1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Lịch sử đảng nhóm 6 (2)

28 0 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Lịch sử đảng nhóm 6 (2)
Tác giả Nhóm 6
Người hướng dẫn Hoàng Thị Thúy
Trường học Trường Đại Học Thương Mại
Chuyên ngành Lịch sử đảng
Thể loại Bài viết
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 535,06 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI KHOA TIẾNG ANH ĐỀ TÀI THẢO LUẬN THỜI KỲ VIỆT NAM TRƯỚC ĐỔI MỚI, MÔ HÌNH KẾ HOẠCH HÓA TẬP TRUNG BAO CẤP Nhóm 6 Lớp học phần 2204HCMI0131 Giáo viên giảng dạy Hoàng Thị Thúy Bản.

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI

KHOA: TIẾNG ANH

Trang 2

81 Vũ Thị Phương Hoàn thành nhiệm vụ đầy

đủ, đúng thời hạn, nội dung

83 Hà Thị Phượng Hoàn thành nhiệm vụ đầy

đủ, đúng thời hạn, nội dungtốt, tham gia phản biện

10

84 Phạm Thị Quý Hoàn thành nhiệm vụ đầy

đủ, đúng thời hạn, nội dung

ổn, tham gia phản biện

10

85 Nguyễn Như Quỳnh Hoàn thành nhiệm vụ đầy

đủ, đúng thời hạn, nội dung

tốt

9

Trang 3

86 Trần Thị Diễm Quỳnh Hoàn thành nhiệm vụ đầy

đủ, đúng thời hạn, nội dung

tốt

9

87 Trương Hương Quỳnh (nt) Hoàn thành nhiệm vụ đầy

đủ, đúng thời hạn, nội dung

tốt

10

88 Mai Viết Sơn Hoàn thành nhiệm vụ đầy

đủ, đúng thời hạn, nội dungtốt, tham gia phản biện

10

89 Phạm Thanh Tâm Hoàn thành nhiệm vụ đầy

đủ, đúng thời hạn

8

90 Nguyễn Thị Thắm Hoàn thành nhiệm vụ đầy

đủ, đúng thời hạn, nội dung

ổn, tham gia phản biện

Trang 4

I Thời kỳ trước đổi mới ở Việt Nam

2 Nguyên nhân chọn mô hình

3 Nội dung mô hình

4.3 Yêu cầu cấp thiết đổi mới

5 Bài học kinh nghiệm

I.Tìm hiểu về thời kỳ trước đổi mới ở Việt Nam

Trang 5

1 Tình hình kinh tế VN trước đổi mới

Bức tranh cơ cấu kinh tế Việt Nam trong suốt những năm trước thời kì đổi mới khá phức tạp, giai đoạn 1945 - 1954, là giai đoạn hai chính quyền song song tồn tại, kinh tế phụ thuộc chặt chẽ vào nông nghiệp mặc dù đã có phát triển nhưng nhìn chung vẫn lạc hậu, nghèo nàn chưa có sự phát triển nổi bật Giai đoạn 1955 - 1975, là giai đoạn có sự phát triển khác nhau giữa hai miền Nam - Bắc. 

1.1   Thời kỳ 1945-1954: Đẩy mạnh sản xuất, xây dựng và phát triển kinh tế kháng chiến

Đây là giai đoạn đầu tiên xây dựng chế độ kinh tế mới ở Việt Nam và là giai đoạn khó khăn nhất

1.1.1 Nước VN dân chủ cộng hòa từ sau 2-9-1945 đến trước 19-12-1946 

Trong thời gian đầu sau khi cách mạng tháng 8 thành công, đất nước không những phải tiếp tục gồng mình khắc phục nạn đói từ cuối 1944 đầu năm 1945 Ngân sách Nhà nước hầu như trống rỗng

Đứng trước những khó khăn, thách thức cả về ngoại xâm và nội phản Giữa tình hình đó, Đảng quyết định thực hiện chính sách "kháng chiến kiến quốc" Mà vấn đề cơ bản được đưa lên hàng đầu đó là giải quyết nạn đói Đảng đã kịp thời thực hiện những biện pháp thiết thực khắc phục tình trạng khó khăn này Thực hiện phong trào "nhường cơm sẻ áo", thực hành tiết kiệm, cấm đầu cơ tích trữ thu lợi bất chính khi nhân dân đang đói khổ Về biện pháp lâu dài, thực hiện sản xuất nông nghiệp, tăng gia sản xuất, đẩy mạnh phát triển nông nghiệp Nhờ những chính sách tích cực nạn đói được đẩy lùi, nhân dân hăng say sản xuất

