1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TRIẾT HỌC HY LẠP , LA MÃ CỔ ĐẠI

384 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Triết Học Hy Lạp, La Mã Cổ Đại
Tác giả Đinh Ngọc Thạch, Nguyễn Hữu Vui, Hà Thúc Minh, Nguyễn Tiến Dũng, Hà Thiên Sơn
Trường học Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Triết học
Thể loại Chuyên đề
Năm xuất bản 1999
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 384
Dung lượng 0,92 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

YÊU CẦU VỀ KIẾN THỨC CƠ BẢN Học viên cần ôn lại kiến thức cơ bản về triết học Hy Lạp, La Mã trước khi đào sâu nội dung chính của chuyên đề SĐH: * Về tính quy luật trong sự phát triển của triết học phương Tây (tính chế định lịch sử - xã hội, tính tất yếu nội tại của sự xuất hiện và diệt vong của các học thuyết triết học, tính kế thừa, con đường vận động từ trừu tượng đến cụ thể, tính thời đại của triết học) * Khái quát sự ra đời, phân kỳ, các chủ đề của triết học Hy lạp, La Mã (sơ khai, hay thời khai nguyên; cực thịnh, hay thời “cổ điển”, khủng hoảng và suy tàn, hay thời kỳ Hy – La) * Khái quát các đặc trưng cơ bản của triết học Hy Lạp, La Mã (tính sơ khai, tính bao trùm về lý luận, tính đa dạng, muôn vẻ, tính biện chứng tự phát, bẩm sinh, tính nhân văn) Tài liệu: Đinh Ngọc Thạch: Triết học Hy Lạp cổ đại; Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1999, và một số công trình, bài viết về triết học phương Tây cổ đại của các nhà nghiên cứu như GS, TS. Nguyễn Hữu Vui (Lịch sử triết học, Nxb. CTQG, HN, 1998, đã tái bản năm 2008) PGS. Hà Thúc Minh, PGS, TS. Nguyễn Tiến Dũng, TS. Hà Thiên Sơn, các tác phẩm “Triết học nhân sinh” (Sách dịch, Nxb. Lao động, HN, 2004), “Plato chuyên khảo” (Sách biên dịch, Nxb. Văn hóa – Thông tin, HN, 2008) v.v.. I. TÍNH QUY LUẬT TRONG SỰ PHÁT TRIỂN CỦA TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC 1. Triết học – tinh hoa tinh thần của thời đại Lịch sử tư tưởng triết học là sự phản ánh lịch sử hiện thực thông qua các phạm trù, khái niệm đặc trưng của mình. Sự phản ánh đó thể hiện ở nhiều bình diện khác nhau. Trước khi triết học ra đời, hình thức triết lý xưa nhất của nhân loại là huyền thoại, mà thần thoại là hạt nhân thế giới quan của nó. Thần thoại ngự trị trong ý thức đại chúng cùng với thuyết nhân hình xã hội nguyên thuỷ, vật linh thuyết, vật hoạt luận. Người nguyên thủy bị vây bọc trong quyền lực của xúc cảm và trí tưởng tượng, những quan niệm của họ còn rời rạc, mơ hồ, phi lôgíc. Các yếu tố tư tưởng và tình cảm, tri thức và nghệ thuật, tinh thần và vật chất, khách quan và chủ quan, hiện thực và suy tưởng, tự nhiên và siêu nhiên ở thần thoại còn chưa bị phân đôi. Đỉnh cao phát triển của thần thoại cũng đồng thời báo hiệu sự cáo chung tất yếu của nó. Triết học – hình thức tư duy lý luận đầu tiên trong lịch sử tư tưởng nhân loại – ra đời, thay thế cho tư duy huyền thoại và tôn giáo nguyên thuỷ. Thuật ngữ “triết học” do người Hy Lạp nêu ra (philosophia) theo nghĩa hẹp là “yêu mến sự thông thái”, còn theo nghĩa rộng, là khát vọng vươn đến tri thức; nói khác đi, là “quá trình tìm kiếm chân lý”; nhà triết học là người yêu mến sự thông thái, khác với nhà bác học (sophos), người nắm vững chân lý. Tuy nhiên với thời gian triết học được hiểu theo nghĩa rộng: đó là thứ tri thức phổ quát, tìm hiểu các vấn đề chung nhất của tồn tại và tư duy. Ở buổi đầu lịch sử tri thức triết học là tri thức bao trùm, là “khoa học của các khoa học”. Nói như thế không có nghĩa là tư tưởng đạo đức, chính trị, thẩm mỹ, nghệ thuật chưa xuất hiện. Vấn đề là ở chỗ các tư tưởng đó đã được xem là một phần của triết học. Trong thời Trung cổ thần học Kytô giáo chiếm vị trí thống trị trong sinh hoạt tư tưởng. Nhà nước phong kiến và nhà thơ Thiên chúa giáo chỉ lấy “những cái phù hợp” trong triết học Arixtốt (Aristoteles, Aristotle), trường phái Platôn (Platon, Plato) để làm chỗ dựa tư tưởng của mình. Triết học trở thành nô lệ của thần học, của cái gọi là tư duy chuẩn mực, nhà thờ trở thành “nền chuyên chính tinh thần”, lịch sử các vị thánh quan trọng hơn lịch sử các danh nhân. Thế kỷ XV – XVI được xem là thời kỳ chuyển tiếp từ chế độ phong kiến sang xã hội tư sản. Tư tưởng nhân văn trở thành trào lưu chủ đạo và xuyên suốt, thể hiện ở hầu khắp các lĩnh vực nhận thức và hoạt động thực tiễn, với thông điệp con người là trung tâm. Từ thế kỷ XVII – XVIII trở đi tư tưởng triết học, khoa học, đạo đức, thẩm mỹ, chính trị mang tính thế tục và duy lý thay thế dần thần học vạn năng. Khi trung tâm tri thức chuyển từ Anh và Pháp sang Đức từ nửa sau thế kỷ XVIII truyền thống “cổ điển” phương Tây, bắt đầu từ Hy Lạp – La Mã, đạt đến đỉnh cao hoàn thiện nhất, mà điển hình là hệ thống Hêghen (Hegel). Trong những năm 20 – 40 của thế kỷ XIX đã diễn ra quá trình phi cổ điển hóa các lĩnh vực tri thức, thể hiện ở văn hóa, khoa học, triết học. Bước ngoặt lớn này gắn liền với những biến đổi kinh tế, chính rị, xã hội và chịu sự sự chi phối của những biến đổi ấy. Ngày nay xu hướng hội nhập và toàn cầu hóa đưa các dân tộc xích lại gần nhau hơn, tăng cường giao lưu, đối thoại, hướng đến lợi ích chung – hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển bền vững. Song bên cạnh đó xung đột về lợi ích vẫn chưa chấm dứt, mà ngày càng diễn biến phức tạp. Đấu tranh tư tưởng và đối thoại tư tưởng đan xen nhau, làm nên bức tranh tư tưởng đa dạng và phức tạp và đầy mâu thuẫn. Các chủ đề của tư tưởng triết học trở nên phong phú, với khá nhiều trào lưu, khuynh hướng lần lượt ra đời và bị thay thế, kể cả những trào lưu, khuynh hướng từng được xem là tuyên ngôn bán chính thức về lối sống của một xã hội. Tìm hiểu sự phát triển của tư tưởng triết học qua các thời đại, C.Mác nhận định: “… mọi triết học chân chính đều là tinh hoa về mặt tinh thần của thời đại mình” , và rằng “các triết gia không mọc lên như nấm từ trái đất; họ là sản phẩm của thời đại mình, của dân tộc mình” . Tính quy luật của sự ra đời, phát triển tư tưởng triết học thể hiện ở những điểm sau: 1) Mỗi hệ thống, trào lưu tư tưởng triết học đều xuất hiện một cách tất yếu, và với tính tất yếu ấy nó chịu sự sàng lọc của lịch sử, bị thay thế bởi những tư tưởng phù hợp với điều kiện lịch sử mới.Quá trình phát sinh, phát triển của tư tưởng triết học chịu sự quy định của những điều kiện lịch sử – xã hội cụ thể. Chính thực tiễn xã hội với toàn bộ tính sinh động và phức tạp của nó chi phối nội dung và thực chất các khuynh hướng, trường phái triết học, vị trí, vai trò của triết học trong đời sống xã hội. Sự thay thế nhau của các học thuyết triết học không tách rời nhu cầu khách quan, hiện thực của con người; 2) Tư tưởng của quá khứ không biến mất hoàn toàn, mà thường để lại di sản của mình; một số nội dung của nó tiếp tục được tìm hiểu, nghiên cứu như những bài học kinh nghiệm của lịch sử, một số khác tiếp tục gia nhập vào cái toàn thể sống động tiến về phía trước;

Trang 2

Chuyên đề 1

KHÁI QUÁT TRIẾT HỌC HY LẠP , LA MÃ CỔ ĐẠI

YÊU CẦU VỀ KIẾN THỨC CƠ BẢN

Học viên cần ôn lại kiến thức cơ bản về triết học Hy Lạp, La Mã trước khiđào sâu nội dung chính của chuyên đề SĐH:

* Về tính quy luật trong sự phát triển của triết học phương Tây (tính chế địnhlịch sử - xã hội, tính tất yếu nội tại của sự xuất hiện và diệt vong của các họcthuyết triết học, tính kế thừa, con đường vận động từ trừu tượng đến cụ thể, tínhthời đại của triết học)

* Khái quát sự ra đời, phân kỳ, các chủ đề của triết học Hy lạp, La Mã (sơkhai, hay thời khai nguyên; cực thịnh, hay thời “cổ điển”, khủng hoảng và suy tàn,hay thời kỳ Hy – La)

* Khái quát các đặc trưng cơ bản của triết học Hy Lạp, La Mã (tính sơ khai,tính bao trùm về lý luận, tính đa dạng, muôn vẻ, tính biện chứng tự phát, bẩmsinh, tính nhân văn)

Tài liệu: Đinh Ngọc Thạch: Triết học Hy Lạp cổ đại; Nxb Chính trị Quốc

gia, Hà Nội, 1999, và một số công trình, bài viết về triết học phương Tây cổ đại

của các nhà nghiên cứu như GS, TS Nguyễn Hữu Vui (Lịch sử triết học, Nxb.

CTQG, HN, 1998, đã tái bản năm 2008) PGS Hà Thúc Minh, PGS, TS Nguyễn

Tiến Dũng, TS Hà Thiên Sơn, các tác phẩm “Triết học nhân sinh” (Sách dịch, Nxb Lao động, HN, 2004), “Plato chuyên khảo” (Sách biên dịch, Nxb Văn hóa –

Thông tin, HN, 2008) v.v

I TÍNH QUY LUẬT TRONG SỰ PHÁT TRIỂN CỦA TƯ TƯỞNG

Trang 3

TRIẾT HỌC

1 Triết học – tinh hoa tinh thần của thời đại

Lịch sử tư tưởng triết học là sự phản ánh lịch sử hiện thực thông qua cácphạm trù, khái niệm đặc trưng của mình Sự phản ánh đó thể hiện ở nhiều bìnhdiện khác nhau

Trước khi triết học ra đời, hình thức triết lý xưa nhất của nhân loại là huyềnthoại, mà thần thoại là hạt nhân thế giới quan của nó Thần thoại ngự trị trong ýthức đại chúng cùng với thuyết nhân hình xã hội nguyên thuỷ, vật linh thuyết, vậthoạt luận Người nguyên thủy bị vây bọc trong quyền lực của xúc cảm và trítưởng tượng, những quan niệm của họ còn rời rạc, mơ hồ, phi lôgíc Các yếu tố tưtưởng và tình cảm, tri thức và nghệ thuật, tinh thần và vật chất, khách quan và chủquan, hiện thực và suy tưởng, tự nhiên và siêu nhiên ở thần thoại còn chưa bị phânđôi Đỉnh cao phát triển của thần thoại cũng đồng thời báo hiệu sự cáo chung tấtyếu của nó Triết học – hình thức tư duy lý luận đầu tiên trong lịch sử tư tưởngnhân loại – ra đời, thay thế cho tư duy huyền thoại và tôn giáo nguyên thuỷ Thuậtngữ “triết học” do người Hy Lạp nêu ra1 (philosophia) theo nghĩa hẹp là “yêu mến

sự thông thái”, còn theo nghĩa rộng, là khát vọng vươn đến tri thức; nói khác đi, là

“quá trình tìm kiếm chân lý”; nhà triết học là người yêu mến sự thông thái, khácvới nhà bác học (sophos), người nắm vững chân lý Tuy nhiên với thời gian triếthọc được hiểu theo nghĩa rộng: đó là thứ tri thức phổ quát, tìm hiểu các vấn đềchung nhất của tồn tại và tư duy Ở buổi đầu lịch sử tri thức triết học là tri thứcbao trùm, là “khoa học của các khoa học” Nói như thế không có nghĩa là tư tưởngđạo đức, chính trị, thẩm mỹ, nghệ thuật chưa xuất hiện Vấn đề là ở chỗ các tưtưởng đó đã được xem là một phần của triết học Trong thời Trung cổ thần họcKytô giáo chiếm vị trí thống trị trong sinh hoạt tư tưởng Nhà nước phong kiến vànhà thơ Thiên chúa giáo chỉ lấy “những cái phù hợp” trong triết học Arixtốt(Aristoteles, Aristotle), trường phái Platôn (Platon, Plato) để làm chỗ dựa tư tưởng

của mình Triết học trở thành nô lệ của thần học, của cái gọi là tư duy chuẩn mực,

nhà thờ trở thành “nền chuyên chính tinh thần”, lịch sử các vị thánh quan trọnghơn lịch sử các danh nhân Thế kỷ XV – XVI được xem là thời kỳ chuyển tiếp từchế độ phong kiến sang xã hội tư sản Tư tưởng nhân văn trở thành trào lưu chủđạo và xuyên suốt, thể hiện ở hầu khắp các lĩnh vực nhận thức và hoạt động thực

tiễn, với thông điệp con người là trung tâm Từ thế kỷ XVII – XVIII trở đi tư

tưởng triết học, khoa học, đạo đức, thẩm mỹ, chính trị mang tính thế tục và duy lý

1 Một số nhà nghiên cứu cho rằng Pythagoras là người đầu tiên tự gọi là philosophos (φιλοσοφος), tức), tức

“kẻ yêu mến sự thông thái”, nhưng chính Heraklitus mới là người đầu tiên sử dụng từ này trong một đoạn tản văn của ông

Trang 4

thay thế dần thần học vạn năng Khi trung tâm tri thức chuyển từ Anh và Phápsang Đức từ nửa sau thế kỷ XVIII truyền thống “cổ điển” phương Tây, bắt đầu từ

Hy Lạp – La Mã, đạt đến đỉnh cao hoàn thiện nhất, mà điển hình là hệ thốngHêghen (Hegel) Trong những năm 20 – 40 của thế kỷ XIX đã diễn ra quá trìnhphi cổ điển hóa các lĩnh vực tri thức, thể hiện ở văn hóa, khoa học, triết học Bướcngoặt lớn này gắn liền với những biến đổi kinh tế, chính rị, xã hội và chịu sự sựchi phối của những biến đổi ấy Ngày nay xu hướng hội nhập và toàn cầu hóa đưacác dân tộc xích lại gần nhau hơn, tăng cường giao lưu, đối thoại, hướng đến lợiích chung – hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển bền vững Song bên cạnh đóxung đột về lợi ích vẫn chưa chấm dứt, mà ngày càng diễn biến phức tạp Đấutranh tư tưởng và đối thoại tư tưởng đan xen nhau, làm nên bức tranh tư tưởng đadạng và phức tạp và đầy mâu thuẫn Các chủ đề của tư tưởng triết học trở nênphong phú, với khá nhiều trào lưu, khuynh hướng lần lượt ra đời và bị thay thế, kể

cả những trào lưu, khuynh hướng từng được xem là tuyên ngôn bán chính thức vềlối sống của một xã hội

Tìm hiểu sự phát triển của tư tưởng triết học qua các thời đại, C.Mác nhận định: “… mọi triết học chân chính đều là tinh hoa về mặt tinh thần của thời đại mình”2, và rằng “các triết gia không mọc lên như nấm từ trái đất; họ là sản phẩm của thời đại mình, của dân tộc mình”3

Tính quy luật của sự ra đời, phát triển tư tưởng triết học thể hiện ở nhữngđiểm sau:

1) Mỗi hệ thống, trào lưu tư tưởng triết học đều xuất hiện một cách tất yếu, vàvới tính tất yếu ấy nó chịu sự sàng lọc của lịch sử, bị thay thế bởi những tư tưởngphù hợp với điều kiện lịch sử mới.Quá trình phát sinh, phát triển của tư tưởng triếthọc chịu sự quy định của những điều kiện lịch sử – xã hội cụ thể Chính thực tiễn

xã hội với toàn bộ tính sinh động và phức tạp của nó chi phối nội dung và thựcchất các khuynh hướng, trường phái triết học, vị trí, vai trò của triết học trong đờisống xã hội Sự thay thế nhau của các học thuyết triết học không tách rời nhu cầukhách quan, hiện thực của con người;

