Trường ĐH GTVT TP Hồ Chí Minh Khoa kinh tế vận tải Tiểu luận kết thúc học phần Môn TRIẾT HỌC MAC LÊNIN ĐỀ TÀI 2 Biện chứng giữa thực tiễn và nhận thức trong triết học Mác Lênin và ý nghĩa của nó đối v.
Trang 1Trường: ĐH GTVT TP Hồ Chí Minh
Khoa: kinh tế vận tải
Tiểu luận kết thúc học phần Môn : TRIẾT HỌC MAC-LÊNIN
ĐỀ TÀI 2 : Biện chứng giữa thực tiễn và nhận thức trong
triết học Mác - Lênin
và ý nghĩa của nó đối với cuộc sống và học tập của sinh
viên hiện nay
Nguyễn Quang Tính
Mssv: 1954020097
MNHP: 005105
Giảng viên hướng dẫn : Vũ Ngọc Lanh
Hồ Chí Minh năm 2020
Trang 2Phụ lục
Mở đầu 1
Lý do chọn đề tài 1
Mục tiêu 1
Phương pháp nghiên cứu 1
Kết cấu của tiểu luận 2
Chương 1 3
1 Nhận thức trong triết học Mác Lênin 3
2 Thực tiễn trong triết học Mác Lênin 4
3 Mối quan hệ giữa nhận thức và thực tiễn 4
Chương 2 6
1 Hai giai đoạn của quá trình nhận thức 6
2 Sự thống nhất biện chứng giữa nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính 8
Chương 3 9
1 Quan hệ giữa đổi mới nhận thức và đổi mới xã hội 9
2 Ý nghĩa đối với cuộc sống học tập của sinh viên 10
Kết luận 11
Tài liệu tham khảo 12
Trang 3Mở đầu
• Lý do chọn đề tài
- Vấn đề quan hệ giữa Nhận thức và thực tiễn có tầm quan trọng đặc biệt trong triết học xã hội của chủ nghĩa Mác Tầm quan trọng đó không chỉ ở chỗ: “Quan điểm về đời sống về thực tiễn, phải là quan điểm thứ nhất và cơ bản của lý luận về nhận thức” Chính vì vậy việc tìm hiểu mối quan hệ biện chứng giữa lý luận
và thực tiễn là cần thiết
- Hoạt động thực tiễn rất đa dạng với nhiều hình thức ngày càng phong phú, song có ba hình thức cơ bản là hoạt động sản xuất vật chất, hoạt động chính trị - xã hội và hoạt động thực nghiệm khoa học
- Để giải quyết các vấn đề nêu trên, theo tôi trước hết cần phải xác định rõ khái niệm thực tiễn phân biệt nó với khái niệm hoạt động, sau đó là với khái niệm hoạt đđộng nhận thức Trong các tài liệu khoa học, có rất nhiều định nghĩa khác nhau về thực tiễn, nhưng có thể nói, chưa có một ý kiến thống nhất về vấn đề này Tính đến các quan điểm khác nhau, tôi xin trình bày vắn tắt quan điểm của chúng tôi về khái niệm thực tiễn như sau
• Mục tiêu
- Nêu rõ các vấn đề về thực tiễn và nhận thức phân tích kỹ từng vấn đề về sự liên hệ giữa thực tiễn và nhận thức
- Biết được tầm quan trọng của thực tiễn và nhận thức trong triết học Mác Lênin và trong đời sống xã hội
- Liên hệ giữa ý nghĩa của thực tiễn và nhận thức đối với cuộc sống học tập của sinh viên hiện nay
• Phương pháp nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu rất đa dạng nên các phương pháp nghiên cứu và cải biến hiện thực khách quan cũng hết sức phong phú Tuỳ theo tiêu chí khác nhau mà phương pháp được chia ra thành nhiều loại khác nhau: phương pháp nhận thức và phương pháp hoạt động thực tiễn, phương pháp riêng, phương pháp chung và phương pháp phổ biến
- Nêu các khái niệm sau đó phân tích kỹ từng phần
- -Phân tích và tổng hợp có cơ sở khách quan trong cấu tạo và trong tính quy luật của bản thân sự vật cũng như trong hoạt động thực tiễn của con người
- Phân tích mối quan hệ của thực tiễn và nhận thức
- Tìm hiểu ý nghĩa của thực tiễn với nhận thức đối với sinh viên hiện nay
• Kết cấu của tiểu luận
Trang 4- Để phân tích và tìm hiểu rõ thế nào là nhận thức và thực tiễn và hiểu rõ ý nghĩa trong cuộc sống và hiện tại, bài sẽ chia làm hai chương với nội dung sơ lược như sau:
Chương 1 : thực tiễn nhận thức và mối quan hệ giữa chúng
1 Nhận thức trong triết học Mác Lênin
