1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận cao học, môn chính trị học tư tưởng chính trị hy lạp – la mã cổ đại và những giá trị của những tư tưởng đó

30 41 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tư tưởng chính trị hy lạp – la mã cổ đại và các giá trị của những tư tưởng ấy
Trường học Trường Đại Học Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn
Chuyên ngành Chính trị học
Thể loại tiểu luận
Định dạng
Số trang 30
Dung lượng 64,99 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦU1.Lý do chọn đề tàiChính trị là lĩnh vực xuất hiện rất sớm, nó mang tính lịch sử và giá trị mà nó mang lại là vô cùng to lớn. Nghiên cứu lịch sử tư tưởng chính trị chính là nghiên cứu những tư tưởng chính trị từ thưở sơ khai của nền chính trị, tìm ra những giá trị, quy luật giúp ta hiểu rõ hơn về sự vận động của chính trị. Mỗi thời kì, tư tưởng chính trị đều có những đặc điểm khác nhau, mang tính chất và giá trị rất riêng, điều này làm nên một hệ thống tư tưởng chính trị mang bề dày lịch sử. Tư tưởng chính trị thời kì Hy Lạp – La Mã cổ đại chính là một trong những khởi đầu của hệ thống lịch sử tư trưởng chính trị đó. Những đặc điểm của tư tưởng chính trị thời kì Hy Lạp – La Mã cổ đại, sự vận hành của hệ thống chính trị, những tư tưởng về xây dựng nền chính trị dân chủ chủ nô hay thủ lĩnh chính trị,… của các nhà tư tưởng thời kì này cho đến nay vẫn mang những ý nghĩa và tính gợi ý lớn cho nền chính trị đương đại. Nó là vấn đề được nhiều nhà nghiên cứu chính trị quan tâm qua từng thời đại. Chính vì vậy, tác giả quyết định chọn đề tài “Tư tưởng chính trị Hy Lạp – La Mã cổ đại và những giá trị của những tư tưởng đó” làm đề tài tiểu luận nhằm nghiên cứu sâu hơn về những tư tưởng chính trị thời kì đó từ đó nhận định những giá trị mà nó manhg lại cho chính trị thế giới.

Trang 1

TIỂU LUẬN MÔN: CHÍNH TRỊ HỌC

ĐỀ TÀI:

TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ HY LẠP – LA MÃ CỔ ĐẠI

VÀ CÁC GIÁ TRỊ CỦA NHỮNG TƯ TƯỞNG ẤY

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 3

NỘI DUNG 5

CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ HY LẠP – LA MÃ CỔ ĐẠI 5

1.1 Khái niệm tư tưởng chính trị 5

1.2 Tổng quan về Hy Lạp – La Mã cổ đại 6

1.2.1 Tổng quan về Hy Lạp cổ đại 6

1.2.2 Tổng quan về La Mã cổ đại 10

1.3 Đặc trưng của tư tưởng chính trị Hy lạp – La Mã cổ đại 13

CHƯƠNG 2: CÁC TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ TIÊU BIỂU CỦA HY LẠP – LA MÃ CỔ ĐẠI 15

2.1 Tư tưởng chính trị của Herodotus 15

2.2 Tư tưởng chính trị của Xênôphôn 16

2.3 Tư tưởng chính trị của Platôn 17

2.4 Tư tưởng chính trị của Arixtot 19

2.5 Tư tưởng chính trị của Pôlybe 22

2.6 Tư tưởng chính trị của Xixeron 22

CHƯƠNG 3: GIÁ TRỊ CỦA NHỮNG TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ HY LẠP – LA MÃ CỔ ĐẠI 25

3.1 Về thiết lập mô hình thể chế chính tri tối ưu 25

3.2 Về quyền lực chính trị, tam quyền phân lập và quyền lực nhà nước là của nhân dân 26

3.3 Về nhà nước pháp quyền, bình đẳng 26

3.4 Về thủ lĩnh chính trị có đức, có tài 28

KẾT LUẬN 29

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 30

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Chính trị là lĩnh vực xuất hiện rất sớm, nó mang tính lịch sử và giá trị mà

nó mang lại là vô cùng to lớn Nghiên cứu lịch sử tư tưởng chính trị chính lànghiên cứu những tư tưởng chính trị từ thưở sơ khai của nền chính trị, tìm ranhững giá trị, quy luật giúp ta hiểu rõ hơn về sự vận động của chính trị Mỗithời kì, tư tưởng chính trị đều có những đặc điểm khác nhau, mang tính chất