2) Tư tưởng của quá khứ không biến mất hoàn toàn, mà thường để lại di sản

của mình; một số nội dung của nó tiếp tục được tìm hiểu, nghiên cứu như nhữngbài học kinh nghiệm của lịch sử, một số khác tiếp tục gia nhập vào cái toàn thểsống động tiến về phía trước;

2 C Mác và Ph Ăngghen, Toàn tập, t.1, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2005, tr 157

3 C Mác và Ph Ăngghen, Toàn tập, t.1, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2005, tr 156

Trang 5

3) Sự vận động của tư tưởng triết học theo quá trình từ trừu tượng đến cụ thể.Theo đó triết học càng lùi về phía sau càng trừu tượng, càng gần với chúng tacàng giàu nội dung, càng cụ thể Mối quan hệ giữa triết học với các lĩnh vực trithức cũng thay đổi theo thời gian Vào thời cổ đại, khi trình độ nhận thức chungcòn thấp, tri thức khoa học còn ở trong tình trạng tản mạn, sơ khai, thì triết họcđóng vai trò là dạng nhận thức lý luận duy nhất, giải quyết các vấn đề lý luậnchung về tự nhiên, xã hội, tư duy Triết học được xem như “khoa học của cáckhoa học”, còn các triết gia được tôn vinh thành những bộ óc bách khoa, amtường mọi thứ Tuy nhiên khi các khoa học chuyên biệt với hệ thống lý luận riêng

có của mình lần lượt ra đời, thì mọi tham vọng về triết học toàn năng trở nên vônghĩa Ph.Ăngghen viết: “Chủ nghĩa duy vật hiện đại… không còn là một triết họcnữa, mà là một thế giới quan…” và “Chủ nghĩa duy vật hiện về bản chất là biệnchứng, và nó không cần đến bất cứ một triết học nào đứng trên các khoa họckhác”4;

4) Tư tưởng triết học là sản phẩm của thời đại, được sinh ra, nuôi dưỡng,thẩm định bởi thời đại; không có chân lý bất biến, tuyệt đích cho mọi thời đại, do

đó không có thứ tư tưởng triết học xuyên qua nhiều thời đại, được thần thánh hóanhư những tín điều bất di bất dịch

2 Tính tất yếu của sự thay đổi các chủ đề tư tưởng triết học

Trong sự phát triển tư tưởng triết học, các chủ đề thường xuyên trải quathay đổi, bổ sung, mở rộng nhằm lý giải một cách kịp thời các quá trình thực tiễn

xã hội Có những chủ đề tư tưởng hôm qua là chủ đạo, hôm nay chỉ còn đóng vaitrò thứ yếu; ngược lại, cái mà hôm qua ở dạng phôi thai, thì hôm nay trở thànhtrung tâm, thành điểm nóng của sự tranh luận Trong điều kiện chủ nghĩa phổ quátKytô giáo thống trị vào thời trung cổ vấn đề con người hầu như không được quantâm, bị hòa tan vào cái phổ quát bao trùm là sự tồn tại của Đấng tối cao Cuộctranh luận giữa duy danh luận và duy thực luận chỉ đơn giản xoay quanh tính xácthực của khái niệm “đơn nhất” và “phổ quát” Song đến thời Phục hưng chủ đềtranh luận đã vượt qua khuôn khổ của hệ chuẩn tư duy trung cổ, mang đậm ýnghĩa của cuộc đấu tranh vì giá trị người, vì sự giải phóng con người cá nhân, thaythế từng bước thuyết thần là trung tâm (theocentrism) bằng thuyết con người làtrung tâm (homocentrism, hay anthropocentrism), thay sự thống trị của Thượng đế(regnum Dei) bằng sự thống trị của con người (regnum hominis) Phục hưng làbước chuẩn bị cho thế kỷ XVII – XVIII, tức thời đại của khám phá và phát minh,của “tư duy thiết kế” sáng tạo (chứ không phải tư duy minh họa, chủ giải cho

4 C Mác và Ph Ăngghen, Toàn tập; t.20, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2005, tr 197 và 42

Trang 6

những chân lý đã có sẵn) Tương tự, nếu trào lưu chủ đạo trong thời Phục hưng là

tư tưởng nhân văn với sự tôn vinh hình ảnh con người vươn đến tự do, thì tưtưởng chính trong thế kỷ XVII – XVIII là triết học, chính trị, khoa học Về triếthọc chủ nghĩa duy vật chiếm vị thế áp đảo trước chủ nghĩa duy tâm Về chính trị

tư tưởng chính trị thế tục, quan điểm “xã hội công dân” và nhà nước pháp quyền,

có mầm mống từ thời Phục hưng, tiếp tục phát triển, làm giàu và sâu sắc thêmthông qua quan điểm của những nhà lý luận kiệt xuất, từ Lốccơ (Locke), Hốpxơ(Hobbes), đến Môngtéxkiơ (Montesquieu), Vônte (Voltaire), Rútxô (Rousseau)…

Về khoa học thế kỷ ấy chứng kiến nhiều khám phá, phát minh khoa học được ứngdụng vào thực tiễn, lý trí trở thành lý trí có định hướng thực tiễn, với sự thống trịcủa cơ học Các nguyên lý của nó tác động đến cả tư duy triết học và chính trị, đưađến chủ nghĩa máy móc và phương pháp tư duy siêu hình Các nhà tư tưởng Đức(nửa sau thế kỷ XVIII – nửa đầu thế kỷ XIX) không chỉ đem đến sự kết thúc đầy ýnghĩa của truyền thống cổ điển trong tư tưởng, mà còn khắc phục những hạn chếtrong nhận thức luận thế kỷ trước Và chính họ, đặc biệt các nhà triết học cổ điểnĐức, điển hình là Hêghen và Phoiơbắc (Feuerbach), tạo nên một trong những tiền

đề lý luận của chủ nghĩa Mác Với C Mác và Ph Ăngghen, bước ngoặt cáchmạng trong tư tưởng đã được thực hiện Khác hẳn với các nhà tư tưởng cùng thời,những người hoặc đem đối lập khuynh hướng phi duy lý với truyền thống duy lý(Kiếckego chẳng hạn), hoặc chỉ dám “cách tân” một phần học thuyết Hêghen(phái Hêghen trẻ), C Mác và Ph Ăngghen thể hiện thái độ văn hóa đối với cácvấn đề truyền thống, đồng thời làm cho hệ tư tưởng mang chức năng cải tạo cáchmạng đối với đời sống xã hội

Như vậy, phù hợp với những điều kiện lịch sử cụ thể, các trào lưu, khuynhhướng tư tưởng xác định chủ đề chính, tập trung khai thác, phân tích chúng, nhằmphản ánh trung thực những biến đổi của thực tiễn, đồng thời định hướng cho hoạtđộng thực tiễn Theo C Mác, không phải thực tiễn cần phải diễn ra theo các đồthức luận tư duy, mà ngược lại, các đồ thức luận tư duy cần thường xuyên đượcđiều chỉnh để không bị lạc hậu trước thực tiễn Vì thế mọi mưu toan giới hạn cácnội dung cần nghiên cứu trong phạm vi chật hẹp, xơ cứng, bất biến đều đồngnghĩa với sự bóp chết năng lực sáng tạo của chính tư duy Không phải hệ thống tưtưởng nào ở thời đại nào cũng chỉ quanh quẩn ở cùng một đối tượng nghiên cứu.Quy luật phát triển của tư tưởng là thường xuyên diễn ra sự đấu tranh, tác động hỗtương, đan xen nhau, bổ sung và chi phối lẫn nhau, làm cho mỗi hệ thống trong sốchúng mang tính độc lập tương đối, tính đa dạng cả về nội dung lẫn hình thức thểhiện

Trang 7

Sự phát triển của tư tưởng, đặc biệt là tư tưởng triết học, phản ánh trình độ

tư duy chung của nhân loại Thực tiễn khách quan, hoạt động nhận thức và khoahọc của con người quy định vị trí của mổi quan điểm, học thuyết Chẳng hạn trong

xã hội chiếm hữu nô lệ chưa hình thành các ngành khoa học độc lập, chuyên biệt

về tự nhiên và xã hội, về các hình thức vận động của vật chất, nên triết học thờibấy giờ là kiến thức lý luận nói chung, trên thực tế là dạng kiến thức duy nhất.Dần dần các khoa học chuyên biệt ra đời, ranh giới giữa chúng với triết học đượcxác lập Sự phát triển phong phú tri thức loài người và quá trình phân loại, “cá thểhóa” đưa đến chỗ triết học không còn đóng vai trò “khoa học của các khoa học”nữa, mà chỉ nghiên cứu những vấn đề chung nhất của tồn tại và nhận thức

Sinh hoạt tư tưởng trong thời đại hôm nay phản ánh một thế giới mở, sựbùng nổ các khám phá khoa học, sự tiến bộ nhanh chóng của công nghệ, kinh tế trithức và sự xích lại gần nhau giữa các dân tộc vì những mục tiêu nhân loại chung;song đó cũng là một thế giới phức tạp, tiềm ẩn các nguy cơ xung đột giá trị, trong

đó có giá trị tư tưởng, tinh thần Nhận diện các trào lưu tư tưởng hiện đại, giảithích một cách khách quan, khoa học nội dung và thực chất của chúng góp phầnlàm sáng tỏ những đặc điểm của thời đại, dự báo xu hướng vận động của lịch sử

Ba nguyên tắc cần nắm trong quá trình tìm hiểu một học thuyết, một trào

lưu tư tưởng trong lịch sử là: thứ nhất, nguyên tắc lịch sử cụ thể, nghĩa là cần đặt

đối tượng nghiên cứu, xem xét trong những điều kiện lịch sử nhất định, phù hợpvới trình độ nhận thức của thời đại đó, đánh giá một cách nghiêm túc, trung thựcnhững thành tựu, đóng góp của các nhà tư tưởng vào kho báu tư tưởng nhân loại.Không nên áp đặt một cách chủ quan những tính quy định của thời đại hôm nayđối với quá khứ, buộc quá khứ làm được những điều mà thời ấy chưa thể biết đến.Nói khác đi, quan điểm lịch sử cụ thể đòi một thái độ văn hóa đối với những disản do nhiều thế hệ nhân loại đã tạo nên, tích lũy, sàng lọc qua các thời kỳ phát

triển Thứ hai, xác định cái cơ bản nhất, cốt lõi nhất, hay điểm nhấn trong toàn bộ

bức tranh tư tưởng với tính cách là đối tượng nghiên cứu Chỉ có như vậy mớihiểu biết một cách sâu sắc và cô đọng cái “hồn” sống động nhất của từng thời đại,

hiểu được “trục chính” trong sinh hoạt tư tưởng thời đại ấy Thứ ba, kết hợp hai cách đánh giá, đánh giá từ góc độ thế giới quan và đánh giá từ góc độ giá trị đối

với từng học thuyết, vừa làm nổi bật tính đảng phái, vừa chỉ ra vai trò, vị trí của

từng học thuyết trong đời sống xã hội, trong dòng chảy của lịch sử tư tưởng Thứ

tư, chỉ ra mối liên hệ giữa quá khứ và hiện tại, nghĩa là rút ra ý nghĩa và bài học

lịch sử của việc nghiên cứu một học thuyết, tư tưởng trong quá khứ đối với thờiđại chúng ta

Trang 8

II SỰ HÌNH THÀNH VÀ ĐẶC TRƯNG CỦA TRIẾT HỌC CỔ ĐẠI

HY LẠP

1 Sự hình thành

Triết học Hy Lạp được hình thành trên cơ sở những biến đổi của thực tiễn

xã hội, là sự phản ánh nhu cầu nhận thức của con người ở một giai đoạn nhất định,khi xã hội chuyển biến sang nấc thang cao hơn, phá vỡ những quan hệ thuầnchủng huyết thống và tính đồng nhất giản đơn của hệ thống các quan hệ xã hội Sự

ra đời của triết học chính là bước ngoặt đầy ý nghĩa trong sự phát triển của ý thứccon người

a Điều kiện kinh tế – xã hội

Triết học cổ đại Hy Lạp hình thành vào thời kỳ diễn ra những chuyển biếnsâu sắc trong đời sống kinh tế – xã hội, trước hết là sự tan rã hoàn toàn chế độ thịtộc và thiết lập chế độ nô lệ, sự ra đời hình thức nh nước của người Hy Lạp, đượcgọi là các thị quốc (city – state) Đó là một quá trình lịch sử lâu dài, gắn liền với

sự phân công lao động xă hội, sự tích luỹ của cải, phân tầng xã hội, sự chuyểnbiến từ quan hệ thuần chủng huyết thống sang quan hệ đa huyết thống, sự mở rộnglãnh thổ trên cơ sở hợp nhất các thị tộc bằng các hình thức khác nhau Đất đai củangười Hy Lạp xưa kia rộng lớn hơn so với nước Hy Lạp ngày nay Vào các thế kỷ

XI – IX TCN (thời đại Homère) diễn ra quá trình tan rã các công xã thị tộc Bướcsang thế kỷ VIII – VII TCN nhà nước của người Hy Lạp ra đời (các quốc gia –thành bang chiếm hữu nô lệ) Sự phân công lao động, sự xuất hiện và phát triểncủa quan hệ hàng hóa, tiền tệ, sự tan rã của nền kinh tế tự nhiên, sơ khai, sự phânhóa giữa giàu và nghèo, sự đối kháng quyết liệt của các lực lượng xã hội khácnhau, sự thôn tính đất đai, sự sử dụng lao động nô lệ… bấy nhiêu thứ đó khiến chochế độ thị tộc là chế độ lấy quan hệ huyết thống làm cơ sở phải đi đến chỗ bị diệtvong Thị quốc5 là hình thức nhà nước đặc thù của người Hy Lạp, được tổ chứctheo kiểu một cụm dân cư, có thành luỹ bao bọc, với hệ thống quyền lực đượchình thành thông qua sự mở rộng lãnh thổ, cụ thể từ một thị tộc, bộ lạc, thànhnhiều thị tộc, bộ lạc, nghĩa là thay quan hệ thuần chủng huyết thống bằng quan hệ

đa huyết thống Như vậy sự ra đời của nhà nước, dù dưới hình thức nào, cũng đều

là minh chứng về một giai đoạn phát triển cao của xã hội so với trước Nhà nước

ra đời chứng tỏ sự phát triển xă hội đă đạt đến nấc thang mới, đòi hỏi thay thếcách tổ chức xă hội công xã nguyên thuỷ bằng hệ thống quyền lực công cộng và

5 Thị quốc theo từ nguyên Hy Lạp là polis (ρολις), tức) – hình thức nhà nước của người Hy Lạp; do đó mà khái niệm chính trị (hiểu như các công việc của nhà nước, những vấn đề liên quan đến nhà nước) được viết thành politics, politique v.v

Trang 9

bộ máy có khả năng điều tiết các quan hệ xă hội ngày càng phức tạp Nói cáchkhác, nhà nước đã ra đời như một tất yếu trên con đường phát triển lịch sử củanhân loại Ph.Ăngghen viết: “Nhà nước là sản phẩm của một xã hội đã phát triểntới một giai đoạn nhất định”6

Sự chuyển hóa từ chế độ thị tộc sang chế độ chiếm hữu nô lệ là bước nhảyvọt trong xã hội loài người

Cùng với sự hình thành các thị quốc, nền văn hóa mới cũng được xác lập,trở thành bộ phận hữu cơ của đời sống xã hội Hy Lạp cổ đại Những biểu hiện chủyếu của hệ thống các giá trị tinh thần mới là sự duy lý hóa tư duy, ý thức về nhâncách, ca ngợi tính tích cực, lòng quả cảm và năng lực của con người trong cuộcđấu tranh với tự nhiên, tinh thần ái quốc, quan niệm về tự do như phạm trù đạođức – chính trị cao quý nhất… Sự hình thành những cơ sở của văn hóa Hy Lạp là

sự kế thừa các giá trị truyền thống, thể hiện trong các sáng tác dân gian, trong thầnthoại và các hình thức sinh hoạt tôn giáo, trong những mầm mống của tri thứckhoa học Tư tưởng triết học phát sinh và phát triển như một thành tố không táchrời của nền văn hóa mới ấy

Như vậy, sự chuyển tiếp từ xã hội công xã nguyên thủy sang chế độ chiếmhữu nô lệ diễn ra cùng với những biến đổi căn bản trong ý thức, trước hết là nhucầu lý giải nghiêm túc những vấn đề tự nhiên, xã hội Triết học ra đời theoArixtốt, làm cho sự ngạc nhiên trước thế giới rộng lớn và bí hiểm được giải quyếtbằng những nỗ lực của lý trí truy tìm nguyên nhân đích thực của vạn vật Theo sửliệu học Pitago (570 – 496 TCN), hoặc có thể Hêraclít (khoảng 544 – khoảng 483TCN), là người đầu tiên tự gọi mình là philosophos, sau đó xuất hiện thuật ngữphilosophia, dịch thành triết học, mặc dù Talét (khoảng 624 - 547 TCN) mới làtriết gia đầu tiên của Hy Lạp Như vậy “Philosophia” (philo – yêu mến, sophia –

sự thông thái) biểu thị khát vọng của con người vươn tới hiểu biết thực sự về mốiquan hệ giữa con người với thế giới và với chính mình, vượt qua ảnh hưởng của tưduy huyền thoại, đi vào chiều sâu nhận thức thông qua khái niệm ngày càng đạtđược tính trừu tượng hóa cao

b Tiền đề tinh thần của triết học (còn gọi là tiền triết học)

