PHẦN I. MỞ ĐẦU1.Lý do chọn đề tàiNhà nước pháp quyền Việt Nam được tổ chức và hoạt động trên nền tảng Hiến pháp và pháp luật. Việc áp dụng thống nhất pháp luật trong xét xử là một điều bức thiết khi mà các bộ luật hiện hành mang tính khái quát cao, khó để áp dụng trực tiếp tức thì. Vì án lệ mang tính thực tiễn cao, phục vụ cho việc giải thích và áp dụng luật pháp của toà án giúp cho việc giải quyết các vụ án tương tự. Khoản 3 Điều 104 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Tòa án nhân dân tối cao thực hiện việc tổng kết thực tiễn xét xử, bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật trong xét xử.” Nghị quyết số 49NQTW ngày 262005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2010, xác định: “Tòa án nhân dân tối cao có nhiệm vụ tổng kết kinh nghiệm xét xử, hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật, phát triển án lệ và xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm”. Quy định về nhiệm vụ của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, tại Điểm c khoản 2 Điều 22 Luật Tổ chức TAND năm 2014 ghi rõ: “Lựa chọn quyết định giám đốc thẩm của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, có tính chuẩn mực của các Tòa án, tổng kết phát triển thành án lệ và công bố án lệ để các Tòa án nghiên cứu, áp dụng trong xét xử;” Việc xây dựng nền tảng vững chắc cho hệ thống án lệ và áp dụng vào giải quyết tranh chấp các vụ việc là một bước nhảy vọt trong quá trình cải cách tư pháp của Đảng và Nhà nước ta. Tác giả chọn đề tài với mục đích làm rõ vấn đề thừa kế trong hôn nhân thực tế và tính ứng dụng của án lệ trong thực tiễn xét xử. 2.Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu. Khi thực hiện đề tài tiểu luận, tác giả tổng hợp các phương pháp nghiên cứu khác nhau: phương pháp nghiên cứu của chủ nghĩa duy vật lịch sử và chủ nghĩa duy vật biện chứng trong triết học Mác Lênin như: Khi đi vào phân tích vấn đề thực trạng pháp luật về thừa kế trong hôn nhân thực tế, tác giả không xem xét một cách phiến diện một chiều mà đặt chúng trong mối quan hệ với phong tục tập quán và tình hình kinh tế xã hội của Việt Nam. Bên cạnh đó, bài tiểu luận còn sử dụng các phương pháp cụ thể khoa học pháp lý khác như: Phương pháp thống kê: Kế thừa các công trình nghiên cứu trước đó; tổng kết của các nguồn thông tin chính thức từ phương tiện thông tin đại chúng: Tạp chí khoa học pháp lý, internet,…Phương pháp đối chiếu, so sánh: Được sử dụng chủ yếu để đối chiếu với các quy định về hôn nhân gia đình và quyền thừa kế trong BLDS 2005, BLDS 2015, luật HNGD 2000, luật HNGD 2014, và các văn bản quy phạm pháp luật khác. Ngoài ra, bài tiểu luận còn sử dụng phương pháp khảo sát thực tiễn xét xử qua việc nghiên cứu án lệ, quyết định của tòa án. PHẦN II. BÌNH LUẬN1.Dẫn nhậpNhà nước ta đã ban hành 04 Luật về hôn nhân gia đình vào năm 1959, 1986, 2000 và 2014.Trong thực tế không hiếm những trường hợp nam nữ sống chung với nhau như vợ chồng, xác lập quan hệ vợ chồng, có tài sản chung và có con chung nhưng không đăng kí kết hôn. Trong khoa học pháp lý Việt Nam thì đây là trường hợp hôn nhân thực tế.2.Khái quát về án lệ số 41Án lệ số 412021AL Về chấm dứt hôn nhân thực tế (Case law No.412021AL on the termination of the actual marriage) được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 23 tháng 02 năm 2021 và được công bố theo Quyết định số 42QĐCA ngày 12 tháng 3 năm 2021 của Chánh án toà án nhân dân tối cao.Nguồn án lệ:Bản án dân sự phúc thẩm số 482010DSPT ngày 2972010 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng về vụ án “Tranh chấp chia di sản thừa kế và chia tài sản chung” tại tỉnh Kon Tum giữa nguyên đơn là chị Trần Thị Trọng P1 với bị đơn là anh Trần Trọng P2 và anh Trần Trọng P3; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm 06 người.Bối