1.1 bản chất của nhận thức
1.2 Các quan điểm về bản chất của nhận thức
1.3 Quan điểm của Mác Lênin về nhận thức
2 Thực tiễn trong triết học Mác Lênin
2.1 phạm trù của thực tiễn
2.2 Quan điểm của Mác Lênin đối với thực tiễn
3 Mối quan hệ giữa nhận thức và thực tiễn
3.1 vai trò của thực tiễn đối với nhận thức
Chương 2 các giai đoạn của quá trình nhận thức
1 Hai giai đoạn của quá trình nhận thức
1.1 trực quan sinh động
1.2 Tư duy trừu tượng
2 Sự thống nhất biện chứng giữa nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính Chương 3
1 Mối quan hệ giữa đổi mới nhận thức và đổi mới xã hội
1.1 thực tiễn cách mạng đòi hỏi sự đổi mới nhận thức
1.2 Cách thức để đổi mới nhận thức
2 Ý nghĩa đối với cuộc sống học tập của sinh viên
Trang 5CHƯƠNG 1 THỰC TIỄN NHẬN THỨC VÀ MỐI QUAN HỆ
GIỮA CHÚNG
1 Nhận thức trong triết học Mác Lênin
1.1 bản chất của nhận thức
Nhận thức (tiếng Anh: cognition) là hành động hay quá trình tiếp
thu kiến thức và những am hiểu thông qua suy nghĩ, kinh nghiệm và
giác quan, bao gồm các quy trình như là tri thức, sự chú ý, trí nhớ,
sự đánh giá, sự ước lượng, sự lí luận, sự tính toán, việc giải quyết vấn đề, việc đưa ra quyết định, sự lĩnh hội và việc sử dụng ngôn ngữ Theo "Từ điển Bách khoa Việt Nam", nhận thức là quá trình biện chứng của sự phản ánh thế giới khách quan trong ý thức con người, nhờ đó con người tư duy và không ngừng tiến đến gần khách thể Theo quan điểm triết học Mác-Lênin, nhận thức được định nghĩa là quá trình phản ánh biện chứng hiện thực khách quan vào trong bộ óc của con người, có tính tích cực, năng động, sáng tạo, trên cơ sở thực tiễn.[1]
Sự nhận thức của con người vừa ý thức, vừa vô thức, vừa cụ thể, vừa trừu tượng và mang tính trực giác Quá trình nhận thức sử dụng tri thức có sẵn và tạo ra tri thức mới
1.2 các quan điểm về bản chất của nhận thức
- thuyết hoài nghi và thuyết không thể biết (can tơ, hium): hoài nghi, phủ nhận khả năng nhận thức của con người
- cndt khách quan (hê ghen): cho rằng con người có khả năng nhận thức được thế giới nhưng đó là “tự nhận thức” của “ý niệm tuyệt đối”
- cndt chủ quan (bec cơ li): cho rằng nhận thức chỉ là tập hợp của cảm giác
- cndv siêu hình (phơ bách): con người nhận thức được thế giới nhưng nhận thức máy móc siêu hình (đó là những quan điểm sai lầm tác động tiêu cực đến nhận thức)
1.3quan điểm của Mác Lênin về nhận thức
(là quá trình phản ánh tích cực, tự giác & sáng tạo thế giới khách quan vào
bộ óc người, trên cơ sở thực tiễn)
Trang 6- nhận thức là một quá trình vận động phát triển từ thấp đến cao, nhận thức theo quy luật biện chứng, đó là quá trình nảy sinh mâu thuẫn và giải quyết mâu thuẫn của nhận thức
- con người nhận thức thế giới không phải để giải thích thế giới mà là cải tạo thế giới
- con người nhận thức thế giới phải thông qua hoạt động thực tiễn cải tạo thế giới
2 Thực tiễn trong triết học Mác Lênin
2.1 phạm trù của thực tiễn
- quan điểm trước mác
+ điđrô: thực tiễn là họat động thực nghiệm khoa học trong phòng thí nghiệm
+ phơbách: thực tiễn là hành động bẩn thỉu của các con buôn vỉa hè
+ hêghen: thực tiễn chỉ là khái niệm, tư tưởng thực tiễn không phải là họat động vật chất
2.2 quan điểm của Mác Lênin đối với thực tiễn
( thực tiễn là toàn bộ những hoạt động vật chất có mục đích mang tính lịch
sử - xã hội của con người, nhằm cải tạo thế giới khách quan)
-các hình thức của thực tiển:
+ sản xuất vật chất
+ hoạt động chính trị-xh
+ khoa học thực nghiệm
(trong đó sxvc giữ vai trị quan trọng nhất.)