Ngạc nhiên làm nảy sinh triết lý, triết lý của con người về thế giới ở buổiđầu lịch sử thể hiện trong huyền thoại, nhất là trong các câu chuyện thần thoại vàsinh hoạt tín ngưỡng nguyên thuỷ Thần thoại là sự đối thoại đầu tiên, đầy tínhhoang tưởng của con người với thế giới xung quanh

6 C Mác và Ph Ăngghen, Toàn tập, t.21, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995, tr 252

Trang 10

Thần thoại (xuất phát từ tiếng Hy Lạp mythologia, trong đó mythos là câuchuyện, truyền thuyết, logos là lời nói, học thuyết) là hình thức tư duy phổ biếncủa người nguyên thủy, cùng với thuyết nhân hình, vật linh thuyết, vật hoạt luận…Trong thần thoại các yếu tố tư tưởng và tình cảm, tri thức và nghệ thuật, tinh thần

và vật chất, khách quan và chủ quan, hiện thực và tưởng tượng, tự nhiên và siêunhiên còn chưa bị phân đôi Tuy nhiên tư duy huyền thoại cũng trải qua nhữngbước phát triển nhất định, thể hiện sự phát triển của ý thức Có thể nhận thấy điềunày trong thần thoại Hy Lạp Đỉnh cao của thần thoại cũng cũng đồng thời báohiệu sự cáo chung tất yếu của nó, sự thay thế nó bằng hình thức thế giới quan mới,đáp ứng nhu cầu nhận thức thế giới ngày càng sâu sắc hơn của con người Quátrình này bắt đầu từ thời đại Hôme (thế kỷ IX – VIII TCN) với việc xóa bỏ dần hốsâu ngăn cách giữa thần và người, nêu ra các ý tưởng sơ khởi về hỗn mang, về cáchành chất, về nguồn gốc thế giới, và cả những thông điệp của con người về tìnhbạn, tình yêu, tinh thần ái quốc Xu hướng này được tiếp tục ở Hêsiốt Trong

“Thần hệ” của Hêsiốt các trạng thái vũ trụ được mô tả thông qua các thế hệ thầnlinh, từ Hỗn mang đến thần Dớt – biểu tượng của trật tự, ánh sáng và sự tổ chứccuộc sống trong vũ trụ Hiện tượng Prômêtê lấy trộm lửa của thần Dớt đem đếncho con người hàm chứa ý nghĩa sâu xa: lửa – biểu tượng của sức mạnh và lý trí –không còn là đặc quyền của thần linh như trước, mà đã cố hữu nơi con người.Con người trở nên tự chủ hơn trong quan hệ với thế giới xung quanh

Vào khoảng cuối thế kỷ VII – đầu thế kỷ VI TCN, các thị quốc bước vàothời kỳ phát triển khá thịnh vượng Sự phân công lao động lần thứ hai và sự ra đờiđồng tiền kim khí đã tạo nên những biến đổi lớn trong các lĩnh vực của đời sống

xã hội Ở bình diện văn hóa tinh thần “bảy nhà thông thái” xuất hiện, mở đườngcho một nền triết học thực sự Trong số họ, Talét được Arixtốt gọi là nhà triết họcđầu tiên của thế giới phương Tây

Con đường từ thần thoại đến triết học, theo Hêghen, là con đường đi từ lý tính hoang tưởng đến lý tính tư duy, từ hình thức diễn đạt thông qua biểu tượngđến hình thức diễn đạt bằng khái niệm7 Triết học ra đời không có nghĩa thần thoạimất đi, mà tiếp tục tồn tại trong tôn giáo, nghệ thuật, văn chương, nhưng đượcxem xét ở bình diện khác – bình diện giá trị Đằng sau những câu chuyện thầnthoại là cả một triết lý sống, thể hiện những chuẩn mực, những giá trị, những bàihọc đạo đức, nhân văn

c Vai trò của nền văn minh phương Đông trong sự hình thành tư duy triết

7 G.W.F.Hêghen, Toàn tập, t.9, Moskva, 1934, tr 14

Trang 11

học ở Hy Lạp

Trong quá trình xây dựng các học thuyết triết học và khoa học người HyLạp kế thừa có chọn lọc những tinh hoa văn hóa của các dân tộc phương Đông,vốn hình thành sớm hơn, đồng thời tạo cho mình một phong cách và sắc thái tưduy độc đáo, tạo nên truyền thống đặc trưng được tiềp tục bổ sung, phát triển ởcác thời đại sau

Vào các thế kỷ VIII – VII TCN công cuộc di thực được tiến hành ồ ạt.Những chuyến vượt biển tìm đất, sự trao đổi, buôn bán thường xuyên với cácnước phương Đông, nhất là Ai Cập, Babylon, làm cho Hy Lạp có dịp tiếp xúc, họchỏi và hòa hợp với các nền văn minh khác Thông qua những chuyến vượt biểntìm đất mới, quan hệ buôn bán, giao lưu, người Hy Lạp tiếp thu chữ viết, thànhquả khoa học, và cả yếu tố huyền học (occultism) ở các nền văn minh phươngĐông, nhất là vùng Trung Cận Đông và Bắc Phi Chữ viết tượng hình xuất hiện tại

Ai Cập, Mesopotamie và một số dân tộc khác từ khoảng 2700 TCN Đến thế kỷVIII TCN người Phenicie, sau đó người Hy Lạp tiếp thu, cải biến và hoàn thiệnthêm Các lĩnh vực tri thức ở phương Đông như toán học, thiên văn học, địa lý, hệthống đo lường, lịch pháp, các mầm mống của y học, các khoa học về sự sống đápứng phần nào khát vọng khám phá của người Hy Lạp, do đó được họ đón nhậnmột cách nhiệt tình, thúc đẩy quá trình hình thành những phác thảo đầu tiên về thếgiới quan vào thế kỷ VII - VI TCN Các nhà triết học đầu tiên của Hy Lạp đều cókiến thức khoa học vững vàng nhờ thường xuyên giao lưu với phương Đông dướicác hình thức khác nhau Người Ai Cập tính được số pi, diện tích hình tam giác,hình chữ nhật, hình thang, hình bình hành, hình tròn Hệ thống lịch pháp được xáclập vào đầu thiên niên kỷ II TCN Từ phát minh của người Ai Cập ra cách tínhthời gian một năm (365 + ¼ ngày đêm) sớm nhất thế giới, Babylon hoàn thiệnthêm một bước về tháng bổ sung, để đưa năm âm lịch (12 tháng với 354,36 ngàyđêm) đến gần với năm dương lịch (365,24 ngày đêm) Cách tính giời hiện naycũng cũng xuất phát từ cách tính của Babylon Tuy nhiên, dù đi trước Hy Lạp ởtrình độ phát triển, song tại các nước phương Đông láng giềng, triết học đúngnghĩa vẫn chưa xuất hiện Ở phương diện lý luận tại Ai Cập và Babylon các yếu tốhuyền học và thuật chiêm tinh đan xen với các mầm mống của triết lý vũ trụ, nhânsinh, nhưng mặt thứ hai này còn khá mờ nhạt, bị lấn át bởi cách tiếp cận nhân hìnhhóa Tại Babylon chiêm tinh chiếm vị trí cao trong thang bậc tinh thần, nhà chiêmtinh được tham dự vào cả công việc triều chính, giúp nhà vua vạch ra các kế hoạchđối nội, đối ngoại, tiến cử nhân sự Tại Ai Cập, những pho tượng khổng lồ đầungười mình thú, đặt bên cạnh những kim tự tháp uy nghi, tráng lệ, cho thấy người

Trang 12

Ai Cập quan tâm đến thế giới “bên kia” vĩnh cửu Với thời gian, trong tư duy củangười Ai Cập xuất hiện một số cách ngôn chứa đựng các yếu của chủ nghĩa hoàinghi, chủ nghĩa bi quan, chủ nghĩa khắc kỷ cổ sơ, như “Tôi là tôi”, “Đã vào cõi tửlàm sao trở về”, “Đừng uổng phí thời gian”… Những cách ngôn đó bị xã hội xem

là báng bổ thế giới thiêng liêng Tại Babylon, sau thời kỳ hưng thịnh, những đô thịgiàu có và sa đoạ bắt đầu suy vong, và sau cùng lùi về dĩ vãng Sự kiện Babylon

sa đoạ và sụp đổ đã được nêu ra trong Kinh Thánh Kytô giáo

Các yếu tố huyền học, khi được du nhập vào Hy Lạp, vẫn phải đóng vai trògiá đỡ cho tinh thần phóng khoáng, tự do của người Hy Lạp Liên minh Pitago làmột điển hình Ở đó các yếu tố duy tâm, tôn giáo, vốn được tiếp thu từ phươngĐông, không che khuất các yếu tố khoa học, duy lý Có thể khẳng định rằng, dù đisau phương Đông về văn minh, nhưng Hy Lạp không đơn giản làm công việc củangười kế thừa Ngược lại, sự hình thành và phát triển của triết học Hy Lạp là kếtquả phát triển nội tại của tinh thần Hy Lạp, được thể hiện sinh động trong huyềnthoại, trong văn hóa, trong tín ngưỡng nguyên thủy, chịu sự chi phối của các điềukiện kinh tế và xã hội Trong quá trình tiếp thu có chọn lọc các giá trị văn hóa tinhthần phương Đông, người Hy Lạp tạo nên phong cách tư duy đặc trưng của mình,trở thành cái nôi của triết học và khoa học phương Tây Vào năm 525 TCN, AiCập bị Ba Tư xâm chiếm Ách thống trị của Ba Tư đã đẩy văn minh Ai Cập, cũngnhư Babylon trước đó, lùi về phía sau, nhưng ngọn lửa trí tuệ đã được nhen nhómlên và rực sáng ở một vùng đất khác

Như vậy con đường thương mại, thậm chí cả chiến tranh xâm lược, đã thổivào Hy Lạp luồng sinh khí mới, làm cho đời sống xã hội, văn hóa tinh thần thêmphong phú

2 Các thời kỳ và các đặc trưng cơ bản của triết học Hy Lạp – La Mã cổ đại

a) Các thời kỳ

Triết học Hy Lạp – La Mã cổ đại trải qua bốn thời kỳ cơ bản:

- Sự hình thành (thế kỷ VI – V TCN), gắn liền với sự xuất hiện các trườngphái triết học tại Milet và Đại Hy Lạp Triết học thời kỳ này thể hiện khả nănggiải phóng tư duy khỏi ảnh hưởng của huyền thoại Đối tượng: tự nhiên Các nhàtriết học được gọi là những nhà vật lý (Physis, theo từ nguyên Hy Lạp là “tựnhiên”, “tăng trưởng”, Physika là Vật lý học, đúng hơn là Tự nhiên học) Vấn đề:thế giới bắt đầu từ đâu và quay về đâu? Bản tính của thế giới lả gì? Lời đáp thểhiện ở việc tìm hiểu bản nguyên và bản tính thế giới

Trang 13

- Sự hưng thịnh, hay cổ điển, gắn với thời kỳ hưng thịnh và khủng hoảng củanền dân chủ chủ nô tại Aten (Athens) và một số thị quốc khác; “Dân chủ”8 là phátminh của người Hy Lạp, bắt đầu từ những cải cách mang tính dân chủ của Solon(thế kỷ VI TCN) đến sự thể chế hoá dân chủ tại Athens (nửa sau thế kỷ V TCN)vơí thiên tài chính trị Pericles Câu hỏi đặt ra: tại sao triết học được dịp phát triển

cả trong thời cực thịnh lẫn khủng hoảng của nền dân chủ chủ nô, của xã hội nóichung? Câu trả lời nằm ở sự nhận thức về tính độc lập tương đối của ý thức Đó làthời kỳ triết học Hy Lạp phát triển hài hòa, cân đối, với các chủ đề tự nhiên, nhậnthức, xã hội

- Triết học thời kỳ Hy Lạp hóa Hy Lạp hóa lần thứ nhất mở rộng khu vựcảnh hưởng của văn hóa Hy Lạp; Hy Lạp hóa lần thứ hai diễn ra khi Hy Lạp đãmất quyền tự chủ chính trị từ năm 146 – 143 TCN

La Mã thay thế Hy Lạp thống trị thế giới phương Tây cổ đại ngót 700 năm,đến năm 476

Nếu xét theo chủ đề tư tưởng, đối tượng nghiên cứu và hình thức thể hiệnthì có thể phân chia triết học Hy Lạp ra ba thời kỳ chính;

- Thời kỳ trước Xôcrát (Socrates): Trường phái Milet, trường phái

Pythagoras, trường phái Heraklitos, trường phái Elea Các nhà triết học tập trung

lý giải những vấn đề bản thể luận và nhận thức, bắt đầu khám phá nguồn gốc sựsống Sự quan tâm đến tự nhiên nhằm làm sáng tỏ vấn đề bản nguyên và bản chấtcủa thế giới, xoay quanh hai câu hỏi lớn : 1) Thế giới bắt đầu từ đâu và quay vềđâu? 2) Thế giới vận động hay đứng im; nếu vận động thì vận động theo nhữngtính quy luật nào, vận động tự thân hay chịu sự tác động của các yếu tố siêu nhiênbên ngoài, nếu đứng im thì dựa trên cơ sở nào? v.v Phần lớn các nhà triết họcthời kỳ này là những nhà vật lý (trong từ nguyên Hy Lạp “physis” được hiểu là tựnhiên, sự tăng trưởng)

- Thời kỳ Xôcrát (Socrates): Cùng với những vấn đề truyền thống, gắn liền

với việc khám phá tự nhiên, tìm hiểu quá trình sự sống, triết học mở rộng phạm

vi nghiên cứu, quan tâm đến con người không chỉ như chủ thể, mà như đối tượng,

lý giải những vấn đề liên quan đến vị trí và số phận của con người, ý nghĩa củacuộc sống, năng lực và phương tiện nhận thức, tiến trình lịch sử, mối quan hệ giữacon người với tự nhiên và xã hội… Thời kỳ khám phá và sáng tạo mãnh liệt của

tư duy, gắn liền với tên tuổi của những triết gia vĩ đại: Socrate, Démocrite, Platon,Aristote

8 Thuật ngữ “Dân chủ” theo từ nguyên Hy Lạp là “Demokratia” (Δημοκρατια), sự kết hợp Kratos = quyền lực,

và Dèmos = nhân dân, nghĩa là Quyền lực của nhân dân (tiếng Anh: Democracy)

Trang 14

- Thời kỳ sau Xôcrát (thời kỳ Hy Lạp hóa và khủng hoảng, hay còn gọi là thời kỳ văn minh Hy Lạp – La Mã) Sau những ngày vinh quang nhờ tiếng vang

của những cuộc viễn chinh do Alexander Đại đế tiến hành, Hy Lạp rơi vào khủnghoảng, nền dân chủ chiếm hữu nô lệ Aten bị sụp đổ; La Mã chinh phục Hy Lạpbằng vũ lực, nhưng Hy Lạp “chinh phục” La Mã bằng tinh thần Triết học mộtmặt tiếp tục phát huy truyền thống vốn có, mặt khác đi sâu lý giải những vấn đềcủa “thế giới nội tâm”: tình cảm, dục vọng, ham muốn, hoài nghi…

Trường phái Platon (kể cả Platon mới) là trường phái cuối cùng của triếthọc phương Tây cổ đại, bị đóng cửa vào năm 529, tức sau khi Tây bộ đế quốc La

Mã bị sụp đổ hơn nửa thế kỷ

III VỀ SỰ THỐNG NHẤT TÍNH ĐẢNG VÀ TÍNH KHÁCH QUAN KHOA HỌC TRONG VIỆC TÌM HIỂU LỊCH SỬ TRIẾT HỌC

Sự thống nhất tính đảng (tính đảng phái) và tính khách quan, chuẩn mực(tính khách quan – khoa học) trong việc xem xét các tư tưởng, học thuyết triết họctrong lịch sử nhân loại đòi hỏi dựa vào cơ sở thế giới quan và phương pháp luậnkhoa học, đồng thời nắm vững nguyên tắc toàn diện và nguyên tắc lịch sử cụ thể,nhằm tránh sự áp đặt một cách võ đoán, chủ quan đối với lịch sử

Chủ nghĩa hư vô trong quan điểm lịch sử đồng nghĩa với sự dửng dưng đối

với chính các vấn đề hiện tại, bởi lẽ nó hiểu lịch sử chỉ như những lát cắt rời rạc,không có mối liên hệ với nhau Thực ra cho dù lịch sử đã an bài, nhưng nó vẫntiếp tục ám ảnh những đang sống, bởi những cách tiếp cận khác nhau về lịch sử

