Câu 30: Hậu quả nạn nhân chết là dấu hiệu định tội của Tội vứt bỏ con mới đẻ (Điều 124 BLHS). Nhận định trên là Đúng Cơ sở pháp lý: khoản 2 Điều 124 BLHS 2015. Giải thích: Vì Tội vứt bỏ con mới đẻ là cấu thành tội phạm vật chất bao gồm hành vi khách quan là người mẹ do ảnh hưởng nặng nề của tư tưởng lạc hậu hoặc trong hoàn cảnh khách quan đặc biệt mà vứt bỏ con do mình đẻ ra trong 07 ngày tuổi và hậu quả là đứa trẻ chết. Đứa trẻ mới đẻ bị vứt bỏ phải chết thì người mẹ mới bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội vứt bỏ con mới đẻ, ngược lại thì chưa cấu thành tội vứt bỏ con mới đẻ. Như vậy hậu quả đứa trẻ chết là dấu hiệu định tội của Tội vứt bỏ con mới đẻ Điều 124 BLHS 2015. Nếu đứa trẻ không chết thì không thể định vào tội này. Hậu quả có ý nghĩa trong việc xác định tội phạm, vì vậy có hậu quả con mới đẻ chết thì mới cấu thành tội vứt bỏ con mới đẻ.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
THẢO LUẬN MÔN: LUẬT HÌNH SỰ PHẦN CÁC TỘI PHẠM
Lớp: CJL46 Nhóm: 5
Trang 26 Nguyễn Gia Ngân 2053801012170
Năm học: 2022 - 2023 BÀI THẢO LUẬN SỐ 3 NHẬN ĐỊNH
Câu 30: Hậu quả nạn nhân chết là dấu hiệu định tội của Tội vứt bỏ con mới đẻ (Điều 124 BLHS).
Đứa trẻ mới đẻ bị vứt bỏ phải chết thì người mẹ mới bị truy cứu trách nhiệm hình sự vềtội vứt bỏ con mới đẻ, ngược lại thì chưa cấu thành tội vứt bỏ con mới đẻ Như vậy hậuquả đứa trẻ chết là dấu hiệu định tội của Tội vứt bỏ con mới đẻ Điều 124 BLHS 2015.Nếu đứa trẻ không chết thì không thể định vào tội này
Hậu quả có ý nghĩa trong việc xác định tội phạm, vì vậy có hậu quả con mới đẻ chết thì mới cấu thành tội vứt bỏ con mới đẻ
31 Hành vi chiếm đoạt bộ phận cơ thể của người khác chỉ được quy định là tình tiết định khung của Tội giết người tại điểm h khoản 1 Điều 123 BLHS
- Nhận định này sai
- CSPL: Điểm h Khoản 1 Điều 123 BLHS, Khoản 1 Điều 154 BLHS 2015
- Giải thích:
Trang 3Hành vi chiếm đoạt bộ phận cơ thể của người khác còn được quy định là hành vi kháchquan của Tội chiếm đoạt bộ phận cơ thể người theo khoản 1 Điều 154 BLHS 2015 (tìnhtiết định tội) Ngoài ra, còn được quy định là tình tiết định khung của Tội mua bán ngườitheo Điều 150 và Tội mua bán người dưới 16 tuổi theo Điều 151 BLHS 2015 Chiếmđoạt bộ phận cơ thể người có hành vi khách quan là hành vi giết người để lấy bộ phận cơthể của nạn nhân để sử dụng thay thế vào cơ thể của người khác thì cấu thành Điều 123.Nếu lấy bộ phận để hả giận thì không phải giết người để lấy bộ phận cơ thể của nạnnhân
36 Đối tượng tác động của Tội buộc công chức, viên chức thôi việc hoặc sa thải người lao động trái pháp luật (Điều 162 BLHS) chỉ là công chức, viên chức hoặc người lao động của các cơ quan Nhà nước
- Nhận định này Sai
- CSPL: Điều 162 BLHS 2015
- Đối tượng tác động của tội phạm này là người làm việc trong các cơ quan nhà nước,trường học, bệnh viện, tổ chức xã hội, doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế đượctuyển dụng trong biên chế là công chức, viên chức nhà nước hoặc là người lao động theohợp đồng
Câu 40: Mọi trường hợp đang có vợ, có chồng mà kết hôn với người khác đều cấu thành Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng (Điều 182 BLHS)
Nhận định này là sai
Trang 4Theo quy định tại Điều 182, BLHS, trường hợp đang có vợ, có chồng mà kết hôn vớingười khác chỉ cấu thành tội này khi thuộc một trong các trường hợp tại điểm a,b
Như vậy, không phải mọi trường hợp đang có vợ, có chồng mà kết hôn với người khácđều cấu thành Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng (Điều 182 BLHS)
Câu 42 Giao cấu thuận tình với người có cùng dòng máu về trực hệ là hành vi chỉ quy định trong cấu thành Tội loạn luân được quy định tại Điều 184 BLHS.