3 mối quan hệ giữa nhận thức và thực tiễn
- thực tiễn là cơ sở, nguồn gốc của nhận thức:
Trang 7+ thực tiễn cung cấp những tài liệu hiện thực khách quan để con người có cơ
sở nhận thức tg
+ thực tiễn phát triển làm cho nhận thức cũng phát triển, vì mọi khoa học đều được xây dựng, khái quát trên cơ sở tổng kết thực tiễn
+ thông qua họat động thực tiễn, con người sáng tạo ra những công cụ
phương tiện ngày càng tinh xảo hơn: tàu vũ trụ, máy vi tính, mạng internet …
+ thông qua họat động thực tiễn, con người ngày càng hòan thiện mình, các giác quan ngày càng phát triển, ngôn ngữ ngày càng phong phú, làm cho con người ngày càng nhận thức thế giới sâu, rộng hơn
- thực tiễn là động lực và mục đích của nhận thức :
+ thực tiễn không ngừng vận động và phát triển, nó đặt ra những nhu cầu, nhiệm vụ, phương hướng mới thúc đẩy nhận thức phát triển
+ thực tiễn thúc đẩy sự ra đời và phát triển mạnh mẽ các ngành khoa học tự nhiên và xã hội
+ hoạt động của con người bao giờ cũng có mục đích, phương hướng, biện pháp, những ci đó là kết quả của quá trình nhận thức nhận thức đúng thì hoạt động thực tiễn thành công và ngược lại… chính vì vậy thực tiễn là động lực
và mục đích của nhận thức
- thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý :
chân lý là một khái niệm chỉ sự phù hợp của nội dung tri thức của con người với hiện thực khách quan được kiểm nghiệm qua thực tiễn
+ nhận thức phát triển phải qua thực tiễn kiểm nghiệm vì thực tiễn cao hơn lý luận, nó vừa có tính hiện thực trực tiếp, vừa có tính phổ biến
+ không thể lấy nhận thức để kiểm nghiện nhận thức không lấy sự thừa nhận của đa số làm tiêu chuẩn chân lý không lấy lợi ích làm tiêu chuẩn chân lý chỉ
có thực tiễn mới là tiêu chuẩn chân lý
+ thực tiễn làm tiêu chuẩn chân lý, vừa có tính tuyệt đối, vừa có tính tương đối
+ tính tuyệt đối là ở chỗ, thực tiễn là cái duy nhất, là tiêu chuẩn khách quan để kiểm nghiệm chân lý, ngoài nó ra không có cái nào khác
Trang 8+tính tương đối là ở chỗ, thực tiễn ngay một lúc, không thể khẳng định được cái đúng, bác bỏ được cái sai một cách tức thì
Tóm lại: vai trò của thực tiễn với nhận thức :
là cơ sở, mục đích, động lực của nhận thức & là tiêu chuẩn của chân lư
phát sinh nhu cầu& cung cấp thông tin →nhận thức(sáng tạo ra tri
thức) →đáp ứng nhu c̀u thong tin & kiểm tra, hoàn thiện tri thức →
chương 2 các giai đoạn của quá trình nhận thức
1 hai giai đoạn của quá trình nhận thức
1.1 trực quan sinh động
Nhận thức cảm tính (hay còn gọi là trực quan sinh động) là giai đoạn đầu
tiên của quá trình nhận thức Đó là giai đoạn con người sử dụng các giác quan
để tác động vào sự vật nhằm nắm bắt sự vật ấy[2] Nhận thức cảm tính gồm các hình thức sau:
• Cảm giác: là hình thức nhận thức cảm tính phản ánh các thuộc tính riêng lẻ
của các sự vật, hiện tượng khi chúng tác động trực tiếp vào các giác quan của con người Cảm giác là nguồn gốc của mọi sự hiểu biết, là kết quả của