Quan điểm máy móc, siêu hình xem lịch sử triết học thuần túy chỉ như lịch

sử đấu tranh giữa hai hệ thống thế giới quan và hai phương pháp triết học đối lậpnhau, theo sự phân tuyến đơn giản: tốt – xấu, đúng – sai, khoa học – phản khoahọc Lý luận khoa học chân chính không nhìn vấn đề một chiều như thế, mà cốgắng làm sáng tỏ bức tranh đa dạng và phức tạp của sự phát triển tư duy triết học,

từ đó rút ra tính quy luật của nó

Triết học là giá trị văn hóa tinh thần cô đọng nhất, tinh tuý nhất, là thời đạilịch sử hiện thực được tái hiện dưới hình thức tư tưởng, trong hệ thống các vấn đề

triết học C.Mác (K.Marx) viết trong “Bài xã luận báo “Kolnische Zeitung số

179”: … Mọi triết học chân chính đều là tinh hoa về mặt tinh thần của thời đại

mình”9 Vậy thế nào là “triết học chân chính”? Đó là triết học được sinh ra, chịu

sự quy định bởi những điều kiện lịch sử – xã hội của thời đại mình, cùng với các

9 C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, t.1, Nxb Chính trị quốc gia,

HN,1995, tr 157 10 C Mác và Ph Ăngghen, sđd, tr 156

Trang 15

học thuyết, các tư tưởng khác làm nên diện mạo tinh thần của thời đại, đóng góp

vào giá trị chung của nhân loại Mác lại viết: “Các triết gia không mọc lên như nấm từ trái đất, họ là sản phẩm của thời đại mình, của dân tộc mình, mà dòng sửa tinh tế nhất, quý giá và vô hình được tập trung lại trong những tư tưởng triết học” 10

Ngay từ các bài viết đầu tiên trong thời kỳ chuyển tiếp tư tưởng, C.Mác đãnhấn mạnh sự thống nhất của hai cách tiếp cận đối với di sản của quá khứ: mộtmặt cần tuân thủ nguyên tắc tính đảng trong triết học, căn cứ vào việc giải quyếtvấn đề cơ bản của triết học, chỉ ra rằng cuộc tranh luận về thế giới quan tạo nênđộng lực cơ bản của sự phát sinh, phát triển, sự đan xen, thay thế nhau của cáchọc thuyết triết học Mặt khác, mỗi học thuyết, tư tưởng, trào lưu, khuynh hướngtriết học bên cạnh việc giải quyết vấn đề cơ bản của triết học bằng cách trực tiếphay ẩn mình trong các luận giải về con người, xã hội, ngôn ngữ… đều được thừa

nhận như “tinh hoa về mặt tinh thần” của mỗi thời đại, góp phần vào sự hoàn

thiện nhân cách và tri thức con người trong thời đại ấy Platôn (Plato, Platon),Arixtốt (Aristotle, Aristoteles), Lépních (Leibniz), Cantơ (Kant), Hêghen (Hegel)

là những nhà duy tâm, nhưng đồng thời là những bộ óc lớn, những chân dung vănhóa của thời đại mình Chúng ta phê phán một cách xác đáng chủ nghĩa kinhnghiệm phê phán của Makhơ (Mach), nhưng cũng lưu ý rằng ông là nhà bác họclừng danh của thế kỷ XIX, một trong những người thầy của Einstein

Tương tự như vậy đối với cách đánh giá tư tưởng Nho giáo, Phật giáo, Kytôgiáo Mác từng khẳng định “không có đảng phái thì không có sự phát triển”10,

nhưng cũng chỉ rõ: “Triết học hiện đại chỉ tiếp tục cái công việc do Hêraclít và Arixtốt đã mở đầu mà thôi”11

Nhân đọc Xôcrát (Socrates) V.I.Lênin viết trong “Bút ký triết học”, “Chủ nghĩa duy tâm thông minh gần với chủ nghĩa duy vật thông minh hơn chủ nghĩa duy vật ngu xuẩn” 12 “Chủ nghĩa duy tâm thông minh” của Xôcrát, Platon, Hêghen

dù có những hạn chế ở phương diện thế giới quan, song đã để lại nhiều tư tưởng

có giá trị cho nhân loại ở những khía cạnh khác V.I.Lênin từng phê phán nhữngtoan tính xem xét chủ nghĩa Mác bên ngoài văn hoá nhân loại

Cần phân tích một cách phân minh, rõ ràng những đóng góp và những hạn

chế mang tính lịch sử của các học thuyết triết học Ngược lại, sự mơ hồ, lẫn lộn,

sự đánh giá thái quá, theo hướng “tả khuynh” lẫn “hữu khuynh” đối với các học

10 Sđd, tr 167

11 Sđd, tr.166

12 V.I.Lênin, Toàn tập, t.29, Tiến bộ, M, 1981, tr 293

Trang 16

thuyết triết học, hoặc chủ trương “triết lý cái búa” trong sự đánh giá lịch sử, hoặccoi các nhận định trong lịch sử tư tưởng đều là những chân lý tuyệt đỉnh, “dànhcho mọi thời đại và mọi dân tộc”, là trái với bản chất của triết học, và đều đáng bịphê phán như nhau Ph.Ăngghen (F Engels) đã phê phán trường hợp tương tự ở vị

giáo sư cơ học Đuyrinh (Duhring) trong tác phẩm Chống Đuyrinh 13

Phân tích cuộc tranh luận giữa hai khuynh hướng cơ bản trong triết họckhông chỉ nhằm làm sáng tỏ tính quy luật trong sự phát triển của tri thức triết học,

mà còn chứng minh rằng sự phản biện lẫn nhau giữa các khuynh hướng ấy là tấtyếu, góp phần vào sự phát triển chung của tư tưởng triết học Bài học Trung cổTây Âu, mà nhiều nhà tư tưởng xem như “đêm trường Trung cổ”, là ở chỗ, mộtkhi triết học chịu sự chế ngự vô điều kiện của uy quyền, của tín điều, không cầnđến hệ thống phản biện xã hội, thì nó cũng tự tuyên bố mình như một thứ “giáođiều triết học”, một thứ thần học bán chính thức, hay tệ hại hơn, một thứ nô lệ của

“thần học vạn năng”

Ngoài việc thừa nhận tính quy định (chế định) lịch sử - xã hội đối với các học thuyết triết học, cần vạch ra những quy luật cơ bản trong quá trình vận động của tri thức triết học

IV “ĐƯỜNG LỐI ĐÊMÔCRÍT” VÀ “ĐƯỜNG LỐI PLATÔN” TRONG TRIẾT HỌC HY LẠP CỔ ĐẠI

V.I.Lênin cô đọng cuộc tranh luận về thế giới quan giữa CNDV và CNDTtrong triết học Hy Lạp cổ đại (và cả toàn bộ lịch sử triết học) bằng hình ảnh

“đường lối Đêmôcrít” và “đường lối Platôn”

Vấn đề là ở chỗ chủ nghĩa Makhơ – hình thức thứ hai của chủ nghĩa thựcchứng, do Ô.Côntơ (A.Comte) sáng lập – vào những năm đầu thế kỷ XX đã tuyên

bố về sự không thích hợp của việc sử dụng các phạm trù triết học truyền thống,đặc biệt phạm trù “vật chất” để thể hiện bức tranh vật lý về thế giới, thay vào đó làcụm từ “các yếu tố cảm giác được của thế giới”, nhằm hướng nhận thức đến đốitượng trực tiếp, loại trừ sự “khảm nhập” của kinh nghiệm, là cái làm cho nhậnthức bị “ô nhiễm” Thực ra toan tính này không mới, vì trước đó Côntơ từng tuyên

bố về sự cải tổ triết học, xác lập “con đường thứ ba”, vượt qua cả chủ nghĩa duyvật lẫn chủ nghĩa duy tâm, loại trừ các khái niệm “mơ hồ” của Siêu hình học cổđiển Chỉ khác ở chỗ Côntơ thay Siêu hình học cũ bằng chủ nghĩa thực chứng xãhội học, gắn kết các vấn đề của triết học với các vấn đề của khoa học chuyên biệt,còn Makhơ và những người theo Makhơ ở Nga đem chủ nghĩa kinh nghiệm phê

13 Xem: C Mác và Ph Ăngghen, Toàn tập, t.20, Nxb Chính trị quốc gia, HN, 1994, tr 124

Trang 17

phán gắn kết với “triết học phê phán” của Kant và chủ nghĩa duy tâm chủ quanBéccli (Berkeley), với luận đề “tồn tại của thế giới chỉ là tổ hợp các cảm giác”,hay “tồn tại nghĩa là được tri giác” Bác bỏ quan niệm này, Lênin viết: “Phảichăng trong hai nghìn năm phát triển của triết học cuộc đấu tranh của chủ nghĩa

duy tâm và chủ nghĩa duy vật, cuộc đấu tranh giữa xu hướng hay đường lối của Platôn và của Đêmôcrít trong triết học, cuộc đấu tranh giữa khoa học và tôn giáo,

cuộc đấu tranh giữa việc phủ nhận và việc thừa nhận chân lý khách quan, cuộcđấu tranh giữa những người theo thuyết nhận thức siêu cảm giác và những ngườichống lại họ, đã có thể cũ đi rồi sao? Vấn đề thừa nhận hay gạt bỏ khái niệm vậtchất… là vấn đề không thể nào cũ đi được!”14

Như chúng ta biết, từ việc khắc phục tính trạng khủng hoảng thế giới quantrong vật lý học, V.I.Lênin đã nêu ra định nghĩa có tính kinh điển về vật chất, mà

Ăngghen từng phác thảo trong Biện chứng của tự nhiên 15

1 “Đường lối Đêmôcrít”, hay CNDV trong triết học Hy Lạp cổ đại

Quá trình hình thành các trường phái triết học Hy Lạp cổ đại diễn ra thôngqua sự phê phán thuyết nhân hình hóa, vật linh thuyết, xác lập hệ thống phạm trù

trừu tượng hóa đầu tiên, nghĩa là thay thế phương thức tư duy hình tượng bằng tư duy mang tính khái niệm, chưa hẳn là những khái niệm chặt chẽ như ở các thời đại sau Trong cuộc tranh luận về cơ sở ban đầu của mọi tồn tại, hay bản nguyên thế

giới, các nhà triết học đã đến gần với các khái niệm cơ bản của triết học như “ vật

chất” (trong tiếng Hy Lạp chỉ có khái niệm tương tự như vật chất, chẳng hạn

“hyle”, hiểu như “thể chất”) và hình thức (mô thức), ý niệm và sự vật, linh hồn vàtrí tuệ, thống nhất và đa dạng, chuẩn mực và số mệnh, tồn tại và hư vô Điều cầnlưu ý ở đây là: các nhà triết học đầu tiên thuộc trường phái Milê (Miletos) với nỗlực vượt qua tư duy huyền thoại đã giải thích bản nguyên thế giới từ các yếu tố vật

chất sẵn có của thế giới (đất, nước, lửa…) Ho không chỉ là những nhà triết học

đầu tiên, mà còn là những nhà duy vật tự phát đầu tiên

Cuộc tranh luận đầu tiên xoay quanh câu hỏi, mà việc giải đáp nó đáp ứng

khao khát hiểu biết của thời đại: thế giới xuất hiện từ đâu và đi về đâu? (hoặc “thế giới bắt đầu từ đâu và quay về đâu?) Đó là câu hỏi về sự bắt đầu của những sự bắt đầu, nguyên nhân của mọi tồn tại, bản nguyên của thế giới

Từ quan niệm về vũ trụ như thực tại vật thể cảm tính Talét (Thales, 624 –

547 TCN) đưa ra nhận định rằng mọi thứ đều bắt đầu từ nước và trở về nước Lần

đầu tiên nước được hiểu như cái tuyệt đối, cái phổ biến đơn giản Anaximăngđơ

14 V.I.Lênin, Toàn tập, t 18, Tiến bộ, M, 1980, tr 151 – 152

15 Xem: C Mác và Ph Ăngghen, sđd, t.20, tr.751

Trang 18

(Anaximandros,Anaximander, 610 – 546 TCN), học trò và người kế tục Talét, đãhỏi Talét: “Vậy nước bắt đầu từ đâu?” – một câu hỏi đủ khả năng lật đổ cả một

quan điểm tưởng chừng dứt khoát và chắc chắn Nước, cũng như các hành chất vũ trụ khác, theo Anaximăngđơ, không phải là nguyên nhân, mà là kết quả của sự phối hợp các yếu tố nhất định Đi xa hơn Talét, Anaximăngđơ xem apâyrôn (apeiron), hiểu như cái “bất định, vô hạn, vô cùng, vĩnh cửu”, là nguyên nhân của

sự sinh thành, tồn tại và diệt vong Như vậy ông đã đem đến cho khái niệm bảnnguyên (archè) nội dung mới, đến gần với khái niệm bản thể, bản chất, thực thể(substance) Anaximăngđơ giải thích 5 đặc tính của bản nguyên apâyrôn: -

apâyrôn mang tính vật chất, tồn tại với tính cách là cái thâm nhập vào tất cả; apâyrôn vô hạn, làm cơ sở cho mọi sự chuyển hóa lẫn nhau của các sự vật; - apâyrôn vô cùng, không trải qua sự sinh diệt; - apâyrôn vĩnh cửu, trường tồn, làm nên điểm bắt đầu của mọi sự sinh thành; - apâyrôn bất định, làm cầu nối liên kết

-những cái xác định Tất cả -những đặc tính ấy đều quy về đặc tính chung nhất làvận động Bản nguyên apâyrôn được Anaximăngđơ dùng để giải thích nguồn gốccủa vũ trụ và sự sống Tuy nhiên cách tiếp cận như thế về bản nguyên tỏ ra xa lạ

với người Hy lạp Anaximen (Anaximenes, 585 – 524 TCN), đại diện thứ ba của

trường phái Milê, cố gắng dung hòa hai đại diện đầu tiên, nghĩa là nguyên nhân

ban đầu của thế giới là một yếu tố vật chất vừa cụ thể, vừa năng động Bản nguyên giờ đây là apâyros (apeiros), khí, xét theo khuynh hướng chung của trường phái Milê là một yếu tố vật lý, ngầm hiểu không khí Quá trình vũ trụ diễn

ra phụ thuộc vào sự “tán” và “tự” của apâyros Khi nóng chảy khí trở thành lửa,khi đông đặc – thành nước, đất, các sự vật

Nhà triết học xứ Ephesơ Hêraclít (Heraklitos, 520 - 460 TCN) là hiện

tượng đặc biệt của triết học Hy Lạp, đáng được C Mác nhắc đến như một trongnhững nhân vật tiêu biểu của thế giới cổ đại phương Tây Ông vừa là nhà duy vật,vừa là nguời đặt nền móng cho tư tưởng biện chứng về thế giới, đồng thời lại là

người khai mở xu hướng nhân bản hóa trong triết học “Triết học hiện đại, - Mác viết, - chỉ tiếp tục cái công việc do Hêraclít và Arixtốt mở đầu mà thôi” Đối với Hêraclít lửa là bản nguyên năng động nhất của thế giới, cơ sở ban đầu của mọi tồn

tại Tất cả bắt đầu từ lửa và chịu sự phán quyết của lửa bằng đại hỏa tại vũ trụ,chấm dứt một chu kỳ và mở đầu chu kỳ mới Là nguyên nhân của vũ trụ “lửa luônluôn đã, đang và sẽ là ngọn lửa sống động vĩnh cửu, là sinh thành và hủy diệt, chởche và phán quyết” Khá nhiều ý tưởng trong diễn đạt này: phủ nhận thuyết nguồngốc thần linh của vũ trụ (vũ trụ không phải là sản phẩm của vị hóa công vũ trụnào), có cả yếu tố vật hoạt luận (ngọn lửa sống động, vĩnh cửu), có cả tư tưởng về

dòng chuyển biến vô cùng, cái đã qua (quá khứ), cái đang tồn tại (hiện tại), cái sẽ

Trang 19

đến, hay cái đang mở ra (tương lai) Lửa của Hêraclít rất vũ trụ, nhưng cũng rấtthần linh và rất nhân tính

Chương sử mới trong CNDV Hy Lạp cổ đại gắn liền với phương án “đanguyên”, tức giải thích bản nguyên thế giới căn cứ vào không phải một, mà nhiềuyếu tố vật chất Phương án này hợp lý và uyển chuyển hơn phương án “nhấtnguyên” ở chỗ, một là, nó tạo ra khả năng giải thích tính đa dạng của thế giới; hai

là, tính bao quát của cách tiếp cận “đa nguyên” cho phép làm sáng tỏ các vấn đềcủa sự sống, từ đơn giản đến phức tạp, từ những mầm mống của thế giới hữu cơđến xã hội loài người, mặc dù còn ở trạng thái chất phác, ngây thơ Phương án “đanguyên” đánh dấu sự phát triển của tư tưởng duy vật, thể hiện những biến đổi của