Nhận định này là sai
CSPL: Điều 184; điểm c khoản 2 Điều 145; điểm a khoản 2 Điều 142
Giải thích: hành vi giao cấu với người có cùng dòng máu về trực hệ mặc dù có sự thuận tình nhưng nếu giao cấu với trẻ em chưa đủ 16 tuổi cùng dòng máu trực hệ hoặc giữa anh chị em cùng cha mẹ, giữa anh chị em cùng cha khác mẹ hoặc cùng mẹ khác cha,thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo điểm c khoản 2 Điều 145 BLHS năm 2015 về tội giao cấu đối với người dưới 16 tuổi (đối với trẻ em từ đủ 13 đến dưới 16 tuổi) hoặc điểm
a khoản 2 Điều 142 BLHS năm 2015 về tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi (nếu trẻ em chưa đủ 13 tuổi).1
Kết luận: hành vi “giao cấu thuận tình với người có cùng dòng máu về trực hệ” không chỉ được quy định trong cấu thành Tội loạn luân được quy định tại Điều 184 BLHS năm 2015 mà còn được quy định tại cấu thành Tội giao cấu hoặc thực hiện hành viquan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi (Điều 145 BLHS năm 2015); Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi (Điều 142)
BÀI TẬP
Bài tập 15
A và B cùng đi săn A nhìn thấy một con gà rừng liền giơ súng lên ngắm bắn B thấy gần
đó có một người đang bẻ măng nên ngăn đừng bắn và nói rằng: “Thôi đừng bắn nữa, nhỡ trúng người ta thì chết” A tiếp tục rê súng theo con gà rừng và đáp lại: “Mày chưa biết tài bắn của tao à! Chưa bao giờ tao bắn trượt cả” Nói xong, A bóp cò, không ngờ đạn trúng vào người bẻ măng
Hãy xác định A phạm tội gì nếu:
a Nạn nhân chết;
1 Trường ĐH Luật Tp HCM, Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam (Phần các tội phạm – Quyển 1),
NXB Hồng Đức, 2021, tr 241
Trang 5Tội danh mà A đã phạm là Tội vô ý làm chết người theo quy định tại Điều 128BLHS.
Hành vi của A đã có đủ các dấu hiệu pháp lí đặc trưng của Tội vô ý làm chếtngười theo quy định tại Điều 128 BLHS
Dấu hiệu
Khách thể - Khách thể: tính mạng, quyền được sống của người hái măng
- Đối tượng tác động: Người hái măng – con người đang sống
Mặt khách
quan
- Hành vi: A bóp cò súng và đạn đã trúng vào người hái măng
- Hậu quả: Người hái măng chết
- Mối quan hệ nhân quả giữa hậu quả và hành vi: Việc A bóp cò súng
và đã bắn trúng vào người hái măng làm cho nạn nhân tử vong
Chủ
thể
A thỏa mãn điều kiện về chủ thể của tội danh này - chủ thể thường (nếu
đủ năng lực trách nhiệm hình sự và độ tuổi luật định)
Mặt
chủ quan
A có lỗi vô ý (vô ý vì quá tự tin): A ý thức được việc bắn súng gầnngười hái măng là hành vi nguy hiểm, ảnh hưởng đến tính mạng, sức khỏengười đó A thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hiểmnhưng cho rằng hậu quả không xảy ra vì A tự tin vào tài bắn súng của mình
’b Nạn nhân bị thương nặng;
Trang 6Nếu nạn nhân bị thương thì phải xem xét tỷ lệ tổn thương của cơ thể nạn nhân
Giả sử lúc này tỉ lệ tổn thương cơ thể của nạn nhân từ 31% trở lên Lúc này A phạm vàoTội vô ý gây thương tích cho người khác theo quy định tại Điều 138 BLHS 2015
Hành vi của A đã có đủ các dấu hiệu pháp lí đặc trưng của Tội vô ý gây thươngtích cho người khác theo quy định tại Điều 138 BLHS 2015:
Dấu hiệu
Khách
thể
- Khách thể: sức khoẻ của người hái măng
- Đối tượng tác động: Người hái măng – con người đang sống
Mặt
khách quan
- Hành vi: A bóp cò súng và đạn đã trúng vào người hái măng
- Hậu quả: Người hái măng bị thương nặng (tỉ lệ tổn thương trên31%)
- Mối quan hệ nhân quả giữa hậu quả và hành vi: Việc A bóp cò súng
và đã bắn trúng vào người hái măng làm cho nạn nhân bị thương nặng (tỉ lệtổn thương trên 31%)
Chủ thể A thỏa mãn điều kiện về chủ thể của tội danh này - chủ thể thường
(nếu đủ năng lực trách nhiệm hình sự và độ tuổi luật định)
Mặt chủ quan A có lỗi vô ý (vô ý vì quá tự tin): A ý thức được việc bắn súng gần
người hái măng là hành vi nguy hiểm, ảnh hưởng đến tính mạng, sức khỏengười đó A thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hiểmnhưng cho rằng hậu quả không xảy ra vì A tự tin vào tài bắn súng của mình
Trang 7c Nạn nhân bị thương với tỷ lệ tổn thương cơ thể 21%
Nếu nạn nhân bị thương với tỷ lệ tổn thương cơ thể 21% thì căn cứ vào các quy địnhtrong BLHS hiện hành, A không phạm tội và do đó không phải gánh chịu trách nhiệmhình sự
Căn cứ vào Khoản 1, Điều 138, BLHS về Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác
“1 Người nào vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác
mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%, thì bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm”.