cảnh chính của Án Lệ số 412021AL:Nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng, không đăng ký kết hôn nhưng sau đó họ không còn chung sống với nhau và trước khi Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 có hiệu lực, có người chung sống với nhau như vợ chồng với người khác. Quan hệ hôn nhân đầu tiên và quan hệ hôn nhân thứ hai đều là hôn nhân thực tế.Giải pháp pháp lý:Trường hợp này, phải xác định hôn nhân thực tế đầu tiên đã chấm dứt.Nội dung án lệ:“3 Xét bà Tô Thị T2 chung sống với ông T1 không đăng ký kết hôn, đến năm 1982 bà T2 đã bỏ vào Vũng Tàu lấy ông D có con chung từ đó đến nay quan hệ hôn nhân thực tế giữa ông T1 với bà T2 đã chấm dứt từ lâu nên không còn nghĩa vụ gì với nhau nên bà T2 không được hưởng di sản của ông T1 để lại như án sơ thẩm xử là đúng.4 Xét sau khi bà T2 không còn sống chung với ông T1 thì năm 1985 ông T1 sống chung với bà S cho đến khi ông T1 chết có 1 con chung, có tài sản chung hợp pháp, án sơ thẩm công nhận là hôn nhân thực tế nên được chia tài sản chung và được hưởng di sản thừa kế của ông T1 là có căn cứ”.I.Án lệ và hôn nhân thực tế.A.Nhìn từ góc độ văn bảnÁn lệ là bản án hoặc quyết định được nêu ra để chứng minh cho một quyết định trong một vụ việc gần tương tự sau đó . Theo Từ điển luật học của Mỹ, định nghĩa án lệ là một quyết định xét xử mà ở đó tạo ra một quy tắc với vai trò là điểm quy chiếu để quyết định những vụ án sau này có cùng tình tiết hoặc vấn đề pháp lý. Sự xuất hiện của án lệ được xem là một bước đột phá của hệ thống tòa án năm 2017 nhưng trong lịch sử, án lệ ở nước ta đã được xuất hiện và áp dụng. Năm 1961, một án lệ trong lĩnh vực hôn nhân gia đình cũng đã được ban hành. Định hướng thừa nhận án lệ là một loại nguồn bổ sung cho hệ thống pháp luật Việt Nam đã thể hiện rõ trong Nghị quyết số 49NQTW ngày 0262005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020: “Tòa án nhân dân tối cao có nhiệm vụ tổng kết kinh nghiệm xét xử, hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật, phát triển án lệ và xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm”, sau đó đã luật hóa trong Hiến pháp 2013, Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 và nghị quyết số 032015NQHĐTP. “Hôn nhân thực tế” là thuật ngữ pháp lý để chỉ những trường hợp hai bên nam nữ chung sống với nhau trong quan hệ vợ chồng, đã được gia đình, xã hội thừa nhận nhưng chưa được đăng ký tại cơ quan hộ tịch, chưa được cấp giấy chứng nhận kết hôn. Đây là mối quan hệ xuất hiện chủ yếu trong xã hội ngày xưa và cho đến nay vẫn còn tồn tại, tuỳ vào từng thời kì lịch sự mà mối quan hệ này được công nhận hợp pháp hay không hợp pháp. Thuật ngữ này đã được đề cập trong một số văn bản: Chỉ thị số 152000CTTTg của Thủ tướng Chính phủ về việc tổ chức thi hành luật hôn nhân và gia đình năm 2000 yêu cầu giải quyết tình trạng hôn nhân thực tế ở địa phương theo nghị quyết của Quốc Hội về thi hành luật hôn nhân và gia đình nhưng không cho biết trường hợp nào được coi là hôn nhân thực tế. Nói cách khác văn bản này ghi nhận khái niệm hôn nhân thực tế nhưng không cho biết nội dung, tiêu chí của hôn nhân thực tế. Tương tự, chỉ thị 012003CTBTP của Bộ Tư pháp về thực hiện một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp năm 2003: chỉ thị này đề cập đến việc “hoàn thành việc đăng ký kết hôn đối với các trường hợp hôn nhân thực tế còn tồn động” nhưng không nêu rõ cụ thể trường hợp nào gọi là “hôn nhân thực tế”.Nghị định 542006NĐCP của Chính phủ về việc hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh tạo điều kiện cho người có công với cách mạng ghi nhận trong “Vợ hoặc chồng liệt sĩ là người có quan hệ hôn nhân hợp pháp hoặc hôn nhân thực tế được pháp luật công nhận được hưởng chế độ ưu đãi” và cũng không nêu rõ hôn nhân thực tế được hiểu như thế nào.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT DÂN SỰ
TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN
MÔN: HỢP ĐỒNG VÀ BTTH NGOÀI HỢP ĐỒNG
TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN
BÌNH LUẬN ÁN LỆ SỐ 41/2021/AL VỀ CHẤM DỨT HÔN NHÂN THỰC TẾ THEO HƯỚNG ÁP DỤNG ĐỐI VỚI
QUAN HỆ THỪA KẾ
HỌ VÀ TÊN: PHẠM HỒNG THUỶ
MSSV: 2053801011272
LỚP: AUF45
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 15 tháng 11 năm 2021
Trang 2ĐỀ THI: BÌNH LUẬN ÁN LỆ SỐ 41/2021/AL VỀ CHẤM DỨT
HÔN NHÂN THỰC TẾ THEO HƯỚNG ÁP DỤNG ĐỐI VỚI
QUAN HỆ THỪA KẾ
Lời cam đoan
Em xin cam đoan tiểu luận này là bài nghiên cứu của bản thân em Các dẫn chứng
và tài liệu tham khảo là chính xác, trung thực, khách quan Em xin chịu trách nhiệm hoàn toàn cho bà làm và lời cam đoan của mình
Lời cảm ơn
Đề tài “BÌNH LUẬN ÁN LỆ SỐ 41/2021/AL VỀ CHẤM DỨT HÔN NHÂN
THỰC TẾ THEO HƯỚNG ÁP DỤNG ĐỐI VỚI QUAN HỆ THỪA KẾ” được
hoàn thành dưới sự hướng dẫn tận tình của Ths.Nguyễn Nhật Thanh – giảng viên bộ môn Luật Dân sự 1 lớp AUF45 Em xin cảm ơn Khoa Luật Dân sự, trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện cho chúng em học tập và thực hiện đề tài tiểu luận kết thúc môn này Do còn ít kinh nghiệm trong làm tiểu luận, kiến thức bản thân còn hạn chế và đây cũng là đề tài mới nên không thể tránh khỏi những sai sót trong quá trình nghiên cứu Rất mong quý thầy cô xem xét, bổ sung, góp ý để em có thể hoàn thiện tốt những bài tiểu luận sắp tới
Trân trọng cảm ơn
Tác giả cam đoan
Phạm Hồng Thuỷ
Danh mục các từ viết tắt
BLDS Bộ luật dân sự
Luật HNGĐ Luật Hôn nhân và gia đình
TAND Toà án nhân dân
Trang 3MỤC LỤC
PHẦN I MỞ ĐẦU 4
1 Lý do chọn đề tài 4
2 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 4
PHẦN II BÌNH LUẬN 4
1 Dẫn nhập 4
2 Khái quát về án lệ số 41 4
I Án lệ và hôn nhân thực tế 5
A Nhìn từ góc độ văn bản 5
B Nhìn từ góc độ thực tiễn 6
1 Ghi nhận hôn nhân thực tế: 6
2 Hệ quả pháp lý của việc công nhận hôn nhân thực tế 7
II Vấn đề thừa kế khi chấm dứt hôn nhân thực tế 7
A Vấn đề pháp lý 7
B Bình luận và giải quyết vấn đề Án lệ số 41 9
1 Bình luận về vấn đề quyền thừa kế trong hôn nhân thực tế 9
2 Quan điểm của chuyên gia về Quyền thừa kế trong quan hệ hôn nhân thực tế: 10 3 Giá trị của án lệ 11
3.1 Giá trị pháp lý của án lệ so với luật thành văn 11
3.2 Giá trị pháp lý của án lệ số 41 11
4 Nhận xét 11
4.1 Quyết định của Toà án 11
4.2 Việc áp dụng Án lệ số 41 cho các vụ án tương tự 12
PHẦN III QUYỀN THỪA KẾ TRONG HÔN NHÂN THỰC TẾ TẠI VIỆT NAM VÀ TRÊN THẾ GIỚI HIỆN NAY 12
I Tại Việt Nam 12
II Trên thế giới 13
III Tiểu kết 13
PHẦN IV KẾT LUẬN 13
Trang 5PHẦN I MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Nhà nước pháp quyền Việt Nam được tổ chức và hoạt động trên nền tảng Hiến pháp và pháp luật Việc áp dụng thống nhất pháp luật trong xét xử là một điều bức thiết khi mà các bộ luật hiện hành mang tính khái quát cao, khó để áp dụng trực tiếp tức thì Vì án lệ mang tính thực tiễn cao, phục vụ cho việc giải thích và áp dụng luật pháp của toà án giúp cho việc giải quyết các vụ án tương tự
Khoản 3 Điều 104 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Tòa án nhân dân tối cao thực hiện việc tổng kết thực tiễn xét xử, bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật trong xét xử.” Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 2/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách
tư pháp đến năm 2010, xác định: “Tòa án nhân dân tối cao có nhiệm vụ tổng kết kinh nghiệm xét xử, hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật, phát triển án lệ và xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm” Quy định về nhiệm vụ của Hội đồng Thẩm phán Tòa án
nhân dân tối cao, tại Điểm c khoản 2 Điều 22 Luật Tổ chức TAND năm 2014 ghi rõ:
“Lựa chọn quyết định giám đốc thẩm của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, có tính chuẩn mực của các Tòa án, tổng kết phát triển thành án lệ và công bố án lệ để các Tòa án nghiên cứu, áp dụng trong xét xử;”
Việc xây dựng nền tảng vững chắc cho hệ thống án lệ và áp dụng vào giải quyết tranh chấp các vụ việc là một bước nhảy vọt trong quá trình cải cách tư pháp của Đảng
và Nhà nước ta Tác giả chọn đề tài với mục đích làm rõ vấn đề thừa kế trong hôn nhân thực tế và tính ứng dụng của án lệ trong thực tiễn xét xử
2 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Khi thực hiện đề tài tiểu luận, tác giả tổng hợp các phương pháp nghiên cứu khác nhau: phương pháp nghiên cứu của chủ nghĩa duy vật lịch sử và chủ nghĩa duy vật biện chứng trong triết học Mác -Lênin như: Khi đi vào phân tích vấn đề thực trạng pháp luật về thừa kế trong hôn nhân thực tế, tác giả không xem xét một cách phiến diện một chiều mà đặt chúng trong mối quan hệ với phong tục tập quán và tình hình kinh tế xã hội của Việt Nam Bên cạnh đó, bài tiểu luận còn sử dụng các phương pháp
cụ thể khoa học pháp lý khác như:
Phương pháp thống kê: Kế thừa các công trình nghiên cứu trước đó; tổng kết
của các nguồn thông tin chính thức từ phương tiện thông tin đại chúng: Tạp chí khoa học pháp lý, internet,…
Phương pháp đối chiếu, so sánh: Được sử dụng chủ yếu để đối chiếu với các
quy định về hôn nhân gia đình và quyền thừa kế trong BLDS 2005, BLDS 2015, luật HNGD 2000, luật HNGD 2014, và các văn bản quy phạm pháp luật khác
Ngoài ra, bài tiểu luận còn sử dụng phương pháp khảo sát thực tiễn xét xử qua việc nghiên cứu án lệ, quyết định của tòa án
PHẦN II BÌNH LUẬN
1 Dẫn nhập
Nhà nước ta đã ban hành 04 Luật về hôn nhân gia đình vào năm 1959, 1986, 2000
và 2014
Trong thực tế không hiếm những trường hợp nam nữ sống chung với nhau như vợ chồng, xác lập quan hệ vợ chồng, có tài sản chung và có con chung nhưng không đăng
kí kết hôn Trong khoa học pháp lý Việt Nam thì đây là trường hợp hôn nhân thực tế
Trang 62 Khái quát về án lệ số 41
- Án lệ số 41/2021/AL 1
Về chấm dứt hôn nhân thực tế (Case law No.41/2021/AL on the termination of the actual marriage) được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày
23 tháng 02 năm 2021 và được công bố theo Quyết định số 42/QĐ-CA ngày 12 tháng
3 năm 2021 của Chánh án toà án nhân dân tối cao
- Nguồn án lệ:
Bản án dân sự phúc thẩm số 48/2010/DSPT ngày 29/7/2010 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng về vụ án “Tranh chấp chia di sản thừa kế và chia tài sản chung” tại tỉnh Kon Tum giữa nguyên đơn là chị Trần Thị Trọng P1 với bị đơn
là anh Trần Trọng P2 và anh Trần Trọng P3; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm 06 người
- Bối cảnh chính của Án Lệ số 41/2021/AL:
Nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng, không đăng ký kết hôn nhưng sau
đó họ không còn chung sống với nhau và trước khi Luật Hôn nhân và gia đình năm
1986 có hiệu lực, có người chung sống với nhau như vợ chồng với người khác Quan
hệ hôn nhân đầu tiên và quan hệ hôn nhân thứ hai đều là hôn nhân thực tế
- Giải pháp pháp lý:
Trường hợp này, phải xác định hôn nhân thực tế đầu tiên đã chấm dứt
- Nội dung án lệ:
“[3] Xét bà Tô Thị T2 chung sống với ông T1 không đăng ký kết hôn, đến năm 1982
bà T2 đã bỏ vào Vũng Tàu lấy ông D có con chung từ đó đến nay quan hệ hôn nhân thực tế giữa ông T1 với bà T2 đã chấm dứt từ lâu nên không còn nghĩa vụ gì với nhau nên bà T2 không được hưởng di sản của ông T1 để lại như án sơ thẩm xử là đúng [4] Xét sau khi bà T2 không còn sống chung với ông T1 thì năm 1985 ông T1 sống chung với bà S cho đến khi ông T1 chết có 1 con chung, có tài sản chung hợp pháp, án
sơ thẩm công nhận là hôn nhân thực tế nên được chia tài sản chung và được hưởng di sản thừa kế của ông T1 là có căn cứ”
I Án lệ và hôn nhân thực tế.