ý thức trong khuôn khổ chế độ chiếm hữu nô lệ Anaxago (Anaxagoras, khoảng

500 – 428 TCN) và Empeđốc (Empedocles, khoảng 490 – 430 TCN) là những đại

diện đầu tiên của phương án “đa nguyên” Tuy nhiên cách xác định bản nguyêncủa họ rất khác nhau – một người chủ trương về một hợp chất đã trừu tượng hóa,người khác kế thừa cách tiếp cận cụ thể cảm tính, vốn chiếm vị trí thống trị trong

triết học thời sơ khai Nếu trường phái Elê (Elea) đưa ra cách phân tích về lượng vấn đề tồn tại, thì Anaxago lại chú trọng chất của tồn tại, cấu tố của nó Theo ông,

cơ sở của mọi cái đang tồn tại là homeomeria – “những chất đồng dạng”, hay

“những cái tương tự”, những mầm sống, hay hạt giống Có thể phân chia nhữngchất ấy đến vô cùng, bởi lẽ “trong cái bé không có cái bé nhất, nhưng luôn có cái

bé hơn” Anaxago xuất phát từ nguyên tắc “tất cả trong tất cả”, nghĩa là mỗi sự vậtđều chứa đựng trong mình chất của tất cả các sự vật Homeomeria có tính thụđộng Trí tuệ thế giới (Nous) mới là bản nguyên tích cực, làm cho thế giới vậnđộng và nhận thức thế giới trong tính toàn vẹn của mình Cách lý giải ấy chứng tỏ

nỗ lực trình bày về mặt cơ cấu tồn tại của thế giới, cảm nhận tính vô hạn và tínhvĩnh cửu của nó

Cũng vẫn theo phương án “đa nguyên” song Empeđốc xem các yếu tố vật

chất cụ thể phổ biến – nước, khí, lửa đất – là những bản nguyên đồng cấp độ đối với quá trình hình thành vũ trụ Quá trình vũ trụ được giải thích từ thuyết nhân hình hóa với việc tưởng tượng ra hai đối cực – Tình yêu và Thù hận – quy định sự

hợp nhất và tách biệt các sự vật, hiện tượng Empeđốc là nhà triết học cuối cùngcủa chủ nghĩa duy vật trong triết học Hy Lạp cổ đại vẫn còn chịu ảnh hưởng của

tư duy huyền thoại Ngoài thuyết nhân hình hóa, trong quan điểm triết học của

Empeđốc còn chứa đầy yếu tố của thuyết luân hồi Ông cho rằng linh hồn có thần

tính, do phạm tội mà chịu kíp đoạ đày vào thân xác, đầu thai, luân hồi “ba lầnmười ngàn năm”, nhờ sám hối, thanh tẩy mà trở lại nơi cư ngụ thần linh Tìm lại

Trang 20

kiếp xưa trở thành nổi ám ảnh của nhà triết học xứ Agrigentơ, đảo Xixin “Xưa ta

là đứa trẻ vị thành niên, cũng có thể là thiếu nữ, thậm chí là cây cỏ, chim muông,

là cá của đại dương câm lặng” (Thanh tẩy, câu 117) Vì thế các nhà nghiên cứu

lịch sử triết học nhất trí cho rằng không phải Empeđốc, mà Anaxago mới tạo tiền

đề cho triết học tự nhiên Hy Lạp cổ đại vươn đến đỉnh cao và chấm dứt ở đó

Nguyên tử luận, do Lơxíp (Leucippos, khoảng 500 – 440 TCN) sáng lập,

Đêmôcrít (Democritos, 460 – 370 TCN) phát triển, được chuẩn bị bởi quan điểm

trừu tượng hóa về bản nguyên homeomeria của Anaxago Các nhà nguyên tử luận

đã xác lập nên bức tranh độc đáo về thế giới, dựa trên sự suy tưởng về cái bé nhất,

không phân chia, nhưng suy tưởng đó xuất phát từ cảm nhận về thế giới hữu hình

muôn vẻ, đa dạng Việc xem nguyên tử, với tính cách là tồn tại, và khoảng không, với tính cách là hư vô, đều là điểm xuất phát của thế giới vật lý, là sự phát triển

hợp lý hơn học thuyết của trường phái Elê về tồn tại và hư vô (luận điểm cơ bản

của trường phái này: chỉ tồn tại cái đang tồn tại, cái được tư duy, không tồn tại cái không tồn tại, cái không được tư duy) Thuyết nguyên tử xem vận động là

thuộc tính quan trọng nhất của nguyên tử, nghĩa là cũng vĩnh viễn như nguyên tử.Các nguyên tử vận động trong khoảng không – bể chứa các nguyên tử, mà khôngcần bất kỳ sự khởi động nào, bất kỳ nguyên nhân nào Khi đẩy nhau, các nguyên

tử thay đổi hướng vận động, hình thành nên các chủng loại sự vật với những chấtkhác nhau Các nguyên tử bất biến và vĩnh viễn, nhưng sự vật như phức hợp cácnguyên tử thì biến đổi và hữu hạn Với cách giải thích ấy Đêmôcrít dung hòaHêraclít và Pácmênhít, người sáng lập thực sự trường phái Elê: thừa nhận tínhbiến đổi của thế giới các sự vật và tính không biến đổi của thế giới các yếu tố(nguyên tử) cấu thành sự vật Đêmôcrít đã đến gần với cách tiếp cận vấn đề quan

hệ giữa tính vô hạn và tính hữu hạn, giữa thực tại khách quan cảm tính và thực tại

siêu cảm tính, giữa thực tại kinh nghiệm và thực tại siêu nghiệm.

Đồng nhất tính nhân quả và tính tất yếu, loại trừ khả năng của tính ngẫunhiên, các nhà nguyên tử luận một mặt bác bỏ sự can thiệp của các lực lượng siêu

nhiên vào quá trình thế giới, mặt khác sử dụng nguyên tử luận để giải thích trật tự

đã ổn định của xã hội, khẳng định các giá trị đạo đức bền vững Tuy nhiên điều

này càng chứng tỏ nền dân chủ chủ nô đang gặp khủng hoảng, cần đến sự luậnchứng về tính hợp lý của nó Vào thế kỷ IV – III TCN, tức thời kỳ Hy Lạp hóa lầnthứ nhất (gắn với sự bành trướng của Alếchxanđơ xứ Maxêđoan và hậu quả củanó), sự bất ổn và tình trạng phân hóa xã hội đã chi phối nugyên tử luận của

Epiquya (Epicuros, khoảng 342 – khoảng 270 TCN) C Mác (K Marx) trong

luận án tiến sỹ của mình “Sự khác nhau giữa triết học tự nhiên của Đêmôcrít và triết học tự nhiên của Epiquya” đã có ba phát hiện về đặc rưng của nguyên tử luận

Trang 21

Epiquya, đó là: 1) xu hướng nhân bản hóa nguyên tử luận, thông qua dao động tự

do, sự đi chệch quỹ đạo của các nguyên tử khẳng định khát vọng “tự do tự ý thức”

của cá nhân, khát vọng phá vỡ các chuẩn mực lỗi thời trói buộc con người; 2)chống lại thói quen tín ngưỡng, sự mê tín và tâm lý sùng bái thần linh, một mìnhlên tiếng chống lại cả cộng đồng, ví như Prômêtê thách thức thần Dớt, đem lửađến cho con người (Mác xem Epiquya là “nhà khai sáng vĩ đại bậc nhất” của thểgiới Hy Lạp); 3) sự kết hợp nguyên tử luận với duy cảm luận và chủ nghĩa khoáilạc, qua đó đề cao phẩm giá của “con người sống thực”

Epiquya là đại biểu cuối cùng của nguyên tử luận, nhưng đó không còn là nguyên tử luận như một học thuyết thuần túy về thế giới vật lý nữa; nó đã mang thông điệp bất khuất của những con người dám thách thức cả một trật tự xã hội Đỉnh cao của chủ nghĩa duy vật Hy Lạp cũng báo hiệu sự suy thoái của nó Triết học tự nhiên nhường chỗ cho những hướng đi mới, ở đó con người không chỉ là chủ thể, mà còn là đối tượng

Một số đặc điểm (và dấu hiệu) của chủ nghĩa duy vật trong triết học Hy Lạp – La Mã cổ đại

Trong triết học phương Tây cổ đại Hy Lạp là người mở đường, đồng thờiđưa chủ nghĩa duy vật chất phác đến nấc thang “cổ điển”, còn La Mã là người kếthừa, cụ thể hoá nội dung vốn có, song chưa thể tạo nên những đột phá lớn, mà chỉ

là sự lặp lại mô típ tư duy sẵn có, bớt “hàm lâm” hơn, giàu tính “thực tế” hơn.Trên thực tế các nhà tư tưởng La Mã đều tự hào tuyên bố mình là người La Mã đã

“Hy Lạp hoá”

- Dấu hiệu đặc trưng đầu tiên của tư tưởng duy vật ở Hy Lạp là sự ra đời của

nó gắn liền với quá trình giải phóng tư duy khỏi bức tranh huyền thoại về thế giới,thay tư duy hình tượng – biểu tượng bằng tư duy ở trình độ khái niệm, thay sùngbái thần linh bằng sự đề cao lý trí con người Cho nên cách hiểu triết học (từnguyên Hy Lạp viết theo chữ Latinh: philosophia) là sự thể hiện khát vọng (yêumến) vươn đến sự thông thái thần linh, đồng thời thế tục hoá sự thông thái đó Tạisao sự ra đời của triết học tại Hy Lạp lại gắn với sự hình thành (một cách tự phát)

tư tưởng duy vật?

- Mối liên hệ giữa chủ nghĩa duy vật với trình độ khoa học, nhất là khoa học

tự nhiên, dù lĩnh vực này đang trong dạng phôi thai, mầm mống Mối liên hệ nàymang tính tất yếu, tạo nên xung lực cho quá trình phát triển của chủ nghĩa duy vật.Phần lớn các nhà duy vật (các nhà triết học nói chung) đều có kiến thức sâu sắc về

tự nhiên, hoặc đồng thời là nhà khoa học (sophos) Nhờ sự hiểu biết này mà họ đã

Trang 22

cố gắng vượt qua thói quen tư duy truyền thống, tạo cho mình hướng đi riêng,không lặp lại Điều này lý giải vì sao trong cuộc tranh luận về bản nguyên thế giớitinh thần phản biện được đẩy mạnh, thậm chí đến mức độ gay gắt Anaximandroskhông chấp cái cụ thể hữu hình (nước) như khởi nguyên thế giới, mà đưa raapeiron như yếu tố vật chất giả định, cái “bất định”, vô hạn, nhưng lại là cơ sở cho

sự hình thành và chuyển hoá của các sự vật, hiện tượng Như thế là ông đã vươnđến quan điểm thực thể, bản chất (substance) về cơ sở của tồn tại Anaxago nhấnmạnh đến khía cạnh “chất” trong sự hình thành vạn vật Nguyên tử luận(Leucippos và Democritos, Epicuros) nói đến nguyên tử (atomos) như cái bé nhất,bất khả phân và “hư không” như bản nguyên của thế giới… Trong mối liên hệgiữa triết học và khoa học cả hai đều cùng phát triển với sự tác động và chi phốilẫn nhau Tính biện chứng tự phát, bẩm sinh thể hiện ở phần lớn các học thuyếtduy vật, với những mức độ khác nhau, trong đó Hêraclít là người tiêu biểu

- Xét từ cách tiếp cận chính trị - xã hội, chủ nghĩa duy vật thường thể hiệnlập trường của các lực lượng tiến bộ trong cuộc đấu tranh chống lại những tàn tíchcủa cái lỗi thời, hoặc các lực lượng chính trị bảo thủ, vì chủ nghĩa duy vật, trongnội dung của nó, đã hàm chứa những yếu tố tích cực, hiện thực

Tuy nhiên, như đã nói trên, tri thức khoa học ở Hy Lạp cổ đại còn trong tìnhtrạng tản mạn, sơ khai, trình độ nhận thức chung còn thấp đã góp phần tạo nênmột đặc điểm cơ bản của chủ nghĩa duy vật thời đó:

- Tính chất trực quan, chất phác, ngây thơ, gắn với trình độ của khoa học vànhận thức, sự hiện diện của tư duy huyền thoại Quan điểm về thế giới ở chủnghĩa duy vật thời này phần lớn căn cứ vào sự quan sát trực tiếp, sự cảm nhận haysuy tưởng của các triết gia, không được luận chứng bằng các dữ liệu khoa học.Hơn nữa, xét theo quan điểm của vật lý học hiện đại thì cách tiếp cận về bảnnguyên như “viên gạch đầu tiên xây nên tòa lâu đài vũ trụ”, hay như “cái mà từ đómọi thứ sinh ra và trở về” chưa thực sự hợp lý

- CNDV ra đời và phát triển trong sự phân cực về thế giới quan – cuộc đấutranh giữa “đường lối Đêmôcrít” và “đường lối Platôn”; cuộc đấu tranh ấy là độnglực thực sự của sự phát triển tri thức triết học

Chủ nghĩa duy tâm không tự nhiên xuất hiện Một mặt, nó gắn liền vớinhững vấn đề của xã hội, với tình trạng không thỏa mãn và khát vọng vượt quanhững chướng ngại đối với tâm hồn bằng những phương thức khác nhau Mặtkhác, theo Lênin, chủ nghĩa duy tâm là sự phát triển một cách thái quá một mặt,một khía cạnh của nhận thức, tách khỏi mảnh đất trần tục, hiện thực

Trang 23

*Khái quát sự phát triển của CNDV chất phác, sơ khai tại phương Tây

Sơ khai Cực thịnh Hy Lạp hoá, La

Mã Bản thể luận

(BN)

“nhất trường phái Milet, Ephese

nguyên”-“đa Empedosles,

nguyên”-Anaxagoras, nguyên tử

luận Leucippos

và Demokritos

“đa nguyên”, nhânbản hóa –

Epicuros, Lucretius (231)

Nhận thức Hêraclít:

lý trí-logos Emped: cảm

tính – lý tính: lýtính sâu sắc hơn,cảm tính hiện thựchơn

Demokritos:

phân biệt cảm giác

và tư duy, đề cao

lý tính

Epicuros:

ưu thế của cảmgiác (duy cảmluận); vấn đề tiêuchuẩn chân lý(224-225); lôgíchọc

Đạo đức,

chính trị Milet: Chưa

đặt ra, hoặc đặt ra một cách trừu tượng

Heraklitos:

coi trọng quyền và

pháp luật (dưới dạng cách ngôn)

Emped:

thanh tẩy

Anaxagoras:

Demok: đề cao giáo dục, tình bạn, “hiền nhân”, ủng hộ dân chủ

Epic:

Nguyên tắc khoáilạc, chủ nghĩahạnh phúc, khaisáng (Prometei)

Trang 24

Anaxagoras:

Epic: Bác

bỏ vai trò của thầnlinh; chống lạithói quen ý

apeiros= không khí, sinh khí

Herak: lửa –

vũ trụ, thần linh,con người

Nous Dem: Khôngthừa nhận sự canthiệp của thần linh;

tôn giáo là sảnphẩm của

(Anaximandros)

Emped g/t nguồn gốc sự sống dựa

theo nhân hình hóa

Anax:

nguồn gốc từ bên ngoài

- Demok:

nguồn gốc

tự nhiên của

sự sống;

Bậc tiền bốicủa lôgíc quy nạp;

gợi mở khoa học

Epi: vật lýhọc (225);

Nhận định từ bảng so sánh:

- Sơ khai: triết học tự nhiên thuần túy, cực thịnh: mở rộng sang nhận thức,

đạo đức, chính trị; Hy Lạp hóa: triết học ít tính “hàn lâm” siêu hình, giàu tính thựctiễn, thay những vấn đề tầm mức vũ trụ bằng những mảnh vụn của đời thường,

16 Huyền học (occultism, nguyên gốc Latinh: occultus, nghĩa là bí hiểm, thầm kín): tên gọi chung của các học thuyết thừa nhận sự tồn tại các lực lượng bí hiểm trong con người và vũ trụ mà kinh nghiệm phổ biến không thể đạt tới, chỉ dành cho những người đã có những trải nghiệm đặc biệt và sự khổ luyện kỳ công Ở khía cạnh triết

Trang 25

thay con người lý tưởng bằng con người-cá nhân; CNDV: nhân bản hóa các vấn

đề tự nhiên, vũ trụ; đánh giá của Marx về Epic trong luận án tiến sĩ: 1) Nhân bảnhóa; 2) vô thần; 3) duy cảm luận và chủ nghĩa lạc quan trong thế giới đầy ắp biquan

- Dấu ấn của tư duy huyền thoại còn ở cả duy vật sơ khai lẫn thời cực

2 “Đường lối Platôn”, hay chủ nghĩa duy tâm trong triết học Hy Lạp cổ đại

Những học thuyết được quy thành “duy tâm” không phải là những yếu tố

ngẫu nhiên, tàn dư, mà chính là một phần tất yếu của lịch sử triết học; nó cho

phép nhận thức đầy đủ hơn tính phức tạp của đời sống xã hội, được phản ánhtrong tư tưởng Vì vậy xét đoán một học thuyết là duy tâm hay duy vật căn cứ vào

không chỉ trình độ nhận thức, mà cả nhu cầu tâm lý, tinh thần của xã hội Chủ

nghĩa duy tâm trong triết học Hy Lạp cổ đại đối lập với “triết học tự nhiên”, tứcchủ nghĩa duy vật, nhưng sự đối lập ấy mở ra hướng đi mới trong nghiên cứu, tìmhiểu các vấn đề nhân sinh, xã hội, các vấn đề mà trước đó ít được đề cập