Theo quy định trên, chỉ khi người nào vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% thì mới phạm vào tội này Trong trường hợp này, tỉ lệ tổn thương cơ thể của người hái măng là 21% - tức dưới 31% nên theo quy định trên A không phạm vào tội này
Đúng vào ngày sinh nhật thứ 53 của bà H, ông M trở về nhà chìa vào mặt bà H tờ đơn xin ly hôn Bà H buồn rầu nói qua hai hàng nước mắt: “Ông thật tàn ác, hôm nay là sinh nhật tôi cơ mà! Tôi hận ông đã lừa dối tôi suốt bấy nhiêu năm Không cần đơn chi hết Tôi sẽ chết cho ông rảnh nợ mà đi lấy người ta Ông đừng có cản tôi, tôi đã quyết vậy rồi”
Ông M buông lời lạnh lùng: “Bà làm gì mặc xác bà Tôi cần một chữ ký của bà vô tờ đơn gửi tòa thôi”
Nghe vậy bà H leo lên thành cửa sổ (đang mở sẵn), ông M vẫn ngồi yên ở ghế salon
mà không nói gì thêm Khoảng cách giữa chỗ ông M ngồi và thành cửa sổ là 5m Bà
H nhảy xuống, đầu đập xuống nền xi măng, vỡ hộp sọ và chết (Nhà ông M và bà H ở tầng 5 chung cư T) Theo tin báo của nhân dân, công an đã tạm giữ ông M để làm rõ cái chết của bà H
Hãy xác định ông M có tội không? Nếu có là tội gì?
Trả lời:
Trang 8Ông M không phạm tội Bởi vì hành vi của ông M không thỏa mãn yếu tố cấu thành tộiphạm Điều 130 về Tội bức tử được quy định trong BLHS 2015, SĐBS 2017 vì khôngthỏa mãn điều kiện về mặt khách quan Ông M không thường xuyên ức hiếp hay đối xửngược đãi, tàn ác với bà H nên không thể cấu thành Tội bức tử.
Hành vi trực tiếp để bà H chết là việc ông M đưa đơn ly hôn vào ngày sinh nhật của bàlàm tăng sự ức chế khiến bà H nhảy lầu dẫn đến tử vong
⇒ Hành vi của ông M không đủ để cấu thành tội phạm.
Ông M cũng không phạm vào tội tại Điều 182 Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng Vì
vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng là việc người đang có vợ, có chồng mà kếthôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa cóchồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang cóchồng, có vợ Không thoả mãn 2 hành vi khách quan của khoản 1 Điều 182
Như vậy, nếu một bên vợ chồng, phát sinh tình cảm với một người khác mà không cóhành vi kết hôn hay sống chung như vợ chồng với người đó thì chỉ vi phạm nghĩa vụchung thủy, chứ không vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng
Bài tập 17
A là chủ một xe chở xăng dầu A đã ký hợp đồng với nhà máy sản xuất bột ngọt T.H vận chuyển dầu chạy máy cho nhà máy từ công ty xăng dầu đến nhà máy Sau vài lần vận chuyển, A đã học được thủ đoạn bớt dầu vận chuyển cho nhà máy như sau: Khi nhận được dầu A chạy xe tới điểm thu mua dầu của B và nhanh chóng rút dầu ra bán cho B mỗi lần vài trăm lít Sau đó chất lên xe mấy thùng nước có trọng lượng tương đương với số dầu đã rút ra Đến địa điểm giao dầu, chiếc
xe được cân đúng trọng lượng quy định nên được nhập dầu vào kho Trong thời gian chờ đợi cântrọng lượng của xe sau khi giao dầu, A đã bí mật đổ hết số nước đã chất lên xe để khi cân chỉ cònđúng trọng lượng của xe Với cách thức như vậy, A đã nhiều lần lấy dầu được thuê vận chuyển của nhà máy bột ngọt T.H với tổng trị giá là 38.565.000 đồng Sau đó thì A bị phát hiện
Hãy xác định tội danh trong vụ án này
tsao không phải tội lừa đảo?trộm tài sản?
Bài tập 19
A và B là vợ chồng có một đứa con chung là C (8 tháng tuổi) Cuộc sống gia đình khó khăn, vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn A thường nhậu nhẹt say xỉn về đánh đập mẹ con chị B Đêm 29/7, sau khi đi nhậu về, A tiếp tục đánh đập, chửi bới chị B rồi vứt quần
áo đuổi hai mẹ con ra khỏi nhà mặc dù ngoài trời đang mưa bão Chị B khóc van xin A
mở cửa nhưng A kiên quyết không chịu Quá tuyệt vọng, chị B bế con ra bờ sông gần nhànhảy xuống sông tự sát Lúc này, ông X đi ngang qua thấy vậy nhảy xuống sông cứu hai
mẹ con nhưng chỉ cứu được chị B, cháu C chết do ngạt nước
Trang 9Trong tình huống trên, ai phạm tội? Nếu có phạm tội gì? Tại sao?
* Người phạm tội là A - Chủ thể của tội Bức Tử
- Căn cứ pháp lý: Điều 130 BLHS 2015
- Khách thể của tội Bức Tử:
+ Quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ: Ngoài việc xâm phạm đến sức khỏe, danh dự,nhân phẩm của Người lệ thuộc A - Chị B vợ của người phạm tội hành vi nêu trên còn(gián tiếp) xâm phạm đến tính mạng của người khác
+ Đối tượng tác động: Người lệ thuộc A - Chị B (vợ của người phạm tội)
Lỗi: Cố ý đối với hành vi, vô ý đối với hậu quả (Lỗi hỗn hợp)
+ Hậu quả: Các hành vi của B đã làm gây ức chế về tâm lý đối với nạn nhân, làm chonạn nhân bị khủng hoảng tinh thần, bị tuyệt vọng dẫn đến hậu quả chị B đã tự sát chấm
dứt mạng sống - “Quá tuyệt vọng, chị B bế con ra bờ sông gần nhà nhảy xuống sông tự sát”.