và giá trị rất riêng, điều này làm nên một hệ thống tư tưởng chính trị mang bềdày lịch sử Tư tưởng chính trị thời kì Hy Lạp – La Mã cổ đại chính là mộttrong những khởi đầu của hệ thống lịch sử tư trưởng chính trị đó Những đặcđiểm của tư tưởng chính trị thời kì Hy Lạp – La Mã cổ đại, sự vận hành của

hệ thống chính trị, những tư tưởng về xây dựng nền chính trị dân chủ - chủ nôhay thủ lĩnh chính trị,… của các nhà tư tưởng thời kì này cho đến nay vẫnmang những ý nghĩa và tính gợi ý lớn cho nền chính trị đương đại Nó là vấn

đề được nhiều nhà nghiên cứu chính trị quan tâm qua từng thời đại Chính vìvậy, tác giả quyết định chọn đề tài “Tư tưởng chính trị Hy Lạp – La Mã cổ đại

và những giá trị của những tư tưởng đó” làm đề tài tiểu luận nhằm nghiên cứusâu hơn về những tư tưởng chính trị thời kì đó từ đó nhận định những giá trị

mà nó manhg lại cho chính trị thế giới

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở làm rõ lý luận chung về tư tưởng chính trị, đề tài nghiên cứu

để hiểu rõ hơn về những tư tưởng chính trị thời kì Hy Lạp – La Mã cổ đại vàgiá trị của những tư tưởng đó

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Làm rõ một số vấn đề lý luận chung về tư tưởng chính trị; Phân tích rõnhững tư tưởng chính trị thời kì Hy Lạp – La Mã cổ đại; nêu ra giá trị củanhững tư tưởng đó

Trang 4

3 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu về tư tưởng chính trị thời kì Hy Lạp – La Mã

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp luận: Đề tài sử dụng phương pháp duy vật biện chứng vàduy vật lịch sử để có những nhìn nhận khách quan, toàn diện về tư tưởngchính trị thời lì Hy Lạp – La Mã cổ đại

Phương pháp riêng: Để thực hiện mục tiêu nghiên cứu, đề tài sử dụngtổng hợp các phương pháp như logic – lịch sử, phân tích – tổng hợp, so sánh,nghiên cứu tài liệu Trong đó phương pháp logic – lịch sử và phân tích - tổnghợp, kết hợp với nghiên cứu tài liệu để tiếp cận đối tượng nghiên cứu

5 Cái mới của đề tài

Thứ nhất, đề tài đưa ra những lý luận cơ bản về tư tưởng chính trị HyLạp – La Mã cổ đại

Thứ hai, đề tài đưa ra những giá trị của những tư tưởng chính trị đó

6 Ý nghĩa của đề tài

Đề tài là sự đóng góp về mặt lý luận, làm rõ hơn về tư tưởng chính trịthời kì Hy Lạp – La Mã cổ đại và giá trị của nó

7 Kết cấu

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo , nội dung

đề tài bao gồm 3 chương

Trang 5

NỘI DUNG CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ HY LẠP

– LA MÃ CỔ ĐẠI 1.1 Khái niệm tư tưởng chính trị

Theo quan điểm duy vật lịch sử, tư tưởng chính trị cũng chỉ là sự phảnánh những quan hệ kinh tế - xã hội đương thời Bởi vậy, không thể tìm hiểunguồn gốc của những tư tưởng, của tâm lý xã hội trong bản thân nó; khôngthể giải thích những biến đổi của một thời đại nào đó khi chỉ căn cứ vào ýthức của thời đại ấy

Không thể chỉ căn cứ vào sự phát triển của tư tưởng chính trị để giảithích sự biến đổi của đời sống xã hội xong như Lenin đã khẳng định “chính trịcũng có cái logic nội tạng của nó” Khi phản ánh mối quan hệ đương thời thìđồng thời chính trị cũng kế thừa những tư tưởng, quan điểm, những họcthuyết chính trị - xã hội trước đó Bởi vậy, tư tưởng chính trị cũng có giá trịnhất định trong việc giải thích những đảo lộn diễn ra trong mỗi thời đại, gópphần nhận diện sự biến đổi của các hình thái kinh tế - xã hội