Hơn nữa, cũng theo Lênin, việc đối lập vật chất và ý thức chẳng qua chỉnhằm giải quyết vấn đề cơ bản của triết học; ngoài điều đó ra mọi sự đối lập mộtcách giản đơn và máy móc trở nên vô nghĩa, nếu không nói là có tác dụng ngượclại Tính chất phiến diện của chủ nghĩa duy tâm ở khía cạnh nhận thức luận là sự

thực hiển nhiên, song việc nhấn mạnh, dù dưới hình thức cực đoan, cái Tôi tự ý thức hay cái tuyệt đối tinh thần bên ngoài con người cũng là cách bày tỏ sự ngạc nhiên thú vị trước năng lực nhận thức “siêu phàm” của con người Lịch sử từng

chứng kiến nhiều nhà duy tâm là những tên tuổi lớn của văn hóa (họ duy tâm ởmột khía cạnh của tư tưởng) như Platôn, Arixtốt, Thômát Aquinát (ThomasAquinas), Cantơ (Kant), Hêghen, mà đóng góp của họ vào kho báu của văn hóanhân loại là không thể phủ nhận

Trang 26

Chủ nghĩa duy tâm trong triết học cổ đại phương Tây xuất hiện từ chính sựphát triển nội tại của triết học Hy Lạp, bắt đầu từ những yếu tố vật hoạt luận,thuyết nhân hình hóa, thuyết luân hồi, vật linh thuyết, ẩn mình trong các họcthuyết được gọi là duy vật như trường phái Milê, Hêraclít, Empeđốc Bên cạnh đó

do chịu ảnh hưởng của văn hóa và tôn giáo phương Đông (vùng Trung Cận Đông

và Bắc Phi) tại Hy Lạp đã hình thành những liên minh khoa học - triết học – tôn

giáo đậm chất huyền học, chẳng hạn Liên minh Pitago (Pythagoras) với quan

niệm về các con số huyền thoại như bản chất của thế giới, về linh hồn bất tử và về

sự luân hồi, hay trường phái Mêga Liên minh Pitago Xôcrát (469 – 399 TCN) và trường phái Mega tạo nên con đường đưa đến chủ nghĩa duy tâm Platôn như một

hệ thống

Ba yếu tố tiền đề dẫn đến CNNT như một hệ thống: 1) thần thoại; 2) hạnchế của CN duy vật; 3) liên minh Pythagoras

Hạn chế của CNDV là cơ hội của CNDT – điều này đã thành quy luật

a Bước ngoặt Xôcrát

Thời kỳ cổ điển của triết học Hy Lạp gắn với “bước ngoặt Xôcrát”, vốn là

người thuộc phái Biện thuyết Phái này ra đời tại Aten trong bối cảnh hưng thịnh của nền dân chủ chủ nô Các đại biểu của nó, đứng đầu là Prôtago (Protagoras,

480 – 410 TCN), xem truyền thụ nghệ thuật tranh biện cho các công dân là công

việc kiếm sống của mình Từ tuyên bố “con người – thước đo của vạn vật”, phái

biện thuyết đi đến nhấn mạnh tính tương đối của tri thức, và trượt dài đến chủ

nghĩa hoài nghi với quan điểm của Góocgi (Gorgias, 483 – 375 TCN) “không có

gì (tồn tại) cả” Triết học Xôcrát khắc phục cả “triết học tự nhiên” (thứ triết học

“bỏ quên con người” trong đối tượng tìm hiểu của mình) lẫn phái Biện thuyết (thứhọc thuyết xem thường chân lý khách quan, chủ trương đánh bóng ngôn từ, bẻcong chân lý)

“Hãy nhận biết chính mình!” Với tuyên bố đó Xôcrát đã kết thúc triết học

tự nhiên và mở ra trang sử mới cho triết học về con người, dưới tên gọi Đạo đức học (duy lý), với cách hiểu mới về triết học như phương tiện dạy con người “sống

tốt và sống đẹp” (lưu ý: tốt và đẹp ở Xôcrát thống nhất với nhau, vì ông thiên vềcái đẹp tâm hồn) Triết học về con người của Xôcrát đề cao phương pháp tiếp cậnchân lý, ngầm hiểu là tri thức chân lý trong đời sống đạo đức, tức cái Thiện phổquát Phương pháp Xôcrát được gọi là phương pháp “đỡ đẻ”, vì nó liên tưởng đếnhình ảnh người mẹ sinh ra con nhờ sự giúp sức của bà mụ Người thầy cũng vớitính cách ấy giúp học trò sinh ra tri thức, chân lý Phương pháp Xôcrát bắt đầu

Trang 27

bằng luận đề “Tôi biết rằng tôi không biết gì cả!” Câu đó ngụ ý rằng trong cuộcsống, trong ứng xử cần biết khiêm tốn, luôn tự nhủ mình chưa biết để từ điểm

“không” ấy đi từng bước thận trọng đến với chân lý, lẽ phải Đó cũng là thái độdứt khoát đối với sự ngộ nhận và bệnh kiêu căng Đôi khi người ta tưởng rằngmình biết nhiều thứ, nhưng hóa ra chẳng biết bao nhiêu Bốn bước của quá trìnhđến với chân lý - mỉa mai, đỡ đẻ, quy nạp, xác định – có thể rút gọn thành haibước cơ bản: bước thứ nhất là gợi mở một con đường, bước thứ hai là quan sát,thu nhận, chắt lọc, xử lý chất liệu cuộc sống để hiểu đúng bản chất sự vật, gọiđúng tên của nó, đặt nó vào vị trí thích hợp

Từ góc độ thế giới quan triết học Xôcrát còn là minh chứng về bước ngoặt

từ chủ nghĩa duy vật sang chủ nghĩa duy tâm Về hình thức Xôcrát là nhà duy tâm

chủ quan, song xét cách lý giải bản chất không thể bị hủy diệt của linh hồn thì đó

là chủ nghĩa duy tâm khách quan, là tiền đề trực tiếp của chủ nghĩa duy tâm khách

quan Platôn Nhưng tại sao CNDT Xôcrát lại gắn với đạo đức học của ông?Nguyên nhân nằm ở cách hiểu của ông về thiên chức của triết học, về cơ sở của sựthống nhất linh hồn và thân xác, và về nguồn gốc sâu xa của linh hồn con người.Xôcrát cho rằng tin vào sự bất tử của linh hồn là sự mạo hiểm đẹp đẻ và nên thơ

(tác phẩm đối thoại Phedon) Như vậy chủ nghĩa duy tâm Xôcrát thể hiện ở sự bản thể luận hóa khái niệm và linh hồn, ở sự giải thích có tính chất thần linh cơ sở

của nhận thức Chủ nghĩa duy tâm đó đã thần thánh hóa năng lực nhận thức củacon người, và chính vì thế đi đến phát triển thái quá, phiến diện “một trong nhữngđặc trưng, một trong những mặt, của một trong những khía cạnh của nhận thức…”

17

Bi kịch cuộc đời của Xôcrát là bi kịch của một con người đứng ở lằn ranhgiữa hưng thịnh và khủng hoảng, thiện và ác, lòng trắc ẩn và sự thù hận Nền dânchủ chủ nô đang biến thành trò chơi dân chủ, những người như Xôcrát khó tránhkhỏi tai họa “Nhận thức chính mình” – thông điệp đó của Xôcrát được các học tròlàm sâu sắc thêm bằng tuyên bố “thoát về với mình” (thoát ra khỏi trạng thái hiện

có của xã hội, trở về với mình) Phái Mêga (do Ơcơlít sáng lập, chết sau 369 TCN,

một trong những học trò thân cận của Xôcrát, nhấn mạnh điều lợi), phái Khuyển

nho (do Antixten sáng lập) và phái Khoái lạc (phái Cyren, do Arixtíp sáng lập)

tìm kiếm những cách thức khác nhau để “thoát về với mình”

Phái Khuyển nho và phái Khoái lạc là hai trường hợp “thoát về với mình”hoàn toàn khác nhau Phái Khuyển nho (những con chó có học thức, sống langthang, bất chấp đạo lý, cắn người ta không bằng răng, mà bằng lời) chủ trương trở

17 V.I.Lênin, Toàn tập, t.29, TB, M, 1981, tr 385

Trang 28

về với thiên nhiên qua 4 nguyên tắc sống cơ bản: nguyên tắc 1 nhấn mạnh “tự

nhiên là thước đo của tất cả!” Ở đây “tự nhiên” được xem xét không hẳn ở khíacạnh bản thể luận (giới tự nhiên), mà ở khía cạnh đạo đức, qua đó các nhà tư

tưởng nói đến quyền tự nhiên của con người Sống hạnh phúc là sống theo lẽ tự

nhiên Hơn hai mươi thế kỷ sau thông điệp ấy vang lên như sự khẳng định giá trị

người (tư tưởng khai sáng thế kỷ XVII – XVIII tại Tây Âu) Nguyên tắc 2 nhấn mạnh khổ hạnh như sự giải thoát Đó là thứ tự do tâm linh, nhưng cũng đồng thời

là tự do chối bỏ, tiêu cực Nguyên tắc 3 đề cao đức hạnh, xem nó như cơ sở vuơn

đến điều thiện Ưu điểm của cách tiếp cận này ở chỗ mặc dù thống nhất tri thứcvới đức hạnh, song phái Khuyển nho vẫn đánh giá cao lao động như sự nhận thức

và hiện thực hóa cái Thiện Nguyên tắc thứ tư gắn với chủ nghĩa cá nhân đặc thù

của phái Khuyển nho: đem cá nhân chống lại các chuẩn mực đạo đức xã hội đang

bị băng hoại Như vậy phái Khuyển nho là sự dự báo quá trình thoái hóa của triếthọc Hy Lạp cổ đại, khi những giá trị đạo đức đang bị xáo trộn, bị hoài nghi Hoàn toàn đối lập với phái Khuyển nho, phái Khoái lạc sơ kỳ đưa ra nguyêntắc “khoái lạc trên hết”, xem khoái lạc là điều thiện, đau khổ là điều ác, chế giễulối sống khổ hạnh, nghèo túng quá đáng của phái Khuyển nho Đối với Arixtíp vàcác môn đệ sống trước hết là hoạt động, nếm trải, hưởng thụ, thỏa mãn nhu cầuchính đáng của con người, thay vì né tránh hay chối bỏ Đó cũng là cách “thoát vềvới mình” hiệu quả nhất

Xôcrát có cực đoan không? Để giải đáp câu hỏi này, thử so sánh Xôcrát vớiKhổng Tử bên Trung Quốc, người sống trước Xôcrát cả trăm năm (551 – 479TCN), nhưng có nhiều nét tương đồng về tư tưởng và phong cách thể hiện tưtưởng Chính thực tiễn xã hội tại Trung Quốc thời Xuân Thu và tại Hy Lạp thời kỳkhủng hoảng nền dân chủ chủ nô đã tạo nên nét tương đồng ấy Với tư cách làngười khai mở một trang sử trong triết học, Xôcrát đã điều chỉnh cách hiểu về đối

tượng triết học, đưa nó từ trên trời xuống dưới đất, tạo nên hướng đi mới hài hòa

và bền vững hơn, vì thế giới của con người, theo Xôcrát, không bí hiểm như thếgiới của thần linh (ngụ ý vũ trụ xa cách con nguời), là mối quan tâm hàng đầu vàluôn luôn thiết thực Việc đẩy giới tự nhiên ra khỏi đối tượng triết học không nênchỉ hiểu theo nghĩa Xôcrát đi từ thái cực này sang thái cực khác, mà còn theonghĩa ông đã cảm nhận sự bế tắc của những cuộc tranh luận triền miên, vô bổ vềnguyên nhân đầu tiên của vạn vật Sự thận trọng như vậy là cần thiết Thêm một

điểm nữa: sự mở đường của Xôcrát còn có thể hiểu là khi chuyển sự quan tâm

sang con người cần phải giải đáp những vấn đề của chính con người, của thế giới của con người, chẳng hạn ý nghĩa của cuộc sống là gì? Đâu là những

Trang 29

chuẩn mực, những giá trị cần thiết cho việc hoàn thiện con người? Thiết chế

xã hội nào là thiết chế xã hội tốt đẹp, được xác lập trên sự hiểu biết bản chất con người? Sau cùng, những biểu hiện đặc trưng nào (tôn giáo, nghệ thuật, triết học, đạo đức, thẩm mỹ, khoa học …) minh chứng cho hoạt động sáng tạo của con người với tính cách là một thực thể biết tư duy? Và nhiều vấn đề khác liên quan đến vị trí và số phận con người

Những người đi sau không làm theo Xôcrát một cách máy móc Họ khônggiới hạn đối tượng, mà mở rộng đối tượng nghiên cứu, đáp ứng nhu cầu nhận thứcngày càng đa dạng của xã hội Đó cũng là biểu hiện của phong cách tư duy

phương Tây, được cô đọng qua thuyên bố của Arixtốt: “Cả thầy và bạn đều quý, nhưng chân lý quý hơn!”

Như vậy vai trò của Xôcrát đối với sự phát triển của triết học Hy Lạp cổ đại

là đã đặt nền móng cho sự phát triển mạnh mẽ và toàn diện hơn của tư duy triết

học Chỉ có cách tiếp cận ấy mới thấu hiểu đóng góp của ông vào kho báu của vănhóa tinh thần chung

Trong lịch sử chủ nghĩa duy tâm cổ điển, hay “thời kỳ Xôcrát” (để phân biệtvới “thời kỳ trước Xôcrát”) Xôcrát là người khai mở, Platôn là người phát triển,Arixtốt là người điều chỉnh

b Platôn – từ học thuyết “ý niệm”và linh hồn đến mô hình nhà nước lý tưởng

Lưu ý: 1) thuật ngữ idea bao hàm nhiều nghĩa, trong đó nổi bật hai nghĩa là

ý niệm, hay ý tưởng, tư tưởng, và lý tưởng Thế giới ý niệm vừa khuôn mẫu, cũng

có nghĩa là mục đích, cái tuyệt đối, cái lý tưởng đối với các sự vật 2) sự nhất quántrong cách trình bày của Platôn về ý niệm, linh hồn, sự phân tầng xã hội và môhình nhà nước lý tưởng

Platôn (Plato, Platon, 427 – 347 TCN) là người đã xác định sự phân cực

tất yếu về thế giới quan, đồng thời tự xem mình là nhà duy tâm đích thực Trong tác phẩm đối thoại “Sophistes” Platôn viết: “Một số (triết gia) đưa mọi thứ từ trên

trời và từ lĩnh vực của cái vô hình xuống mặt đất… dứt khoát rằng chỉ những gìtiếp cận được, sờ được thì mới tồn tại, và xem vật thể và tồn tại chỉ là một”, một

số khác chủ trương “tồn tại đích thực là những idea phi vật thể và phi cảm tínhnào đó” Ông đã hệ thống hóa và phát triển chủ nghĩa duy tâm khách quan doXôcrát khởi xướng thành các nguyên lý cơ bản, thể hiện trong bản thể luận, nhậnthức luận và học thuyết đạo đức – chính trị Platôn đem đối lập thế giới các “ýniệm” như thế giới tồn tại đích thực với thế giới các sự vật cảm tính Các ý niệm

Trang 30

là khuôn mẩu, chuẩn mực chung của các sự vật đơn nhất, những thứ chỉ đáng xem

là tồn tại khác của chúng

Trong cấu trúc bản thể luận của Platôn nổi bật sự phân tầng vật chất (bảnnguyên thụ động) – ý niệm (bản nguyên tích cực) – linh hồn vũ trụ – Thượng đế(với tư cách kiến trúc sư, hay Hóa công vũ trụ) Cặp phạm trù vật chất – ý niệmgiới hạn mình ở linh hồn vũ trụ Trong tương tác ấy vật chất, ý niệm và linh hồnđóng vai trò nguyên nhân của thế giới vật thể, mà trật tự của nó được bảo đảm bởiHóa công, Người tạo dựng, hay Thượng đế Thượng đế biến hỗn mang thành trật

tự, đặt trí tuệ vào linh hồn, đặt linh hồn vào thân xác Thượng đế là khởi đầu,trung gian, và tận cùng của tất cả; là khởi đầu, vì từ đó mọi thứ diễn ra (chứ khôngphải sinh ra); là trung gian, vì Thượng đế là bản chất của tất cả; là tận cùng, vì tất

cả đều huớng tới Thượng đế

Kết cấu ba cấp độ của linh hồn con người lý trí – ý chí – tình cảm (dục vọng) cho thấy nó là sự thể hiện của linh hồn vũ trụ Phẩm chất con người được

đánh giá theo biểu đồ tương tự, qua đó chứng tỏ rằng ai cũng có thể nhận thức,nhưng năng lực nhận thức không như nhau Platôn đưa ra ba hạng người điển hình

là triết gia, các chiến binh, những người nông dân, thợ thủ công Cách hiểu ấycũng được Platôn vận dụng vào việc phân tích nguồn gốc và cơ sở của nhận thứcvới tuyên bố “tri thức – đó là sự hồi nhớ”, là sự đánh thức trực giác, tức khả năngchiêm nghiệm trực tiếp về khách thể dưới sự dẫn dắt của ánh sáng trí tuệ Phươngpháp hồi nhớ, phương pháp giúp đánh thức nơi tâm hồn những gì từng có ở thếgiới lý tưởng và bị đánh mất trong quá trình va chạm với thực tại cảm tính, chính

là phép biện chứng Theo một số nhà nghiên cứu, thuật ngữ “lôgíc” đã được

Platôn đưa vào nội dung của phép biện chứng Phép biện chứng và thuật tranhbiện (eristics) đều nhấn mạnh tinh thần đối thoại, song nếu phép biện chứng lànghệ thuật đối thoại nhằm đạt đến tri thức chân lý, thì thuật tranh biện – đó là

tranh luận chỉ để tranh luận Thế nào là biện chứng đi lên và biện chứng đi xuống?

