ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI ĐẠI HỌC LUẬT LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM Đề bài Câu 1 Thống nhất đất nước về mặt nhà nước Vì sao Đảng chủ chương thống nhất đất nước về mặt nhà nước? Chỉ đạo của Đảng để thố.
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
ĐẠI HỌC LUẬT LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
Đề bài
Câu 1: Thống nhất đất nước về mặt nhà nước: Vì sao Đảng chủ chương thống nhất đất nước về mặt nhà nước? Chỉ đạo của Đảng để thống nhất đất nước về mặt nhà nước? Kết quả, ý nghĩa?
Câu 2: Con đường đi lên CNXH ở Việt Nam được xác định ở thời kì trước Đổi mới (được xác định tại đại hội IV và V) – các bước đổi mới bộ phận/cục bộ ở Việt Nam (1979-1986)?
Câu 3: Khái quát về cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới phía Tây Nam tổ quốc (1975-1979) Tìm hiểu về cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc Tổ quốc năm 1979?
Câu 4: Tại sao Việt Nam phải tiến hành đổi mới? Nội dung cơ bản của Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (12-1986)?
Câu 5: Công cuộc Đổi mới toàn diện ở Việt Nam từ Đại hội VI (12-1986) đến Đại hội XIII (1-2021): chủ trương (qua cương lĩnh 1991; cương lĩnh bổ sing 2011) và thành tựu trên các mặt: kinh tế - chính trị, văn hóa – xã hội; giáo dục – đào tạo, quốc phòng – an ninh; quan hệ đối ngoại – hội nhập quốc tế, ?
Trang 2Bài làm
Câu 1: Thống nhất đất nước về mặt nhà nước: Vì sao Đảng chủ chương thống nhất đất nước về mặt nhà nước? Chỉ đạo của Đảng để thống nhất đất nước về mặt nhà nước? Kết quả, ý nghĩa?
Vì sao phải thống nhất đất nước về mặt nhà nước:
- Sau đại thắng mùa xuân 1975, đất nước ta bước vào một kỉ nguyên mới: Tổ
quốc hoàn toàn độc lập, thống nhất, quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội Và để thực hiện bước quá độ này, trước tiên phải, bức thiết nhất là phải lãnh đạo thống nhất nước nhà về mặt nhà nước Lúc này ở đất nước ta vẫn còn tồn tại hai chính quyềnkhác nhau, ở miền Bắc là Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa và ở miền Nam
là chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam
- Hội nghị lần thứ 24 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa III (8/1975) chủtrương: Hoàn thành thống nhất nước nhà, đưa cả nước tiến hành, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội Miền Bắc tiếp tục xây dựng chủ nghĩa xã hội và hoàn thiện quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, đồng thời tiến hành cải tạo xã hội chủ nghĩa và xây dựng xã hội chủ nghĩa ở miền Nam
ð Thống nhất đất nước vừa là nguyện vọng thiết tha của nhân dân cả nước, vừa làquy luật khách quan của sự phát triển cách mạng Việt Nam, của lịch sử dân tộc Việt Nam Cần xúc tiến thống nhất nước nhà tích cực và khẩn trương Thống nhấtcàng sớm càng phát huy được sức mạnh của đất nước
Chỉ đạo của Đảng về thống nhất đất nước về mặt nhà nước:
Sau khi hoàn toàn độc lập thống nhất vào năm 1975, nhiệm vụ đầu tiên và bức thiết
nhất mà Đảng đặt ra là lãnh đạo thống nhất nước nhà về mặt nhà nước Để đạt được nhiệm vụ quan trọng đó, Đảng ra những chỉ đạo cụ thể:
Trang 3Tháng 8/1975, Hội nghị lần thứ 24 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa III đề ra chủ trương hoàn thành thống nhất đất nước về mặt Nhà nước, nhiệm vụ thống nhất đất nước được từng bước hoàn thiện dưới sự chỉ đạo của Đảng:
Từ ngày 15 đến 21/11/1975, Hội nghị hiệp thương chính trị của hai đoàn đại biểu Bắc – Nam đã họp tại Sài Gòn: Khẳng định lại và nhất trí với những chủ trương mà Đảng đề ra
Ngày 25/4/1976, cuộc Tổng tuyển cử Quốc hội chung của nước Việt Nam thống nhất được tiến hành: Thể hiện ý chí đoàn kết toàn dân tộc
Từ ngày 24/6 đến ngày 3/7/1976, kỳ họp thứ nhất Quốc hội nước Việt Nam thống nhất đã họp tại Thủ đô Hà Nội, quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước:Quyết định đặt tên nước ta là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Quốc kỳ nền đỏ sao vàng 5 cánh, Thủ đô là Hà Nội, Quốc ca là bài Tiến quân ca, Quốc huy mang dòng chữ Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Thành phố Sài Gònđổi tên là Thành phố Hồ Chí Minh
Bầu ra ban lãnh đạo cao nhất của nhà nước: Chủ tịch nước là đồng chí Tôn Đức Thắng, các Phó Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ,…
Quốc hội thành lập Ủy ban dự thảo Hiến pháp mới
Kết quả: Thành công thống nhất đất nước.
Ý nghĩa: Hoàn thành thống nhất đất nước về mặt nhà nước là một trong những thành
tựu nổi bật, có ý nghĩa to lớn: là cơ sở để thống nhất trên các lĩnh vực khác, nhanh chóng tạo ra sức mạnh toàn diện của đất nước; là điều kiện tiên quyết để đưa cả
Trang 4nước lên quá độ lên chủ nghĩa xã hội; Mở ra những khả năng to lớn để bảo vệ Tổ quốc và mở rộng quan hệ quốc tế.
Câu 2: Con đường đi lên CNXH ở Việt Nam được xác định ở thời kì trước Đổi mới (được xác định tại đại hội IV và V) – các bước đổi mới bộ phận/cục bộ ở Việt Nam (1979-1986)?
1 Những chủ trương và biện pháp lớn của hội nghị IV
Sau đại thắng mùa xuân 1975, đất nước ta bắt đầu một kỷ nguyên mới - kỷ nguyên hoà bình thống nhất độc lập và cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội Đại hội đại biểu toànquốc lần thứ IV của Đảng là dấu mốc thống nhất tổ quốc, đưa cả nước tiến lên
Ba là: Hoàn cảnh quốc tế đang thuận lợi, song cuộc chiến giữa thế lực cách mạng và thế lực phản cách mạng còn gay go quyết liệt.Các thế lực phản cách mạng quốc tế cónhiều âm mưu, hành động tinh vi thâm độc chống phá phong trào cộng sản quốc tế
ð Với 3 đặc điểm này Việt Nam có đủ điều kiện đi lên và xây dựng thành công CNXH
Trang 5Đại hội xác định đường lối chung của cách mạng XHCN Việt Nam:
· Nắm vững chuyên chính vô sản, phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động,
· Tiến hành đồng thời ba cuộc cách mạng: cách mạng về quan hệ sản xuất, cáchmạng khoa học - kỹ thuật, cách mạng tư tưởng và văn hoá, trong đó cách mạng khoa học kỹ thuật là then chốt
· Đẩy mạnh công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ trung tâm của cả thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
· Xây dựng chế độ làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa, xây dựng nền sản xuất lớn
xã hội chủ nghĩa, xây dựng nền văn hoá mới, xây dựng con người mới xã hội chủnghĩa
· Xoá bỏ chế độ người bóc lột người, xoá bỏ nghèo nàn và lạc hậu
· Không ngừng đề cao cảnh giác, thường xuyên củng cố quốc phòng, giữ gìn anninh chính trị và trật tự xã hội; xây dựng thành công Tổ quốc Việt Nam hoà bình,độc lập, thống nhất và xã hội chủ nghĩa
· Góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội
ð Trong đường lối chung này chúng ta có thể thấy nhận thức mới của Đảng về CNXH bao gồm: xây dựng chế độ làm chủ tập thể XHCN, nền sản xuất lớn, nền văn hóa mới, con người mới XHCN, coi chuyên chính vô sản, phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động là công cụ để xây dựng CNXH
Trang 6Trên cơ sở đường lối chung, Đại hội cũng đã vạch ra đường lối xây dựng, phát triển kinh tế:
· Đẩy mạnh công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa, xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, đưa nền kinh tế nước ta đi từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa
· Ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý trên cơ sở phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ, kết hợp xây dựng công nghiệp và nông nghiệp
cả nước thành một cơ cấu kinh tế công-nông nghiệp
· Vừa xây dựng kinh tế trung ương vừa phát triển kinh tế địa phương, kết hợp kinh tế trung ương với kinh tế địa phương trong một cơ cấu kinh tế quốc dân thống nhất; kết hợp phát triển lực lượng sản xuất với xác lập và hoàn thiện quan
hệ sản xuất mới
· Kết hợp kinh tế với quốc phòng; tăng cường quan hệ phân công, hợp tác, tương trợ với các nước xã hội chủ nghĩa anh em trên cơ sở chủ nghĩa quốc tế xã hội chủ nghĩa
· Phát triển quan hệ kinh tế với các nước khác trên cơ sở giữ vững độc lập chủ quyền và các bên cùng có lợi