Có thể xem tư tưởng chính trị - một hình thức của ý thức xã hội, thuộcthượng tầng kiến trúc, là hệ thống những quan niệm, quan điểm , học thuyết,phản ánh các mối quan hệ chính trị - xã hôi, đặc biệt giữa các giai cấp, dân tộc

và các quốc gia – dân tộc xuay quanh vấn đề giành – giữ, tổ chức và thực thiquyền lực chính trị diễn ra trong lịch sử, cũng như thái độ của giai cấp, cácdân tộc đối với quyền lực chính trị mà tập chung ở quyền lực nhà nước quacác thời đại lịch sử

Trong xã hội của giai cấp đối kháng, thái độ của mỗi giai cấp đối vớiquyền lực nhà nước khác nhau Tư tưởng chính trị sẽ được chia làm hai loại là: tư tưởng của giai cấp thống trị và tư tưởng của giai cấp bị trị Ở thời đại nàocũng vậy, tư tưởng chính trị thống trị bao giờ cũng thuộc về tư tưởng của giaicấp cầm quyền Trong xã hội xã hội chủ nghĩa, so có sự thống nhất giữa lợiích giai cấp công nhân và nhân dân lao động, nhà nước mang bản chất giai

Trang 6

cấp công nhân, nhà nước của dân, do dân, vì dân, nên tư tưởng thống trị trong

xã hội là tư tưởng phản ánh cuộc đấu tranh của nhân dân lao động dưới sựlãnh đạo của giai cấp công nhân, nhằm xây dựng chủ nghĩa xã hội và chủnghĩa cộng sản

Do tồn tại những loại hình tư tưởng chính trị khác nhau, đối lập nhau nêncũng như những tư tưởng xã hội khácm những tư tưởng, học thuyết chính trịtiến bộ xuất hiện và phát triển trong cuộc đấu tranh với các tư tưởng, họcthuyết, chính trị phản động Lenin đã chỉ rõ “Lịch sử tư tưởng chính trị chính

là lịch sử của quá trình thay thế của tư tưởng, do đó là lịch sử đấu tranh tưtưởng” Sau khi ra đời, tư tưởng tiến bộ xuất hiện và trở thành tài sản tinhthần vô giá của quần chúng nhân dân, nó động viên, tổ chức khích lệ và pháthuy tính tích cực của quần chúng trong đấu tranh cách mạng Vai trò của tưtưởng, học thuyết chính trị trở nên đặc biệt to lớn trong đấu tranh cách mạng

1.2 Tổng quan về Hy Lạp – La Mã cổ đại

1.2.1 Tổng quan về Hy Lạp cổ đại.

Điều kiện tự nhiên:

Hi Lạp cổ đại bao gồm miền lục địa Hi Lạp (Nam bán đảo Ban Căng),miền đất ven bờ biển Tiểu Á và những đảo thuộc biển Êgiê Miền lục địa HiLạp có tầm quan trọng nhất trong lịch sử Hi Lạp, chia làm 3 miền : Bắc,Trung và Nam Hi Lạp Miền Bắc gồm vùng rùng núi phía Tây và đồng bằngTétxali phía Đông, ngăn cách với miền Trung bởi đèo Técmôphin hiểm trở ;miền Trung có nhiều rừng núi chạy dọc ngang, chia cắt lãnh thổ thành nhiềukhu vực địa lý nhỏ, tách biệt với nhau, nối với miền Nam – bán đảo Pêlôpônebởi eo Côrinh ; bán đảo Pêlôpône trù phú, với nhiều đồng bằng như Lacôni,Métxêni, Ácgôlít Vùng đất liền ven bờ Tiểu Á trù phú, là cầu nối thế giới HiLạp với các nền văn minh cổ đại phương Đông

Bờ biển Hi lạp : phía Tây gồ ghề, lởm chởm, không tiện cho xây cảng,nhưng phía Đông lại khúc khuỷu, hình răng cưa, có nhiều vịnh, nhiều cảng tựnhiên, an toàn và thuận lợi cho tàu thuyền neo đậu, di chuyển Bờ biển Tây

Trang 7

Tiểu Á cũng thuận lợi cho tàu thuyền như vậy Hi Lạp có nhiều đảo trên biểnÊgiê, là nơi dừng chân của các tàu thuyền, tạo cầu nối giữa lục địa Hi Lạp vớimiền Tiểu Á Khi các tàu thuyền di chuyển trên biển Êgiê, khoảng cách vớiđất liền và đảo luôn không lớn.

