BÀI 2 ĐOÀN THUYỀN ĐÁNH CÁ (Huy Cận) ĐỀ SỐ 1 Phân tích bài thơ Đoàn thuyền đánh cá của Huy Cận I Mở bài Mở bài 1 Huy Cận là một trong những nhà thơ tiêu biểu của phong trào Thơ mới Nếu như trước Cách m[.]
Trang 1BÀI 2 : ĐOÀN THUYỀN ĐÁNH CÁ (Huy Cận)
ĐỀ SỐ 1
Phân tích bài thơ Đoàn thuyền đánh cá của Huy Cận
I Mở bài
Mở bài 1
Huy Cận là một trong những nhà thơ tiêu biểu của phong trào Thơ mới Nếu như
trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 thơ Huy Cận tràn ngập nỗi buồn nhân thế “Chàng Huy Cận khi xưa hay sầu lắm” thì sau Cách mạng, từng trang thơ của Huy Cận ấm áp hơi thở của cuộc sống mới đang lên Tiêu biểu là bài “Đoàn thuyền đánh cá” Thi phẩm ra đời
vào năm 1958, sau một chuyến đi thực tế dài ngày ở vùng mỏ Quảng Ninh Bài thơ khắc họa hình ảnh đẹp, tráng lệ, sự hài hòa giữa thiên nhiên và con người lao động, bộc lộ niềm vui, niềm tự hào của nhà thơ trước đất nước và cuộc sống
Mở bài 2
Có lẽ, con người đẹp nhất là khi làm việc, say mê lao động, thực sự hòa mình vào thiên nhiên đất trời, hòa mình vào vũ trụ bao la… Huy Cận đã gửi gắm hồn mình qua bài thơ
“Đoàn thuyền đánh cá” với một tình yêu cuộc sống thiết tha và say đắm! Bài thơ vừa là một
bức tranh đẹp đẽ, vừa là khúc ca hào hùng về những người đánh cá trên biển cả bao la – những con người thực sự làm chủ biển trời, làm chủ cuộc đời mới!
II Thân bài
1 Khái quát chung
- Bài thơ được sáng tác trong chuyến đi công tác của Huy Cận tới vùng mỏ Hòn Gai, Quảng
Ninh năm 1958 và được in trong tập “Trời mỗi ngày lại sáng” Bài thơ được bắt nguồn từ
cảm hứng ngợi ca công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội của miền Bắc Với ý nghĩa đó, thi
phẩm "Đoàn thuyền đánh cá" là khúc tráng ca, ca ngợi con người lao động với tinh thần làm
chủ và niềm vui, niềm tin trước cuộc sống mới trong những năm đầu xây dựng đất nước Bài thơ có bảy khổ, bố cục bài thơ theo trình tự một chuyến ra khơi của đoàn thuyền đánh cá, đồng thời cũng là sự vận động của tự nhiên theo thời gian của vũ trụ từ hoàng hôn đến bình minh trong đó có nhiều bức tranh đẹp, lộng lẫy trong không gian rộng lớn của trời biển
2.Phân tích bài thơ
Luận điểm 1: Cảnh hoàng hôn trên biển và đoàn thuyền đánh cá ra khơi (2 khổ đầu)
- Mở đầu bài thơ là cảnh đoàn thuyền ra khơi đánh cá được miêu tả thật độc đáo và ấn tượng:
“Mặt trời xuống biển như hòn lửa Sóng đã cài then đêm sập cửa”
- Nhà văn Nguyễn Tuân Đã viết “Mặt trời đỏ như lòng trứng khổng lồ, đặt trên mâm lễ từ từ tiến vào” với “hòn lửa” Khi hoàng hôn buông xuống, mặt trời như một quả cầu lửa khổng
lồ đang từ từ lặn xuống biển xanh, cả không gian vũ trụ như nhuốm một màu đỏ rực rỡ và huy hoàng.Với nghệ thuật so sánh, nhân hóa cho thấy cảnh biển hoàng hôn vô cùng tráng lệ, hùng vĩ Mặt trời được ví như một hòn lửa khổng lồ đang từ từ lặn xuống Trong hình ảnh liên tưởng này, vũ trụ như một ngôi nhà lớn, với đêm buông xuống là tấm cửa khổng lồ,
những lượn sóng là then cửa Chi tiết “mặt trời xuống biển” có thể gây ra sự thắc mắc của
người đọc vì bài thơ tả cảnh đoàn thuyền đánh cá ở vùng biển miền Bắc, mà ở bờ biển nước