· Làm cho nước Việt Nam trở thành một nước xã hội chủ nghĩa có kinh tế công – nông nghiệp hiện đại, văn hoá và khoa học kỹ thuật tiên tiến, quốc phòng vững mạnh, có đời sống văn minh, hạnh phúc
ð Hội nghị đã đề ra phương hướng, nhiệm vụ của kế hoạch pháy triển kinh tế và văn hoá (1976-1980) nhằm 2 mục tiêu vừa cơ bản vừa cấp bách là bảo đảm nhu cầu của đời sống nhân dân, tích luỹ để xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ
Trang 7nghĩa xã hội: tích lũy xây dựng cơ sở vật chất- kĩ thuật của CNXH, đẩy mạnh tư tưởng và văn hóa, xây dựng và phát triển nền văn hóa mới, tăng cường nhà nước XHCN, phát huy vai trò của các đoàn thể, coi trọng nhiệm vụ quốc tế và chính sách đối ngoại của Đảng, nâng cao vai trò lãnh đạo và sức chiến đấu của ĐảngTóm lại: Muốn đưa vào sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa đến toàn thắng, điều kiện quyết định trước tiên là phải thiết lập và không ngừng tăng cường chuyên chính vô sản, thực hiện và không ngừng phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động Trong đó, nắm vững chuyên chính vô sản là nắm vững đường lối của Đảng, tăng cường sự lãnh đạo của giai cấp công nhân, thực hiện vàphát huy quyền làm chủ của tập thể nhân dân lao động, xây dựng nhà nước vững mạnh để tiến hành ba cuộc cách mạng về quan hệ sản xuất, khoa học kỹ thuật và
tư tưởng văn hoá, xóa bỏ chế độ bóc lột, đập tan sự phản kháng của kẻ thù Xây dựng chế độ làm chủ tập thể là xây dựng một xã hội trong đó người làm chủ là nhân dân lao động, có tổ chức mà nòng cốt là liên minh công nông, do giai cấp công nhân lãnh đạo
2 Những chủ trương và biện pháp lớn của hội nghị V
Về giá cả, Hội nghị nhấn mạnh việc điều chỉnh mặt bằng giá cả, bao gồm cả các quan hệ tỷ giá và cơ chế quản lý giá phải dựa trên những nguyên tắc sau: “Phù hợp với sức mua thực tế; định giá dựa trên kế hoạch, thực hiện hạch toán kinh tế và kinh doanh xã hội chủ nghĩa, vận dụng quy luật giá trị vàquan hệ cung – cầu; coi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu, phải lấy giá thóc làm chuẩn; phân công, phân cấp hợp
lý theo nguyên tắc tập trung dân chủ phù hợp với thực tế” Dựa trên những nguyên tắc đó Đảng ta chia rõ ràng từng chủ trương cấp thiết phải đổi mới như : “Giá mua lương thực và nông sản; các yếu tố chi phí, giá thành công nghiệp cần được tính đủ,
Trang 8tính đúng; giá buôn hàng công nghiệp ( vật tư và hàng tiêu dùng); giá bán lẻ; cơ chế quản lý giá.
Về lương, Hội nghị nêu ra nguyên tắc về chủ trương, chính sách là “quán triệt nguyên tắc phân phối theo lao động” , “xóa bỏ bao cấp, dần khắc phục chênh lệch bất hợp lý và tính chất bình quân; phải cải thiện đời sống của công dân và các lực lượng vũ trang; khôi phục lại trật tự về lương, thưởng”10 Và Đảng ta đưa ra những chủ trương như sau: “Bãi bỏ chế độ cung cấp hiện vật theo giá bù lỗ, chuyển sang chế độ trả lương bằng tiền, xác định lại hệ thống lương cơ bản trên phạm vi cả nước;sắp xếp lại các mức lương, phụ cấp, tiền thưởng; phụ cấp đắt đỏ phải được trung ương thống nhất quy định cho từng vùng; điều chỉnh chế độ trợ cấp xã hội
Về tài chính và tiền tệ, Hội nghị xác định vấn đề tài chính và lưu thông tiền tệ cần phải được chấn chỉnh đồng thời cùng giá và lương, và các chủ trương là: “Phấn đấu
hạ giá thành và phí lưu thông, giữ chắc và huy động mạnh mẽ các nguồn thu cho ngân sách nhà nước trên cơ sở phát triển sản xuất và cải tiến quản lý; thực hiện chế
độ tự chủ tài chính; điều chỉnh mối quan hệ giữa ngân sách trung ương và ngân sách địa phương, thực hiện chế độ phân cấp ngân sách trên cơ sở ba cấp cùng làm chủ (toàn xã hội, tập thể, cá nhân); cải tiến lưu thông tiền tệ; kiểm soát bằng đồng tiền và
sự thay đổi đột ngột đó Bởi vậy mà tư tưởng thì đúng đắn, nhưng hành động lại sai
Trang 9lầm làm cho tình hình kinhtế trở lên khủng hoảng nghiêm trọng hơn Gánh hậu quả nghiêm trọng, Đảng ta một lần nữa ngồi lại để xem xét tình hình thật kĩ lưỡng và lần này Hội nghị Bộ Chính trị (8-1986) đã đưa ra kết luận “ Về một số vấn đề thuộc quan điểm kinh tế” – bước đột phá thứ hai sau Đại hội V trong đổi mới tư duy.
Về cơ cấu kinh tế, Hội nghị cho rằng, một nền kinh tế có cơ cấu hợp lý mới có thể phát triển ổn định, và việc bố trí cơ cấu ngành kinh tế, sản xuất, đầu tư là những vấn
đề quan trọng hàng đầu Ta cũng đã xác định rõ trong chặng đường đầu tiên của thời
kỳ quá độ tại mục tiêu trong Đại hội lần thứ V là “lấy nông nghiệp làm mặt trận hàng đầu, đồng thời phát triển công nghiệp nhẹ và vừa” Đó là quan điểm đúng đắn, nhưng chúng ta đã mắc nhiều sai lầm, khuyết điểm
Câu 3: Khái quát về cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới phía Tây Nam tổ quốc (1975-1979) Tìm hiểu về cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc Tổ quốc năm 1979?
Khái quát:
Sau thắng lợi vĩ đại của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, nhân dân Việt Nam
và nhân dân Campuchia có chung khát vọng được sống trong hòa bình, độc lập, tự
do để hàn gắn vết thương chiến tranh, xây dựng và phát triển đất nước phồn vinh, thịnh vượng Thế nhưng ngay sau khi lên cầm quyền ở Campuchia vào tháng 4-
1975, tập đoàn Pol Pot-Ieng Sary đã phản bội lại nhân dân Campuchia, phản bội lợi ích dân tộc, thâu tóm quyền lực, tước đoạt mọi thành quả cách mạng, thi hành hàng loạt chính sách đối nội, đối ngoại cực kỳ phản động, hiếu chiến và tàn bạo Ở trong nước, chúng tước đoạt quyền tự do, dân chủ của nhân dân, biến họ thành những người nô lệ; thi hành chính sách diệt chủng đối với trí thức, tôn giáo, người dân tộc thiểu số, Việt kiều và đảng viên, công chức, binh lính không đi theo đường lối phản động của chúng Trong thời gian Pol Pot cầm quyền, chúng đã giết hại hàng triệu
Trang 10người vô tội, đặt dân tộc Campuchia bên bờ diệt vong và đe dọa nghiêm trọng an ninh của các nước trên bán đảo Đông Dương Đất nước Campuchia xinh đẹp trở thành đống đổ nát, hoang tàn, biệt lập, chết chóc và đau thương.
Không chỉ thi hành chính sách diệt chủng dã man, tàn bạo đối với đồng bào mình, được các thế lực phản động quốc tế giật dây, giúp sức, tập đoàn Pol Pot-Ieng Sary đãthay đổi thái độ với Việt Nam, ra sức xuyên tạc, bôi nhọ hình ảnh Việt Nam, kích động hằn thù dân tộc, đòi hoạch định lại biên giới, coi Việt Nam là “kẻ thù số một”,
“kẻ thù truyền kiếp” Từ năm 1975 đến 1978, chúng trắng trợn mở nhiều cuộc tiến công xâm lấn, đánh chiếm các đảo, biên giới nước ta với quy mô, tần suất ngày một gia tăng, gây nên hàng loạt cuộc thảm sát đẫm máu đối với nhân dân ta dọc biên giớiViệt Nam-Campuchia Hành động của tập đoàn Pol Pot đã xâm phạm thô bạo độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, vi phạm nghiêm trọng luật pháp quốc tế, gây tổn hại cho mối quan hệ giữa hai nước
Để bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc, bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân, Đảng, Nhà nước ta một mặt chỉ đạo các quân khu, địa phương, đơn vị tăng cường chuẩn bị lực lượng và thế trận, kiên quyết đập tan các cuộc tiến công xâm lược của địch; mặt khác, kiên trì chủ trương xây dựng đường biên giới hòa bình, hữunghị, tìm cách cứu vãn hòa bình, nhiều lần đề nghị đàm phán với Chính phủ
Campuchia Dân chủ nhằm giải quyết những bất đồng Song, tập đoàn Pol Pot-Ieng Sary không những cự tuyệt, khước từ mọi thiện chí của ta mà còn đẩy mạnh hoạt động chống phá, xâm lược Việt Nam Được nước ngoài hỗ trợ về vũ khí, trang bị và
cố vấn quân sự, tập đoàn Pol Pot-Ieng Sary ráo riết chuẩn bị chiến tranh Cuối năm
1978, chúng huy động 10 sư đoàn cùng vũ khí, trang bị, kỹ thuật về biên giới Tây Nam Việt Nam, chuẩn bị cho cuộc tổng tiến công xâm lược nước ta
Trang 11Trước tình hình đó, đầu tháng 12-1978, Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương thông qua quyết tâm mở cuộc tổng phản công-tiến công chiến lược trên tuyến biên giới Tây Nam; đồng thời sẵn sàng phương án hỗ trợ các lực lượng vũ trang (LLVT) yêu nước Campuchia đánh đổ tập đoàn Pol Pot-Ieng Sary, giành chính quyền về tay nhândân.
