LUẬT HÌNH SỰ PHẦN CÁC TỘI PHẠM I NHẬN ĐỊNH 1 Hành vi khách quan của các tội phạm quy định trong Chương các tội xâm phạm sở hữu chỉ là hành vi chiếm đoạt tài sản Nhận định sai Hành vi khách quan của.
Trang 1I NHẬN ĐỊNH.
1 Hành vi khách quan của các tội phạm quy định trong Chương các tội xâm phạm sở hữu chỉ là hành vi chiếm đoạt tài sản.
Nhận định sai
Hành vi khách quan của các tội quy định trong Chương các tội xâm phạm sở hữu không chỉ có hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn có các hành vi sau:
- Hành vi chiếm giữ trái phép tài sản: là hành vi có được tài sản đã thoát ly ra khỏi sự quản lý của chủ sở hữu một cách ngẫu nhiên và cố tình không trả lại tài sản khi có yêu cầu từ chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền
- Hành vi sử dụng trái phép tài sản: là hành vi khai thác công dụng từ tài sản của người khác mà không được sự đồng ý của chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản
- Hành vi huỷ hoại tài sản: là làm cho tài sản mất đi giá trị sử dụng ở mức độ không thể khôi phục được
- Hành vi làm hư hỏng tài sản: là hành vi làm giảm đi giá trị sử dụng của tài sản nhưng vẫn còn khả năng phục hồi
- Hành vi vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản: là hành vi vi phạm các quy tắc an toàn gây thiệt hại nghiêm trọng cho tài sản của người khác, thể hiện dưới dạng hành vi thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp hoặc vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản
2 Rừng chỉ là đối tượng tác động của các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế.
Nhận định sai
Rừng không chỉ là đối tượng tác động của các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế rừng còn có thể là đối tượng tác động của các tội danh khác như các tội xâm phạm sở hữu hoặc các tội phạm về môi trường
Chẳng hạn, nếu là rừng trồng thuộc sở hữu của cá nhân, hộ gia đình hay tổ chức cũng có thể là đối tượng tác động của các tội xâm phạm sở hữu Tuỳ vào loại hành vi mà có thể
xử vào các tội khác nhau trong nhóm tội này Nếu là rừng phòng hộ, rừng sản xuất, rừng
tự nhiên hoặc rừng trồng mà có vốn tù nhà nước thì có thể là đối tượng tác động của các tội phạm môi trường, cụ thể là Tội huỷ hoại rừng
Trang 23 Không phải mọi loại tài sản bị chiếm đoạt đều là đối tượng tác động của các tội xâm phạm sở hữu.
Nhận định đúng
Đối tượng tác động của các tội xâm phạm phạm sở hữu là tài sản Tuy nhiên không phải tất cả các tài sản đều có thể là đối tượng tác động mà tài sản đó phải thuộc các nhóm sau đây với những đặc điểm nhất định:
- Thứ nhất, tài sản phải là vật có thật, do lao động của con người làm ra, không có tính năng đặc biệt, có giá trị và có chủ sở hữu
- Thứ hai, tài sản có thể là tiền (đồng Việt Nam hoặc ngoại tệ)
- Thứ ba, giấy giờ có giá vô danh
Nếu tài sản bị chiếm đoạt không thuộc một trong các loại trên cũng như không thoả mãn đặc điểm của từng loại thì không thể là đối tượng tác động của tội xâm phạm sở hữu Chẳng hạn, tài sản bị chiếm đoạt lại là vật không do lao động con người tạo ra mà là tài sản trong tự nhiên thì không thể là đối tượng tác động của các tội xâm phạm sở hữu mà sẽ
là đối tượng tác động của các tội về môi trường hoặc kinh tế…
Hay trường hợp một người thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản nhưng tài sản đó lại có tính năng đặc biệt như súng hay ma tuý, thì tài sản đó không được xem là đối tượng tác động của tội xâm phạm sở hữu mà là đối tượng tác động của nhóm tội phạm khác
4 Dùng vũ lực nhằm chiếm đoạt tài sản mà dẫn dến hậu quả chết người là hành vi cấu thành cả hai tội: Tội cướp tài sản (Điều 168 BLHS) và Tội giết người (Điều 123 BLHS).