sự chuyển hoá những năng lượng kích thích từ bên ngoài thành yếu tố ý thức Lenin viết: "Cảm giác là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan" Nếu dừng lại ở cảm giác thì con người mới hiểu được thuộc tính cụ thể, riêng lẻ của sự vật Điều đó chưa đủ; bởi vì, muốn hiểu biết bản chất của sự vật phải nắm được một cách tương đối trọn vẹn sự vật Vì vậy nhận thức phải vươn lên hình thức nhận thức cao hơn"[2]
• Tri giác: hình thức nhận thức cảm tính phản ánh tương đối toàn vẹn sự vật
khi sự vật đó đang tác động trực tiếp vào các giác quan con người Tri giác
là sự tổng hợp các cảm giác So với cảm giác thì tri giác là hình thức nhận thức đầy đủ hơn, phong phú hơn Trong tri giác chứa đựng cả những thuộc tính đặc trưng và không đặc trưng có tính trực quan của sự vật Trong khi
đó, nhận thức đòi hỏi phải phân biệt được đâu là thuộc tính đặc trưng, đâu
là thuộc tính không đặc trưng và phải nhận thức sự vật ngay cả khi nó
không còn trực tiếp tác động lên cơ quan cảm giác con người Do vậy nhận thức phải vươn lên hình thức nhận thức cao hơn[2]
• Biểu tượng: là hình thức nhận thức cảm tính phản ánh tương đối hoàn
chỉnh sự vật do sự hình dung lại, nhớ lại sự vật khi sự vật không còn tác động trực tiếp vào các giác quan Trong biểu tượng vừa chứa đựng yếu tố
Trang 9trực tiếp vừa chứa đựng yếu tố gián tiếp Bởi vì, nó được hình thành nhờ có
sự phối hợp, bổ sung lẫn nhau của các giác quan và đã có sự tham gia của yếu tố phân tích, tổng hợp Cho nên biểu tượng phản ánh được những thuộc tính đặc trưng nổi trội của các sự vật[2]
Giai đoạn này có các đặc điểm:
• Phản ánh trực tiếp đối tượng bằng các giác quan của chủ thể nhận thức[1]
• Phản ánh bề ngoài, phản ánh cả cái tất nhiên và ngẫu nhiên, cả cái bản chất
và không bản chất Giai đoạn này có thể có trong tâm lý động vật[1]
• Hạn chế của nó là chưa khẳng định được những mặt, những mối liên hệ bản chất, tất yếu bên trong của sự vật Để khắc phục, nhận thức phải vươn lên giai đoạn cao hơn, giai đoạn lý tính
1.2 Tư duy trừu tượng
Nhận thức lý tính (hay còn gọi là tư duy trừu tượng) là giai đoạn phản
ánh gián tiếp trừu tượng, khái quát sự vật, được thể hiện qua các hình thức như khái niệm, phán đoán, suy luận
Khái niệm: là hình thức cơ bản của tư duy trừu tượng, phản ánh những
đặc tính bản chất của sự vật Sự hình thành khái niệm là kết quả của sự khái quát, tổng hợp biện chứng các đặc điểm, thuộc tính của sự vật hay lớp sự vật Vì vậy, các khái niệm vừa có tính khách quan vừa có tính chủ quan, vừa có mối quan hệ tác động qua lại với nhau, vừa thường xuyên vận động và phát triển Khái niệm có vai trò rất quan trọng trong nhận thức bởi vì, nó là cơ sở để hình thành các phán đoán và tư duy khoa học[2]
Phán đoán: là hình thức tư duy trừu tượng, liên kết các khái niệm với