Thực hiện quyền tự vệ chính đáng, từ ngày 23-12-1978, bằng các đòn phản công, tiến công quyết liệt, quân và dân ta đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ đánh đuổi quân Pol Pot ra khỏi lãnh thổ của Tổ quốc Tiếp đó, đáp lại đề nghị của Mặt trận Đoàn kếtdân tộc cứu nước Campuchia và trên tinh thần quốc tế trong sáng, “giúp bạn là mình
tự giúp mình”, Quân tình nguyện Việt Nam đã bất chấp mọi hy sinh, gian khổ, phối hợp với LLVT Mặt trận Đoàn kết dân tộc cứu nước Campuchia mở cuộc tổng tiến công giải phóng thủ đô Phnôm Pênh (7-1-1979) và toàn bộ đất nước Campuchia (17-1-1979)
Thắng lợi của cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam của Tổ quốc đã đập tan
âm mưu, thủ đoạn thâm độc của tập đoàn Pol Pot-Ieng Sary và các thế lực phản độngquốc tế, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; xóa bỏ chính quyền phản động Pol Pot-Ieng Sary, cứu nhân dân Campuchia thoát khỏi bờ vực của thảm họa diệt chủng, giành lại quyền được sống, quyền làm người và bước vào kỷ nguyên độc lập, tự do thật sự; chặn đứng mưu đồ chia rẽ truyền thống đoàn kết lâu đời của ba nước Đông Dương
2 Tìm hiểu chiến tranh biên giới phía Bắc năm 1979
Trung Quốc là nước láng giềng của Việt Nam Trong quá trình đấu tranh cách mạng,nhân dân hai nước gắn bó mật thiết, đoàn kết giúp đỡ nhau Nhưng sau khi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam thắng lợi (1975), quan hệ hai nước dần xấu đi Đầu năm 1979, khi Quân đội nhân dân Việt Nam tiến công
Trang 12đánh đổ tập đoàn phản động Pol Pot, giúp đỡ nhân dân Campuchia thoát khỏi họa diệt chủng, mở ra công cuộc hồi sinh đất nước, chính quyền Trung Quốc cùng một
số nước khác ra sức tuyên truyền xuyên tạc sự xuất hiện của Quân tình nguyện Việt Nam trên lãnh thổ Campuchia.Mục đích của họ là muốn chống phá cách mạng Việt Nam, hậu thuẫn cho các thế lực phản động để mưu toan áp đặt lợi ích dân tộc của họ trên bán đảo Đông Dương
Trong khi đó, bối cảnh quốc tế lúc này đang có những diễn biến rất phức tạp khi mâu thuẫn Liên Xô-Trung Quốc gia tăng căng thẳng; quan hệ Trung Quốc-Mỹ tiếp tục có sự cải thiện và cả hai đều coi Liên Xô là “kẻ thù số 1.”
Sau nhiều lần gây ra các vụ khiêu khích quân sự quy mô nhỏ, từ ngày 17/2/1979, phía Trung Quốc đã huy động 60 vạn quân, trên 500 xe tăng, xe bọc thép; hàng ngànkhẩu pháo các loại mở cuộc tiến công xâm phạm lãnh thổ Việt Nam trên toàn tuyến biên giới phía Bắc từ Phong Thổ (Lai Châu) đến Móng Cái (Quảng Ninh), trong đó hướng tiến công chủ yếu là Cao Bằng-Lạng Sơn; hướng tiến công quan trọng là Lào Cai (Hoàng Liên Sơn); hướng phối hợp là Phong Thổ (Lai Châu); hướng nghi binh thu hút lực lượng là Quảng Ninh, Hà Tuyên
Mở cuộc tiến công xuống biên giới phía Bắc Việt Nam, các nhà cầm quyền Trung Quốc hướng đến những mục tiêu cơ bản:
Thứ nhất, buộc Việt Nam phải rút Quân tình nguyện ra khỏi Campuchia, tạo điều kiện cho quân Pol Pot hồi phục lực lượng, giữ được những căn cứ còn lại, tiếp tục chống phá chính quyền cách mạng Campuchia vừa thiết lập
Thứ hai, tranh thủ sự ủng hộ của một số nước lớn đang chống phá cách mạng Việt Nam (trong đó có Mỹ) để giúp Trung Quốc thực hiện “bốn hiện đại hóa” (nông nghiệp, công nghiệp, quân đội, khoa học-kỹ thuật)
Trang 13Thứ ba, phá hoại tiềm lực kinh tế, quốc phòng, kích động bạo loạn, hạ uy thế quân
sự, chính trị của Việt Nam trên trường quốc tế sau chiến thắng đế quốc Mỹ xâm lượcnăm 1975
Thứ tư, thị uy sức mạnh đối với các nước trong khu vực Đông Nam Á; đồng thời thăm dò phản ứng của Liên Xô và dư luận thế giới để chuẩn bị cho những bước phiêu lưu quân sự sau này
Bộ Chỉ huy phía Trung Quốc chủ quan nhận định: với lực lượng, vũ khí trang bị chiếm ưu thế áp đảo hiện tại (bộ binh đông hơn gấp 3,5 lần; pháo binh nhiều gấp 5,7 lần; xe tăng, thiết giáp nhiều gấp 9,8 lần ), quân Trung Quốc sẽ nhanh chóng đập tan hệ thống phòng thủ biên giới của Việt Nam; mặt khác, một bộ phận lớn Quân độiViệt Nam đang thực hiện nhiệm vụ quốc tế ở Campuchia, lực lượng tăng cường cho mặt trận biên giới sẽ gặp nhiều khó khăn
Từ nhận định đó, Bộ Chỉ huy phía Trung Quốc đề ra kế hoạch là nhanh chóng đánh chiếm một số thị xã, địa bàn quan trọng, sau đó tùy điều kiện tình hình cụ thể có thể phát triển sâu vào nội địa Việt Nam
Trên mỗi hướng tiến công, quân Trung Quốc thường kết hợp đánh chính diện với vuhồi, thọc sâu, bao vây, chia cắt; phối hợp giữa bộ binh, xe tăng, xe bọc thép và pháo binh, thực hiện đánh phá triệt để toàn diện rất tàn khốc Tuy nhiên, trên thực tế, quânTrung Quốc đã gặp phải sự giáng trả quyết liệt từ phía Việt Nam
Ngay sau khi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước thắng lợi (năm 1975), nhiều đoàn đại biểu cấp cao Đảng và Nhà nước Việt Nam (trong đó có cả Tổng Bí thư BanChấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam Lê Duẩn) sang thăm Trung Quốc, khẳng định Việt Nam luôn ghi nhớ và biết ơn sâu sắc Đảng, Nhà nước và nhân dân Trung Quốc về sự ủng hộ, giúp đỡ to lớn cả về chính trị, vật chất lẫn tinh thần trong
Trang 14hai cuộc kháng chiến cứu nước; phía Việt Nam luôn coi trọng việc giữ gìn quan hệ láng giềng hữu nghị hợp tác với Trung Quốc.
Cuối năm 1978, đầu năm 1979, khi quan hệ hai nước căng thẳng, xung đột vũ trang nhỏ lẻ ở biên giới liên tục diễn ra, phía Việt Nam vẫn kiên trì kêu gọi Chính phủ Trung Quốc cùng nhau đàm phán giải quyết mọi mâu thuẫn, tranh chấp bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở bình đẳng, tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ
Đáp lại thiện chí đó, phía Trung Quốc vẫn chủ trương tiến hành đường lối chống Việt Nam, cắt toàn bộ viện trợ đã cam kết, đưa ra những đòi hỏi vô lý khi đàm phán (Việt Nam rút Quân tình nguyện khỏi Campuchia, có quy chế riêng bảo đảm quyền lợi người Việt gốc Hoa ở miền Nam Việt Nam )
Mặt khác, Chính phủ Trung Quốc tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền vu cáo “Việt Namxâm lược Campuchia,” “Việt Nam lấn chiếm đất đai, quấy rối biên cương phía Nam Trung Quốc” nhằm đánh lạc hướng dư luận trong và ngoài nước, từ đó ngang ngược tuyên bố “dạy cho Việt Nam một bài học.”