Nhận định sai
Không phải trường hợp dùng vũ lực nhằm chiếm đoạt tài sản mà dẫn đến hậu quả chết người nào cũng cấu thành cả hai tội: Tội cướp tài sản và Tội giết người Chỉ trong trường hợp người phạm tội dùng vũ lực nhằm chiếm đoạt tài sản mà hành vi dùng vũ lực đó là hành vi cố ý giết nạn nhân và mong muốn hậu quả nạn nhân chết xảy ra, nói cách khác là hành vi tước đoạt tính mạng người khác trái pháp luật thì mới cấu thành hai tội trên Còn trường hợp người phạm tội cố ý với hành vi dùng vũ lực nhưng vô ý với hậu quả chết người (hỗn hợp lỗi) thì không cấu thành hai tội trên mà chỉ cấu thành Tội cướp tài sản (Điều 168 BLHS) nhưng áp dụng tình tiết định khung tăng nặng ở khoản 4 Điều 168
Trang 35 Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai triệu đồng trở lên mà có biểu hiện gian dối là hành vi chỉ cấu thành Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 174 BLHS).
Nhận định sai
Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai đồng trở lên mà có biểu hiện gian dối thì không chỉ cấu thành Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản mà còn có thể cấu thành Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo Điều 175 BLHS năm 2015
Theo đó, một trong những trường hợp để cấu thành Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản thì người phạm tội sẽ phải thực hiện hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản có giá trị từ 4 triệu đồng trở lên (đối với tài sản thông thường) hoặc dưới 4 triệu đồng (thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 175) và hành vi chiếm đoạt
đó được thực hiện bằng thủ đoạn gian dối để không trả lại tài sản
Vậy, nếu một người thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai triệu đồng trở lên mà đó lại là hành vi lạm dụng tín nhiệm để chiếm đoạt tài sản bằng thủ đoạn gian dối
để không trả lại tài sản (tức có biểu hiện gian dối) thì có thể cấu thành Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản chứ không phải Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
6 Mọi hành vi không trả lại tài sản sau khi đã vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng mà tài sản có giá trị từ 4 triệu đồng trở lên đều cấu thành Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 175 BLHS).
Nhận định sai
Để cấu thành Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo Điều 175 BLHS thì đòi hỏi người phạm tội phải có hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản Theo đó, hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản phải có các đặc điểm sau:
- Thứ nhất, người phạm tội nhận được tài sản một cách ngay thẳng, hợp pháp
- Thứ hai, người phạm tội phải chiếm đoạt toàn bộ hoặc một phần tài sản được giao bằng một số thủ đoạn nhất định như gian đối hoặc bỏ trốn để không trả lại tài sản, hoặc sử dụng vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại, hoặc cố tình không trả mặc dù có khả năng, điều kiện điều kiện để trả lại
Trang 4Vậy, nếu trong trường hợp một người có hành vi không trả lại tài sản sau khi đã vay, mượn, thuê của người khác hoặc nhận được tài sản thông qua các hình thức hợp đồng và tài sản đó có giá trị từ 4 triệu đồng trở lên nhưng hành vi không trả lại đó không phải do
sự cố ý của họ mà xuất phát từ lại một lý do khách quan, khiến họ không có khả năng hoàn trả và họ cũng không sử dụng tài sản vào mục đích bất hợp pháp nào thì không thể xem là cấu thành Tội lạm dụng tín nhiệm nhằm chiếm đoạt tài sản
II BÀI TẬP.
Bài tập 1:
Tội danh đối với hành vi của T là Tội cướp tài sản Điều 168 và Tội giết người Điều 123 BLHS năm 2015
Đối với Tội cướp tài sản (Điều 168 BLHS năm 2015):
- Về khách thể: Quyền sở hữu sợi dây chuyền của cháu N và quyền nhân thân của cháu N.
- Về đối tượng tác động: Cháu N và sợi dây chuyền vàng của cháu N.