+Mối quan hệ nhân quả: hành vi thường xuyên đánh đập mỗi lần say xỉn và lần này làđánh đập, chửi bới chị B rồi vứt quần áo đuổi hai mẹ con ra khỏi nhà mặc dù trời bênngoài mưa bão là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến chị B ôm con nhảy sông tự vẫn
- Mặt Chủ quan: A có lỗi cố ý gián tiếp A nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểmcho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó có thể xảy ra, tuy không mong muốnnhưng vẫn có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra
- Chủ thể: Chủ thể thường, có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệmhình sự
* Người phạm tội là B - Chủ thể của tội Giết Người
- Căn cứ pháp lý: Điểm b Khoản 1 Điều 123 - BLHS 2015
- Khách thể của tội Giết Người:
Trang 10+ Quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ: Tính mạng của bé C 8 tháng tuổi (con chungcủa A&B).
+ Đối tượng tác động: bé C (con người đang sống)
+Quan hệ bị xâm phạm: quyền được bảo vệ tính mạng của người khác (cụ thể là C )
+ Mối quan hệ nhân quả: B bế bé C nhảy xuống sông “cháu C chết do ngạt nước”.
- Mặt chủ quan: B có lỗi cố ý gián tiếp B nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểmcho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó có thể xảy ra, tuy không mong muốnnhưng vẫn có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra
- Chủ thể: chủ thể thường, có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệmhình sự
THẢO LUẬN LẦN 4 Bài tập 22
A là người thường dậy sớm mang cây gậy dài có gắn vợt đi vợt ốc nhồi ở các ao bèo Mộthôm A đang đi vợt ốc như thế thì phát hiện B là người hàng xóm đang sắp chết đuối dưới
ao Tuy A biết rõ B là người không biết bơi (lội) nhưng vì trong cuộc sống B thườngxuyên mâu thuẫn, cãi nhau với gia đình A, thậm chí có lần B đã ném cả phân vào bể nước
ăn nhà A nên khi thấy B sắp chết đuối A không thò gậy xuống cứu B
Hãy xác định tội danh cho hành vi của A trong các tình huống sau:
● A đứng yên trên bờ ao chờ tới khi B chìm xuống hẳn rồi bỏ đi Theo kết quả giám định pháp y B chết do bị ngạt nước.
- A phạm tội không cứu giúp người đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng(Điều 132 BLHS), có cấu thành vật chất
Trang 11- Chủ thể: chủ thể thường là A, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu tráchnhiệm hình sự, có năng lực biết bơi
- Khách thể:
+ Quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ: tính mạng của B
+ Đối tượng tác động: B - con người đang sống
- Mặt khách quan:
+ Hành vi: A có hành vi cố ý không cứu giúp người đang ở trong tình trạng nguy hiểmđến tính mạng A biết rõ B không biết bơi nhưng khi thấy B sắp đuối nước dưới ao thì A
đã không thò gậy xuống cứu dù có đủ điều kiện cứu B
+ Hậu quả: B chết vì ngạt nước
+ Mối quan hệ nhân quả: hành vi của A là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến cái chết của B
- Mặt chủ quan: A có lỗi cố ý trực tiếp A nhận thức rõ hành vi bỏ mặc của mình có thểgây ra cái chết cho B và A mong muốn hậu quả xảy ra
● Ngay lúc B gần chìm (A vẫn đứng trên bờ ao) thì có anh C (chủ ao) nhảy xuống vớt B lên và B đã được cứu sống.
Trong trường hợp này A không phạm tội Vì Tội không cứu giúp người đang trongtình trạng nguy hiểm đến tính mạng theo quy định tại Điều 132 BLHS có cấu thành vậtchất, hậu quả nạn nhân chết là dấu hiệu bắt buộc, nhưng B đã được anh C cứu sống nênhành vi của A không cấu thành tội phạm
Trang 12bột, sau đó lại tiếp tục đưa cháu đi ăn xin Đến ngày 15/8, thấy cháu bé bị T đánh đập rất
dã man trên đường phố, nhiều người dân đã báo công an bắt giữ
Qua giám định kết luận: “Cháu bé bị gãy kín các xương đoạn 1/3 dưới xương cánh tayphải và trái, bị di chứng lệch trục chi phải, vỡ đầu trên xương chày trái, di chứng cứnggối trái, mặt bị dị dạng Tỷ lệ tổn thương cơ thể mà cháu bé phải gánh chịu là 55%”.Hãy xác định T phạm tội gì? Tại sao?
Xử thêm Đ134 (Tổng hợp hình phạt) hvi khách quan định 1 tội khi 1 hvi thoả mãn nhiều cấu thành tội phạm “tội ghép” vd: sản xuất, tàng trữ, mua bán hàng cấm xâm phạm 2 khách thể, hành vi kết thúc trên thực tế và hoàn thành trên mặt pháp vd: giết người - cướp ts: hành vi nguy hiểm ngang nhau =>2 tội
Trong trường hợp này, T phạm 2 tội:
1 T phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khoẻ của người khác theo Điều 134.
- Hành vi của T là lỗi cố ý, đánh đập vào đầu, bẻ tay, rạch mặt, cắt môi của cháu bé, sau
đó đánh đập dã man trên đường, gây hậu quả là cháu bé bị thương tật 55%, cháu bécũng là người dưới 16 tuổi, hành vi của T mang tính chất côn đồ,
-Về ý chí: mong muốn cho cháu bé bị thương tích, tổn hại đến sức khoẻ để xin được
Trang 13Vì những lý do trên theo khoản 4 Điều 134 BLHS 2015, nên hành vi của T là tội cố ýgây thương tích.