Lường định về một cuộc chiến tranh có thể xảy ra, cuối năm 1978, Trung ương Đảng, Chính phủ Việt Nam khẩn trương tăng cường lực lượng củng cố tuyến phòng thù biên giới phía Bắc
Trước cuộc tiến công quy mô lớn của Trung Quốc, ngày 17/2/1979, Chính phủ Việt Nam ra tuyên bố nêu rõ nhà cầm quyền Trung Quốc đang đi ngược lại lợi ích của nhân dân, phá hoại nghiêm trọng tình đoàn kết hữu nghị giữa nhân dân hai nước, đồng thời khẳng định quân và dân Việt Nam không có con đường nào khác là thực hiện quyền tự vệ chính đáng của mình để đánh trả
Trang 15Trong những ngày đầu chiến tranh, phía Việt Nam chủ trương không tập trung lực lượng dự bị chiến lược vào quyết chiến sớm, cũng không vội rút lực lượng chủ lực
cơ động phía Nam ra, mà phát huy sức mạnh tổng hợp của chiến tranh nhân dân địa phương, sử dụng lực lượng tại chỗ của Quân khu 1, Quân khu 2 là chính, có sự bổ sung một bộ phận lực lượng từ tuyến sau lên tăng cường
Trải qua 10 ngày chiến đấu, các lực lượng vũ trang Quân khu 1, Quân khu 2 và nhân dân Việt Nam tại các tỉnh biên giới phía Bắc đã chiến đấu rất anh dũng, tiêu diệt nhiều sinh lực, phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh, làm chậm ý định “đánh nhanh, chiếm nhanh” của quân Trung Quốc, buộc đối phương phải tung lực lượng
dự bị chiến lược vào tham chiến Với ưu thế quân đông, nhiều vũ khí trang bị kỹ thuật, quân Trung Quốc từng bước tiến sâu vào lãnh thổ Việt Nam, lần lượt chiếm một số địa bàn, thị xã quan trọng như: Lào Cai (19/2), Cao Bằng (24/2), Cam Đường(25/2), Lạng Sơn (5/3)
Trước tình hình cấp bách đó, Chính phủ Việt Nam quyết định sử dụng các binh đoànchủ lực mạnh, sẵn sàng mở những chiến dịch phản công quy mô lớn của binh chủng hợp thành Theo phương châm đó, đầu tháng 3/1979, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốcphòng Việt Nam ra lệnh cho Quân đoàn 2 đang làm nhiệm vụ quốc tế tại Campuchianhanh chóng chuyển toàn bộ lực lượng về phía Bắc tập kết, đồng thời, ra quyết định thành lập Quân đoàn 5 (ngày 2/3/1979) ngay tại mặt trận biên giới (gồm bốn sư đoàn
bộ binh: 3, 338, 327, 337 cùng một số đơn vị kỹ thuật và bảo đảm khác)
Các đơn vị chủ lực của Quân đoàn 1, Quân chủng Phòng không-Không quân và các binh chủng kỹ thuật khác sẵn sàng tham gia chiến đấu Để phát huy sức mạnh tổng hợp cả nước, ngày 4/3, Ủy ban Thường vụ Quốc hội Việt Nam ra quyết định tổng động viên lực lượng bảo vệ Tổ quốc Kế hoạch tác chiến chiến lược được bổ sung thảo luận thông qua
Trang 16Vào thời gian này, do bị thiệt hại nặng nề mà chưa đạt được mục tiêu cơ bản đề ra, lại bị dư luận quốc tế lên án mạnh mẽ, tối 5/3/1979, chính quyền Trung Quốc tuyên
bố rút quân về nước Để tỏ thiện chí hòa bình, mong muốn khôi phục quan hệ hữu nghị giữa hai nước, Trung ương Đảng, Chính phủ Việt Nam ra lệnh cho các lực lượng vũ trang và nhân dân trên vùng biên giới phía Bắc dừng chiến dịch phản công
để tạo điều kiện cho quân Trung Quốc rút về Đến ngày 18/3/1979, Trung Quốc hoàn thành việc rút quân khỏi Việt Nam
Cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc của nhân dân Việt Nam diễn ra trong vòng khoảng một tháng (từ 17/2-18/3/1979) nhưng có ý nghĩa thắng lợi rất to lớn, thể hiện ở một số khía cạnh cơ bản:
Quân dân Việt Nam đã loại khỏi vòng chiến đấu 62.500 quân Trung Quốc, bắn cháy
và phá hủy 550 xe quân sự, trong đó có 280 xe tăng, xe thiết giáp, phá hủy 115 khẩu pháo và cối hạng nặng, thu nhiều vũ khí, đồ dùng quân sự buộc đối phương sớm rút quân, qua đó làm thất bại hoàn toàn ý đồ của các nhà cầm quyền Trung Quốc muốn áp đặt lợi ích nước lớn lên bán đảo Đông Dương
Cuộc chiến đấu này thêm một lần nữa khẳng định ý chí, sức mạnh bền bỉ của nhân dân Việt Nam quyết tâm vượt qua mọi khó khăn, thử thách để bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, bởi Việt Nam lúc này vừa kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ chưa lâu (1975), vừa kết thúc chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam
và đang làm nhiệm vụ quốc tế giúp đỡ nhân dân Campuchia lật đổ chế độ diệt chủngPol Pot, thực hiện công cuộc hồi sinh đất nước, kinh tế lại đang gặp rất nhiều khó khăn do cấm vận của Mỹ
Câu 4: Tại sao Việt Nam phải tiến hành đổi mới? Nội dung cơ bản của Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (12-1986)?
Trang 17Vì sao phải đổi mới đất nước:
a Chủ quan:
– Sau 10 năm thực hiện kế hoạch 5 năm ( 1976-1985), cách mạng XHCN ở nước ta đạt nhiều thành tựu và ưu điểm đáng kể, song cũng gặp không ít khó khăn, khiến đất nước lâm vào tình trạng khủng hoảng, trước hết về kinh tế- xã hội
– Nguyên nhân cơ bản: do ta mắc phải “Sai lầm nghiêm trọng và kéo dài về chủ trương, chính sách, sai lầm về chỉ đạo chiến lược sách lược và tổ chức thực hiện”.– Để khắc phục sai lầm, đưa đất nước vượt qua khủng hoảng, Đảng và nhà nước ta phải tiến hành đổi mới
b Khách quan:
– Những thay đổi của tình hình thế giới và quan hệ giữa các nước do tác động của cách mạng KHKT
– Cuộc khủng hoảng toàn diện, trầm trọng của Liên Xô và các nước XHCN khác
→ Đòi hỏi Đảng và nhà nước phải đổi mới
Nội dung cơ bản của Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (12-1986)
- Đại hội đã đánh giá những thành tựu, những khó khăn của đất nước do cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội tạo ra, những sai lầm kéo đến Đảng về chủ trương, chính sách lớn, về chỉ đạo chiến lược và tổ chức thực hiện khuynh hướng tư tưởng chủ yếu của những sai lầm đó, đặc biệt là sai lầm về kinh tế là bệnh chủ quan duy ý chí, lối suy nghĩ về hành động đơn giản, nóng vội chạy theo nguyện vọng chủ quan, là khuynh hướng buông lỏng quản lý kinh tế, xã hội, không chấp hành nghiêm chỉnh đường lối
và nguyên tắc của Đảng đó là tư tưởng vừa tả khuynh vừa hữu khuynh
Trang 18- Báo cáo chính trị tổng kết thành bốn bài học kinh nghiệm lớn:
Một là, trong toàn bộ hoạt động của mình, Đảng phải quán triệt tư tưởng “ lấy dân làm gốc”
Hai là, Đảng phải luôn luôn xuất phát từ thực tế, tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan
Ba là, phải biết kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong điều kiện mớiBốn là, chăm lo xây dựng Đảng ngang tầm với một Đảng cầm quyền lãnh đạo nhân dân tiến hành cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa
- Mục tiêu cụ thể về kinh tế - xã hội:
• Sản xuất đủ tiêu dùng và có tích lũy
• Bước đầu tạo ra một cơ cấu kinh tế hợp lý, trong đó đặc biệt chú trọng ba chương trình kinh tế lớn là lương thực – thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu, coi
đó là sự cụ thể hóa nội dung công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong chặng đường đầu của thời kỳ quá độ Làm cho phần kinh tế xã hội chủ nghãi giữ vai trò chi phối, sử dụng mọi khả năng của các thành phần kinh tế khác trong sự liên kết chặt chẽ, dưới
sự lãnh đạo của thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa Tiến hành cải tạo xã hội nâng cao hiệu quả kinh tế và tăng thu nhập cho người lao động
• Xây dựng và hoàn thiện mọi bước quan hệ sản xuất mới phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất
• Tạo ra chuyển biến về mặt xã hội, việc làm, công bằng xã hội, chống tiêu chực, mởrộng dân chủ, giữ vững kỉ cương phép nước
• Đảm bảo nhu cầu củng cố quốc phòng và an ninh
Trang 19- Đại hội đã nêu ra năm phương hướng cơ bản:
• Bố trí lại cơ cấu sản xuất, điều chỉnh lớn cơ cấu đầu tư
• Xây dựng và củng cố quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, sử dụng và cải tạo đúng đắn các thành phần kinh tế Coi nền kinh tế có nhiều thành phần là một đặc trung củathời kì quá độ
• Đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, dứt khoát xóa bỏ cơ chế kế hoạch hóa theo phươngthức hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa
• Phát huy mạnh mẽ động lực của khoa học – kĩ thuật
• Mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại
- Nhiệm vụ của chính sách đối ngoại nhằm góp phần giữ vững hòa bình ở Đông Dương Đông Nam Á và thế giới, góp phần vào cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới
vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội, tăng cường tình hữu nghị
và hợp tác toàn diện với Liên Xô và các nước xhcn, bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc vì lợi ích của nhân dân hai nước, vì hòa bình ở Đông Nam Á và trên thếgiới
- về huy động lực lượng sức mạnh của quần chúng, Đại hội xác định phải phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động, thực hiện khẩu hiệu “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” tăng cường hiệu lực của quản lý của Nhà nước là điều kiện tất yếu bảo đảm huy động lực lượng to lớn của quần chúng
- Đại hội thông qua bản Điều lệ Đảng ( sửa đổi ) và bầu ban chấp hành Trung ương khóa VI gồm 124 ủy biên chính thức và 49 ủy viên dự kiến Ban chấp hành Trung ương Đảng bầu Bộ Chính trị gồm 13 ủy viên chính thức, 1 ủy viên dự khiến Ban bí thư gồm 13 ủy viên đồng chí Nguyễn Văn Linh được bầu làm Tổng bí thư của
Trang 20Đảng Đại hội VI của Đảng là Đại hội kế thừa và quyết tâm đổi mới, đoàn kết để tiếnlên.