1.1.2 Nền kinh tế Việt Nam thời kỳ 1946 -1954.

 Sự biến đổi kinh tế thời kỳ này với những nét riêng biệt của nó, kinh tế nước ta

được chia làm hai miền với hai chế độ chính trị - xã hội khác nhau, một là vùng giải phóng do ta tiếp quản, còn bên kia là sự chiếm đóng của thực dân Pháp Cả hai bên với hai chế độ khác nhau, sự phát triển kinh tế cũng có những khác biệt rõ nét. 

a Kinh tế kháng chiến vùng do cách mạng kiểm soát (1947 - 1954).

Trang 6

Kinh tế của ta vốn đã nghèo nàn, lạc hậu, nay lại chịu sự phá hoại của Pháp Song

do nhu cầu chiến tranh, không chỉ mặt trận chính trị, mặt trận kinh tế cũng vô cùng gay gắt

 Nông nghiệp

Luôn là ngành giữ vị trí hàng đầu trong nền kinh tế Đảng nhà nước phát động việc đắp đê, làm công tác thủy lợi, thực hiện khai hoang phát triển nông nghiệp Đảng cũng thực hiện đường lối riêng biệt của Việt Nam về cách mạng ruộng đất bằng những phươngpháp cải cách dần dần để sửa đổi chế độ ruộng đất ở nông thôn như tịch thu ruộng đất của

đế quốc Việt gian đem chia cho nông dân không có hoặc thiếu ruộng; tạm cấp ruộng đất vắng chủ; giảm tô, giảm tức và chia lại ruộng công cho hợp lý.  Bên cạnh đó, việc thực hiện tổ đổi công, hợp tác xã nông nghiệp cũng được Đảng triển khai thực hiện và đạt được những thành tựu đáng khích lệ Cơ cấu nông nghiệp thời kỳ này có 2 phần cơ bản làlúa màu Tỷ trọng lúa chiếm trên 75%, màu chiếm khoảng 25% Cơ cấu nông nghiệp thời

kỳ này căn bản không thay đổi, lúa vẫn là xương sống của nông nghiệp.  Chính bởi những chính sách thiết thực và có hiệu quả đã thúc đẩy kinh tế nông nghiệp phát triển và trở thành trụ cột của nền kinh tế quốc dân

Công nghiệp - thủ công nghiệp

 Công nghiệp: Thời kỳ này công nghiệp quốc phòng được phát triển mạnh mẽ Sau cuộc kháng chiến trong nội đô Hà Nội, máy móc, công xưởng được tháo dỡ chuyển lên vùng chiến khu Việt Bắc thực hiện sản xuất vũ khí, đạn dược và các phương tiện phục vụchiến tranh

 Tiểu thủ công nghiệp: Các xưởng sản xuất, các ngành sản xuất tiểu thủ công nghiệpphát triển mạnh.Tập trung nhiều nhất ở chiến khu Việt Bắc và vùng giải phóng Trung Bộ,các loại cây công nghiệp như bông, đay, gai tạo thuận lợi cho ngành dệt phát triển

Thương nghiệp: Thời gian đầu chính phủ khuyến khích giao lưu hàng hóa giữa các địa phương trong vùng tự do, để đáp ứng nhu cầu của nhân dân nên dễ dàng hơn. 

b Tình hình kinh tế vùng Pháp chiếm đóng (Vùng tạm chiếm).

 Trong vùng kinh tế Pháp kiểm soát, có thể thấy nền kinh tế vẫn có cơ cấu như cũ

Trang 7

Giai đoạn 1946-1950 Sau một thời gian bị gián đoạn, kinh tế vùng tạm chiếm dần hoạt động trở lại, các doanh nghiệp kinh doanh công nghiệp phục hồi, chủ yếu là công nghiệp nhẹ như ngành thực phẩm, đồ uống Nông nghiệp, diện tích bị thu hẹp, đất hoanghóa nhiều khiến cho nông nghiệp không phát triển được.