2 T phạm tội chiếm đoạt người dưới 16 tuổi quy định tại Điều 153, BLHS 2015
* Các dấu hiệu pháp lý cấu thành tội này:
· Về khách thể: Quyền được cha mẹ trông nom, chăm sóc và quyền được bảo vệ
sức khỏe của cháu bé Đối tượng tác động: cháu bé 3 tuổi
· Mặt khách quan:
Hành vi: T đưa cháu bé vào HCM để thực hiện hành vi ăn xin kiếm tiền
· Mặt chủ quan: Lỗi cố ý trực tiếp
-Về lý trí: T nhận thức được hành vi của mình xâm phạm đến quyền, lợi ích chính đáng
và gây ảnh hưởng đến sức khỏe, tính mạng của cháu bé
-Về ý chí: T thấy được hậu quả của hành vi trái pháp luật đó và mong muốn hậu quả đó
gây ra
-Về chủ thể: Đây là chủ thể thường (có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đủ độ tuổi
theo luật định)
Bài tập 30
A (nam, 17 tuổi) và B yêu nhau A có quan hệ tình dục khiến B có thai Gia đình
B khiếu nại A về sự việc trên
Hãy xác định hành vi của A có phạm tội không, nếu phạm tội thì là tội gì trong các tình huống sau:
Nếu chia phải chia thuận tình và không thuận tình gồm trái ý muốn và miễn cưỡng
a B 12 tuổi; mọi TH giao cấu với người dưới 13t đều kh cần chia thuận tình hay không đều khép tội ĐbK1Đ142
Trong tình huống này A phạm Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi tại điểm b khoản 2 Điều142
* Các dấu hiệu pháp lý cấu thành:
- Khách thể: quyền nhân thân của B (bao gồm sức khỏe, danh dự, nhân phẩm)
Trang 14Đối tượng tác động: B: 12 tuổi (người dưới 13 tuổi)
+ Về lý trí: A nhận thức rõ hành vi quan hệ tình dục với B (người dưới 13 tuổi) của
mình có thể khiến B mang thai ngoài ý muốn;
+ Về ý chí: A vẫn thực hiện hành vi
- Chủ thể: A thỏa mãn điều kiện về chủ thể: 17 tuổi và có NLTNHS đầy đủ.
b B (15 tuổi)
TH1: Thuận tình (hoàn toàn đồng ý, không có lợi ích vật chất)
Hành vi giao cấu của A và B được cho là thuận tình đồng thời B 15 tuổi vì thế B
có thể thuộc đối tượng tác động tại Điều 145: Tội giao cấu với người từ đủ 13 tuổiđến 16 tuổi Tuy nhiên đối với cấu thành tội danh này chủ thể phải là người từ đủ 18tuổi trở lên và A 17 tuổi tức là A không thỏa mãn dấu hiệu chủ thể và không phạm tộitheo BLHS
TH2: không thuận tình trái ý muốn (hiếp dâm người dưới 16t, chủ thể chỉ cần đủ 14t,Đ142 );
Hành vi giao cấu của A và B nếu có sự đe dọa bằng vũ lực từ phía A để ép B lêngiường khiến B có thai Nếu có sự đe dọa dùng vũ lực thì có tội tại khoản 1 Điều 142BLHS
TH3: không thuận tình miễn cưỡng (không hoàn toàn đồng ý nhưng cũng kh hoàntoàn đồng ý, quan hệ td hay không phụ thuộc vào sự đồng ý của nạn nhân nhưng nnđồng ý do sự lệ thuộc, đe doạ, Đ144)
c B (17 tuổi)
Trường hợp này chia hai trường hợp
TH1: thuận tình( không thoả Đ145 nên kh PT)
Trang 15Hành vi giao cấu thuận tình, cả A và B đều trên 16 tuổi, tức là không thuộc trườnghợp giao cấu trái pháp luật nào Do đó trường hợp này A không phạm tội
TH2: không thuận tình: giao cấu trái ý muốn
Nếu có sự đe dọa dùng vũ lực từ A thì có tội tại khoản 1 Điều 141 BLHS
a B 12 tuổi; b B 15 tuổi; c B 17 tuổi
Bài tập 36
A kết hôn với X, có hai con chung Một thời gian sau, X bỏ đi mà không làm thủ tục lyhôn với A X đến địa phương khác mua nhà, sống như vợ chồng với Y 2 năm sau khi Xmất, A cùng hai con đến nhà nơi X và Y sinh sống về bắt Y phải giao nhà Y xin đượcchia một phần nhưng mẹ con A không đồng ý Y gửi đơn ra tòa, trong thời gian chờ tòaxét xử thì A và hai con là B và C huy động hàng chục người kéo tới và đuổi Y ra đường.Anh (chị) hãy xác định tội danh trong vụ án trên
Bài tập 38
A (21 tuổi) và B (17 tuổi) là anh em cùng cha khác mẹ Bà Y là mẹ ruột của B thấynhững biểu hiện khác thường của con gái nên đưa B đi đến bệnh viện khám bệnh thì pháthiện B có thai được gần 4 tháng Bà Y tra hỏi B thì B khai nhận rằng do có tình cảm với
A nên cả hai đã có quan hệ tình dục từ 2 năm nay và cả 2 đều hoàn toàn tự nguyện Bà Yhỏi A thì A cũng thừa nhận hành vi của mình và khai nhận lần đầu tiên quan hệ là ngày B
Trang 161 Hành vi khách quan của các tội phạm quy định trong Chương các tội xâm phạm
sở hữu chỉ là hành vi chiếm đoạt tài sản
Nhận định sai
- Hành vi khách quan của tội xâm phạm sở hữu rất đa dạng, không phải chỉ duy nhất hành
vi chiếm đoạt tài sản mới là hành vi khách quan của các tội phạm này Ngoài hành vichiếm đoạt tài sản, còn có các nhóm hành vi khách quan khác như:
+ Hành vi chiếm giữ trái phép tài sản (Điều 176 BLHS)
+ Hành vi sử dụng trái phép tài sản (Điều 177 BLHS)
+ Hành vi hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (Điều 178 BLHS)
+ Hành vi vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản (Điều 180 BLHS)
Ví dụ: Tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (Điều 178 BLHS) có hành vi kháchquan là chủ thể phạm tội có hành vi hủy hoại tài sản (làm tài sản mất khả năng sử dụnghoặc không còn hoặc khó có khả năng phục hồi), hành vi cố ý làm hư hỏng tài sản chứkhông phải hành vi chiếm đoạt tài sản nhưng vẫn là tội được quy định trong Chương cáctội xâm phạm sở hữu
Cách 2: còn có xâm phạm đến nhân thân
CỤM 3 LẦN 1 Những nhận định sau đây đúng hay sai? Tại sao?