- Về chủ thể: T là người có năng lực chịu trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm
hình sự Vậy, T là chủ thể của tội phạm – chủ thể thường
- Về mặt khách quan: T đã có hành vi dùng vũ lực đối với cháu T, được thể hiện qua tình
tiết sau: T bước qua mé mương lấy một khúc gỗ cây còng lớn bằng cổ tay Cầm khúc cây trên tay, T nhanh bước đến phía sau lưng cháu N và vung tay đập mạnh vào đầu cháu N làm cháu té xuống đất Cháu N la lên kêu cứu thì T tiếp tục đánh vào đầu cháu N cái thứ hai khiến N bất tỉnh
-Về mặt chủ quan:
+ Thái độ tâm lý của T trong trường hợp này là lỗi cố ý trực tiếp
Bởi lẽ, nếu là một người có đủ khả năng nhận thức và làm chủ hành vi T sẽ biết được hành cướp tài sản của mình là hành vi nguy hiểm cho xã hội Về ý chí thì A cũng mong muốn hành vi này xảy ra
+ Về mục đích: Tình tiết sau khi thấy cháu N đeo sợi dây chuyền nên T đã nảy sinh ý định chiếm đoạt cho thấy A đã có mục đích chiếm đoạt tài sản của T Mục đích này cũng thể hiện thông qua hành vi chiếm đoạt sợi dây chuyền của T trên thực tế
Trang 5Từ những phân tích trên, hành vi của T đã đủ yếu tố cấu thành Tội cướp tài sản Điều 168 BLHS năm 2015
Đối với Tội giết người (Điều 123 BLHS năm 2015):
- Về khách thể: Quyền được sống của cháu N.
- Về đối tượng tác động: Con người đang sống – cụ thể là cháu N.
- Về chủ thể: T là người có năng lực chịu trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm
hình sự Vậy, T là chủ thể của tội phạm – chủ thể thường
- Về mặt khách quan:
+ Hành vi:Tình tiết T đánh cháu N bất tỉnh và sau đó T ôm cháu N dìm xuống mương, nhấn xác cháu xuống bùn cho thấy T đã có hành vi tước đoạt mạng sống của cháu N + Hậu quả: thiệt hại thể chất – 1 người chết, cụ thể là cháu N
+ Mối quan hệ nhân quả: hành vi dùng vũ lực của T là nguyên nhân trực tiếp khiến cho cháu N tử vong
-Về mặt chủ quan: Thái độ tâm lý của T trong trường hợp này là lỗi cố ý trực tiếp.
+ Về lý trí: T hoàn toàn nhận thức được việc mình đánh cháu N và nhấn xác cháu xuống bùn là nguy hiểm cho xã hội cũng như T vẫn biết được hậu quả là cháu N sẽ chết
+ Về hậu quả: Thấy được hậu quả xảy ra nhưng vẫn mong muốn thực hiện
Từ những phân tích trên, hành vi của T đã đủ yếu tố cấu thành Tội giết người Điều 123 BLHS năm 2015
Bài tập 3:
Hành vi của A và B là phạm tội, cụ thể là Tội cướp tài sản theo Điều 168 BLHS và Tội cưỡng đoạt tài sản theo Điều 170 BLHS
Đối với Tội cướp tài sản Điều 168 BLHS:
- Về khách thể: quyền sở hữu tài sản trị giá 30 triệu đồng và quyền nhân thân của ông X.
- Về đối tượng tác động: Số tài sản trị giá 30 triệu và ông X.
- Về chủ thể: Ở đây, A và B cùng thực hiện một tội phạm, nói cách khác là đồng phạm B
là người thực hành (vì B đã thực hiện hành vi khách quan củ Tội cướp tài sản) và A là
Trang 6người giúp sức (A tạo điều kiện tinh thần để A thực hiện hành vi phạm tội) Vậy, A và B được xác định là chủ thể của tội phạm – chủ thể thường
- Về mặt chủ quan:
+ Thái độ tâm lý của A và B trong trường hợp này là cố ý trực tiếp
+ Về mục đích: A và B có thể nhận thức được hành vi này là hành vi nguy hiểm cho xã hội và mong muốn hành vi đó xảy ra Tình huống này cho thấy, A và B đã có mục đích chiếm đoạt tài sản từ trước và mục đích này đã thể hiện thông qua hành vi chiếm đoạt tài sản trên thực tế
- Về mặt khách quan: B Theo tình huống, trong khi A và ông X đang quan hệ trong nhà
nghỉ thì B đã xong vào đánh ông X và yêu cầu ông X đưa 300 triệu Sau kho ông X không đưa, B lại tiếp tục đánh và lấy đi toàn bộ tài sản của ông Tình tiết trên cho thấy, A
đã có hành vi dùng vũ lực với ông X
Từ những phân tích trên, hành vi của A và B cấu thành Tội cướp tài sản Điều 168 BLHS
Đối với Tội cưỡng đoạt tài sản Điều 170 BLHS:
- Về khách thể: quyền sở hữu tài sản trị giá 250 triệu và quyền nhân thân của ông X.