Câu 5:
Chủ chương
Căn cứ tình hình nêu trên và Cương lĩnh của Đảng, Đại hội khẳng định cần “tiếp tục nắm vững hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa Mục tiêu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa là xây dựng nước ta thành một nước công nghiệp có cơ sở vật chất - kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, đời sống vật chất và tinh thần cao, quốc phòng, an ninh vững chắc, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh Từ nay đến năm
2020, ra sức phấn đấu đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp”[3]
Thành tựu
- Kinh tế:
+ Lương thực, thực phẩm: từ chỗ thiếu ăn triền miên, năm 1988 phải nhập 45 vạn tấn gạo, đến năm 1989, đã đáp ứng yêu cầu trong nước, có dự trữ và xuất khẩu, góp phần ổn định đời đời sống nhân dân và thay đổi cán cân xuất-nhập khẩu Sản xuất lương thực 1988 đạt 19,5 triệu tấn, vượt năm 1987 là 2 triệu tấn và năm 1989 đạt 21,4 triệu tấn
+ Hàng hóa trên thị trường: nhất là hàng hoá tiêu dùng đa dạng và lưu thông thuận tiện, trong đó nguồn hàng sản xuất trong nước tuy chưa đạt kế hoạch, vẫn tăng hơn trước và có tiến bộ về mẫu mã, chất lượng Các cơ sở sản xuất gắn chặt với nhu cầu thị trường Phần bao cấp về vốn, giá, vật tư, tiền lương giảm đáng kể
Trang 21- Kinh tế đối ngoại: phát triển mạnh, mở rộng quy mô, hình thức hơn trước, đã góp phần quan trọng vào việc thực hiện mục tiêu kinh tế-xã hội Từ năm 1986 đến năm 1990 hàng xuất khẩu tăng gấp 3 lần Từ năm 1989, tăng thêm các mặt hàng có giá trị xuất khẩu lớn như gạo, dầu thô Năm 1989, xuất khẩu 1,5 triệu tấn gạo Nhập khẩu giảm đáng kể, tiến gần đến mức cân bằng giữa nhập khẩu và xuất khẩu.
- Đã kiểm chế được bước đà lạm phát Chỉ số giá bình quân năm 1986 trên thị trường là 20%, năm 1988 là 14%, năm 1989 là 4,4% Các cơ sở kinh tế có điều kiện thuận lợi để hạch toán kinh doanh, đời sống nhân dân bớt khó khăn
- Bước đầu hình thành nên kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơchế thị trường có sự quản lý của Nhà nước Đây là chủ trương chiến lược lâu dài củaĐảng Chủ trương này thực sự phát huy quyền làm chủ kinh tế của nhân dân, khơi dậy được tiềm năng và sức sáng tạo của quần chúng để phát triển sản xuất và dịch
vụ, tạo thêm việc làm cho người lao động và tăng sản phẩm cho xã hội
- Những thành tựu, ưu điểm đạt được chứng tỏ đường lối đổi mới của Đảng là đúng, bước đi của công cuộc đổi mới cơ bản là phù hợp
- Đối ngoại:
+ khắc phục được những khó khăn về đối ngoại những năm đầu đổi mới; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế
+ tham gia tích cực và có hiệu quả vào quá trình hội nhập quốc tế
- Giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, văn hóa xã hoioj, y tế có bước phát triển An sinh xã hội được quan tâm nhiều hơn và cơ bản được bảo đảm, đời sống của nhân dân tiếp tục đưuọc cải thiện
Trang 22- Chính trị - xã hội ổn định, quốc phòng an ninh được tăng cường, kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổcủa tổ quốc, giữ vững hòa bình, ổn định để phát triển đất nước.
Trang 24Đề 4: Tại sao VN phải tiến hành đổi mới? Nội dung cơ bản của Đại hội Đại biểu
Đề 5: Công cuộc Đổi mới toàn diện ở VN từ đại hội VI (12/1986) đến Đại hội XIII (1/2021): Chủ trương (qua cương lĩnh 1991, cương lĩnh bổ sung 2011) và thành tựu trên cá mặt: kinh tế - chính trị; văn hóa - xã hội; giáo dục - đào tạo; quốc phòng - an
Trang 26Đề 1: Thống nhất đất nước về mặt Nhà nước: vì sao Đảng chủ trương thống nhất nước nhà về mặt NN? Chỉ đạo của Đảng để thống nhất nước nhà về mặt NN? Kết quả, ý nghĩa?
1 Vì sao Đảng chủ trương thống nhất nước nhà về mặt NN
- Sau chiến thắng 1975, Tổ quốc Việt Nam được thống nhất về mặt lãnh thổ,song ở mỗi miền vẫn tồn tại hình thức tổ chức nhà nước khác nhau
- Việc thống nhất đất nước vừa là khát vọng của toàn thể nhân dân Việt Nam làđược sum họp trong một đại gia đình, mong muốn có một chính phủ thốngnhất, một cơ quan đại diện chung cho nhân dân cả nước Vừa là quy luậtkhách quan của sự phát triển cách mạng Việt Nam, của lịch sử dân tộc ViệtNam
- Thống nhất càng sớm thì càng mau chóng phát huy sức mạnh mới của đấtnước, kịp thời ngăn ngừa và phá tan âm mưu chia rẽ của các thế lực phảnđộng trong nước và trên thế giới
+ Quyết định thống nhất nhanh chóng vào năm 1976 đã phá tan âm mưu của Mỹnhằm tiếp tục can dự và chi phối Việt Nam
+ Kế hoạch này và những tính toán của Mỹ đã có từ thời điểm Hiệp định Paris được
ký kết vào năm 1973
+ Sau Hiệp định Paris, Mỹ đã hy vọng về một giải pháp chính phủ liên hiệp 3 thànhphần ở miền Nam Việt Nam: Thành phần thứ nhất là Chính phủ Cách mạng lâm thờiCộng hòa miền Nam Việt Nam [Mặt trận Dân tộc giải phóng]; Thành phần thứ hai làChính phủ Nguyễn Văn Thiệu; Thành phần thứ ba là các lực lượng trung lập
2 Chỉ đạo của Đảng để thống nhất đất nước về mặt NN
1
Trang 27- 9/1975, hội nghị BCH Trung ương lần 24 của Đảng đã đề ra nhiệm vụ hoànthành thống nhất đất nước về mặt nhà nước để đáp ứng nguyện vọng của nhândân và đòi hỏi thực tế của đất nước;
- 15-21/11/1975, Hội nghị hiệp thương chính trị thống nhất đất nước được tổchức tại Sài Gòn đã nhất trí tán thành chủ trương thống nhất đất nước về mặtnhà nước của Đảng;
- 25/4/1976, cuộc Tổng tuyển cử Bầu Quốc hội chung được tiến hành trong cảnước Hơn 23 triệu cử tri đi bỏ phiếu và bầu ra 492 Đại biểu Quốc hội khóaVI;
- 24/6 - 3/7/1976, Quốc hội khóa VI họp kì đầu tiên tại Hà Nội và thông quanhiều nghị quyết quan trọng về tổ chức nhà nước của một nước VNCH thốngnhất
- Quốc ca là bài Tiến quân ca;
- Quốc huy mang dòng chữ Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
- thành phố Sài Gòn đổi tên là Thành phố Hồ Chí Minh;
- Quốc hội đã bầu đồng chí Tôn Đức Thắng làm Chủ tịch nước; các đồng chíNguyễn Lương Bằng, Nguyễn Hữu Thọ làm Phó Chủ tịch nước; đồng chíTrường Chinh làm Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội và đồng chí PhạmVăn Đồng làm Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa ViệtNam Quốc hội đã thành lập Ủy ban dự thảo Hiến pháp mới;
2
Trang 28- Theo chủ trương của Đảng, các tổ chức chính trị - xã hội đều được thống nhất
cả nước với tên gọi mới: Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Đoàn Thanh niên Laođộng Hồ Chí Minh, Tổng Công đoàn Việt Nam, Hội Liên hiệp Phụ nữ ViệtNam, v.v
b Ý nghĩa:
- Là yêu cầu tất yếu, khách quan của sự phát triển cách mạng Việt Nam;
- Thống nhất đất nước về mặt nhà nước đã thể chế hóa thống nhất lãnh thổ;
- Là cơ sở để thống nhất trên các lĩnh vực khác: chính trị, kinh tế, văn hóa, v.v;