1 Hành vi khách quan của các tội phạm quy định trong Chương các tội xâm phạm sở hữuchỉ là hành vi chiếm đoạt tài sản
Nhận định sai
Vì hành vi tội phạm xâm hại sở hữu rất đa dạng, không phải chỉ duy nhất hành
vi chiếm đoạt tài sản mới là hành vi khách quan của các tội phạm này Ngoài hành
vi chiếm đoạt tài sản còn có các nhóm hành vi khách quan khác như:
Trang 17• Hành vi chiếm giữ trái phép tài sản (Điều 176 BLHS năm 2015).
• Hành vi sử dụng trái phép tài sản (Điều 177 năm 2015)
• Hành vi hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (Điều 178 năm 2015)
• Hành vi vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản (Điều 180 BLHS năm 2015).Ngoài xâm phạm sở hữu còn hv xâm phạm nhân thân
2 Rừng chỉ là đối tượng tác động của các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế
Nhận định sai
CCPL: Điều 243 BLHS
Vì rừng không chỉ là đối tượng tác động của các tội xâm phạm trật tự quản lýkinh tế mà còn có thể là đối tượng tác động của các tội xâm phạm chế độ quản lýnhà nước về bảo vệ môi trường hoặc các tội khác cụ thể như:
Nếu có hành vi hủy hoại rừng thì có thể là đối tượng tác động của các tội phạm
về môi trường theo Điều 243 BLHS 2015 qui định về Tội hủy hoại rừng;
rừng trồng có công sức lao động vs con người: huỷ hoại tài, tội trộm,
3 Không phải mọi loại tài sản bị chiếm đoạt đều là đối tượng tác động của các tội xâm
phạm sở hữu
CHỈ 1 SỐ LOẠI KHÔNG PHẢI
1 trong những đặc điểm vật đấy không có tính năng đặc biệt: ma tuý, vũ khíquân dụng
Trang 189 Dùng vũ lực nhằm chiếm đoạt tài sản mà dẫn đến hậu quả chết người là hành vi cấuthành cả hai tội: Tội cướp tài sản (Điều 168 BLHS) và Tội giết người (Điều 123 BLHS).Nhận định sai
- CSPL: Điều 123 và Điều 168 BLHS 2015
- Vì: Nếu người phạm tội cố ý dùng vũ lực chiếm đoạt tài sản của nạn nhân nhưng vô ývới hậu quả chết người thì trong trường hợp này hành vi dùng vũ lực nhằm chiếm đoạt tàisản mà dẫn đến hậu quả chết người thì chỉ cấu thành Tội cướp tài sản và hậu quả chếtngười là tình tiết định khung tăng nặng (theo Điểm c, Khoản 4, Điều 168 BLHS)
- Mặt khác: Nếu người phạm tội cố ý đối với dùng vũ lực chiếm đoạt tài sản của nạn nhân
và cố ý khiến cho nạn nhân tử vong để cướp tài sản thì trong trường hợp này hành vidùng vũ lực nhằm chiếm đoạt tài sản mà dẫn đến hậu quả chết người thì cấu thành Tộicướp tài sản (Điều 168) và Tội giết người (Điều 123)
13 Hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản trong Tội trộm cắp tài sản (Điều 173 BLHS) đòihỏi người phạm tội phải lén lút với tất cả mọi người
Đây là nhận định sai, Vì chỉ cần đối tượng sử dụng thủ đoạn lén lút, lợi dụng sơ hở của người bị hại tức là chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản để nhằm chiếm đoạt tài sản của
họ thì chính là dấu hiệu đặc trưng của tội trộm cắp tài sản
Tại sao chỉ cần lén lút với chủ sở hữu? Quay về thế nào là hành vi chiếm đoạt, đó
là chuyển biến trái pháp luật tài sản của đang nằm trong sự quản lý của người khác thành tài sản của mình Cho nên để thỏa mãn hành vi chiếm đoạt thì phải có người quản lý tài sản
14 Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ 2 triệu đồng trở lên mà có biểu hiện gian dối là hành vi chỉ cấu thành Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 174 BLHS)
Nhận định sai Vì có những trường hợp có biểu hiện gian dối để chiếm đoạt tài sản nhưng không phải Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo điều 175 (tội lạm dụng tín
nhiệm chiếm đoạt tài sản thì người đó đã có tài sản một cách hợp pháp bằng sự tín nhiệm
Trang 19của mình (thông qua các hình thức hợp đồng) nhưng sau đó lại dùng thủ đoạn gian dối đểchiếm đoạt tài sản thì câu thành tội Đ175
15 Mọi hành vi không trả lại tài sản sau khi đã vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng mà tài sản có giá trị từ 4 triệu đồng trở lên đều cấu thành Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 175 BLHS)
Nhận định sai
CSPL: Điều 175 BLHS 2015