A Nhìn từ góc độ văn bản
Án lệ là bản án hoặc quyết định được nêu ra để chứng minh cho một quyết định trong một vụ việc gần tương tự sau đó2 Theo Từ điển luật học của Mỹ, định nghĩa án
lệ là một quyết định xét xử mà ở đó tạo ra một quy tắc với vai trò là điểm quy chiếu để quyết định những vụ án sau này có cùng tình tiết hoặc vấn đề pháp lý.3 Sự xuất hiện
1 Án lệ này do PGS.TS Đỗ Văn Đại, Trưởng khoa Luật Dân sự Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, Thành viên Hội đồng tư vấn án lệ đề xuất.
2 Từ điển Luật học, tái bản lần 4, in và xuất bản tại Anh, 1993, trang 293.
3 Từ điển Black’s Law (West Group, St Paul MN, tái bản lần thứ 9, 2004) 1295, Kinh nghiệm quốc tế trong việc
áp dụng tiền lệ và án lệ (trang 3, 4): khái niệm án lệ nêu trên có nét khác so với khái niệm án lệ trong Black's Law Dictionary, 1059 (tái bản lần thứ 5 năm 1979) “Black`s Law Dictionary, 7th ed 1999” (xem khái niệm án
lệ theo “Black`s Law Dictionary, 7th ed 1999” tại Nguyễn Văn Nam, Lý luận và thực tiễn về án lệ trong hệ thống pháp luật của các nước Anh, Mỹ, Pháp, Đức và những kiến nghị đối với Việt Nam, Luận án Tiến sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, tr 15) và khái niệm án lệ theo Black's Law Dictionary, 1059 (tái bản lần thứ 5
Trang 7của án lệ được xem là một bước đột phá của hệ thống tòa án năm 2017 nhưng trong lịch sử, án lệ ở nước ta đã được xuất hiện và áp dụng Năm 1961, một án lệ trong lĩnh vực hôn nhân gia đình cũng đã được ban hành Định hướng thừa nhận án lệ là một loại nguồn bổ sung cho hệ thống pháp luật Việt Nam đã thể hiện rõ trong Nghị quyết số 49/ NQ-TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020: “Tòa án nhân dân tối cao có nhiệm vụ tổng kết kinh nghiệm xét xử, hướng dẫn
áp dụng thống nhất pháp luật, phát triển án lệ và xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm”, sau
đó đã luật hóa trong Hiến pháp 2013, Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 và nghị quyết số 03/2015/NQ-HĐTP
“Hôn nhân thực tế” là thuật ngữ pháp lý để chỉ những trường hợp hai bên nam nữ chung sống với nhau trong quan hệ vợ chồng, đã được gia đình, xã hội thừa nhận nhưng chưa được đăng ký tại cơ quan hộ tịch, chưa được cấp giấy chứng nhận kết hôn Đây là mối quan hệ xuất hiện chủ yếu trong xã hội ngày xưa và cho đến nay vẫn còn tồn tại, tuỳ vào từng thời kì lịch sự mà mối quan hệ này được công nhận hợp pháp hay không hợp pháp Thuật ngữ này đã được đề cập trong một số văn bản:
Chỉ thị số 15/2000/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc tổ chức thi hành luật hôn nhân và gia đình năm 2000 yêu cầu giải quyết tình trạng hôn nhân thực tế ở địa phương theo nghị quyết của Quốc Hội về thi hành luật hôn nhân và gia đình nhưng
không cho biết trường hợp nào được coi là hôn nhân thực tế Nói cách khác văn bản
này ghi nhận khái niệm hôn nhân thực tế nhưng không cho biết nội dung, tiêu chí của hôn nhân thực tế 4
Tương tự, chỉ thị 01/2003/CT-BTP của Bộ Tư pháp về thực hiện một số nhiệm
vụ trọng tâm công tác tư pháp năm 2003: chỉ thị này đề cập đến việc “hoàn thành việc
đăng ký kết hôn đối với các trường hợp hôn nhân thực tế còn tồn động” nhưng không
nêu rõ cụ thể trường hợp nào gọi là “hôn nhân thực tế”
Nghị định 54/2006/NĐ-CP của Chính phủ về việc hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh tạo điều kiện cho người có công với cách mạng ghi nhận trong “Vợ
hoặc chồng liệt sĩ là người có quan hệ hôn nhân hợp pháp hoặc hôn nhân thực tế được
pháp luật công nhận được hưởng chế độ ưu đãi” và cũng không nêu rõ hôn nhân thực
tế được hiểu như thế nào
B Nhìn từ góc độ thực tiễn
1 Ghi nhận hôn nhân thực tế:
Vụ việc trong án lệ số 41 ghi nhận, “Năm 1969, ông Trần Thế T1 chung sống với
bà Tô Thị T2 sinh được 02 người con là Trần Trọng P2 và Trần Trọng P3 Do mâu thuẫn vợ chồng nên bà T2 đã bỏ đi vào Vũng Tàu sinh sống và kết hôn với người khác.” và “Năm 1985, ông T1 chung sống với bà Trần Thị S có con chung là Trần Thị Trọng P1.” Từ những yếu tố trên, Toà án nhận định quan hệ hôn nhân thực tế giữa ông T1 với bà T2 đã chấm dứt từ lâu nên không còn nghĩa vụ gì với nhau nên bà T2 không được hưởng di sản của ông T1 để lại như án sơ thẩm; năm 1985 ông T1 sống chung với bà S cho đến khi ông T1 chết có 1 con chung, có tài sản chung hợp pháp, án sơ thẩm công nhận là hôn nhân thực tế nên được chia tài sản chung và được hưởng di sản thừa kế của ông T1 là có căn cứ
năm 1979) là quy tắc pháp luật được tạo lập lần đầu tiên bởi tòa án cho một loại vụ việc đặc biệt mà sau đó được viện dẫn để quyết định những vụ việc tương tự).