 Giai đoạn 1951 - 1954 Từ năm 1951, Pháp thất bại trên chiến trường Việt Nam Các nhà kinh doanh Pháp bắt đầu rút khỏi Việt Nam, một số tranh thủ kiếm lời, thu hồi vốn Khiến cho sản xuất kinh tế sụt giảm Tình hình kinh tế vùng bị tạm chiếm ngày càngxấu thêm cho đến khi hiệp định Giơnevơ được ký kết và ta vào tiếp quản "Bao trùm lên mọi ngành, mọi khu vực sản xuất là các tập đoàn tư bản Pháp Cơ cấu, phương thức sản xuất mang đặc trưng sản xuất phong kiến vẫn tồn tại và tạo điều kiện cho phương thức khai thác thuộc địa của thực dân Pháp có cơ sở kinh tế xã hội tồn tại trong vùng địch hậu"

1.2 Kinh tế việt nam thời kì 1955-1975: Khôi phục và phát triển kinh tế sau chiến tranh

Trong thời kỳ 1955-1975, Việt Nam bị chia cắt làm 2 miền Nam-Bắc với hai chế độkinh tế-chính trị khác nhau nên nền kinh tế cũng có sự khác biệt giữa hai miền Ở miền Bắc là chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, còn ở miền Nam tồn tại song song chính phủ Việt Nam Cộng hòa và chính phủ Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Bắc phát triển kinh tế đi đôi với việc xây dựng chủ nghĩa xã hội, miền Nam dưới sự thống trị của Mỹ phát triển theo hướng tư bản chủ nghĩa Mỗi miền có những bước phát triển kinh tế khác nhau trong từng thời kỳ cụ thể

 Kinh tế miền Bắc giai đoạn 1955 - 1975 thực hiện nhiều nhiệm vụ: thời kỳ khôi phục kinh tế, hàn gắn vết thương chiến tranh, tiếp tục hoàn thành cải cách ruộng đất, tạo

cơ sở kinh tế và chính trị vững chắc đưa miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội; thực hiện nhiệm vụ cải tạo và phát triển kinh tế Chỉ trong một thời gian ngắn, nền kinh tế đã phát triển rõ rệt, số lượng xí nghiệp quốc doanh tăng từ 41 năm 1954 lên 281 năm 1958 và 1.012 năm 1960 với hơn 125 nghìn công nhân Giá trị sản lượng công nghiệp năm 1960 bằng 25 lần năm 1955 Nông nghiệp chẳng những đã được khôi phục, mà sản lượng quy thóc năm 1956 đã vượt qua mức kỷ lục năm 1939 (hơn 4 triệu tấn), tiếp tục tăng lên trong

Trang 8

những năm tiếp theo; thời kỳ 1961 - 1975 thực hiện đường lối phát triển kinh tế trong bối cảnh miền Bắc có chiến tranh. 

Còn nền kinh tế miền Nam thời kỳ này phát triển trong quỹ đạo của kinh tế thị trường gắn với viện trợ của Mỹ, để duy trì chiến tranh và đội quân xâm lược. Thời kỳ

1955 - 1960 là “thời kỳ mà Nam Việt Nam đã đạt được những thành quả tốt đẹp nhất” Tốc độ tăng trưởng khá cao, 1956: 17,2%, 1957: 19,8%, 1858: 18,8%, 1959: 19,4% và 1960: 7,8% Từ khi Mỹ can thiệp ngày càng sâu vào miền Nam, bắt đầu bằng đưa các cố vấn và viện trợ quân sự cho Chính quyền Sài gòn, tiếp đó trực tiếp đưa quân tham chiến, thì tình hình kinh tế - xã hội miền Nam trở nên không ổn định, các cuộc đảo chính đã nổ

ra liên tục, chiến tranh ngày càng khốc liệt không chỉ ở nông thôn, mà cả ở đô thị nên

“Mức phát triển kinh tế chỉ đạt được trung bình 2,2%/năm Ngân sách bắt đầu thiếu hụt, giá cả gia tăng.”