ta, trừ vùng Tây Nam thường chỉ thấy cảnh mặt trời mọc trên biển chứ không thể thấy cảnh mặt trời lặn xuống biển - Thực ra hình ảnh mặt trời xuống biển là được nhìn từ trên con thuyền đang ra biển hoặc từ một hòn đảo vào lúc hoàng hôn, nhìn về phía tây, qua một khoảng biển thì vẫn có thể thấy như là mặt trời xuống biển Với sự quan sát tinh tế nhà thơ đã miêu tả rất thực chuyển đổi thời khắc giữa ngày và đêm
Trang 2- Khi thiên nhiên vũ trụ bắt đầu đi vào trạng thái nghỉ ngơi thì con người bắt đầu công việc ra khơi đánh cá Đó là sự tương phản giữa thiên nhiên và con người:
“ Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi Câu hát căng buồm với gió khơi”
- Đoàn thuyền chứ không phải chỉ con thuyền ra khơi đã tạo ra sự tấp nập trên biển Chữ
“lại” vừa khẳng định nhịp điệu lao động của người dân chài đã đi vào ổn định, vừa thể hiện
sự đối lập giữa sự nghỉ ngơi của đất trời và sự làm việc của con người Tác giả đã tạo ra một hình ảnh khỏe, lạ mà thật từ sự gắn kết ba sự vật và hiện tượng: Câu hát, cánh buồm và gió khơi Người đánh cá căng buồm và cất câu hát lên nhà thơ có cảm giác như chính câu hát đó
đã làm căng cánh buồm Câu hát mang theo niềm vui, sự phấn chấn của người lao động trở thành sức mạnh cùng với gió biển làm căng cánh buồm để con thuyền lướt sóng ra khơi Nghệ thuật ẩn dụ trong hình ảnh thơ lãng mạn này đã góp phần thể hiện một hiện thực : Đó
là niềm vui phơi phới, tinh thần lạc quan của người dân chài Họ ra khơi trong tâm trạng đầy hứng khởi vì học tìm thấy niềm vui trong lao động, yêu biển và say mê với công việc chinh phục biển khơi làm giàu cho Tổ quốc
- Câu hát thể hiện tinh thần lạc quan yêu đời, niềm vui lao động, sôi nổi hào hứng trong niềm khí thế cùng với buổi đầu ra khơi trong niềm tin vào một chuyến ra khơi thành công, tốt đẹp:
“Hát rằng: cá bạc biển Đông lặng
Cá thu biển Đông như đoàn thoi Đêm ngày dệt biển muôn luồng sáng Đến dệt lưới ta, đoàn cá ơi!”
- Với hình thức liệt kê hình ảnh các loài cá: cá bạc, cá thu, Huy Cận đã cho người đọc thấy sự giàu có của biển Đông Biển Đông có rất nhiều cá và đang chờ mọi người tới khai thác Cá
được nhà thơ so sánh “như đoàn thoi” Đoàn thoi hoạt động rất nhanh và nhiều trên bến phà.
Và cá ở biển Đông cũng nhiều và bơi rất nhanh như thoi vậy Câu thơ cất cao lên tiếng hát, tràn ngập niềm say mê, phấn khởi trước sự ưu ái của thiên nhiên ban tặng cho người dân vùng chài Vì thế hai câu cuối Huy Cận như nhập thân vào người lao động, thể hiện niềm
mong mỏi của ngư dân có thể bắt được nhiều cá tôm Họ hy vọng, những đàn cá “đêm ngày dệt biển” ấy sẽ vào dệt lưới của đoàn thuyền “Đến dệt lưới ta đàn cá ơi !” Vần “ơi” kết hợp
với dấu chấm cảm ở câu thơ cuối khiến cho hình ảnh của những đàn cá hiện lên thật sinh động, thật gần gũi thân thiết với con người
Luận điểm 2: Cảnh đánh cá và cảnh biển đêm (4 khổ tiếp)
Khổ 3=>Với khả năng quan sát miêu tả tinh tế, hòa cùng với cảm hứng vũ trụ thật mãnh
liệt, Huy Cận đã tái hiện vẻ đẹp cận cảnh đoàn thuyền ra khơi hùng tráng, thơ mộng trong
đêm trăng Mở đầu đoạn thơ là hình ảnh đoàn thuyền lướt nhanh giữa trời cao biển rộng
có cái lân lân, sảng khoái lạ thường:
“Thuyền ta lái gió với buồm trăng Lướt giữa mây cao với biển bằng.