nhau để khẳng định hay phủ định một đặc điểm, một thuộc tính của đối tượng Thí dụ: "Dân tộc Việt Nam là một dân tộc anh hùng" là một phán đoán vì có sự liên kết khái niệm "dân tộc Việt Nam" với khái niệm "anh hùng" Theo trình độ phát triển của nhận thức, phán đoán được phân chia làm ba loại là phán đoán đơn nhất (ví dụ: đồng dẫn điện), phán đoán đặc thù (ví dụ: đồng là kim loại) và phán đoán phổ biến (ví dụ: mọi kim loại đều dẫn điện) Ở đây phán đoán phổ biến là hình thức thể hiện sự phản ánh bao quát rộng lớn nhất về đối tượng[2] Nếu chỉ dừng lại ở phán đoán thì nhận thức chỉ mới biết được mối liên
hệ giữa cái đơn nhất với cái phổ biến, chưa biết được giữa cái đơn nhất trong phán đoán này với cái đơn nhất trong phán đoán kia và chưa biết được mối quan hệ giữa cái đặc thù với cái đơn nhất và cái phổ biến Chẳng hạn qua các phán đoán thí dụ nêu trên ta chưa thể biết ngoài đặc tính dẫn điện giống nhau thì giữa đồng với các kim loại khác còn có các thuộc tính giống nhau nào khác nữa Để khắc phục hạn chế đó, nhận thức lý tính phải vươn lên hình thức nhận thức suy luận[2]
Trang 10Suy luận: là hình thức tư duy trừu tượng liên kết các phán đoán lại với
nhau để rút ra một phán đoán có tính chất kết luận tìm ra tri thức mới Thí dụ, nếu liên kết phán đoán "đồng dẫn điện" với phán đoán "đồng là kim loại" ta rút ra được tri thức mới "mọi kim loại đều dẫn điện" Tùy theo sự kết hợp phán đoán theo trật tự nào giữa phán đoán đơn nhất, đặc thù với phổ biến mà người ta có được hình thức suy luận quy nạp hay diễn dịch[2]
Ngoài suy luận, trực giác lý tính cũng có chức năng phát hiện ra tri thức mới một cách nhanh chóng và đúng đắn[2]
Giai đoạn này cũng có hai đặc điểm:
Là quá trình nhận thức gián tiếp đối với sự vật, hiện tượng[2]
Là quá trình đi sâu vào bản chất của sự vật, hiện tượng[2]
Nhận thức cảm tính và lý tính không tách bạch nhau mà luôn có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Không có nhận thức cảm tính thì không có nhận thức lý tính Không có nhận thức lý tính thì không nhận thức được bản chất thật sự của sự vật[1]
Nhận thức trở về thực tiễn, ở đây tri thức được kiểm nghiệm là đúng hay sai Nói cách khác, thực tiễn có vai trò kiểm nghiệm tri thức đã nhận thức được[2] Do đó, thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý, là cơ sở động lực, mục đích của nhận thức[1] Mục đích cuối cùng của nhận thức không chỉ để giải thích thế giới mà để cải tạo thế giới[1] Do đó,
sự nhận thức ở giai đoạn này có chức năng định hướng thực tiễn
2 Sự thống nhất biện chứng giữa nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính Giống nhau:
Đều là quá trình tâm lí nên có mở đầu, diễn biến và kết thúc một cách tương đối rõ ràng
Chỉ phản ánh thuộc tính bên ngoài của sự vật, hiện tượng
Phản ánh hiện thực khách quan một cách trực tiếp
Đều có ở động vật và con người
-Là mức độ nhận thức đầu tiên, sơ đẳng, cảm giác có vai trò nhất định trong hoạt động nhận thức và toàn bộ đời sống con người
Cảm giác