- Là điều kiện tiên quyết để đưa cả nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội;
- Nhanh chóng tạo ra sức mạnh toàn diện của đất nước;
- Thể hiện tư duy chính trị nhạy bén của Đảng trong thực hiện bước chuyển giaiđoạn cách mạng ở nước ta
Đề 2: Con đường đi lên CNXH ở VN được xác định ở thời kỳ trước đổi mới (được xác định tại đại hội IV, V) - các bước đổi mới bộ phận/ cục bộ ở Việt Nam (1979-1986)
1 Con đường đi lên CNXH ở VN được xác định ở thời kỳ trước đổi mới
a Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV
- Đôi nét tổng quát về Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV:
+ Đại hội họp từ ngày 14 đến ngày 20/12/1976 tại Hà Nội với 1.008 đại biểu, 29đoàn đại biểu của các Đảng và tổ chức quốc tế tham dự;
+ Đại hội thông qua Báo cáo chính trị, Báo cáo về phương hướng, nhiệm vụ và mụctiêu Kế hoạch nhà nước 5 năm (1976-1980), Báo cáo tổng kết công tác xây dựngĐảng, sửa đổi Điều lệ Đảng; Quyết định đổi tên Đảng Lao động Việt Nam thànhĐảng Cộng sản Việt Nam; Bầu BCHTƯ bầu đồng chí Lê Duẩn làm Tổng Bí thư củaĐảng;
3
Trang 29+ Đại hội đã tổng kết và khẳng định thắng lợi của nhân dân ta trong cuộc khángchiến chống Mỹ cứu nước;
+ Đại hội đã phân tích tình hình thế giới, trong nước và nêu lên các đặc điểm lớn củacách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới;
+ Đại hội xác định đường lối chung của cách mạng xã hội chủ nghĩa trong giai đoạnmới của nước ta;
+ Đại hội xác định đường lối xây dựng, phát triển kinh tế và văn hóa;
� Đại hội lần thứ IV của Đảng là đại hội toàn thắng của sự nghiệp giải phóngdân tộc, thống nhất Tổ quốc, khẳng định và xác định đường lối đưa cả nướctiến lên chủ nghĩa xã hội Đại hội đã cổ vũ, động viên toàn Đảng, toàn dân rasức lao động sáng tạo để “Xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹphơn” theo di chúc của Chủ tịch HCM
- Ba đặc điểm lớn của cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới:
+ Nước ta đang ở trong quá trình từ một xã hội mà nền kinh tế còn phổ biến là sảnxuất nhỏ tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủnghĩa;
+ Tổ quốc ta đã hòa bình, độc lập, thống nhất, cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội vớinhiều thuận lợi rất lớn, song cũng còn nhiều khó khăn do hậu quả của chiến tranh vàtàn dư của chủ nghĩa thực dân mới gây ra;
+ Cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước ta tiến hành trong hoàn cảnh quốc tế thuậnlợi, song cuộc đấu tranh “ai thắng ai” giữa thế lực cách mạng và thế lực phản cáchmạng trên thế giới còn gay go, quyết liệt;
� Việt Nam có đủ điều kiện đi lên và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hộinhưng đó là sự nghiệp khó khăn, phức tạp, lâu dài, đòi hỏi Đảng và nhân dân
ta phải phát huy cao độ tính chủ động, tự giác, sáng tạo trong quá trình cáchmạng
4
Trang 30- Đường lối chung của CMXHCN trong giai đoạn mới của nước ta:
+ “Nắm giữ chuyên chính vô sản, phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân laođộng, tiến hành động thời ba cuộc cách mạng: CM về quan hệ sản xuất, CM KH-KT,
CM tư tưởng và văn hóa, trong đó CM KH-KT là then chốt; đẩy mạnh công nghiệphóa xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ trung tâm của cả thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xãhội, xây dựng nền sản xuất lớn XHCN, xây dựng chế độ làm chủ tập thể XHCN, xâydựng con người mới XHCN, xóa bỏ chế độ người bóc lột người, xóa bỏ nghèo nàn
và lạc hậu; không ngừng đề cao cảnh giác, thường xuyên củng cố quốc phòng, giữgìn an ninh chính trị và trật tự xã hội; xây dựng thành công Tổ quốc Việt Nam hòabình, độc lập, thống nhất và XHCN; góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh của nhândân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và XHCN”;
+ 4 đặc trưng cơ bản trong đường lối chung thể hiện nhận thức mới của Đảng vềCHXH ở nước ta: Xây dựng chế độ làm chủ tập thể XHCN, nền sản xuất lớn, nềnvăn hóa mới, con người mới XHCN; Coi chuyên chính vô sản, phát huy quyền làmchủ tập thể của nhân dân lao động là công cụ để xây dựng CNXH
- Đường lối xây dựng, phát triển kinh tế:
+ Đẩy mạnh công nghiệp hóa XHCN bằng ưu tiên phát triển công nghiệp nặng mộtcách hợp lý trên cơ sở phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ, xây dựng cơ cấukinh tế công - nông nghiệp
+ Kết hợp kinh tế trung ương với kinh tế địa phương, kết hợp phát triển lực lượngsản xuất;
+ Tăng cường quan hệ kinh tế với các nước xã hội chủ nghĩa anh em đồng thời pháttriển quan hệ kinh tế với các nước khác
- Phương hướng của kế hoạch phát triển kinh tế và văn hóa (1976 - 1980)
5
Trang 31+ Xây dựng một bước cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, bước đầu hìnhthành cơ cấu kinh tế mới trong cả nước mà bộ phận chủ yếu là cơ cấu công - nôngnghiệp.
+ Cải thiện một bước đời sống vật chất và văn hoá của nhân dân lao động
�Làm tốt hai việc đó là chuẩn bị cơ sở và tiền đề, tạo ra bàn đạp để đẩy mạnhhơn nữa sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội trong những kế hoạch tiếp sau
- Nhiệm vụ của kế hoạch phát triển kinh tế và văn hóa (1976 - 1980):
+ Tập trung cao độ sức của cả nước, của các ngành, các cấp tạo ra một bước phát
triển vượt bậc về nông nghiệp; ra sức đẩy mạnh lâm nghiệp, ngư nghiệp; phát triển công nghiệp nhẹ và công nghiệp thực phẩm (bao gồm cả thủ công nghiệp và tiểu
công nghiệp)
+ Phát huy năng lực sẵn có và xây dựng thêm nhiều cơ sở mới về công nghiệp nặng,đặc biệt là cơ khí, nhằm phục vụ trước hết cho nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp
và công nghiệp nhẹ, chuẩn bị cho bước trang bị kỹ thuật trong thời kỳ tiếp theo Tích
cực mở mang giao thông vận tải; tăng nhanh năng lực xây dựng cơ bản; đẩy mạnh công tác khoa học - kỹ thuật Chuẩn bị về mọi mặt để triển khai xây dựng lớn trong
những kế hoạch dài hạn sau này
+ Sử dụng hết mọi lực lượng lao động xã hội; tổ chức và quản lý tốt lao động, phân
bố lại lao động giữa các vùng và các ngành nhằm tăng rõ rệt năng suất lao động xã
hội Hình thành bước đầu cơ cấu kinh tế mới công - nông nghiệp, kết hợp kinh tế
trung ương với kinh tế địa phương, từng bước xây dựng huyện thành đơn vị kinh tếnông - công nghiệp Kết hợp kinh tế với quốc phòng, xây dựng nền quốc phòng toàndân
+ Hoàn thành về cơ bản cải tạo xã hội chủ nghĩa ở miền Nam, củng cố và hoàn thiện quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc; cải tiến mạnh mẽ công tác thương
nghiệp, giá cả, tài chính, ngân hàng
6
Trang 32+ Tăng nhanh nguồn hàng xuất khẩu, trước hết là sản phẩm nông nghiệp và công nghiệp nhẹ; mở rộng quan hệ kinh tế với nước ngoài.