Đất đai Hi Lạp nhìn chung kém màu mỡ, chỉ có một số vùng đồng bằngkhông lớn lắm Do vậy, hoạt động trồng trọt cây lương thực không có điềukiện như ở phương Đông, song đất đai đó hợp với cây Ôliu lấy dầu và câynho làm rượu Điều kiện tự nhiên đó tạo nên khuynh hướng phát triển kinh tếthủ công nghiệp và buôn bán bằng đường biển hơn là làm nông nghiệp của cưdân Khuynh hướng này là cơ sở của nền văn minh có nhiều điểm khác biệt sovới phương Đông Mặt khác, điều kiện đất đai cũng khiến cho việc canh tácgặp khó khăn, nên chỉ tới thời đại đồ sắt, cư dân nơi đây mới tạo được sựchuyển biến mạnh trong sản xuất Do vậy, nền văn minh xuất hiện muộn sovới phương Đông, trừ trường hợp văn minh Cret-Myxen, nền văn minh biển –đảo, có nhiều nét giống với văn minh phương Đông cổ đại

Đặc điểm Dân cư :

Dân cư cổ nhất của thế giới Hi Lạp là cư dân đã sáng tạo nên nền vănminh Cret-Myxen, khoảng thiên niên kỷ III – II TCN, trên đảo Cret, một vàiđảo khác và vài vùng đất của lục địa Hi Lạp

Cuối thiên niên kỷ III, đầu thiên niên kỷ II TCN, các tộc người Hi Lạpthuộc ngữ hệ Ấn – Âu từ phía Bắc – hạ lưu sông Đanuýp xuống bán đảo BanCăng và các đảo trên biển Êgiê Quá trình này kéo dài hơn 1000 năm, kết thúcvới việc cư dân Hi Lạp chinh phục và định cư ở đây (người Đôrien định cư ởbán đảo Pêlôpône, đảo Cret và vài hòn đảo nhỏ ở nam Êgiê ; người Iônien ởvùng đồng bằng Attich, đảo Ôbê và ven bờ tây Tiểu Á ; người Akêen chủ yếuđịnh cư ở miền Trung Hi Lạp ; người Êôlien ở Bắc Hi Lạp, một số đảo trênbiển Êgiê và ven bờ Tiểu Á) Họ xây dựng nên các thành bang trong lịch sử,cùng tự nhận chung nguồn gốc (thần Hêlen - Hellene, gọi quốc gia là Henlát -Hellas), cùng chung tôn giáo, tập quán, tín ngưỡng

Trang 8

Về kinh tế - xã hội – chính trị:

Kinh tế: Nền kinh tế thủ công nghiệp và thương nghiệp phát triển, nhất

là thương mại hàng hải do điều kiện tự nhiên ưu đãi Trình độ sản xuất khácao so với xã hội cổ đại phương Đông, sự phân công lao động diễn ra rõ nét.Đây là một cơ sở quan trọng cho sự hưng thịnh của nền văn minh Hi Lạp

Xã hội: xã hội chiếm hữu nô lệ, với hai giai cấp cơ bản là chủ nô và nô

lệ Giai cấp chủ nô dùng quyền sở hữu tư liệu sản xuất và sở hữu chính bảnthân người nô lệ để bóc lột thành quả lao động của nô lệ, lực lượng lao độngchính nuối sống xã hội những hoàn toàn không có quyền hành gì, chỉ là mộtthứ công cụ của chủ nô

Chính trị: Nhà nước ra đời từ sự phát triển trong nội bộ xã hội, xóa bỏ

tàn dư xã hội nguyên thủy 

Nhà nước thành bang: các nhà nước Hi Lạp tồn tại dưới hình thức nhà

nước thành bang hay quốc gia thành thị (polis), với một thành thị là hạt nhân,độc lập với nhau và không bao giờ trở thành một quốc gia thống nhất, trừtrường hợp bị thống trị bằng vũ lực từ bên ngoài 

 Chế độ dân chủ chủ nô: dù mô hình nhà nước có khác biệt nhau (cộng

hòa quý tộc như Xpác hay cộng hòa dân chủ như Aten) song xã hội các thànhbang đều được tổ chức theo nguyên tắc của chế độ dân chủ chủ nô, chế độ màquyền lực thuộc về một nhóm, một tập thể người, đại biểu cho quyền lợi củagiai cấp chủ nô, áp bức, bóc lột với giai cấp nô lệ

Phương thức sản xuất chiếm nô điển hình Nền văn minh Hi Lạp cổ đại

là nền văn minh ra đời và phát triển trên cơ cở phương thức sản xuất chiếmhữu nô lệ

Các thời kỳ lớn của lịch sử Hi Lạp cổ đại:

*Văn minh Cret - Myxen (Thiên niên kỷ III - thiên niên kỷ II TCN)

+ Cret là tên một hòn đảo phía Nam biển Ê-giê, từng tồn tại một nền vănminh cổ xưa, từ khoảng thiên niên kỷ III đến cuối thiên niên kỷ II TCN.Myxen là một tên một vùng đất trên bán đảo Pelopones, Nam Hi Lạp, có nền

Trang 9

văn minh tồn tại từ khoảng cuối thiên niên kỷ III đến cuối thiên niên kỷ IITCN Người ta gọi chung là văn minh Cret - Myxen, bởi chúng có nhữngđiểm tương đồng cơ bản, là nền văn minh mở đầu trong lịch sử Hi Lạp.

+ Cư dân của văn minh Cret - Myxen làm nông nghiệp là chủ yếu, đồngthời cũng phát triển thủ công nghiệp và hoạt động buôn bán

+ Cret - Myxen là một nền văn minh của xã hội có giai cấp và nhà nước,cũng giống như văn minh phương Đông cổ đại, bị tàn tạ vào thiên niên kỷ IITCN, cùng với những cuộc thiên di của các tộc ngời Hi Lạp từ phía Bắc trànxuống, chinh phục và định cư Văn minh Cret – Myxen là nền văn minh mởđầu của lịch sử Hi Lạp, nhưng nền văn minh tiếp theo đó không tiếp nối thànhtựu của nó

* Thời đại Hôme (Homère) trong lịch sử Hi Lạp (thế kỷ XI -  IX TCN) 

Thời đại Hôme (vì giai đoan lịch sử này được phản ánh chủ yếu tronghai sử thi - anh hùng ca Iliát và Ôđixê tương truyền do Hôme sáng tác) là thời

kỳ tan rã của xã hội thị tộc - bộ lạc trong cộng đồng những tộc người Hi Lạp(Đôrien và Iônien) thiên di từ phía Bắc xuống

Cư dân thời đại Hôme sống định cư trên các vùng của lục địa Hi Lạp vàcác hòn đảo xung quanh, chủ yếu làm nông nghiệp và chăn nuôi, cùng với đó

là hoạt động thủ công nghiệp

Chế nộ nô lệ sơ khai đã ra đời song mang nặng tính chất nô lệ gia ởng, có nhiều nét giống với xã hội cổ đại phương Đông

trư-* Thời kỳ xuất hiện và phát triển lên đến đỉnh cao của xã hội có giai cấp, nhà nước trong lịch sử Hi Lạp (thế kỷ VIII - V TCN)

Sau thời đại Hôme, Hi Lạp bước vào giai đoạn hình thành và phát triển

xã hội có giai cấp và nhà nước Từ thế kỷ VIII đến thế kỷ VI TCN, các thànhbang Hi Lạp dần hình thành và phát triển, nổi bật là Xpác (Sparte) và Aten(Athen) Sau chiến tranh với đế quốc Ba Tư (thế kỷ V TCN), các thành bang

Hi Lạp đạt tới sự phát triển đỉnh cao, trong đó Aten trở thành trung tâm của

Trang 10

nền văn minh Hi Lạp, thể hiện đầy đủ những đặc trưng và đỉnh cao của xã hội

Hi Lạp thời cổ đại

Chế độ chiếm hữu nô lệ hình thành và phát triển, nền kinh tế Hi Lạp cổđại dựa trên cơ sở của nó, với hoạt động chính là thủ công nghiệp và mậu dịchhàng hải Các thành bang Hi Lạp trở thành trung tâm văn minh thời cổ đại vớinhững thành tựu rực rỡ chưa từng có trước đó

Vào cuối thế kỷ V TCN, những cuộc chiến tranh trong nội bộ các thànhbang Hi Lạp đã dẫn tới sự suy thoái của họ, dẫn đến sự thống trị của đế quốcMakêđônia (Macédonia) từ cuối thế kỷ IV TCN

* Hi Lạp trong thời kỳ thống trị của Makêđônia -  Thời kỳ “Hi Lạp hóa” (từ năm 334 đến năm 30 TCN):

Cuối thế kỷ IV, quốc gia Makêđônia ở miền Bắc Hi Lạp trở nên cườngthịnh sau khi tiếp thu văn hóa Hi Lạp, chinh phục hầu hết các thành bang HiLạp, đến thời Alếchxanđrơ (Alexandre), trở thành một đế quốc lớn, thống trịnhiều vùng đất ở Đông Nam Âu, Tây Á và Bắc Phi Nhưng đế quốc đó mauchóng tan rã sau khi chết (năm 323 TCN)