1.3 Kinh tế VN Giai đoạn 1976 - 1985: Nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp

  Tổ quốc thống nhất, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội, công cuộc cải tạo, xây dựng

và phát triển kinh tế trở thành nhiệm vụ hàng đầu của toàn Đảng, toàn dân ta Nhân dân sôi nổi thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ hai (1976 - 1980) và kế hoạch 5 năm lần thứ ba (1981 - 1985) và đã đạt được những thành tựu quan trọng: Khắc phục từng bước những hậu quả nặng nề của chiến tranh; Khôi phục phần lớn những cơ sở công nghiệp, nông nghiệp, giao thông ở miền Bắc và xây dựng lại các vùng nông thôn ở miền Nam bị chiến tranh tàn phá Thời kỳ này, Nhà nước quản lý nền kinh tế chủ yếu bằng mệnh lệnh hành chính dựa trên hệ thống chỉ tiêu pháp lệnh áp đặt từ trên xuống dưới Các doanh nghiệp hoạt động trên cơ sở các quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và các chỉ tiêu pháp lệnh được giao Tăng trưởng kinh tế trong thời kỳ này thấp và kém hiệu quả Nông, lâm nghiệp là ngành kinh tế quan trọng (chiếm 38,92% GDP trong giai đoạn này), nhưng chủ yếu dựa vào độc canh trồng lúa nước Công nghiệp được dồn lực đầu tư nên có mức tăng khá hơn nông nghiệp, nhưng tỷ trọng trong toàn nền kinh tế còn thấp (chiếm 39,74%GDP), chưa là động lực để thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng

Trang 9

2 Chính trị

Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, Nhà nước Việt Nam chính thức ra đời với hệ thống chính trị tuy non trẻ nhưng cũng đủ sức lãnh đạo nhân dân qua hai cuộc kháng chiến Có thể nói hệ thống chính trị Việt Nam trước đổi mới là một trong những thành tựu quan trọng tất yếu của Cách mạng Việt Nam thời bấy giờ

Trong khoảng thời gian khá ngắn ngủi hơn 40 năm, hệ thống chính trị của ta đã trải qua ba giai đoạn chính với ba mốc lịch sử tiêu biểu

Giai đoạn 1945-1954: Kháng chiến chống Thực dân Pháp

Đây là giai đoạn hệ thống chính trị mới được thành lập, hệ thống chính trị Việt Namthời kì này mang nhiều tính chất của hệ thống chính trị dân chủ nhân dân, với mục tiêu cao nhất là đánh đổ Đế quốc, phong kiến, giành độc lập dân tộc, làm cho dân cày có ruộng

Giai đoạn 1954 – 1975: Kháng chiến chống Đế quốc Mỹ

Giai đoạn này, hệ thống chính trị tiếp tục lãnh đạo nhân dân giành độc lập dân tộc thống nhất đất nước, song song đó, Việt Nam còn tích cực tiến lên chủ nghĩa xã hội thôngqua việc xây dựng hệ thống chuyên chính vô sản

Giai đoạn 1975 – 1986: Xây dựng đất nước sau chiến tranh

Sau đại thắng ngày 30/4/1975, hệ thống chính trị Việt Nam bước sang giai đoạn xâydựng hệ thống chuyên chính vô sản theo tư tưởng tập thể làm chủ

3 Văn hóa xã hội

3.1 Văn hóa

Giai đoạn 1945 - 1954: Ngày 3-9-1945, trong phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trình bày với các Bộ trưởng sáu nhiệm vụ cấp bách

Trang 10

của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, trong đó hai nhiệm vụ cấp bách thuộc về vănhóa Một là, cùng với diệt giặc đói phải diệt giặc dốt Hai là, chế độ thực dân đã hủ hóa dân tộc Việt Nam bằng những thói xấu, lười biếng, gian giảo, tham ô và những thói xấu khác Vì vậy, một nhiệm vụ cấp bách là phải giáo dục lại nhân dân chúng ta, làm cho dân tộc chúng ta trở nên một dân tộc dũng cảm, yêu nước, yêu lao động, một dân tộc xứng đáng với nước Việt Nam độc lập Như vậy, nhiệm vụ đầu tiên về xây dựng văn hóa của nước Việt Nam độc lập là: chống nạn mù chữ và giáo dục lại tinh thần nhân dân Đây là hai nhiệm vụ hết sức khiêm tốn nhưng lại vĩ đại ở tầm nhìn, độ chính xác và ở tính thời

sự của nó. 