- Về đối tượng tác động: số tiền trị giá 250 triệu.
- Về chủ thể: A và B cùng thực hiện một tội phạm, nói cách khác là đồng phạm B là
người thực hành (vì B đã thực hiện hành vi khách quan củ Tội cưỡng đoạt tài sản) và A là người giúp sức (A tạo điều kiện tinh thần để A thực hiện hành vi phạm tội) Vậy, A và B được xác định là chủ thể của tội phạm – chủ thể thường
- Về mặt chủ quan:
+ Thái độ tâm lý của A và B trong trường hợp này là cố ý trực tiếp
A và B có thể nhận thức được hành vi này là hành vi nguy hiểm cho xã hội và mong muốn hành vi đó xảy ra
+ Về mục đích: A và B đã nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản từ trước và khi uy hiếp ông
X, B cũng thể hiện rằng mình muốn chiếm đoạt tài sản của ông X Vì thế, A và B được xem là có mục đích chiếm đoạt tài sản
Trang 7- Về mặt khách quan: B đã chụp hình ông X và A, sau đó nói với X rằng sẽ đưa những
tấm hình cho vợ con ông X nếu không đưa tiềnTình tiết này cho thấy B đã có hành vi dùng thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần của ông X
Từ những phân tích trên, hành vi của A và B cấu thành Tội cưỡng đoạt tài sản Điều 170 BLHS
Bài tập 4:
Hành vi của A và B phạm vào Tội trộm cắp tài sản theo Điều 173 BLHS
Hành vi của A và B có phạm tội
B phạm tội tội cưỡng đoạt tài sản (Điều 170) và tội cướp tài sản (Điều 164 BLHS năm 21015)
A là người giúp sức
- Về khách thể: Quyền sở hữu tài sản của người chủ chiếc xe máy.
- Về đối tượng tác động: Chiếc xe SUZUKI.
- Về chủ thể: A và B đã cùng thực hiện một tội phạm Theo đó, B là người thực hành (vì
B đã thực hiện hành vi khách quan của Tội trộm cắp tài sản) và A là người giúp sức (vì A
đã tạo điều kiện tinh thần cho B bằng việc đứng bên ngoài canh chừng để báo động) Vậy, A và B là chủ thể của tội phạm – chủ thể thường
- Về mặt chủ quan: Thái độ tâm lý của A và B trong trường hợp này là cố ý trực tiếp.
+ Về lý trí: A và B chắc chắn biết hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội cũng như biết được hậu quả chiếc xe máy bị lấy trộm sẽ xảy ra
+ Về ý chí: A và B chắc chắn mong muốn hành vi và hậu quả xảy ra
- Về mặt khách quan:
+ Hành vi: A đã đứng bên ngoài canh gác và B đã đi vào trong bãi xe, lựa 1 chiếc xe máy
và chạy nhanh qua nơi kiểm soát Tình tiết trên cho thấy, B đã có sự lén lút chiếm đoạt tài sản đang có người quản lý
+ Hậu quả: Thiệt hại vật chất, cụ thể là chiếc xe máy
+ Mối quan hệ nhân quả: Hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của B là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến hậu quả là chiếc xe máy bị chiếm đoạt
Từ những phân tích trên, hành A và B đã cấu thành Tội trộm cắp tài sản theo Điều 173 BLHS
Bài tập 6:
- Về khách thể: Quyền sở hữu container xà bông của công ty Y.