4 Tạp chí khoa học Pháp lý Việt Nam: Về khái niệm và hệ quả pháp lý của hôn nhân trực tiếp (Đỗ Văn Đại, Lê
Thị Mận)
Trang 8Để khẳng định hôn nhân thực tế của ông T1 và bà T2; ông T1 và bà S Toà án đã căn
cứ vào Nghị quyết số 35/2000/QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc hội về việc thi
hành Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 và Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23/12/2000 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về việc hướng dẫn áp
dụng một số quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000.
2 Hệ quả pháp lý của việc công nhận hôn nhân thực tế
Bản chất pháp lý của tài sản hình thành trong hôn nhân thực tế:
Trong thời gian chung sống với ông T1, bà S và ông T1 có tạo lập được khối tài sản chung gồm có 01 ngôi nhà cấp 4 trên diện tích 36m2 nằm trên tổng diện tích đất 8.500m2 (nay còn lại 6.403m2), 01 xe máy Trung Quốc, 02 máy bơm nước, 450kg cà
ri, 05 con heo, 70 con gà, 22 con thỏ, 01 hồ cá, 01 tủ trà - bà đề nghị bảo vệ quyền lợi chính đáng cho bà Tại bản tự khai ngày 15/4/2009 bà S yêu cầu Tòa án giải quyết chia tài sản chung giữa bà và ông T1, đồng thời chia di sản thừa kế của ông T1 cho bà, chị P1, anh P2, anh P3 đối với diện tích đất còn lại, kể cả diện tích đất mà anh P3 và anh P2 đã bán cho ông L và ông C
Các văn bản không quy định rõ vấn đề đối với tài sản hình thành trong thời kì tồn tai hôn nhân thực tế5 Trong vụ việc được bình luận, theo nhận định của Toà, quan
hệ giữa bà S và ông T1 là hôn nhân thực tế và tài sản là của chung vợ chồng hình thành trong quá trình hôn nhân
Các tiêu chí để xác định tồn tại một hôn nhân thực tế được pháp luật thừa nhận đối với quan hệ được xác lập từ ngày 3/1/1987 đến 1/1/2001 Đối với các quan hệ xác lập trước ngày 3/1/1987 như trong vụ việc được bình luận thì các tiêu chí xác định hôn nhân thực tế khá rõ ràng “Về hệ quả pháp lý của việc thừa nhận hôn nhân thực tế, các văn bản của chúng ta rất sơ sài và tản mạn chưa có tính hệ thống cao Chính sự không
rõ ràng, khiếm khuyết và tản mạn của các quy định về hôn nhân thực tế đã gây không
ít khó khăn cho cơ quan chức năng trong áp dụng pháp luật (vì cùng một lúc phải so sánh đối chiếu với nhiều văn bản để áp dụng một vấn đề); việc xác định và giải quyết yêu cầu liên quan còn bất nhất giữa các Tòa án.6”
II Vấn đề thừa kế khi chấm dứt hôn nhân thực tế
A Vấn đề pháp lý
Về bản chất, tài sản của vợ chồng qua các Luật Hôn nhân và gia đình có sự khác nhau giữa các thời kì Luật Hôn nhân gia đình từ 1986 về sau này đã có sự thay đổi về tài sản của vợ chồng, tài sản của vợ chồng có thể thuộc chung hoặc riêng tùy vào hình thức tiếp nhận Theo khoản 1 điều 651 Bộ luật dân sự 2015 về người thừa kế theo pháp luật có quy định về hàng thừa kế thứ nhất bao gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết Tuy nhiên, thực tế vẫn còn tình trạng các cặp nam nữ sống chung như vợ chồng nhưng không đến cơ quan có thẩm quyền đăng ký kết hôn (không là vợ chồng hợp pháp) nên sẽ gặp phải khó khăn nhất định trong quá trình phân chia tài sản thừa kế đối với các trường hợp trên
Việc phân chia tài sản của hôn nhân thực tế:
5 Một số quy định đã “ngầm” thừa nhận có tài sản được coi là tài sản chung của người sống như vợ chồng không
đăng ký, nhất là các quy định về quyền thừa kế: xem Đỗ Văn Đại Luật thừa kế Việt Nam, sđd, Bản án số 32 và
33
6 Tạp chí khoa học Pháp lý Việt Nam: Về khái niệm và hệ quả pháp lý của hôn nhân trực tiếp (Đỗ Văn Đại, Lê