Giai đoạn 1954 - 1975: Trong điều kiện của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước,Đảng và Nhà nước ta chủ trương đẩy mạnh ba cuộc cách mạng: 1- Cách mạng quan hệ sản xuất; 2- Cách mạng khoa học - kỹ thuật; 3- Cách mạng tư tưởng - văn hóa, nhằm đưa nước ta thành một nước công nghiệp hiện đại, nông nghiệp hiện đại, văn hóa và khoa học

- kỹ thuật tiên tiến Trên lĩnh vực văn hóa, Đảng chủ trương xây dựng nền văn hóa mới

xã hội chủ nghĩa, trong đó “tính chất dân tộc” của văn hóa được coi trọng, đồng thời tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa nhân loại để làm giàu cho nền văn hóa dân tộc Những

tư tưởng hư vô chủ nghĩa, cá nhân chủ nghĩa, dân tộc hẹp hòi hoặc sô-vanh, sùng ngoại, lai căng hoặc bài ngoại quá khích đều bị lên án, xa lạ với quan điểm văn hóa mà Đảng ta chủ trương xây dựng

Nền văn hóa dân chủ mới - văn hóa cứu quốc, đã bước đầu được hình thành và đạt nhiều thành tựu trong kháng chiến và kiến quốc Đã xỏa bỏ dần những mặt lạc hậu, những cái lỗi thời trong di sản văn hóa phong kiến, trong nền văn hóa nô dịch của thực dân Pháp, bước đầu xây dựng nền văn hóa dân chủ mới với tính chất dân tộc, khoa học, đại chúng Nhiều triệu đồng bào mù chữ đã biết đọc, biết viết Phát triển hệ thống giáo dục, cải cách phương pháp dạy học, thực hành rộng rãi đời sống mới, bài trừ hủ tục, lạc hậu Văn hóa cứu quốc đã động viên nhân dân tham gia tích cực vào cuộc kbáng chiến chống thực dân Pháp xâm lược Một thành tựu tiêu biểu của miền Bắc xã hội chủ nghĩa là

sự nghiệp giáo dục, văn hóa phát triển với tốc độ cao ngay cả trong những năm có chiến

Trang 11

tranh, phát huy vai trò tích cực trong chiến đấu và sản xuất Trình độ văn hóa chung của

xã hội đã được nâng lên một mức đáng kể Lối sống mới đã trở thành phổ biến, người vớingười sống có tình, có nghĩa, đoàn kết thương yêu nhau

3.2 Xã hội

Giai đoạn 1945 - 1954: Ngay sau Cách mạng Tháng Tám và trong những năm thực hiện nhiệm vụ kháng chiến, kiến quốc, chính sách xã hội cấp bách lúc này là làm cho dân

có ăn, làm cho dân có mặc, làm cho dân có chỗ ở, làm cho dân được học hành Tiếp sau

đó là làm cho người nghèo thì đủ ăn, người đủ ăn thì khá giàu, người khá giàu thì giàu thêm Chủ trương này đã nhanh chóng đi vào cuộc sống và đạt được những hiệu quả thiếtthực Các vấn đề xã hội được giải quyết trong mô hình Dân chủ nhân dân: Chính phủ có chủ trương và hướng dẫn để các tầng lớp nhân dân chủ động và tự tổ chức giải quyết các vấn đề xã hội của chính mình Chính sách tăng gia sản xuất (nhằm tự cấp tự túc), chủ trương tiết kiệm, đồng cam cộng khổ trở thành phong trào rộng rãi, từ cơ quan chính phủ đến bộ đội, dân chúng, được coi trọng như đánh giặc Khuyến khích mọi thành phần xã hội phát triển kinh tế theo cơ chế thị trường Thực hiện chính sách điều hòa lợi ích giữa chủ và thợ

Giai đoạn 1955 - 1975: Các vấn đề xã hội được giải quyết trong mô hình chủ nghĩa

xã hội kiểu cũ, trong hoàn cảnh chiến tranh Chế độ phân phối về thực chất là theo chủ nghĩa bình quân Nhà nước và tập thể đáp ứng các nhu cầu xã hội thiết yếu bằng chế độ bao cấp tràn lan dựa vào viện trợ. 