hành vi không trả lại tài sản sau khi đã vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhậnđược tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng mà tài sản có giá trị từ 4 triệuđồng trở lên cấu thành tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo Điều 175 BLHSkhi thỏa mãn 1 trong 4 hành vi sau sau:
Thứ nhất, bỏ trốn để không trả lại tài sản
Thứ hai, dùng thủ đoạn gian dối để không trao trả lại một phần hoặc toàn bộ tài sản
Thứ ba đến thời hạn trả, có đủ điều kiện để trả nhưng cố tình không trả
Thứ bốn, đã sử dụng tài sản vào mục đích bất hợp pháp, không còn khả năng chi trảNếu một người cố tính không trả lại tài sản nhưng trong trường hợp là họ không còn khảnăng chi trả thì không thỏa mãn một trong bốn các trường hợp trên thì chỉ là giao dịchdân sự
17 Cố tình không trả lại cho chủ sở hữu tài sản có giá trị từ 10 triệu đồng trở lên bị giaonhầm là hành vi cấu thành Tội chiếm giữ trái phép tài sản (Điều 176 BLHS)
Nhận định sai
Theo Điều 176 BLHS 2015 thì cấu thành Tội chiếm giữ trái phép tài sản có 2trường hợp Người cố tình không trả lại cho chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp hoặckhông giao nộp cho cơ quan có trách nhiệm tài sản trị giá từ 10.000.000 đồng đến dưới200.000.000 đồng, di vật, cổ vật hoặc vật có giá trị lịch sử, văn hóa bị giao nhầm hoặc do
Trang 20mình tìm được, bắt được, sau khi chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp hoặc cơ quan cótrách nhiệm yêu cầu được nhận lại tài sản đó theo quy định của pháp luật.
Nếu 1 người cố tình kh giao trả lại tài sản do ngẫu nhiên có được khi đã có yc từ phía …thì mới cấu thành
… nhưng chưa có yc từ phía chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp hoặc không giao nộpcho cơ quan có trách nhiệmthì không cấu thành
Theo em, nhận định này là sai Trong trường hợp hàng bị giao nhầm có giá trị từ 10 triệuđồng trở lên cho người khác thì chỉ khi người sở hữu, quản lý hợp pháp hoặc cơ quan cótrách nhiệm yêu cầu được nhận lại tài sản đó theo quy định của pháp luật nhưng cố tìnhkhông trả thì mới cấu thành Tội chiếm giữ trái phép tài sản ( Điều 176 BLHS )
25 Mang trái phép vật có giá trị lịch sử, văn hóa qua biên giới chỉ là hành vi cấu thànhTội vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới (Điều 189 BLHS)
Nhận định sai CSPL: Đ188, Đ189, Đ200 BLHS 2015
Vì không phải yếu tố mang trái phép vật có giá trị lịch sự văn hoá biên giới
sẽ là cấu thành tội thuộc Đ189, mà tuỳ vào từng trường hợp:
Nếu hành vi mang trái phép vật có giá trị lịch sử, văn hóa qua biên giớinhằm buôn bán kiếm lời, thu lợi bất chính => Thì sẽ hành vi cấu thành Tội buônlậu (Điều 188)
Nếu hành vi mang trái phép trên không nhằm kiếm lời, thu lợi bất chính =>thì cấu thành Tội vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới (Điều 189)
Nếu hành vi mang vận chuyển hàng mà người vận chuyển không kê khaihoặc kê khai sai về thuế từ 100 triệu đến 300 triệu hoặc dưới 100 triệu trong nhữngtrường hợp luật định mà Nhà nước vẫn quản lý được việc xuất khẩu - nhập khẩu
=> hành vi cấu thành Tội trốn thuế (Điều 200) Còn nếu hành vi đó khiến Nhànước không quản lý được xuất khẩu - nhập khẩu lại phạm vào Tội buôn lậu(Đ188)
=> Vì vậy, không phải hành vi mang trái phép vật có giá trị lịch sử, văn hoáqua biên giới nào cũng là hành vi cấu thành Tội vận chuyển trái phép hàng hóaqua biên giới (Điều 189 BLHS)
Trang 2127 Hàng hóa có hàm lượng, định lượng chất chính thấp hơn so với tiêu chuẩn chất lượng
đã đăng kí, công bố áp dụng hoặc ghi trên nhãn, bao bì hàng hóa là hàng giả
29 Hàng giả chỉ là đối tượng tác động của các tội phạm được quy định tại điều 192,
34 Mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước qui định tại Điều
203 BLHS chỉ là hành vi mua, bán hóa đơn chưa ghi nội dung hoặc ghi nội dung khôngđầy đủ, không chính xác theo qui định
+ Gây ô nhiễm môi trường vượt quá quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất thải ở mức độnghiêm trọng
+ Làm môi trường bị ô nhiễm nghiêm trọng
Trang 22+ Gây hậu quả nghiêm trọng khác.