- Về đối tượng tác động: Container xà bông trị giá 400 triệu của công ty Y.
Trang 8- Về chủ thể: A và B là người có năng lực chịu trách nhiệm hình sự cũng như đủ tuổi chịu
trách nhiệm hình sự A và B đã cùng thực hiện một tội phạm, cụ thể B là người thực hành (vì B đã thực hiện hành vi khách quan của tội phạm) và A là người giúp sức (A tạo điều kiện vật chất cho B phạm tội) Vậy A và B là chủ thể của tội phạm – chủ thể thường
- Về mặt khách quan:
+ Hành vi: Theo tình huống, lợi dụng lúc vắng người, A đã trộm một phiếu giao nhận và đưa cho B Sau đó, B thuê xe vào cảng Cát Lái và tự nhận mình là nhân viên do công ty
X điều động rồi dùng phiếu giao nhận do A đưa lấy đi một containe hàng xà bông Tình tiết trên cho thấy, B đã thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản bằng thủ đoạn gian dối + Hậu quả: thiệt hại về vật chất – container hàng xà bông là tài sản của công ty Y bị B bán thu được 400 triệu đồng
+ Mối quan hệ nhân quả: hành vi tự nhận mình là nhân viên do công ty X điều động rồi dùng phiếu giao nhận do A đưa lấy đi một containe hàng xà bông là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến thiệt hại 400 triệu đồng
- Về mặt chủ quan: Thái độ tâm lý của A và B trong trường hợp này là cố ý trực tiếp.
+ Về lý trí: A và B hoàn toàn biết việc trộm container hàng là hành vi nguy hiểm cho xã hội cũng như biết được hậu quả công ty Y sẽ bị mất container trên là điều tất yếu xảy ra + Về ý chí: A và B mong muốn phát sinh hậu quả container của công ty Y bị bán
Từ những phân tích trên, hành vi của A và B đã cấu thành Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo Điều 174 BLHS năm 2015
Bài tập 7:
Theo tình huống, A đã có hành vi giật chiếc dây chuyền trên cổ của người phụ nữ và bỏ chạy Đối với hành vi này, A được xem là phạm vào Tội cướp giật tài sản theo Điều 171
- Về khách thể: Quyền sở hữu tài sản của người phụ nữ.
- Về đối tượng tác động: sợi dây chuyền của người phụ nữ.
- Về chủ thể: A là người có năng lực chịu trách nhiệm hình sự, đủ độ tuổi luật định Do
đó A là chủ thể của tội phạm – chủ thể thường
Trang 9- Về mặt khách quan: A đã giật sợi dây chuyền trên cổ của người phụ nữ và bỏ chạy.
Tình tiết trên cho thấy, A đã thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản một cách công khai (trước sự chứng kiến của người phụ nữ) và nhanh chóng
- Về mặt chủ quan: Thái độ tâm lý của A đối với hành vi trên là cố ý trực tiếp.
A nhận thức được đó là hành vi nguy hiểm cho xã hội và mong muốn hành vi đó xảy ra
Từ những phân tích trên, hành vi chiếm đoạt tài sản của A đã đủ điều kiện để cấu thành Tội cướp tài sản theo Điều 171 BLHS Tuy nhiên, khi A bỏ chạy, B đã đuổi thep để bắt A Sau khi chạy đến hết đường, A đã bỏ sợ dây chuyền vào miệng và dùng tay rút dao đâm vào bụng B và bỏ chạy Tình tiết trên cho thấy, A đã chiếm đoạt được tài sản của người phụ nữ và A đã có hành vi dùng vũ lực đối với B nhằm giữ cho bằng được tài sản vừa chiếm đoạt được Vì thế, Tội cướp giật tài sản ban đầu của A đã chuyển hoá sang Tội cướp tài sản theo Điều 168 BLHS Cụ thể như sau:
- Về khách thể: Quyền sở hữu sợi dây chuyền của người phụ nữ và quyền được bảo vệ về
sức khoẻ của B
- Về đối tượng tác động: Sợi dây chuyền của người phụ nữ và B.