Giai đoạn 1975 - 1985: Các vấn đề xã hội được giải quyết theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung quan liêu, bao cấp trong hoàn cảnh đất nước lâm vào khủng hoảng kinh tế - xã hội nghiêm trọng, nguồn viện trợ giảm dần, bị bao vây, cô lập và cấm vận

Những thay đổi cơ bản từ kinh tế đến giáo dục khiến cho xã hội Việt Nam có nhữngthay đổi căn bản Nhìn ở phương diện văn hoá, có thể thấy: 

Trang 12

 – Người dân: với tư cách công dân được khẳng định, cùng với điều này thì ý thức

cá nhân được tô đậm

– Dân trí ngày càng được nâng cao, tầng lớp trí thức càng ngày càng đông đảo Nhưvậy, văn hoá Việt Nam đã có sự thay đổi so với giai đoạn trước cả về chất lượng lẫn số lượng

II Mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung bao cấp

1 Khái niệm mô hình kế hoạch hóa tập trung bao cấp

Mô hình kế hoạch hóa tập trung bao cấp hay mô hình kinh tế chỉ huy là một mô hình quản lý mà ở đó mọi hoạt động kinh tế xã hội diễn ra dưới sự chỉ đạo, quản lý, kiểm soát của nhà nước từ sản xuất cho tới phân phối Với mô hình kinh tế này, kinh tế tư nhân

sẽ bị loại bỏ, Nhà nước và kinh tế tập thể giữ vai trò chủ đạo, các thành phần kinh tế kháchầu như không được chú trọng. 

2 Nguyên nhân chọn mô hình 

Trước khi đi vào thời kỳ Đổi mới, Việt Nam đã áp dụng mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung bởi 4 lý do dưới đây:

Thứ nhất, việc lựa chọn một mô hình kinh tế đã được áp dụng thành công bởi các nước thuộc Khối Xã hội chủ nghĩa như Liên Xô là một lựa chọn an toàn cho Việt Nam Liên Xô chính là 1 ví dụ thành công điển hình khi áp dụng mô hình này khi quyết định thay thế nền kinh tế thị trường bằng nền kinh tế kế hoạch Sau khi áp dụng mô hình này, tăng trưởng kinh tế của Liên Xô nhảy vọt và Liên Xô đã vươn lên trở thành cường quốc đứng thứ 2 thế giới Rõ ràng khi mới thống nhất, bộ máy chính quyền còn nhiều thiếu sót nên không thể không có một mô hình định hướng mà nghiên cứu áp dụng một mô hình mới lại rất mạo hiểm và tốn kém tiền bạc tiềm lực. 

Thứ hai, chính Việt Nam cũng từng áp dụng mô hình này ở miền Bắc trước những năm 1975 và đạt được một số thành tựu nhất định Nhờ vào mô hình này mà nhà nước có thể nhanh chóng huy động một lượng lớn tài nguyên, vốn, con người vào các ngành quan

Trang 13

trọng như sản xuất vũ khí, lương thực, thuốc men y tế Cụ thể, miền Bắc đã thể hiện rất tốt vai trò của mình, chi viện cho miền Nam trong công cuộc lật đổ chính quyền bù nhìn Việt Nam Cộng Hòa & Đế quốc Mỹ để thống nhất đất nước Ngoài ra, khi nhà nước nắm quyền chi phối kinh tế nền tình trạng phân hóa giàu nghèo cũng không còn nhiều, hạn chế  nạn đầu cơ, tích trữ và tình trạng hỗn loạn về giá cả như thời thuộc địa khi địa chủ nắm hầu hết đất đai của cải.

Thứ ba, sau khi thống nhất năm 1975, tuy Bí thư thứ nhất Đảng Lao động Việt Nam

Lê Duẩn công nhận những yếu tố tích cực của kinh tế tư nhân và của kinh tế thị trường ở miền Nam nhưng đa số Ban Chấp hành Trung ương Đảng lúc ấy muốn tiếp tục áp dụng

mô hình kinh tế kế hoạch hóa. 

