Thức ăn của tôm Sản lượng tôm trong ao nuôi là kết quả tổng hợp từ việc sử dụng thức ăn thiên nhiên, thức ăn thiên nhiên làm từ phân và thức ăn công nghiệp artificial feed, có thể biểu
Trang 1Thức ăn, cho ăn và sức khỏe của tôm
A Thức ăn của tôm
Sản lượng tôm trong ao nuôi là kết quả tổng hợp từ việc sử dụng thức ăn thiên nhiên, thức ăn thiên nhiên làm từ phân và thức ăn công nghiệp (artificial feed), có thể biểu hiện như sau: Sản lượng tôm trong ao = (Thức ăn thiên nhiên + thức ăn thiên nhiên làm từ phân) + thức ăn công nghiệp
Do đó có thể thấy rằng, trong ao nuôi cần phải tạo nguồn thức ăn thiên nhiên cho tôm khi đang còn ở giai đoạn đầu
Trang 2Việc tạo nguồn thức ăn thiên nhiên (màu nước) trong ao nuôi trước khi thả tôm là cần thiết và quan trọng đối với tôm khi đang còn nhỏ và việc sử dụng thức ăn công nghiệp (artificial fedd) thêm sẽ giúp tôm có đầy đủ chất dinh dưỡng, làm cho tôm tăng trưởng tốt và tỷ lệ sống cao Khi so sánh với dạng nuôi quảng canh (extensive) mà không dùng thức ăn, tôm sẽ
có tỷ lệ sống thấp và tăng trưởng không đều Việc sử dụng thức ăn công nghiệp (thức ăn viên) phải xem xét đến giá trị dinh dưỡng, hiệu quả của việc hấp thụ và khả năng sử dụng tốt để từ đó duy trì cuộc sống, ổn định về sau hoặc giúp tôm tăng trưởng và để duy trì giống Do đó, thức ăn tôm tốt cần phải xem xét đến các thành phần chính:
phù hợp các chất như đạm (Protein), chất béo, Hydrat cacbon (Carbohydrate), Vitamin và khoáng chất; Có thể xem xét dựa trên tốc độ tăng trưởng hàng ngày (ADG), tỷ lệ chuyển đổi thức ăn thành thịt trong từng giai đoạn tuổi và suốt vụ nuôi
Trang 3(FCR period and FCR pond) và khả năng kháng bệnh của tôm
processing) phải tạo ra sản phẩm đạt hiệu quả cao nhất để không ảnh hưởng đến môi trường nuôi về sau, do đó tức ăn tôm được sản xuất ra cần phải:
cỡ thức ăn: thức ăn dạng viên nhỏ (Crumble) và lớn (Pellet)
để phù hợp với các cở tôm, để tôm dễ bắt mồi và hấp thụ tốt (CP 4001-s, 4001, 4002, 4003, 4004-s và 4005)
nghiên cứu, phát triển sản xuất và sản phẩm tốt hơn, giá cả phù hợp và sản phẩm từ nhà máy phải qua kiểm nghiệm
trước khi đến người tiêu dùng
trị dinh dưỡng, không có độc, và phải được nghiền nhuyễn để tôm có thể tiêu hoá nhanh và hấp thụ tốt
Trang 4 Giữ mùi thơm để hấp dẫn tôm ăn theo thời gian quy định (2 giờ)
vitamin và khoáng cất không bị thất thoát ra bên ngoài và không làm cho đáy ao bị dơ, tuy nhiên thức ăn mà có khả năng bền lâu trong nước sẽ làm cho tôm khó bắt mồi vì tôm không thể đánh mùi được
B Kiểm soát thức ăn
Tôm hấp thụ các loại thức ăn tốt sẽ tạo năng lượng cung cấp cho các hoạt độn sống mà có ảnh hưởng rất lớn đến việc tăng trưởng và làm cho tỷ lệ sống cao Như vậy, cần phải kiểm soát kỹ thức ăn và việc cho ăn để hiệu quả cao, không làm mất cân bằng hệ sinh thái Kiểm soát thức ăn có nghĩa là:
lượng tôm vì nhu cầu thức sẽ tăng lên khi trọng lượng tôm tăng lên; phải cân tôm đều đặn 7 ngày/lần, tính đến thức ăn cần sử dụng, tỷ lệ sống bằng phương pháp dùng nhá kiểm tra
Trang 5khi mới bắt u thả tôm và dùng chài khi tôm đã lớn; cân tôm khi tôm bắt đầu ở giai đoạn 25-30 ngày tuổi
cách vãi quanh ao hoặc dùng thuyền để tôm dễ bắt mồi
nhiều vị trí, dùng nhá theo cỡ quy định 80cm x 80cm, dùng ít nhất 4 nhá trong một ao (Số lượg nhá = diện tích
ao/1,600m2) để có thể kiểm soát được tôm ăn như thế nào trong mỗi bửa, và điều cỉnh cho phù hợp với nhu cầu của tôm phải làm như vậy vì rằng việc ăn mồi của tôm tuỳ thuộc vào các yếu tố môi trường ví dụ như chất lượng nước Bắt đầu dùng nhá khi thả tôm được 2-3 ngày để theo dõi sự phát triển
và tỷ lệ sống của tôm
C Dạng nuôi ảnh hưởng đến việc bắt mồi của tôm
Trang 6Các dạng nuôi quảng canh, bán thâm canh và thâm canh sẽ
có sự khác biệt về nhu cầu thức ăn và cách quản
lý thức ăn
Sức khỏe của tôm
Yêu cầu:
ruột
Theo dõi sức khoẻ tôm thường xuyên để kiểm tra thức ăn hoặc cân tôm Theo dõi số lượng vi khuẩn vibrio trong nước
Trang 7và gan tôm (trong nước không nên quá 102 tế bào/cc Và trong gan phải không gặp vibrio loại Grem Nagative) Nếu tôm nhiễm vibrio hoặc vi khuẩn, có thể dùng thuốc để điều trị