Thị Mận)
Trang 9Quan hệ thừa kế là một loại quan hệ pháp luật có nội dung kinh tế xã hội sâu sắc, xuất hiện đồng thời với quan hệ sở hữu và phát triển cùng với sự phát triển của xã hội loài người7 Trong khoa học pháp lý, thừa kế được hiểu là việc di chuyển tài sản của người chết cho một chủ thể đó có thể là cá nhân hoặc tổ chức - theo ý chí của người để lại di sản hoặc theo quy tắc của xã hội8
Trường hợp thứ nhất, nếu quan hệ vợ chồng được xác lập trước ngày 03/01/1987 thì xét theo điểm a khoản 3 Nghị quyết số 35 của Quốc hội9, và điểm c mục 2 Thông
tư liên tịch số 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP10 thì sẽ đủ điều kiện công nhận là hôn nhân thực tế và nếu một bên hoặc cả hai bên có yêu cầu ly hôn, thì Toà án thụ lý vụ án và áp dụng quy định về ly hôn của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000
để giải quyết vụ án ly hôn theo thủ tục chung Cụ thể là tại Điều 95 Luật hôn nhân và gia đình năm 200011
Trường hợp thứ hai, quan hệ hôn nhân được xác lập từ ngày 03/01/1987 thì áp dụng tại khoản 2 của Thông tư đã nêu trên12, tại điểm b13 có quy định kể từ sau ngày
7 Viện khoa học pháp lý-Bộ Tư Pháp (2013), Bình luận khoa học Bộ luật Dân sự 2005, NXB Chính trị quốc gia,
Hà Nội, tr.7
8 Viện khoa học pháp lý-Bộ Tư Pháp (2013), Bình luận khoa học Bộ luật Dân sự 2005, NXB Chính trị quốc gia,
Hà Nội, tr.13
9 Nghị quyết số 35/2000/QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc hội về việc thi hành Luật Hôn nhân và gia đình năm
2000 có quy định tại khoản a điều 3 như sau: “a) Trong trường hợp quan hệ vợ chồng được xác lập trước ngày
03 tháng 01 năm 1987, ngày Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 có hiệu lực mà chưa đăng ký kết hôn thì được khuyến khích đăng ký kết hôn; trong trường hợp có yêu cầu ly hôn thì được Toà án thụ lý giải quyết theo quy định về ly hôn của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000;”
10 Điểm c mục 2 Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP thì nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng, nếu họ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của luật hôn nhân gia đình năm 2000 và thuộc một trong các trường hợp sau:
-Thứ nhất, có tổ chức lễ cưới khi về chung sống với nhau;
-Thứ hai, việc họ về chung sống với nhau được gia đình (một bên hoặc cả hai bên) chấp nhận;
-Thứ ba, việc họ về chung sống với nhau được người khác hay tổ chức chứng kiến;
- Thứ tư, họ thực sự chung sống với nhau, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng xây dựng gia đình.
11 Điều 95 Nguyên tắc chia tài sản khi ly hôn
1 Việc chia tài sản khi ly hôn do các bên thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì yêu cầu Toà án giải quyết Tài sản riêng của bên nào thì thuộc quyền sở hữu của bên đó.
2 Việc chia tài sản chung được giải quyết theo các nguyên tắc sau đây:
a) Tài sản chung của vợ chồng về nguyên tắc được chia đôi, nhưng có xem xét hoàn cảnh của mỗi bên, tình trạng tài sản, công sức đóng góp của mỗi bên vào việc tạo lập, duy trì, phát triển tài sản này Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;
b) Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên hoặc đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành
vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình;
c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;
d) Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật hoặc theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần giá trị chênh lệch.