Thời kỳ này, các thành bang Hi Lạp suy thoái,  nhưng văn hóa Hi Lạpđược truyền bá rộng rãi trong lãnh thổ của đế quốc Makêđônia , vậy nên gọi

là thời kỳ “Hi Lạp hóa”

Trong khi đó nhà nước Roma ở bán đảo Italia không ngừng phát triển và

đã chinh phục hầu hết lãnh thổ của Hi Lạp

1.2.2 Tổng quan về La Mã cổ đại

Điều kiện tự nhiên:

Bán đảo Ý dài và hẹp vươn ra Địa Trung Hải, với dãy Alpes về phía Bắcngăn cách với châu Âu Bán đảo Ý trong trên bản đồ như một chiếc ủng, baobọc ba mặt là biển, phía Nam bán đảo là đảo Sicilia, phía Tây làđảo Corse và Sardegna

Bán đảo Ý có những điều kiện thuận lợi để hình thành và phát triển mộtnền văn minh: những đồng bằng phì nhiêu bên sông Po, Trung Ý và đảo

Trang 11

Sicilia cùng với khí hậu ấm áp mưa nhiều; bán đảo Ý cũng là nơi cólượng khoáng sản phong phú như đồng, chì, sắt, v.v.; giao thông biển rấtthuận lợi cho việc buôn bán, giao lưu với các nền văn minh khác trong vùng.Nền văn minh La Mã là nơi khá sớm có con người cư trú, có thể khẳngđịnh vào loại sớm nhất với lục địa châu Âu Bán đảo Ý là nơi hội tụ của cácnền văn minh Đông và Tây Địa Trung Hải, Bắc Phi Mặc dù sự cực thịnh củanền văn minh La Mã không được các nhà nghiên cứu đánh giá sớm hơn cácnền văn minh lân cận, như nền văn minh Ai Cập cổ đạihay nền văn minh Tây

Á nhưng lại phát triển rực rỡ và cực thịnh

Từ thời đồ đá cũ đã xuất hiện những cư dân sống ở bán đảo Thời kỳnày, sự di cư của các cư dân từ các lục địa vào bán đảo Ý và bị cách biệt vớiphần còn lại của châu Âu bởi dãy núi Alpes nên việc giao lưu gần như bắtbuộc với các nền văn minh khác quanh biển Địa Trung Hải Cư dân của La

Mã tương đối thuần nhất do phạm vi hẹp và tương tự một ốc đảo ở Nam châu

Âu, được gọi chung là người Ý

Dân cư:

Người dân có mặt sớm nhất ở trên bán đảo Italia được gọi là Italiot,

trong đó bộ phận sống trên đồng bằng latium là người gốc Latinh (Latin),ngoài ra còn có một số nhỏ người gốc Gôloa và gốc Hy Lạp

Quá trình phát triển của nền văn minh La Mã:

Lịch sử của La Mã có thể được chia ra thành ba thời kỳ chính như sau:Thời kỳ cổ đại Estrusque, Từ thế kỷ thứ 8 đến hết thế kỷ thứ 4 TCN:

Ở thời kỳ này, xã hội La Mã còn manh mún, các chủ đất chưa thống nhất

và phân chia tranh giành ảnh hưởng và cân bằng lẫn nhau Kinh tế dựa vàonông nghiệp là chủ yếu, lãnh thổ La Mã chủ yếu tập trung tại miền Nam Ýngày nay

Thời kỳ Cộng hòa La Mã, (từ thế kỷ thứ 3 đến thế kỷ thứ 1 TCN:

Trang 12

Thời kỳ này hình thành một nhà nước cộng hòa tại Roma mà về sau ảnhhưởng rất lớn đến đường lối chính trị của nhiều quốc gia Tây Phương, và chođến ngày nay vẫn còn giá trị.

Thời kỳ Đế quốc La Mã (Từ thế kỷ thứ 1 TCN đến năm 476):

Đó là thời kỳ phát triển rực rỡ của La Mã bằng việc bành trướng lãnhthổ, Đế quốc La Mã có lãnh thổ hầu như toàn bộ khu vực Địa Trung Hải Lầnlượt các vùng lãnh thổ như, Hy Lạp (146 TCN), cùng với lãnh thổ Tiểu

Á, Syria, Phoenicia, Palestine và Ai Cập bị sáp nhập vào Đế quốc La Mã.Trong thế kỷ thứ 1 đến thế kỷ thứ 2, Đế quốc La Mã phát triển cực thịnh, lãnhthổ rộng lớn, các đô thị của La Mã được xây dựng và để lại cho đến ngày nay:Londinium, (London ngày nay), Lucdium, (Lyon ngày nay), Köln, Strasburg, Viên

Nhưng từ thế kỷ thứ 2, Đế quốc La Mã có nhiều tranh giành quyền lực

và suy yếu Đến thế kỷ thứ 4, nhiều cư dân bên ngoài xâm nhập và Đế quốc

La Mã bị chia hai: Tây La Mã và Đông La Mã (gọi là Đế chế Byzantine) Tây

La Mã bị sụp đổ vào năm 476; và Đế quốc Đông La Mã bị sụp đổ vào năm

1453.[1]

Kinh tế: mặc dù kinh tế thủ công nghiệp và thương mại rất phát triển

song kinh tế nông nghiệp của La Mã lại đóng vai trò qua trọng, mang tínhquyết định đến sự phát triển của èn kinh tế - xã hội Điều này do những đặcđiểm của điều kiện tự nhiên quy định: La Mã cổ đại có những đồng bằng màu

mỡ trên bán đảo Italia, thuận lợi cho nông nghiệp, nhất là các cây cung cấpnguyên liệu cho thủ công nghiệp; mặt khác, đế quốc La Mã không ngừng mởrộng, bao gồm nhều vùng đất trù phú ở châu Âu, Bắc Phi, châu Á thuận lợicho sản xuất nông nghiệp Nhưng mặt khác, kinh tế nông nghiệp với hìnhthức chủ yếu là đại điền trang Latiphundia lại gắn bó chặt chẽ với thị trườnghàng hóa, tiền tệ (không trồng lương thực mà chủ yếu trồng cây công nghiệp),tham gia vào mạng lưới trao đổi, buôn bán nên nó hoàn toàn khác với nềnkinh tế tự nhiên, khép kín của phương Đông

Trang 13

Chính trị: Ban đầu nhà nước La Mã (Roma) ra đời dưới hình thức nhà

nước thành bang như các thành thị Hi Lạp, nhưng quá trình phát triển của nóhoàn toàn khác, dần trở thành một đế quốc rộng lớn, cai trị nhiều vùng đấtkhác nhau, có mọt chính quyền trung ương hùng mạnh Mặt khác, tính dânchủ của nền chính trị La Mã suy giảm dần cùng với tiến trình lịch sử của nó:

từ nền cộng hòa chuyển sang thể chế đế chế, từ nhà nước dân chủ dần chuyểnsang nhà nước quân chủ, mặc dù không hoàn toàn giống như nhà nước quânchủ chuyên chế phương Đông

Những khác biệt đó của xã hội La Mã cổ đại ảnh hưởng sâu sắc tới nềnvăn minh La Mã, khiến cho nó tiếp thu nhiều thành tựu khác nhau, cơ bản làvăn minh Hi Lạp những không chỉ có yếu tố Hi Lạp Mặt khác, sự phát triểnmuộn màng của nó so với văn minh Hi Lạp vốn đã vo cùng rực rỡ và vĩ đạinên văn minh La Mã có nội dung chủ yếu là kế thừa và biến cải, phát triểnnhững thành tựu của văn minh Hi Lạp

1.3 Đặc trưng của tư tưởng chính trị Hy lạp – La Mã cổ đại

Tư tưởng chính trị Hy Lạp – La mã cổ đại xuất hiện từ rất sớm và mangnhững đặc điểm khái quát sau:

Tư tưởng chính trị Hy Lap – La Mã cổ đại gắn liền với quá trình tiến hoácủa xã hội và nhà nước Hy Lạp – La Mã chiếm hữu nô lệ; Đồng thời nó cũngchịu tác động nhất định của văn hoá phương Đông Trong sự phát triển củamình, tư tưởng chính trị Hy Lạp – La Mã cổ đại trải qua ba thời kì: thời kì thứnhất là thời kì phát sinh quan niệm về nhà nước gắn liền với việc hình thànhthể chế nhà nước; thời ìkì thứ hai chính là thời kì phát triển cao và tổng kếtnhững tư tưởng về nhà nước trùng hợp với thời kì hưng thịng và suy vong củanền dân chur chiếm nô; Thời kì thứ ba chính là thời kì khủng hoảng những tưtưởng chính trị, thời kì suy vong của hệ thống quốc gia -thành thị