Cuối cùng là yếu tố ngoại cảnh Thứ nhất, thời điểm này Nam Tư đã bị khai trừ ra khỏi hệ thống các nước Xã hội chủ nghĩa vì đưa ra chủ ý theo mô hình kinh tế thị trường Việt Nam vẫn đang nhận được sự trợ giúp của Liên Xô thời điểm đó, nếu đi ngược lại vớiLiên Xô chúng ta sẽ mất sự hỗ trợ rất lớn, đặc biệt là khi Việt Nam còn đang bị Mỹ cấm vận Thứ hai là Hoa kiều ở miền Nam thời kỳ đó kiểm soát gần như toàn bộ các vị trí kinh tế quan trọng, đặc biệt là kiểm soát 3 lĩnh vực quan trọng: sản xuất, phân phối, và tíndụng Sự trở mặt đột ngột của Trung Quốc khi đánh chiếm Hoàng Sa và chiến tranh biên giới Tây Nam, biên giới phía Bắc năm 1979 khiến chúng ta dè chừng Trung Quốc hơn Việc quốc hữu hóa tài sản, thực hiện kinh tế bao cấp đã chấm dứt việc người Hoa kiểm soát nền kinh tế tại miền Nam, ngăn Hoa kiều tiếp tay cho Trung Quốc để phá hoại đất nước ta

Tóm lại, trong bối cảnh sau 1975, Việt Nam gặp muôn vàn khó khăn khi phải cùng lúc khắc phục hậu quả của chiến tranh, khôi phục kinh tế ở miền Bắc và xây dựng lại miền Nam bị chiến tranh tàn phá, chống Trung Quốc ở biên giới Tây Nam và biên giới phía Bắc và không nhận được sự giúp đỡ của các nước đồng minh như trước Vậy nên việc tiếp tục áp dụng một mô hình cũ sẽ an toàn và hiệu quả hơn. 

3 Nội dung mô hình

3.1 Kinh tế

3.1.1 Các hình thức bao cấp

Trang 14

Với nền kinh tế - xã hội – văn hóa do nhà nước nắm và quyết định, thời bao cấp gồm nhiều hình thức bao cấp khác nhau.

 Hình thức bao cấp qua giá và số lượng hàng hóa

Các tài sản, thiết bị, hàng hóa và vật tư do nhà nước quyết định giá trị nên thấp hơn nhiều lần so với giá trị thực trên thị trường

Hàng hóa các loại đều rất khan hiếm, dù có tiền cũng không mua được Thậm chí cótem phiếu nhưng có quá nhiều người xếp hàng mua nên không ít trường hợp chờ đến lượtmình thì không còn hàng, đành phải ra về Hàng hóa số lượng ít, không đa dạng về chủngloại, mặt hàng để lựa chọn phục vụ nhu cầu nên nhiều khi không đủ ăn tới cuối tháng, nhiều người dân phải đi mua ở chợ đen

 Cùng với bao cấp lương thực, thực phẩm và hàng tiêu dùng, nhà nước cũng nắm việc phân phối nhà cửa Tiêu chuẩn là mỗi người được 4 mét vuông Nhiều khu nhà tập thể nhiều tầng được xây dựng giống như ở Liên Xô trong các thành phố, phân cho các cán bộ, công nhân viên nhà nước Khi ở nhà bị hư hỏng, người dân không phải tự sửa mà

Sở nhà đất lo sửa cho Cuộc sống trong những căn hộ tập thể diện tích khiêm tốn, nhiều người trong gia đình sinh sống với cuộc sống thiếu thốn, nhiều bộn bề lo toan Nhiều gia đình còn kiêm cả chăn nuôi trong nhà để kiếm thêm thu nhập Lúc này, giá nhà trong thành phố khá rẻ nhưng những người làm nhà nước cũng khó có thể mua được một căn vìthu nhập rất thấp

 Hình thức bao cấp qua chế độ tem phiếu

Nhà nước quy định chế độ phân phối vật phẩm tiêu dùng cho cán bộ, công nhân viên theo định mức qua hình thức tem phiếu Chế độ tem phiếu với mức giá khác xa so với giá thị trường đã biến chế độ tiền lương thành lương hiện vật, thủ tiêu động lực kích thích người lao động và phá vỡ nguyên tắc phân phối theo lao động Trọng tâm của thời bao cấp là tem phiếu quy định loại hàng và số lượng người dân được phép mua, chiếu theo một số tiêu chuẩn như cấp bậc và niên hạn Có diện được ưu đãi, cho phép ưu tiên mua dùng; diện khác thì không Ví dụ như thịt lợn, người dân thường chỉ được mua 1,5

Ngày đăng: 08/03/2023, 22:44

w