3 Việc thanh toán nghĩa vụ chung về tài sản của vợ, chồng do vợ, chồng thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì yêu cầu Toà án giải quyết.
12 Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP
13 b Kể từ sau ngày 01/01/2003 mà họ không đăng ký kết hôn, thì theo quy định tại điểm b khoản 3 Nghị quyết
số 35 của Quốc hội họ không được công nhận là vợ chồng; nếu một bên hoặc cả hai bên có yêu cầu ly hôn, thì Toà án thụ lý vụ án để giải quyết và áp dụng điểm b khoản 3 Nghị quyết số 35 của Quốc hội, khoản 1 Điều 11 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, bằng bản án tuyên bố không công nhận họ là vợ chồng; nếu họ có yêu cầu
về nuôi con và chia tài sản, thì Toà án áp dụng khoản 2 và khoản 3 Điều 17 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000
Trang 1001/01/2003 mà họ không đăng ký kết hôn hoặc không đủ điều kiện để kết hôn thì không được công nhận là vợ chồng Như vậy, hôn nhân thực tế trong trường hợp này
sẽ không được công nhận và nếu một trong hai người mất đi thì người còn lại sẽ không được chia tài sản theo hàng thừa kế thứ nhất được quy định tại điểm a khoản 1 điều
651 Bộ luật Dân sự năm 201514 (điều 676 Bộ luật Dân sự năm 2005) Tuy nhiên, Thông tư này15 cũng có quy định về vấn đề phân chia tài sản và nuôi con như sau “nếu
họ có yêu cầu về nuôi con và chia tài sản, thì Toà án áp dụng khoản 2 và khoản 3 Điều
17 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 16để giải quyết theo thủ tục chung” Nhưng hiện nay, đã có quy định rõ ràng về phân chia tài sản tại Điều 16 Luật HNGĐ năm
2014 quy định về quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn được giải quyết theo thỏa thuận giữa các bên; trong trường hợp không có thỏa thuận thì giải quyết theo quy định của Bộ luật dân sự và các quy định khác của pháp luật có liên quan; việc giải quyết quan hệ tài sản phải bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của phụ nữ và con; công việc nội trợ và công việc khác có liên quan để duy trì đời sống chung được coi như lao động có thu nhập Như vậy, các nhà làm luật vẫn bảo vệ quyền lợi của những chủ thể trong mối quan hệ hôn nhân thực tế này, đặc biệt là người phụ nữ và người con
B Bình luận và giải quyết vấn đề Án lệ số 41
1 Bình luận về vấn đề quyền thừa kế trong hôn nhân thực tế.
Án lệ số 41 nêu rằng khi ông T1 qua đời thì bà S là vợ hợp pháp và có quyền thừa
kế đối với phần di sản này, còn trường hợp của bà T2 thì được coi là hôn nhân thực tế
đã kết thúc và chấm dứt nghĩa vụ từ lâu và không được chia thừa kế
Thứ nhất, vấn đề gây tranh cãi trong vụ việc được bình luận là việc xác định những người thừa kế cùng hàng và xác định việc phân chia di sản.
Xét với tình huống được bình luận của án lệ trên, trong mối quan hệ đầu tiên của ông T1 và bà T2 đã sống chung với nhau từ năm 1969 nhưng không đăng ký kết hôn
và đã có hai người con Tuy nhiên cũng cần phải xem xét trong quá trình hai người sống chung từ năm 1969 đến năm 1982 có tài sản chung nào hay không? Theo bà T2
là “hai người cũng có một số tài sản chung”, vì vậy, tài sản này phải được chia theo chia theo pháp luật
Vì cuộc hôn nhân đầu tiên đã chấm dứt, nên việc năm 1985 ông T1 sống chung với
bà S cho đến khi ông T1 chết có 1 con chung, có tài sản chung hợp pháp, án sơ thẩm công nhận là hôn nhân thực tế vì không vi phạm nguyên tắc một vợ một chồng và đáp ứng các điều kiện, nên bà S được chia tài sản chung và được hưởng di sản thừa kế của
để giải quyết theo thủ tục chung.
14 Điều 651 Người thừa kế theo pháp luật
1 Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:
a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;
15 Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP
16 Điều 17 Hậu quả pháp lý của việc hủy kết hôn trái pháp luật
2 Quyền lợi của con được giải quyết như trường hợp cha mẹ ly hôn.
3 Tài sản được giải quyết theo nguyên tắc tài sản riêng của ai thì vẫn thuộc quyền sở hữu của người đó; tài sản chung được chia theo thoả thuận của các bên; nếu không thoả thuận được thì yêu cầu Toà án giải quyết, có tính đến công sức đóng góp của mỗi bên; ưu tiên bảo vệ quyền lợi chính đáng của phụ nữ và con.