Tư tưởng chính trị Hy Lạp – La Mã cổ đại chủ yếu phản ánh ý thức hệgiai cấp chủ nô thống trị Mâu thuẫn giai cấp cơ bản trong xã hội chiếm nô Hy– La cổ đại là mâu thuẫn giữa nô lệ và chủ nô Những khát vọng của giai cấp

Trang 14

nô lệ được phản ánh trong những câu chuyêjn kể, thần thoại, mơ ước về thờihoàng kim đã qua, song không phải là tư tưởng tiêu biểu Ngay cả trong thànhbang Aten, với chế độ chiếm nô dân chủ, nhưng những tư tưởng tự do củanhững người dân tự do cũng chủ yếu là những tiếng thở dài tiếc thương mộtthời đã qua Trái lại, cùng với quá trình xác lập nhà nước chiếm nô, những tưtưởng phản ánh lợi ích của giai cấp chủ nô đã trở thành tư tưởng chính trịchính thống Nó thực sự là công cụ hữu hiệu để duy trì trật tự xã hội chiếm

nô, mặc dù hình thức có thay đổi

Tư tưởng chính trị Hy – La cổ đại đã đề cập tới nội dung khá toàn diện

về chính trị, từ quan niệm về chính trị, bản chất chính trị, thể chế chính trị đềcập tới con người chính trị với tư cách là tinh hoa: thủ lĩnh chính trị Điều đómột mặt phản ánh cuộc đấu tranh giai cấp giữa chủ nô và nô lệ khá gay gắt,mặt khác cũng phản ánh tư duy của người phương Đông mà trước hết là kiếnthức khoa học tự nhiên của người Ai Cập, Babilon và một phần kiến thức củangười Ấn Độ cổ đại

Trang 15

CHƯƠNG 2: CÁC TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ TIÊU BIỂU CỦA HY LẠP

– LA MÃ CỔ ĐẠI 2.1 Tư tưởng chính trị của Herodotus

Herodotus là nhà sử học người Hy Lạp và là một trong những sử gia nổitiếng nhất trong lịch sử thế giới cổ đại Herodotus sinh trưởng ở Halicarnassenơi giao lưu của nhiều luồng văn minh Đông – Tây Ông được tiếp thu mộtnền giáo dục chu đáo và lớn lên dưới sự sùng kính Homère (tác giả củatrường ca nổi tiếng Iliat và Odicer)

Đi nhiều nơi và quan tâm tìm hiểu khá cặn kẽ nhiều vấn đề, Herodotus

đã cho ra đời tới 9 tác phẩm lớn viết về lịch sử Hy Lạp, Ai Cập, Ba Tư,Babylonna, Assyrie… trong đó nổi tiếng nhất là quyển VI Erato “Cuộc chiếntranh Hy Lạp Ba Tư” (thế kỷ V TCN) Các tác phẩm của Herodotus không chỉphản ánh các sự kiện, các biến cố lịch sử mà còn thể hiện những nghiện cứucủa ông về kinh tế, chính trị, đời sống xã hội, dân tộc học, khoa học tự nhiêncủa nhiều nước ở vùng Địa Trung Hải rộng lớn Song, nội dung lịch sử vẫn làchủ yếu trong các tác phẩm của ông

Nghiên cứu chính trị của Herodotus cũng mang giá trị lớn, tư tưởngchính trị của ông được thể hiện qua những vấn đề về chính thể nhà nước nhưsau:

Chính thể quân chủ là thể chế chính trị độc quyền của một người – thểchế này xuất hiện có tính chất tiền định trong hai trường hợp; khi mới lậpquốc, vua là người có công khai quốc, là người anh minh đức độ, cầm quyền

vì dân vì nước; khi xã hội rơi vào trạng thái hỗn loạn do sự thoái hoá củachính thể quý tộc và dân chủ Nhưng cũng do chỗ quá lạm quyền lực tậptrung trong tay nên vua không cho ai có quyền phản kháng, phê phán, sống xadân

Thể chế quý tộc: là thể chế xây dựng trên cơ sở một nhóm người tinhhoa về trí tuệ và phẩm chất cầm quyền vì lợi ích chung của quốc gia Ưu điểmcủa thể chế này là sự bàn bạc, tranh cãi giữa các nhà cầm quyền sẽ đưa ra

Ngày đăng: 10/04/2023, 14:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w