- Về chủ thể: A là người có năng lực chịu trách nhiệm hình sự, đủ độ tuổi luật định Do
đó A là chủ thể của tội phạm – chủ thể thường
- Về mặt chủ quan: Thái độ tâm lý của A đối với hành vi trên là cố ý trực tiếp.
A nhận thức được đó là hành vi nguy hiểm cho xã hội và mong muốn hành vi đó xảy ra
- Về mặt khách quan: Sau khi giật sợi dây chuyền của người phụ nữ và bị B đuổi theo A
đã dùng dao đâm vào bụng B Tình tiết này được xem là A đã sử dụng vũ lực A cũng được xem là có mục đích chiếm đoạt tài sản thông tình tiết A đã giật sợi dây chuyền của người phụ nữ, khi B đuổi theo A đã bỏ sợi dây chuyền vào miệng và dùng dao đâm B để giữ bằng được tài sản
Vậy, A đã phạm vào Tội cướp tài sản theo Điều 168 BLHS Trong tình huống trên, vì A
đã dùng dao đâm B bị thương với tỉ lệ thương tật là 27% nên sẽ áp dụng tình tiết định khung tăng nặng tại điểm c khoản 2 Điều 168 BLHS
Bài tập 9:
1 A vứt lại sợi dây chuyền, dùng tay đánh mạnh bà C rồi bỏ chạy.
Trang 10- Về khách thể: quyền sở hữu sợi dây chuyền của bà C.
- Về đối tượng tác động: Tài sản của bà C, cụ thể là sợi dây chuyền.
- Về chủ thể: A là người có năng lực chịu trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm
hình sự Vậy, A là chủ thể của tội phạm – chủ thể thường
- Về mặt chủ quan: Thái độ tâm lý của A trong trường hợp này là lỗi cố ý trực tiếp.
Bởi lẽ, vì là một người có đủ khả năng nhận thức và làm chủ hành vi nên A chắc chắn biết được hành vi chiếm đoạt tài sản của bà C là hành vi nguy hiểm cho xã hội cũng như mong muốn hành vi này sẽ xảy ra
- Về mặt khách quan: Trong tình huống trên, A đã dùng tay kéo đứt sợi dây chuyền của
bà C rồi bỏ chạy Tình tiết trên cho thấy, A đã thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản một cách nhanh chóng Tình tiết bà C vẫn còn thức khi A đưa tay kéo đứt sợ dây chuyền cho thấy A đã thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản một cách công khai, trước sự chứng kiến
của bà C Vậy, A đã có hành vi chiếm đoạt tài sản của bà C một cách công khai và nhanh chóng
Từ những phân tích trên, A phạm vào Tội cướp giật tài sản theo Điều 171 BLHS
Tuy nhiên, khi A bỏ chạy thì bà C đã hô gọi hàng xóm, đuổi theo và tóm được A Sau đó,
A đã vứt lại sợi dây chuyền và dùng tay đánh mạnh vào bà C để chạy thoát Có thể thấy,
A đã có hành vi dùng vũ lực đối với bà C và mục đích duy nhất của việc dùng vũ lực này
là để A tẩu thoát Vì thế, A vẫn phạm vào Tội cướp giật tài sản theo Điều 171 BLHS và
áp dụng tình tiết định khung tăng nặng là hành hung để tẩu thoát theo điểm đ khoản 2 Điều 171 BLHS
2 A nhanh tay bỏ sợ dây chuyền vào túi quần và rút dao mang sẵn trong người dâm vào ngực bà C là bà C chết.
Theo phân tích từ câu 1, với những dấu hiệu định tội nêu trên, đáng lẽ A sẽ phạm vào Tội cướp giật tài sản theo Điều 171 BLHS Tuy nhiên, A đã nhanh tay bỏ sợi dây chuyền vào túi quần và sau đó rút dao đâm vào ngực bà C Hành vi trên cho thấy, A lấy được sợi dây chuyền của bà C và đã dùng vũ lực để tấn công lại bà C nhằm giữ cho bằng được sợi dây chuyền vừa chiếm đoạt được Xét thấy với tình tiết trên, tội danh của A cần được chuyển hoá sang Tội cướp tài sản quy định tại Điều 168 BLHS Cụ thể như sau: