bệnh (100%), ngứa: 98,2%;

sốt: 63,3%; phù Quincke: 40,2%; các triệu

chứng khác xem bảng 3

Bảng 3 Các biểu hiện lâm sàng của hội

chứng đỏ da toàn thân

Triệu chứng n Tỷ lệ %

1 Đỏ da toàn thân 169 100,0

8 Mệt mỏi, chán ăn 18 10,7

9 Loét niêm mạc 17 10,1

11 Đau bụng,

rối loạn tiêu hoá

13 7,7

12 Bọng nước trên da 12 7,1

13 Mụn nước trên da 11 6,5

14 Đau đầu, choáng váng 10 5,9

15 Vàng da, vàng mắt 8 4,7

16 Các triệu chứng khác 12 7,1

3 Kết quả xét nghiệm ở người bệnh đỏ

da toàn thân

3.1 Công thức máu, máu lắng:

Hầu hết bệnh nhân có tốc độ máu lắng tăng (71,2%) Tỷ lệ bệnh nhân có số lượng bạch cầu tăng là 59,5%; bạch cầu trung tính tăng là 33,3%; ưa acid tăng là 22,2%

3.2 Sinh hoá máu và nước tiểu

42,9% số bệnh nhân có tổn thương gan; 28,9% số bệnh nhân có tổn thương thận; 23,3% số bệnh nhân có ure huyết cao

3.3 Phản ứng phân huỷ mastocyte

Số bệnh nhân có phản ứng phân huỷ mastocyte dương tính là 107 người(63,3%)

4 Kết quả điều trị

4.1 Các nhóm thuốc và thời gian điều trị

a) 6 nhóm thuốc và dịch truyền dùng diều trị cho 169 bệnh nhân tại Khoa Dị ứng-MDLS là: Corticoid, kháng histamin, vitamin, kháng sinh, dịch truyền và các thuốc chữa triệu chứng Trong đó 4 loại thuốc và dịch truyền chủ yếu được dùng là:

- Solu-medrol: 92,8% (166 trường hợp), thời gian dùng: 10,6 ± 6,3 ngày

- Dimedrol: 63,3% (107 trường hợp), thời gian dùng: 8,1 ± 5,2 ngày

- Vitamin C: 59,8% (101 trường hợp), thời gian dùng: 7,9 ± 5,4 ngày

- Dung dịch glucose5%: 57,9% (98 trường hợp), thời gian dùng: 7,7 ± 4,9 ngày

b) Thời gian điều trị người bệnh ĐDTT do

dị ứng thuốc thay đổi tuỳ theo tình trạng lâm sàng Bệnh nhân có thời gian điều trị ngắn nhất là 4 ngày, dài nhất là 64 ngày; thời gian

điều trị trung bình là 9,1 ± 6,1 ngày

4.2 Kết quả điều trị

Tỷ lệ khỏi bệnh là 98,8%, có 2 trường hợp rất nặng phải xin về Không có trường hợp nào tử vong tại Khoa

IV bàn luận

1 Các thuốc gây đỏ da toàn thân

Trang 4

Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy kháng

sinh là nhóm thuốc gây đỏ da toàn thân

chiếm tỷ lệ cao nhất (62,3%) Trong nhóm

kháng sinh thì “họ” kháng sinh Beta-lactam là

nguyên nhân hàng đầu (77,5%) Điều này

phù hợp với nghiên cứu của nhiều tác giả

trong nước: Nguyễn Văn Đoàn [2], Trần Văn

Tiến và Đỗ Thị Hoà [4]… Trong các thuốc gây

đỏ da toàn thân, Ampicillin là thuốc hay gặp

nhất, có lẽ vì những lý do sau: Trong cấu trúc

của phân tử Ampicillin có nhóm NH2 , nên

thuốc này rất dễ kết hợp với protein của cơ

thể tạo thành dị nguyên để gây dị ứng;

Ampicilin rẻ tiền, dễ dùng, dễ bảo quản và sự

lạm dụng thuốc trong cộng đồng đã làm cho

tình trạng dị ứng với ampicillin ngày càng gia

tăng tăng

2 Đỏ da toàn thân không do dị ứng

thuốc:

Hội chứng đỏ da toàn thân không chỉ do dị

ứng thuốc mà còn do nhiều nguyên nhân

khác như: đỏ da toàn thân do liên cầu, đỏ da

toàn thân do không dung nạp vitamin nhóm B

ở trẻ em, đỏ da toàn thân sau bệnh vảy nến,

đỏ da toàn thân sau bệnh luput ban đỏ hệ

thống, đỏ da toàn thân do dị ứng thức ăn…Vì

vậy để chẩn đoán được hội chứng đỏ da toàn

thân do dị ứng thuốc thì người thầy thuốc

ngoài hiểu biết về chuyên môn dị ứng cần

phải có kiến thức tốt về xét nghiệm và lâm

sàng

3 Một số yếu tố ảnh hưởng đến đỏ da

toàn thân do dị ứng thuốc

- "Bệnh thứ nhất" (là lý do phải dùng

thuốc sau đó mới mắc bệnh dị ứng thuốc):

nghiên cứu của chúng tôi cho thấy "bệnh thứ

nhất chủ yếu là viêm (55,1%), điều này phù

hợp với nghiên cứu của nhiều tác giả trong và

ngoài nước [2,3,5,7] Vì quá trình viêm đã làm

thay đổi tính phản ứng của cơ thể đặc biệt là

tế bào, từ đó cơ thể trở nên rất nhạy cảm với

các yếu tố "lạ" và dễ bị dị ứng

- Đường vào của thuốc gây dị ứng và thời

gian xuất hiện hội chứng ĐDTT sau dùng

thuốc: Theo kết quả nghiên cứu của chúng tôi thì đường uống chiếm tỷ lệ cao nhất (74,6%)

và thời gian xuất hiện hội chứng đỏ da toàn thân chủ yếu sau 01 ngày (53,3%) phù hợp với các nghiên cứu của nhiều tác giả khác [3,4,6]

v kết luận

Nghiên cứu 169 bệnh nhân có hội chứng

ĐDTT điều trị nội trú tại Khoa Dị ứng –MDLS

BV Bạch Mai từ năm 1991-2001, có một số kết luận sau:

1 Những thuốc gây đỏ da toàn thân:

Thuốc gặp nhiều nhất là Ampicillin (29,9%); Amoxycillin: 8,2%; Penicillin: 7,7%;

Đông y: 7,2%…

Kháng sinh là nguyên nhân chủ yếu (62,3%) trong số 12 nhóm thuốc gây đỏ da toàn thân, "họ" kháng sinh hay gặp là Beta-lactam (77,5%)

2 Đặc điểm lâm sàng và xét nghiệm

* Đặc điểm lâm sàng:

- ĐDTT do dị ứng thuốc chủ yếu gặp ở lứa tuổi 20-39, không có sự khác biệt giữa nam và nữ

- Đường uống là chủ yếu gây đỏ da toàn thân

- Có 50,29% bệnh nhân có tiền sử dị ứng

- ĐDTT thường xuất hiện muộn (53,3%)

- Ngoài biểu hiện đỏ da toàn thân còn có

15 loại triệu chứng khác: ngứa, sốt, phù Quincke, bong vẩy…

* Xét nghiệm: Máu lắng tăng, bạch cầu tăng và có tổn thương tế bào gan là những thay đổi đáng kể

3 Điều trị :

- Thời gian điều trị trung bình bệnh nhân

ĐDTT nội trú là: 9,1± 5,2 ngày

- Có 4 loại thuốc và dịch truyền thường

được dùng trong điều trị là: Solu-medrol, Dimedrol, Vitamin C và dung dịch glucose 5%

Trang 5

- Không có bệnh nhân ĐDTT nào tử vong

trong thời gian điều trị nội trú tại Khoa Dị

ứng-MDLS từ năm 1991-2001

Tài liệu tham khảo

1 Nguyễn Năng An (1975) Mấy vấn đề Y

học cơ sở trong các phản ứng và bệnh dị ứng

Nhà xuất bản Y học, Hà Nội, 30-61

2 Nguyễn Văn Đoàn (1996) Góp phần

nghiên cứu dị ứng thuốc tại Khoa Dị ứng-MDLS

Bệnh viện Bạch Mai (1999-2001) Luận án Phó

tiến sỹ y d−ợc, Hà Nội

3 GrachevaN.M (1986) Bệnh do thuốc

trong lâm sàng bệnh dị ứng Nhà xuất bản Mir,

34-55

4 Trần Văn Tiến, Đỗ Thị Hoà (1993) Một số

nhận xét về nhiễm độc da dị ứng thuốc điều trị

nội trú tại Viện Da liễu (5/1991-5/1993)

5 Guin-J.D; Phillips-D (1989) Erythroderma from systemic contact dermatitis: a complication of systemic gentamycin in a patient with contact allergy to neomycin Cutis

1989 Jun; 43(6): 564-567

6 Leenutaphong-V; Kulthanan-K; Pohboon-C; Suthipinittharn-P; Sivayathorn-A Sunthonpalin-P (1999) Erythrodermia in Thai patients J-Med-Assoc-Thai 1999 Aug; 82(8): 734-738

7 Paupe.J , Ponvert C (1994) Allergie me'dicameteuse In: Alle'rgologie pe'diatriquie 2e Edit by Paupe J., Scheinmann P., Blic Me'dicin- Sciences Flammanion Paris, 473-483

Summary

Preliminary studies on erythrodermie syndrome due to

medications at Department of Allergology and Clinical

Immunology in Bach mai Hospital from 1/1991 to 12/2001

The results showed that:

- The erythrodermie always happened when patients used the Ampicillin and Beta-lactam family antibiotic proper or not

- The symptoms of erythrodermie appeared late

- There are 16 clinical signals of erythrodermie; maine clinical symptoms are: erythema, itching, fever, urticaria and Quincke edema

- ESR, white blood cells and enzymes of liver' cells went up, that were maine changes in erythrodermie' blood test

- The period of time to treat in-patients erythrodermie: 9,1±5,2 days

- There are 4 kinds of medications to treat patients: solu-medrol, dimedrol, vitamin C and glucose 5% solution

- No patient died at the Department in that time

Ngày đăng: 02/04/2014, 22:21

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Các nhóm thuốc gây đỏ da toàn thân - Bước đầu nghiên cứu hội chứng đỏ da toàn thân do thuốc doc
Bảng 1 Các nhóm thuốc gây đỏ da toàn thân (Trang 2)
Bảng 2. Các thuốc và "họ" kháng sinh gây đỏ da toàn thân - Bước đầu nghiên cứu hội chứng đỏ da toàn thân do thuốc doc
Bảng 2. Các thuốc và "họ" kháng sinh gây đỏ da toàn thân (Trang 2)
Bảng 3. Các biểu hiện lâm sàng của hội - Bước đầu nghiên cứu hội chứng đỏ da toàn thân do thuốc doc
Bảng 3. Các biểu hiện lâm sàng của hội (Trang 3)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w