+ Ra sức phát triển sự nghiệp giáo dục, văn hoá, y tế, tiến hành cải cách giáo dục,
đẩy mạnh đào tạo cán bộ và công nhân; thanh toán hậu quả của chiến tranh và chủnghĩa thực dân mới về mặt xã hội
+ Thực hiện một sự chuyển biến sâu sắc trong tổ chức và quản lý kinh tế, xây dựng
một hệ thống mới về quản lý kinh tế trong cả nước
� Sự bố trí chiến lược trên đây trong 5 năm này là hết sức cần thiết và thuận lợi; nó đáp ứng những yêu cầu rất cấp bách, đồng thời nó phát huy những thế
mạnh nhất của chúng ta là nguồn lao động dồi dào, đất đai và những tàinguyên thiên nhiên phong phú của nước ta
- Tổng kết đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV
+ Đại hội diễn ra trong bối cảnh đất nước bắt đầu một kỷ nguyên mới - kỷ nguyêncủa hòa bình, thống nhất, độc lập và đi lên chủ nghĩa xã hội Quá trình thống nhấtđất nước diễn ra khẩn trương, toàn diện trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, vănhóa, xã hội
+ Đảng ta không có mục đích nào khác là phục vụ lợi ích của giai cấp công nhân,lợi ích của nhân dân lao động và của cả dân tộc Toàn Đảng quyết mãi mãi ghi nhớ
và thực hiện nghiêm chỉnh lời dạy của Bác Hồ, đó là “phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”.
b Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V
- Đôi nét về Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V
+ Đại hội V của Đảng họp từ 27-31/3/1982 trong bối cảnh tình hình thế giới và trongnước có một số mặt thuận lợi nhưng nhiều khó khăn, thách thức Mỹ thực hiện chính
7
Trang 33sách bao vây, cấm vận và “kế hoạch hậu chiến” cùng với sự chia rẽ 3 nước ĐôngDương Trong nước tình trạng khủng hoảng kinh tế- xã hội ngày càng trầm trọng;+ Dự Đại hội có 1033 đại biểu, đã thông qua các văn kiện quan trọng và bầuBCHTƯ;
+ Đại hội đã kiểm điểm, đánh giá thành tựu, khuyết điểm, sai lầm của Đảng, phântích nguyên nhân thắng lợi và khó khăn của đất nước, những biến động của tình hìnhthế giới; Đại hội khẳng định tiếp tục thực hiện đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa
và đường lối xây dựng nền kinh tế XHCN của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV,vạch ra chiến lược kinh tế - xã hội, những kế hoạch phát triển, những chủ trương,chính sách và biện pháp thích hợp trong từng chặng đường;
+ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V của Đảng là kết quả của một quá trình tậphợp ý kiến của toàn Đảng để đề ra nhiệm vụ, phương hướng, v.v nhằm giải quyếtnhững vấn đề gay gắt, nóng bỏng đang đặt ra của cách mạng Việt Nam Đại hội đánhdấu một sự chuyển biến mới về sự lãnh đạo của Đảng trên con đường đấu tranh “tất
cả vì Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, vì hạnh phúc của nhân dân”
- Hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam:
+ Xây dựng thành công CNXH;
+ Bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN;
+ Hai nhiệm vụ chiến lược có quan hệ mật thiết với nhau: “Trong khi không mộtphút lơi lỏng nhiệm vụ củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ Quốc, Đảng ta và nhân dân taphải đặt lên hàng đầu nhiệm vụ xây dựng CNXH”
- Nội dung, bước đi, cách thực hiện công nghiệp hóa XHCN
+ Tập trung sức phát triển mạnh nông nghiệp, coi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu,đưa nông nghiệp một bước lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, ra sức đẩy mạnh sảnxuất hàng tiêu dùng và tiếp tục xây dựng một số ngành công nghiệp nặng quantrọng;
8
Trang 34+ Kết hợp nông nghiệp, công nghiệp hàng tiêu dùng và công nghiệp nặng trong cơcấu công - nông nghiệp hợp lý.
- Những nhiệm vụ kinh tế, văn hóa và xã hội
● Cải tiến công tác phân phối lưu thông, thiết lập một bước trật tự mớitrên mặt trận này;
● Đẩy mạnh cải tạo xã hội chủ nghĩa, củng cố quan hệ sản xuất xã hội chủnghĩa trong cả nước về các mặt chế độ sở hữu, quản lý, phân phối;
● Làm tốt hợp tác kinh tế với Liên Xô, Lào và Campuchia, với các nướctrong Hội đồng tương trợ kinh tế;
● Thực hành tiết kiệm nghiêm ngặt, đặc biệt coi trọng tiết kiệm trong xâydựng cơ bản và sản xuất;
● Làm tốt việc ứng dụng nhanh chóng và rộng rãi thành tựu khoa học vàtiến bộ kỹ thuật vào sản xuất và đời sống;
● Đổi mới một bước hệ thống quản lý kinh tế;
● Đẩy mạnh các hoạt động văn hoá, y tế phù hợp với yêu cầu và khả năngkinh tế Thực hiện cải cách giáo dục một cách tích cực và vững chắc.Xác định quy hoạch hợp lý và tiếp tục đào tạo cán bộ khoa học kỹ thuật,cán bộ quản lý và công nhân lành nghề;
9
Trang 35● Tăng cường quản lý xã hội, kiên quyết đấu tranh chống các hành viphạm pháp, tệ nạn xã hội và các biểu hiện tiêu cực khác, đề cao kỷcương trong quản lý Nhà nước, quản lý kinh tế, giữ vững trật tự và antoàn xã hội;
● Bảo đảm các nhu cầu về kinh tế của công cuộc củng cố quốc phòng và
an ninh, bảo vệ đất nước, đồng thời huy động năng lực công nghiệpquốc phòng và sử dụng hợp lý lực lượng quân đội vào những hoạt độngkinh tế thích hợp
+ Nhiệm vụ văn hóa, xã hội:
- Xây dựng nền văn hoá mới, con người mới là sự nghiệp mang nội dung toàndiện Trong đó hệ thống giáo dục bao gồm: giáo dục mầm non, giáo dục phổthông, giáo dục chuyên nghiệp, dạy nghề, giáo dục đại học và trên đại học cótầm quan trọng hàng đầu Trong công cuộc xây dựng nền văn hoá mới, conngười mới, văn hoá nghệ thuật giữ một vai trò cực kỳ quan trọng, Đảng vàNhà nước cần tăng cường quản lý, đồng thời ra sức phát triển và nâng cao chấtlượng các hoạt động văn hoá, văn nghệ đáp ứng đòi hỏi của nhiệm vụ cáchmạng
2 Các bước đổi mới/ cục bộ ở Việt Nam
- Thực hiện nghị quyết Đại hội V, Hội nghị Trung ương (7/1984) chủ trươnggiải quyết cấp bách về phân phối lưu thông 2 loại công việc cần làm ngay:+ Đẩy mạnh thu mua nắm nguồn hàng, quản lý chặt chẽ thị trường tự do;
+ Thực hiện điều chỉnh giá cả, tiền lương, tài chính cho phù hợp thực tế;
- Nội dung xóa cơ chế quan liêu, bao cấp:
+ Tính đủ chi phí hợp lý trong giá thành sản phẩm;
10
Trang 36+ Giá cả bảo đảm bù đắp chi phí thực tế hợp lý, người sản xuất có lợi nhuận thỏađáng, Nhà nước từng bước có tích lũy xóa bỏ tình trạng Nhà nước mua thấp, bánthấp bù và lỗ;
+ Thực hiện cơ chế 1 giá trong toàn bộ hệ thống, khắc phục tình trạng thả nổi trongviệc định giá và quản lý giá
- Hội nghị Ban chấp hành Trung ương khóa V lần thứ 8 (6-1985):
+ Hội nghị khẳng định: Không thể ổn định được tình hình kinh tế và đời sống, cânbằng được ngân sách và tiền mặt, trong khi vẫn duy trì bao cấp qua giá và lương.+ Hội nghị chủ trương: phải xoá bỏ cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp, thực hiệnchế độ tập trung dân chủ, hạch toán kinh tế và kinh doanh là yêu cầu cấp bách, làkhâu đột phá có tính chất quyết định Đề ra mục tiêu và phương hướng giải quyếtvấn đề giá – lương - tiền;
+ Hội nghị chủ trương: trong tình hình kinh tế đang biến động, chưa ổn định, cuộcđiều chỉnh lớn và toàn diện về giá - lương - tiền lần này phải tiến hành khẩn trương,kiên quyết nhưng phải tính toán thận trọng các phương án vững chắc gắn chặt vớiviệc xây dựng và hoàn chỉnh cơ chế quản lý mới;
+ Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương khoá V là một mốc đánh dấubước trưởng thành vượt bậc của Đảng, tạo ra sự nhất trí cao trong toàn Đảng, toàndân, phát huy mạnh mẽ quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động trong cả nước,đưa nền kinh tế vào quỹ đạo Đại hội V đã khẳng định những thành tựu đạt được,đồng thời cũng chỉ rõ yếu kém, cũng vẫn là những khó khăn của thời kỳ trước khôngđược khắc phục thậm chí còn trầm trọng hơn Mục tiêu đề ra “Về căn bản ổn địnhtình hình kinh tế xã hội, ổn định đời sống nhân dân vẫn chưa thực hiện được” mànguyên nhân chủ yếu là do “sai lầm, khuyết điểm trong quản lý lãnh đạo của Đảng
và Nhà nước”
- Hội nghị Bộ chính trị khóa V (8/1986)
11
Trang 37+ Đưa ra kết luận đối với một số vấn đề thuộc về quan điểm kinh tế Đây là bước độtphá thứ ba về đổi mới kinh tế đồng thời cũng là bước quyết định cho sự ra đời củađường lối đổi mới của Đảng.Nội dung có tính đột phá là:
● Về cơ cấu sản xuất: Tiến hành một cuộc điều chỉnh lớn về cơ cấu sản xuất và
cơ cấu đầu tư theo hướng thật sự lấy nông nghiệp là mặt trận hàng đầu, ra sứcphát triển công nghiệp nhẹ, việc phát triển công nghiệp nặng phải có lựa chọn
cả về quy mô và nhịp độ, chú trọng quy mô vừa và nhỏ, phát huy hiệu quảnhanh nhằm phục vụ đắc lực yêu cầu phát triển nông nghiệp, công nghiệp nhẹ
và xuất khẩu; Tập trung lực lượng, trước hết là vốn và vật tư thực hiện chođược ba chương trình quan trọng nhất về lương thực, thực phẩm, hàng tiêudùng thiết yếu và hàng xuất khẩu
● Về cải tạo xã hội chủ nghĩa: Biết lựa chọn bước đi và hình thức thích hợp
trên quy mô cả nước cũng như từng vùng, từng lĩnh vực; Đi qua những bước
đi trung gian, quá độ từ thấp đến cao,từ quy mô nhỏ đến trung bình,rồi tiến lênquy mô lớn; Nhận thức đúng đắn đặc trưng của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa
xã hội ở nước ta là nền kinh tế có cơ cấu nhiều thành phần, là sự cần thiếtkhách quan để phát triển lực lượng sản xuất, tận dụng các tiềm năng,tạo thêmviệc làm cho người lao động, phải sử dụng đúng đắn các thành phần kinh tế.Cải tạo xã hội chủ nghĩa không chỉ là sự thay đổi chế độ sở hữu, mà còn thayđổi cả chế độ quản lý, chế độ phân phối, đó là một quá trình gắn liền với mỗibước phát triển của lực lượng sản xuất vì vậy không thể làm một lần hay trongmột thời gian ngắn là xong
● Về cơ chế quản lý kinh tế: Đổi mới kế hoạch hoá theo nguyên tắc phát huy
vai trò chủ đạo của các quy luật kinh tế xã hội chủ nghĩa, đồng thời sử dụngđúng đắn các quy luật của quan hệ hàng hoá - tiền tệ; Làm cho các đơn vị kinh
tế có quyền tự chủ trong sản xuất, kinh doanh; Phân biệt chức năng quản lý
12
Trang 38hành chính của Nhà nước với chức năng quản lý sản xuất, kinh doanh của cácđơn vị kinh tế; Phân công, phân cấp bảo đảm các quyền tập trung thống nhấtcủa Trung ương trong những khâu then chốt, quyền chủ động của địa phươngtrên địa bàn lãnh thổ, quyền tự chủ sản xuất kinh doanh của cơ sở.
3 Kết luận
- Những kết luận trên đây là kết quả tổng hợp của cả quá trình tìm tòi, thửnghiệm, đấu tranh giữa quan đến mới và quan điểm cũ, đặc biệt trên lĩnh vựckinh tế
- Tổng kết 10 năm 1975 – 1986, Đảng đã khẳng định 3 thành tựu nổi bật là:
+ Thực hiện thắng lợi chủ trương thống nhất nước nhà về mặt nhà nước;
+ Đạt được những thành tựu quan trọng trong xây dựng chủ nghĩa xã hội giànhthắng lợi to lớn trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc;
+ Làm nghĩa vụ quốc tế
- Những thành tựu trên đã tạo cho cách mạng nước ta những nhân tố mới đểtiếp tục tiến lên Song những sai lầm, khuyết điểm nổi bật là không hoàn thànhcác mục tiêu kinh tế - xã hội do Đại hội IV và Đại hội V của Đảng đề ra
- Những thất bại:
+ Đất nước lâm vào khủng hoảng kinh tế - xã hội kéo dài; sản xuất tăng chậm vàkhông ổn định; nền kinh tế luôn trong tình trạng thiếu hụt, không có tích lũy; lạmphát tăng cao và kéo dài;
+ Đất nước bị bao vây, cô lập, đời sống nhân dân hết sức khó khăn, lòng tin đối vớiĐảng, Nhà nước, chế độ giảm sút nghiêm trọng
- Nguyên nhân thất bại:
+ Nguyên nhân khách quan dẫn đến khủng hoảng kinh tế - xã hội là do chúng ta xâydựng đất nước từ nền kinh tế nghèo nàn, lạc hậu, sản xuất nhỏ là phổ biến, bị baoxây, cấm vận nhiều năm, nguồn viện trợ từ nước ngoài giảm mạnh; hậu quả nặng nề
13
Trang 39của 30 năm chiến tranh chưa kịp hàn gắn thì chiến tranh biên giới ở hai đầu đất nướclàm nảy sinh những khó khăn mới;
+ Về chủ quan là Do những sai lầm của Đảng trong đánh giá tình hình, xác định mụctiêu, bước đi, sai lầm trong bố trí cơ cấu kinh tế; sai lầm trong cải tạo xã hội chủnghĩa, trong lĩnh vực phân phối, lưu thông; duy trì quá lâu cơ chế tập trung, quanliêu, bao cấp; buông lỏng chuyên chính vô sản trong quản lý kinh tế, quản lý xã hội
và trong đấu tranh chống âm mưu, thủ đoạn phá hoại nhiều mặt của địch
- Các bước đột phá tháng 8/1979, tháng 6/1985 và tháng 8/1986 phản ánh sựphát triển nhận thức từ quá trình khảo nghiệm, tổng kết thực tiễn, từ sáng kiến
và nguyện vọng lợi ích của nhân dân để hình thành đường lối đổi mới
Đề 3: Khái quát về cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới phía Tây Nam Tổ quốc (1975 - 1979) Tìm hiểu về cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc Tổ quốc năm 1979
1 Khái quát về cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới phía Tây Nam Tổ quốc
(1975 - 1979)
a Hoàn cảnh
- Sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, nhân dân Việt Nam
và nhân dân Campuchia có chung khát vọng được sống trong hòa bình, độclập, tự do để hàn gắn vết thương chiến tranh, xây dựng và phát triển đất nước
- Nhưng ngay sau khi lên cầm quyền ở Campuchia vào tháng 4-1975, tập đoànPol Pot-Ieng Sary đã phản bội lại nhân dân Campuchia, phản bội lợi ích dântộc, thâu tóm quyền lực, tước đoạt mọi thành quả cách mạng, thi hành hàngloạt chính sách đối nội, đối ngoại cực kỳ hiếu chiến và tàn bạo
- Ở trong nước, chúng tước đoạt quyền tự do, dân chủ của nhân dân, biến họthành những người nô lệ; thi hành chính sách diệt chủng đối với những tầnglớp không đi theo đường lối của chúng
14
Trang 40- Chúng giết hại hàng triệu người vô tội, đặt dân tộc Campuchia bên bờ diệtvong và đe dọa nghiêm trọng an ninh của các nước trên bán đảo ĐôngDương
- Được các thế lực phản động quốc tế giật dây, giúp sức, tập đoàn Pol Pot-IengSary đã thay đổi thái độ với Việt Nam, xuyên tạc, kích động hằn thù dân tộc,đòi hoạch định lại biên giới, coi Việt Nam là “kẻ thù số một”, “kẻ thù truyềnkiếp”
b Diễn biến
- Từ năm 1975 đến 1978, chúng mở nhiều cuộc tiến công xâm lấn, đánh chiếmcác đảo, biên giới nước ta với quy mô, tần suất ngày một gia tăng, gây nênhàng loạt cuộc thảm sát đẫm máu đối với nhân dân ta dọc biên giới Việt Nam
- Campuchia
- Hành động của chúng đã xâm phạm thô bạo độc lập, chủ quyền và toàn vẹnlãnh thổ của Việt Nam, vi phạm nghiêm trọng luật pháp quốc tế, gây tổn hạicho mối quan hệ giữa hai nước
- Để bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc, bảo vệ tính mạng, tài sản củanhân dân, Đảng, Nhà nước ta một mặt chỉ đạo các quân khu, địa phương, đơn
vị sẵn sàng chuẩn bị, kiên quyết đập tan các cuộc tiến công xâm lược củađịch; mặt khác, kiên trì chủ trương xây dựng đường biên giới hòa bình, hữunghị, nhiều lần đề nghị đàm phán với Chính phủ Campuchia Dân chủ nhằmgiải quyết những bất đồng Song, tập đoàn Pol Pot-Ieng Sary khước từ mọithiện chí của ta còn đẩy mạnh hoạt động chống phá, xâm lược Việt Nam
- Cuối năm 1978, chúng huy động 10 sư đoàn cùng vũ khí, trang bị, kỹ thuật vềbiên giới Tây Nam Việt Nam, chuẩn bị cho cuộc tổng tiến công xâm lượcnước ta
15