50 Mọi trường hợp trồng cây thuốc phiện đã được giáo dục nhiều lần mà còn vi phạmđều cấu thành Tội trồng cây thuốc phiện hoặc các cây khác có chứa chất ma túy theoĐiều 247 BLHS
52 Mọi trường hợp vận chuyển trái phép chất ma túy đều cấu thành Tội vận chuyển tráiphép chất ma túy (Điều 250 BLHS)
55 Hành vi mua bán trái phép chất ma túy qua biên giới là hành vi cấu thành Tội buônlậu (Điều 188 BLHS)
59 Người tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy biết bản thân họ đã nhiễm HIV mà cố
ý lây truyền HIV cho người sử dụng chất ma túy thì chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy với tình tiết định khung tăng nặng “gây bệnh nguy hiểm cho người khác” (điểm g khoản 2 Điều 255 BLHS)
60 Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy không chỉ cấu thành Tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 256 BLHS)
C BÀI TẬP
Bài tập 1
Lúc 6 giờ sáng, T gặp cháu N (8 tuổi), đang đứng trong vườn mận Thấy N đeo sợi dâychuyền vàng nên y chợt nảy ý định chiếm đoạt Quan sát chung quanh không có ai, Tbước qua mé mương lấy một khúc cây còng lớn bằng cổ tay Cầm khúc cây trên tay, Tnhanh bước đến phía sau lưng cháu N và vung tay đập mạnh vào đầu cháu N làm cháu téxuống đất Cháu N la lên kêu cứu thì T tiếp tục đánh vào đầu cháu N cái thứ hai khiến Nbất tỉnh T lấy sợi dây chuyền trên cổ của cháu N => cướp ts
Kế đó, T ôm cháu N dìm xuống mương, nhận xác cháu xuống bùn Sợi dây chuyền T bánđược 775.000 đồng Vụ việc được phát hiện nhanh chóng => giết người
2hvi 2 tội
T bị bắt giữ
Hãy xác định tội danh đối với hành vi của T
Tội danh mà T đã phạm là Tội cướp tài sản theo Điều 168 và Tội giết ngườiĐiều 123 BLHS năm 2015
Khi nào cướp tsan + giết người xử 1 tội hay 2 tội
Hành vi giết người cấu thành khi nào? bắt đầu từ lúc cầm cây còng đánh vàođầu, 8t => khả năng phòng vệ kém
(1) Cố ý trực tiếp không cần chết người
Trang 23- Tội cướp tài sản (Điều 168)
Khách thể: quan hệ sở hữu và quyền nhân thân của cháu N
Mặt khách quan: là cấu thành hình thức nên chỉ cần chứng minh hành vi
Đối tượng tác động: cháu N và sợi dây chuyền vàng của cháu N
Hành vi: T dùng vũ lực khiến nạn nhân không thể chống cự được, cụ thể T lấy mộtkhúc cây còng lớn bằng cổ tay đập mạnh vào đầu cháu N làm cháu té xuống đấtsau đó tiếp tục đánh vào đầu cháu N cái thứ hai khiến N bất tỉnh
Sau đó T lấy sợi dây chuyền trên cổ của cháu N
- Tội giết người (Điều 123)
Khách thể: là quyền được sống của cháu N
Mặt khách quan: hành vi + hậu quả
+ Đối tượng tác động: cháu N - là con người đang sống
+ Hành vi: T đánh cháu N bất tỉnh và sau đó T ôm cháu N dìm xuống mương,nhấn xác cháu N xuống bùn
+ Hành vi của T đủ các dấu hiệu pháp lí đặc trưng của Tội giết người
+ Mối quan hệ nhân quả giữa hậu quả và hành vi: hành vi dùng vũ lực của T lànguyên nhân trực tiếp dẫn đến việc cháu N tử vong
Chủ thể
T thỏa mãn điều kiện về chủ thể của tội này là chủ thể thường
Mặt chủ quan
Về lỗi T thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp T thừa biết hành vi của mình là nguy hiểm
và cũng nhận thấy được hậu quả tất yếu xảy ra về hành vi của mình nhưng vẫnthực hiện
Bài tập 3
Trang 24Ông X (45 tuổi) đã có vợ con nhưng vẫn lén lút quan hệ tình cảm với A (29 tuổi) Saumột thời gian, A nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản của ông X và bàn bạc kế hoạch vớianh trai là B
Theo kế hoạch, khi A và ông X đang quan hệ trong nhà nghỉ thì B xông vào, tự nhận làchồng của A và đánh ông X Ông X năn nỉ xin B tha, B yêu cầu ông X phải đưa cho B
300 triệu đồng để “bồi thường danh dự” Ông X không đồng ý nên B tiếp tục đánh ông X
và lấy đi toàn bộ tiền bạc, điện thoại, đồng hồ của ông X, trị giá tài sản là 30 triệu đồng
=> cướp
Sau đó, B chụp hình ông X và A, nói nếu không đưa 250 triệu đồng thì sẽ gửi những tấmhình đó cho vợ con ông X Ông X đồng ý và hẹn mười ngày sau sẽ đưa tiền => cưỡng(1)dàn cảnh, X bảo sẽ chồng tiền đất là 200tr, tới khi móc túi ra có 1tr trong người
vì A chiếm đoạt có 1tr
(2) A nói B bàn bạc, A mua máy khò đột nhập vào ngân hàng, B ngồi ngoài bảo vệ bìnhthường canh để B, A báo CA phường có vụ như thế, két sắt bị hư cửa (100tr), trong kétsắt không có đồng
=> không có sự chiếm đoạt tài sản
nguyên tắc suy đoán vô tội => không được ước chừng số tiền
có ai chuẩn bị máy khò/máy hàn vào ngân hàng chiếm đoạt với giá 2tr đồng => nằm ởk1, đủ tối thiếu, tối đa 50tr
ý định chiếm đoạt 100tr => định khung 100tr
giá trị tài sản trong suy nghĩ mang tính định khung
Vụ việc sau đó bị phát giác
Anh (chị) hãy xác định hành vi của A và B có phạm tội không? Nếu có thì phạm tội gì?Tại sao?
Hành vi của A và B có phạm tội
B phạm tội tội cưỡng đoạt tài sản (Điều 170) và tội cướp tài sản (Điều 164 BLHS năm21015)
A là người giúp sức