Biện chứng đi lên là khả năng đưa mọi thứ tản mác về ý niệm duy nhất thông qua

cái nhìn chung bao quát tất cả Sự vận động ấy vươn đến ý niệm lợi ích như ý

niệm tối cao Biện chứng đi xuống thể hiện khả năng phân tích tất cả ra nhữngloại thể, cho đến khi nào không thể phân chia về mặt lôgíc được nữa

Chủ nghĩa duy tâm khách quan Platôn thể như thế nào trong đạo đức và chính trị?

Về đạo đức, Platôn nhấn mạnh 4 đức hạnh (phẩm hạnh) cơ bản, trong đó có

3 đức hạnh ưu thế đối với từng hạng người, 1 đức hạnh phổ biến, có ý nghĩa chính

trị – xã hội đặc biệt Sự phân loại này chỉ tương đối, bởi lẽ tiết độ, can đảm là đòi

Trang 31

hỏi không chỉ đối với tầng lớp thấp, còn khôn ngoan, dù Platôn dành cho triết gia, song đó lại là điểm yếu trong lập luận của ông, một sự lập luận máy móc và có tính chất tượng trưng “Công bằng” là đức hạnh chính trị, vì nó gắn với mục tiêu

của nhà nước lý tưởng

Về chính trị, Platôn cho rằng các chế độ nhà nước hiện tại đều là sự xuyên

tạc bản chất cần có của nhà nước, không hẳn vì chúng dựa trên sự bất bình đẳng

xã hội, mà vì sự bất bình đẳng ấy được xác lập không phù hợp với sự bất bình

đẳng tự nhiên, bất bình đẳng một cách công bằng của con người Nền dân chủ là

điển hình cho sự xuyên tạc này; nó là hệ thống của đa số vô danh, không biết đếntrách nhiệm cá nhân Con người điển hình của nhà nước dân chủ là “vô sỉ, buôngthả, hư đốn, thô tục, song sự vô sỉ được gán cho khai sáng, sự buông thả – tự do,

sự hư đốn – sự hoa mỹ, sự thô tục – can đảm” Phê phán nền dân chủ do tính mâuthuẫn, tính man rợ hóa, tính thiếu quyết đoán và tính cực đoan của nó, Platônhướng đến mô hình nhà nước công bằng như mô hình lý tưởng – sự kết hợpphương thức cai trị kiểu Sparta và những dấu ấn tốt đẹp của thị quốc Athens trong

quá khứ Bốn nguyên tắc của nhà nước lý tưởng thể hiện ở phân tầng xã hội, chủ thể quyền lực, tổ chức đời sống và quản lý, giáo dục toàn diện Công bằng khác

với cào bằng, nguyên tắc công bằng có tính đến khả năng của từng cá nhân, từng

đẳng cấp xã hội, nói khác đi, nó chấp nhận sự bất bình đẳng tự nhiên theo lẽ công bằng 18

Chủ nghĩa không tưởng Platôn vạch ra hạn chế của nền dân chủ chủ nô vàmong muốn thay thế nó bằng mô hình nhà nước lý tưởng, lấy ổn định chính trịlàm tiêu chí đầu tiên Ông phê phán nền dân chủ không từ lập trường dân chủ, mà

từ lập trường của quý tộc chủ nô Điếu này giải thích vì sao trong tinh thần phêphán và tinh thần sáng tạo (không tưởng) của Platôn những mảng sáng tối, nhữngmặt tích cực và hạn chế đan xen nhau Đối với Platôn sự suy thoái của nền dânchủ là không thể cứu vãn

Điều gì được và chưa được trong mô hình nhà nước lý tưởng của Platôn?Nét nổi bật trong không tưởng chính trị của Platôn là ước muốn tha thiết về một

xã hội công bằng (theo cách hiểu của ông), nơi mọi thứ tuân theo lẽ tự nhiên, kỷcương nghiêm minh, chính trị ổn định, chủ quyền quốc gia được đảm bảo, đưamọi cái tản mác về sự thống nhất, hướng đến lợi ích chung, hình thành một nềngiáo dục có tính hệ thống, tính sàng lọc cao và tính hướng thiện triệt để Mô hìnhPlaôn là sự trải nghiệm của một con người chứng kiến những bước thăng trầm của

18 Xem thêm: Nhà nước

Trang 32

nền dân chủ, những cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn, cái chết của người thầyđáng kính, và sau cùng, sự khủng hoảng giá trị trong đời sống xã hội

Giới hạn của thời đại không cho phép Platôn đi xa hơn, những phác thảocủa ông vẫn tỏ ra gượng ép và mang trên mình các yếu tố cực đoan Thiết kế đạo

đức – chính trị của Platôn là thiết kế của nhà duy tâm, từ phân tầng xã hội đến vấn

đề chủ thể quyền lực (sự phân tầng dựa trên các tố chất tinh thần, quyền lực chínhtrị được trao vào tay những nhà thông thái, những triết gia…) Ngay cả quan niệm

về công bằng của ông cũng chỉ nhằm biện minh cho chế độ quý tộc chủ nô, màchế độ đó, xét đến cùng, không phải là sự lựa chọn tối ưu lúc ấy Platôn phê phán

sự cào bằng, nhưng ông lại chủ trương một xã hội không cần gia đình, tư hữu, mộtnền giáo “đâu vào đó”, thủ tiêu mọi nỗ lực đột phá sáng tạo, vượt qua lối mòn củanhững chuẩn mực không còn phù hợp với sự tiến bộ của lịch sử Sự e dè, thậntrọng, những trải nghiệm bi kịch đã buộc Platôn thiên hẳn về chế độ quả đầuSparta Rất có thể mô hình chủ nghĩa cộng sản trại lính của Platôn không thủ tiêu

con người nói chung, nhưng thủ tiêu con người cá nhân Thế kỷ XX đã qua từng

chứng kiến bóng dáng của mô hình đó “Chủ nghĩa cộng sản bình quân, thô lỗ,

theo Mác, không nhất trí với chủ nghĩa nhân đạo, bởi lẽ, một là, nó phủ định cá tính của con người, áp đặt một cách tuyệt đối lên con người cá nhân những chuẩn mực máy móc, định sẵn của cộng đồng; hai là, giới hạn nhu cầu của con người ở mức tối thiểu; ba là, tư tưởng chiếm hữu đối với phụ nữ, biểu hiện dung tục của

chế độ cộng thê, biến người phụ nữ thành “sở hữu xã hội và sở hữu chung”,

“chiến lợi phẩm và nữ tỳ của khoái lạc xã hội”19

Mặc dù vậy, lòng nhiệt thành và những suy tư về một xã hội tốt đẹp, lýtưởng trong thời đại khủng hoảng của nền dân chủ chủ nô, sự phê phán nghiêmkhắc những khuyết tật của nó, trách nhiệm của nhà tư tưởng đối với sự tồn vongcủa thị quốc – những điều đó đáng được ghi nhận và trân trọng Sôpenhauơ(Schopenhauer) viết: “Mỗi nhà triết học hôm qua và mai sau đã và sẽ chịu ơnPlatôn Các tác phẩm của ông là trường học đích thực…” Phiđen Cátxtrô tỏ rađặc biệt thiện cảm với “tình yêu lý tưởng kiểu Platôn”

c Arixtốt – sự tổng kết lịch sử triết học Hy Lạp thời cực thịnh, bộ óc

19 Xem: C Mác, Bản thảo kinh tế – triết học năm 1844, trong C.Má ́c và Ph.Ăngghen, Toàn tập, t.42, CTQG,

HN, 2000 tr.166 – 167 v.v

Trang 33

bách khoa của thế giới cổ đại

C.Mác: “Triết học hiện đại chỉ tiếp tục cái công việc do Hêraclít và Arixtốt

mở đầu mà thôi”20 và “Người Hy Lạp sẽ mãi mãi là những người thầy của chúngta…”21 Hiểu thế nào cho đúng?

1) Hêraclít (520 – 460 TCN) là người mở đầu một phong cách tư duy mới, đi

sâu vào bản chất thế giới nhằm giải đáp câu hỏi “như thế nào?”, chứ không chỉ là

“từ đâu?” và “là gì?”, là “ông tổ” của phép biện chứng theo nghĩa hiện đại

(mácxít) Cái đáng nói nhất là ông thể hiện mình như một nhân cách, chấp nhận

cô đơn trên con đường tìm tòi, sáng tạo, vượt qua thói quen ý thức của cả cộng đồng Mác nhận thấy ở đó tấm gương của lòng dũng cảm và sự hy sinh cho khoa

học

2) Trong logos của Hêraclít hàm chứa cả ý tưởng về khát vọng tự do, sángtạo, sự mực thước và hòa hợp, cái thiêng liêng và niềm đam mê chân chính củacon người Logos của Hêraclít rất thần linh, rất vũ trụ và cũng rất nhân tính Mác

“trẻ” cũng cháy bỏng khát vọng và đam mê; đó là sự tương đồng lịch sử: Hêraclít– Epiquya – Mác (những năm 1837 – 1843, Mác của tìm tòi và thể nghiệm, sángtạo và điều chỉnh) Ngọn lửa thiêng của Hêraclít được sáng lên trong nguyên-tử-luận-đã-nhân-bản-hóa của Epiquya (342 - 270 TCN) Trong Luận án tiến sỹ củamình (1841) Mác không đề cao Đêmôcrít bằng Epiquya không hẳn ở khía cạnh

bản thể luận, mà ở khía cạnh nhân bản luận Mác tôn vinh những triết gia can đảm, dám vượt qua mọi thách đố để đem đến hạnh phúc cho tất cả, tựa như

Prômêtê thách thức thần Dớt, đem lửa đến cho con người Hêraclít (chứ chẳngphải Talét) là người mở đường, còn Arixtốt là người kết thúc nó trong rạng rỡ hàoquang, bởi lẽ, chỉ sau ông vài thập niên, triết học Hy Lạp đã rẽ sang hướng khác,

mà “tội đồ” là Pirôn (Pyrrhon) với tuyên bố “treo lửng mọi phán quyết” Trongbối cảnh ấy chỉ có Epiquya là thắp lại niềm hy vọng bằng quan niệm về “tự do của

tự ý thức” thông qua “dao động tự do”, sự vận động “đi chệch quỹ đạo” của cácnguyên tử (ngụ ý: vượt qua những chuẩn mực lỗi thời, những ràng buộc của xãhội để thể hiện “mình là mình”)

3) Arixtốt (384 – 322 TCN) vừa là người điều chỉnh, vừa là người tổng kếtgiai đoạn hưng thịnh của triết học Hy Lạp Ông đã cố gắng dung hòa hai đườnglối trong triết học, tự mình đóng vai trò “hợp đề” của “chính đề” và “phản đề”,hình thành nên phương án nhị nguyên triết học (sẽ đánh giá phương án này) Ôngthực hiện sự tổng kết lịch sử ở bình diện triết học và khoa học, trong đó nổi bật

20 C Mác và Ph Ăngghen, Toàn tập, t.1, Nxb Chính trị quốc gia, HN, 1995, tr 116

21 C Mác và Ph Ăngghen, Toàn tập, t.40, Nxb Chính trị quốc gia, HN, 2000, tr 218

Trang 34

vấn đề bản chất của triết học nói chung, vấn đề nhận thức và phân loại tri thức,vấn đề đạo đức và chính trị – xã hội, tạo nên chuẩn mực và tiền đề cho triết họcphương Tây ở các thời đại sau Nói khác đi, thời kỳ cổ điển của triết học Hy Lạp

đã được hoàn tất ở Arixtốt

Arixtốt là bộ óc bách khoa của nền triết học và khoa học Hy Lạp cổ đại.Ngoài triết học ông còn thâm nhập vào hầu như tất cả các ngành khoa học tựnhiên và khoa học xã hội thời ấy, để lại nhiều công trình có giá trị

Tổng kết về mặt khoa học nói chung, Arixtốt chia khoa học thành ba

nhóm: nhóm các khoa học lý thuyết gồm Siêu hình học (triết học cấp 1), vật lýhọc (triết học cấp 2), toán học, lôgíc học, trong đó lôgíc học được hiểu như nhậpmôn vào các khoa học khác; nhóm các khoa học thực hành gồm đạo đức học,chính trị học, kinh tế học…; nhóm các khoa học sáng tạo gồm nghệ thuật thi ca,các khoa học về ngôn ngữ, các hoạt động kỹ thuật

Tổng kết các thời kỳ đã qua của triết học, Arixtốt đưa ra các kết luận về

bản chất và chức năng của triết học: thứ nhất, triết học không phải là sản phẩm

sáng tạo của cá nhân, mà là kết quả tìm tòi, khám phá của nhiều thế hệ Để đạt đếnchân lý từng nhà triết học cần nỗ lực nghiên cứu tối đa và học tập những gì tốt

đẹp của hôm qua Thứ hai, triết học sẽ chịu thất bại, nếu nó rơi vào lĩnh vực của những trừu tượng trống rỗng, ngụy biện, xa rời chân lý Thứ ba, chức năng của

triết học là tìm hiểu thực tại, khám phá cơ cấu của nó, xác định cái chủ yếu nhất ở

đó, quan hệ của nó với hư vô Nhà triết học không dừng lại ở thế giới cảm tínhhữu hình, mà cần đi sâu khám phá các nguyên nhân phi vật chất, các bản chất vĩnhcửu, phi cảm tính Triết học cũng sẽ trở nên vô nghĩa, nếu nó không quan tâm đếnviệc giáo hóa con người và xác lập không gian xã hội hợp lý cho sự phát triển của

Trang 35

nghĩa, bởi lẽ khái niệm là dấu hiệu của cái chung, mà cái chung lại phụ thuộc vào

sự tồn tại của các sự vật trong thế giới cảm tính

Sự phê phán của Arixtốt đối với học thuyết ý niệm của Platôin là sự phêphán của một nhà duy tâm đối với một nhà duy tâm khác, song theo V.I.Lênin, nó

“có lợi cho CNDV” Nên hiểu nhận định này như thế nào? Vấn đề là ở chỗ, nhằmvượt qua Platôn, Arixtốt xác lập nhị nguyên luận vật chất (hay thể chất) – hìnhthức (hay mô thức) Mọi sự vật đều là sự thống nhất vật chất – hình thức, trong đóvật chất là cái tiềm thể (khả năng) và thụ động, hình thức là cái hiện thể (hiệnthực) và năng động Sự năng động ấy là ưu thế của hình thức Vận động theo các

nấc thang vươn cao mãi dẫn đến hình thức thuần túy, tách khỏi vật chất Hình thức

thuần tuý không sinh không diệt, cái Tuyệt đối ấy là Thượng đế như “hình thức tốihậu”, “hình thức của mọi hình thức”, một bản nguyên tinh thần chi phối toàn bộquá trình thế giới Arixtốt tỏ ra thỏa mãn, vì cuối cùng, khác với Đêmôcrít, ông đãxác định được, về mặt lôgíc, nguyên nhân cuối cùng của vận động, khác vớiPlatôn, ông đã bắt đầu từ thế giới cảm tính để vươn đến cái Tuyệt đối siêu cảmtính Nhị nguyên luận của Arixtốt là một phương án nữa của chủ nghĩa duy tâm.Tuy vậy trong quá trình phê phán học thuyết ý niệm của Platôn Arixtốt gián tiếpchỉ ra rằng các khái niệm là những hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan,

mà đó lại là một trong những luận điểm cơ bản của lý luận nhận thức duy vật Sựdao động của Arixtốt giữa duy vật và duy tâm có thể được lý giải như sự dao độnggiữa một đằng là nỗ lực vượt qua tính phổ biến của ý thức đương đại, và đằngkhác là thái độ “trung dung”, không muốn và không thể biến nỗ lực ấy thành hiệnthực, do sự chi phối của điều kiện lịch sử

Tổng kết lịch sử các quan điểm nhận thức, Arixtốt “sửa chữa” Platôn và

xây dựng lôgíc học với tính cách là khoa học về tư duy Sự khác nhau căn bảngiữa Arixtốt và Platôn trong lý luận nhận thức là ở chỗ nếu Platôn xuất phát từ sự

tồn tại của tri thức, thì Arixtốt xuất phát từ sự tồn tại của đối tượng tri thức Nhận

thức được Arixtốt xem xét như quá trình đi từ cảm tính đến lý tính, từ nhận thứccái đơn nhất đến nhận thức các tiểu loại, chủng loại Như vậy trong quan điểm về

cơ sở nhận thức Arixtốt nhất trí với các nhà duy vật như Hêraclít, Đêmôcrít TheoArixtốt, điểm xuất phát của nhận thức là trực quan cảm tính Bước thứ nhất củanhận thức là xác định sự vật; bước thứ hai – làm sáng tỏ nguyên nhân của nó;bước thứ ba – nghiên cứu bản chất sự vật Arixtốt dành cho bản chất một ý nghĩađặc biệt Ông không nhất trí với trường phái Milê vì đã đồng nhất bản chất nhữngcái cụ thể cảm tính của thế giới, không chấp nhận Pitago vì đã đồng nhất bản chấtvới con số, không theo Platôn quy bản chất về ý niệm Đối với Arixtốt bản chất là

Trang 36

cái có khả năng tồn tại độc lập và có thể được nhận thức Bản chất không phải làvật chất, vì vật chất không có khả năng tồn tại độc lập, mà là sự thống nhất mô

thức tích cực và vật chất thụ động Phạm trù là phương tiện nhận thức bản chất,

được trình bày trong lôgíc học như công cụ (organon) tư duy Lần đầu tiên tronglịch sử triết học Arixtốt xem phạm trù như sự thống nhất những tính quy địnhkhách quan và chủ quan của sự vật Cũng lần đầu tiên, dưới hình thức hệ thống,Arixtốt xác lập nội dung cơ bản của lôgíc học, mặc dù ông không phải là tác giảcủa khái niệm “lôgíc học” Bên cạnh đó từ cách hiểu về phép biện chứng củaPlatôn, Arixtốt đã căn cứ vào truyền thống, nhất là sự phân tích các nghịch lý củaDênông, để kết hợp cả chức năng thuần tuý chủ quan (nghệ thuật đối thoại) lẫnchức năng khoa học

Platôn đề cao nhận thức lý tính, nhưng giải thích cơ sở của nhận thức theocách khác với các nhà duy vật tự phát và Arixtốt, vì ông triển khai quá trình nhận

thức theo hướng đi xuống: từ lý tính và giác tính đến niềm tin và mô phỏng Hai

nấc thang đầu thuộc về hoạt động tư duy, hai nấc thang sau – thường kiến Dù có

sự khác biệt như vậy, song trong lý luận nhận thức của mình Arixtốt vẫn xemThượng đế là cái Tuyệt đối, Siêu việt thể, biểu tượng của tính vĩnh cửu và tính

toàn vẹn của thế giới mà lý tính tích cực hướng đến

Trong quan điểm đạo đức, chính trị Arixtốt kế thừa có chọn lọc và

điều chỉnh Platôn, song thống nhất với Platôn ở một điểm cơ bản: mục đích caonhất của nhà nước “chân chính” là lợi ích chung Thế giới quan nhị nguyên được

thể hiện trong quan điểm đạo đức, chính trị bằng quan điểm trung dung Trung

dung trong đạo đức là “chọn cái tốt nhất từ những cái tốt”, là nghệ thuật ứng xửhợp lý, tránh cả thái quá lẫn bất cập, chứ không phải là “đứng giữa” một cách máymóc Tương tự như vậy hình thức nhà nước được phân loại thành “chân chính” và

“lệch lạc” Độc tài là sự thái quá của quân chủ, quả đầu là sự thái quá của quý tộc,dân chủ là sự thái quá của cộng hòa Quân chủ là hình thức thánh thiện nhất,nhưng quý tộc là hình thức hợp lý nhất, bởi lẽ nó biết dung hòa lợi ích để hướngđến lợi ích chung nhất

Platôn và Arixtốt là những người đã đặt ra những vấn đề cốt lõi nhất của

“nghệ thuật quyền lực” mà các thời đại sau tiếp tục triển khai, cụ thể hóa trongđiều kiện mới

Lược đồ CNDT (từ phôi thai đến Aristotle):

Trang 37

Mầm mống,

tiền đề

Socrates vàphái Socrates

Plato và phái Plato

Aristotle vàphái Aristotle -Tư duy

Socrates –duy tâm “đíchthực”

Khuyển nho22

Khoái lạc Khắc kỷ

Plato – hệ thống duy tâm Platonism (Hàn lâm viện), Neoplatonism

Aristotle –nhị nguyên duytâm

Phái Tiêudao23

3 Ý nghĩa của việc tìm hiểu “đường lối Đêmôcrít” và “đường lối Platôn” trong triết học Hy Lạp cổ đại

Việc tìm hiểu “đường lối Đêmôcrít” và “đường lối Platôn” chứng tỏ rằngviệc giải quyết vấn đề cơ bản của triết học đã tạo nên sự phân cực thế giới quanngay từ thời điểm triết học mới vừa hình thành Sự đấu tranh và cả đối thoại giữaCNDV và CNDT quy định con đường và xu thế của lịch sử triết học, tạo nên bứctranh sống động của sự vận động tri thức triết học qua các thời đại;

- Cần tìm hiểu sự tương đồng và khác nhau có tính nguyên tắc giữa CNDV

và CNDT ở phương diện bản thể luận (vấn đề tồn tại, “bản nguyên”), nhận thứcluận, nhân bản luận (lý giải cơ sở và bản chất tồn tại của con người), đạo đức,

chính trị - xã hội, làm rõ tư duy phản biện

- Sự thay thế nhau giữa CNDV và CNDT mang tính tất yếu và tính quy luật,phản ánh nhu cầu thực tiễn của con người Bức tranh tư tưởng sẽ đơn điệu nếukhông có những nét tương phản, không có sự liên kết, lý luận sẽ ngưng đọng nếubên cạnh “chính đề” không có “phản đề” Lịch sử từng chứng kiến tình trạng dẫm

22 Thực ra phái Khuyển nho, khoái lạc, đặc biệt là Khắc kỷ, không hẳn là chủ nghĩa duy tâm, mà chủ yếu bàn về nguyên tắc sống (đạo đức); riêng phái khắc kỷ có sự pha trộn một phần yếu tố của chủ nghĩa duy vật chất phác, duy tâm ôn hoà, thuyết định mệnh

23 Phái Aristotle, kiểu như Aristotelism, được gọi là phái Tiêu dao, có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp

“peripatos” – trưng bày mở, hành lang mở, nơi diễn thuyết, tranh luận, như một cuộc “dạo chơi”, có vườn cây bao quanh, tài sản của bạn, người cộng sự và người kế thừa Aristotle là Theophrastos Phái này tồn tại khá lâu,

từ thế kỷ IV TCN đến thế kỷ III

Trang 38

chân tại chỗ của lý luận có ảnh hưởng tiêu cực như thế nào đến các lĩnh vực củađời sống xã hội;

- Trong khi đánh giá chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm cần xuất phát

từ lập trường khoa học, nắm vững nguyên tắc tính đảng, song không vì thế màthiếu sự hiểu biết về quy luật vận động của tri thức, yếu tố giá trị của từng họcthuyết Mỗi khuynh hướng triết học đều trải qua lịch sử đầy thăng trầm, bị thaythế rồi lại được phục hồi, điều chỉnh và phổ biến, nhưng không có khuynh hướng

nào là toàn năng tuyệt đối cả Trong “Gia đình thần thánh”, khi tranh luận với

nhóm Bauơ Brunô (Bauer Bruno) của phái Hêghen trẻ, Mác và Ăngghen khẳngđịnh rằng triết học toàn năng “siêu thực” chỉ có thể là thứ triết học “bay lượn caotrên thực tiễn”, vì nếu không như vậy thì nó phải tự phủ định theo quy luật kháchquan trước thực tiễn biến đổi không ngừng

Cần lưu ý rằng Platôn, Arixtốt không đơn giản là những nhà duy tâm, màđồng thời là những tên tuổi lớn của văn hóa tinh thần Hy Lạp Tương tự như vậyđối với Oguýtxtanh (Augustin), Tômát Aquinát (Thomas Aquinas), Lépnít(Leibniz), Hium (Hume), Cantơ (Kant), Hêghen (Hegel) Nói cách khác, cần cóthái độ văn hóa đối với các giá trị văn hóa, như C.Mác đã từng thể hiện trong quátrình xác lập thế giới quan triết học mới

CHUYÊN ĐỀ 2 CON ĐƯỜNG CỦA TRIẾT HỌC KYTÔ GIÁO

TRUNG CỔ

* Yêu cầu về kiến thức cơ bản trước khi tìm hiểu chuyên đề (tự nghiên cứu):

- Bối cảnh lịch sử đưa đến sự sụp đổ chế độ chiếm hữu nô lệ;

- Sự ra đời của Kytô giáo (Christianity) và quá trình chuyển biến của Kytôgiáo

Tài liệu: Doãn Chính, Đinh Ngọc Thạch; Triết học Trung cổ Tây Âu (tái

bản, có sửa chữa, bổ sung, NXB CTQG, HN, 2008) và các công trình chuyên khảo, các tác phẩm nguyên bản về triết học Trung cổ Tây Âu, đặc biệt của St.Augustin và St.Thomas (Thomas Aquinas)

1 Thế nào là “Trung cổ”?

Đã từ lâu việc phân chia lịch sử ra thành cổ đại, trung cổ, cận đại trở nênphổ biến Trong khoa học lịch sử người ta thường xác định lịch sử trung cổ (hay

trung đại?) kéo dài 12 thế kỷ, nằm giữa cổ đại và cận đại Đặc trưng của trung cổ

là quan hệ theo kiểu phong kiến, mặc dù cho đến nay các nhà lý luận vẫn loay

Trang 39

hoay với khái niệm “phong kiến” và “trung cổ”, mà đi tới một cách tiếp cận thốngnhất Do đó việc xác định đâu là trung cổ, đâu là phong kiến theo nghĩa cụ thể vẫncòn nhiều bất đồng Quá trình vận động của lịch sử hiện thực không thể bị quy vềmột thống số thời gian nào đó Các kịch bản của lý trí không thể bao quát đượchiện thực sống động, mà tính sự kiện cũng chỉ là một hay vài sự kiện đơn nhất,

được người ta quy ước với nhau Hơn nữa sự phát triển của các dân tộc khác nhau.

Khi một dân tộc này đang bước vào thời kỳ phát triển hưng thịnh, thì dân tộc kháclại đang ở điểm xuất phát thấp Chẳng hạn, ở Tây Âu chế độ phong kiếnphát triển

từ cuối thế kỷ V, sau khi Tây bộ đế quốc La Mã sụp đổ (476), Nhưng ở TrungQuốc quá trình này diễn ra sớm hơn, còn ở Ấn Độ thì có vẻ như diễn ra gần đồngthời Song các nhà viết sử Ấn Độ lại quả quyết rằng chế độ phong kiến đúng nghĩa

ở đây hình thành từ thế kỷ III, hoặc sớm hơn! Những diễn biến lịch sử tiếp theokhiến cho những cái đầu tỉnh táo nhất vẫn cứ boăn khoăn về sự phức tạp, tính đảolộn thường xuyên, sự thay đổi ngôi vị trong quan hệ giữa các dân tộc ở bình diệnđịa chính trị Trong khi những mầm mống của phương thức sản xuất tư bản chủnghĩa nảy sinh trong lòng chế độ phong kiến Tây Âu từ nửa sau thế kỷ XIV, tứccuối thời trung cổ, thì ở phần còn lại của lãnh thổ châu Âu, ở châu Á và một phầnchâu Mỹ cư dân vẫn còn sống trong chế độ phong kiến, thậm chí vài nơi đang ởđiểm xuất phát của lịch sử – chế độ công xã nguyên thủy

Sự kết thúc của Trung cổ cũng gây nên không ít cuộc tranh luận, bởi lẽ sựkết thúc này cần gắn liền với những diễn biến lịch sử, đánh dấu sự bắt đầu một kỷnguyên mới trong lịch sử châu Âu lẫn lịch sử nhân loại Song tính không đồng đềucủa phát triển khiến cho bảng phân tầng trở nên phức tạp Vì thế các nhà nghiêncứu chọn giải pháp “trung dung”, nghĩa là xác định các thời đại theo học thuyếthình thái của Mác, nhưng không lấy lịch sử của một khu vực làm hệ quy chiếu,

mà thừa nhận tính đặc thù về thời gian ở các khu vực khác nhau Ngay ở đây vẫnchưa tìm được đồng thuận tuyệt đối Tại châu Âu một số nhà sử học xem thờiPhục hưng (thế kỷ XIV – thế kỷ XVI) như giai đoạn kết thúc của Trung cổ Một

số khác, căn cứ vào tính liên tục của sự phát triển, lại cho rằng Phục hưng chỉđáng được xem là sự bắt đầu của thời Cận đại Tuy nhiên việc gán Phục hưng choCận đại tỏ ra gượng ép, vì có những đặc trưng kinh tế, xã hội và tư tưởng chỉ đếnthế kỷ XVII – XVIII mới thể hiện rõ nét Như vậy Phục hưng chính là thời chuyểnchuyển tiếp, hay quá độ từ Trung cổ sang Cận đại Thời Trung cổ được giới hạntrong khoảng thời gian từ thế kỷ V đến thế kỷ XIV Nếu hiểu theo nghĩa sử liệuhọc thì Phục hưng vẫn chưa thoát ra khỏi quan hệ phong kiến, hay đúng hơn, quan

hệ phong kiến còn thống trị, như vậy có thể tính thêm ba thế kỷ, đến sự bắt đầucác cuộc cách mạng tư sản sơ kỳ

Trang 40

Trung cổ là sự thay thế tất yếu Cổ đại, nơi chế độ chiếm hữu nô lệ duy trìsuốt hàng ngàn năm, tướt bỏ quyền làm người của một bộ phận xã hội đông đảo –giai cấp nô lệ Tại Aten (Athens), vào thời kỳ hưng thịnh của nền dân chủ chủ nô,trong số 400 ngàn dân chỉ có khoảng 40 ngàn được gọi là công dân , số còn lại chỉ

là những “công cụ biết nói” Sự suy giảm sức mạnh vật chất lẫn văn hóa ở đế quốc

La Mã tạo điều kiện cho sự xâm lăng của các sắc tộc “man rợ” từ phía bắc vàocuối thế kỷ V, song cái chết của chế độ chiếm hữu nô lệ, xã hội có các giai cấp đốikháng đầu tiên trong lịch sử, đã được báo trước, khi Kytô giáo ra đời, giương caongọn cờ giải phóng con người (về mặt tinh thần, đạo đức), trả lại cho nó danhxưng cao quý nhất trong thế giới được tạo hóa

2 Con đường của triết học Trung cổ Kytô giáo, đặc trưng cơ bản của nó

Trước hết sự ra đời của Kytô giáo đáng được xem như hiện tượng có tính

cách mạng trong đời sống tinh thần của xã hội Thứ nhất, ở buổi đầu lịch sử Kytô

giáo là tôn giáo của người nghèo, là sức mạnh thu hút quần chúng bị áp bức trongthế giới tàn bạo, phi nhân tính và chết chóc C.Mác: tôn giáo – tiếng thở dài củachúng sinh bị áp bức, là trái tim của thế giới không có trái tim, cũng giống như nó

là tinh thần của những trật tự không có tinh thần24 Thứ hai, trong điều kiện lịch sử

lúc ấy, Kytô giáo trở thành liệu pháp tâm lý, tinh thần, an ủi những người nghèokhổ và bất hạnh, đồng thời khơi gợi nơi họ niềm tin về cuộc sống tốt đẹp mai sau

C.Mác: tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân25 Thứ ba, về phương diện đạo đức –

chính trị, Kytô giáo thể hiện sự phản kháng của con người trước ách thống trị của

đế quốc La Mã Kytô giáo lấy sự cảm hóa, tha thứ, tinh thần hòa giải, hay khoandung làm phương thức xử thế, nhờ đó đã thu hút được đông đảo dân chúng, tạo

nên phong trào cải đạo trong suốt nhiều thế kỷ

Từ chỗ bị truy bức, đàn áp, đến đầu thế kỷ IV Kytô giáo được cho phép tồntại bình đẳng trong thế giới đa thần giáo Năm 324, Kytô giáo bắt đầu thể hiệnmình như tôn giáo của nhà nước đang đi dần vào quỹ đạo phong kiến Năm 325Nhà thờ toàn cõi Kytô giáo ra đời, công bố thuyết giáo và biểu tượng của mình.Năm 392 Kytô giáo chính thức trở thành quốc giáo Ở địa vị mới Kytô giáo quaylại đàn áp các tôn giáo đa thần, tỏ thái độ thù địch đối với các giá trị văn hóa vàkhoa học cổ đại, nhất là những tư tưởng, học thuyết, những sản phẩm văn hóa tráivới giáo lý chính thống Kytô giáo chi phối các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong

đó có sinh hoạt học thuật, tư tưởng Triết học liên minh với thần học, lấy việc chúgiải, chứng minh cho chân lý sẵn có, tức các tín điều Kytô giáo, làm chức năng cơ

24 C Mác và Ph Ăngghen, Toàn tập, t.1, Nxb CTQG, HN, 1995, tr 570

25 C Mác và Ph Ăngghen, Toàn tập, t.1 Nxb CTQG, HN, 1995, tr 570

Ngày đăng: 08/03/2023, 15:50

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w