Ra đậu dặm xa dò bụng biển Dàn đan thế trận lưới vây giăng”.
- Nghệ thuật phóng đại “Lướt giữa mây cao với biển bằng” Con thuyền đánh cá vốn nhỏ bé
giờ đây qua cái nhìn của tác giả đã sánh ngang tầm vũ trụ Nó khác hẳn với con thuyền cô
Trang 3đơn, nhỏ bé, lạc lõng giữa không cùng trời đất mênh mang trong bài “Tràng giang” trước cách mạng: “Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp/ Con thuyền xuôi mái nước song song/ Thuyền về nước lại sầu trăm ngả/ Củi một cành khô lạc mấy dòng”
- Còn ở đây con thuyền không hề nhỏ bé, đơn độc mà lại rất lớn lao làm chủ biển cả bao la
rộng lớn Nghệ thuật ẩn dụ “lái gió buồm trăng” nghĩa là thiên nhiên hòa hợp, cùng con
người lao động Nếu như ở đoạn đầu, thiên nhiên đã chìm vào trạng thái nghỉ ngơi, thư giãn
“mặt trời xuống biển”, “sóng đã cài then”,”đêm sập cửa” thì ở đây, con người đã đánh thức
thiên nhiên, khiến thiên nhiên dường như bừng tỉnh, như cùng hòa vào niềm vui trong lao động Có thể nói, lòng tin yêu thiên nhiên, con người và cảm hứng lãng mạn bay bổng đã giúp nhà thơ xây dựng được một hình ảnh thơ tuyệt đẹp, vừa hoành tráng, lại vừa thơ mộng
- Bức tranh không gian của biển cả được mở rộng ra ba chiều: chiều cao của mây, chiều sâu của bụng biển và chiều rộng của biển khơi có tác dụng tôn thêm tầm vóc lớn lao của con
thuyền và người lao động Các động từ được sử dụng dày đặc: “lái”, “lướt”, “đậu”, “dò”,
‘dàn đan”, “vây giăng” có tác dụng diễn tả hành động đánh cá rất nhanh, rất khẩn trương của những đoàn thuyền đná cá trên biển Hình ảnh “dàn đan thế trận” là một hình ảnh ẩn dụ
cho hành động đánh cá của ngư dân Đánh cá nhưng cũng cần phải bày binh bố trận, có chiến thuật, chiến lược thì mới có thể bắt được nhiều tôm cá
- Chính vì thế, họ đã đưa con thuyền tiến ra tận khơi xa, dò bụng biển để tìm nguồn cá lớn
Và những con thuyền hiện lên như những con tuấn mã, băng băng lướt qua sóng đèo, chinh phục thiên nhiên Và ngư dân thì làm việc với tinh thần dũng cảm, hăng say và trí tuệ nghề nghiệp với một tâm hồn phơi phới của người làm chủ thiên nhiên, vũ trụ
Khổ 4=>Bức tranh lao động được điểm tô bằng vẻ đẹp của thiên nhiên Cái nhìn của nhà thơ đối với biển và cá cũng có những sáng tạo bất ngờ, độc đáo:
“Cá nhụ cá chim cùng cá đé
Cá song lấp lánh đuốc đen hồng.
Cái đuôi em quẫy trăng vàng chóe”
- Thủ pháp liệt kê kết hợp với sự phối sắc tài tình qua việc sử dụng các tính từ chỉ màu sắc
“đen hồng”,”vàng chóe”… đã tạo nên một bức tranh sơn mài nhiều màu sắc, ánh sáng, lung
linh huyền ảo như trong câu chuyện cổ tích nói về xứ sở thần tiên Nhà thơ đã liệt kê những loài cá quý của biển: cá nhụ, cá chim, cá đé , mỗi loài cá là một kiểu dáng, một màu sắc làm
nên sự giàu đẹp của biển cả quê hương Nhân hóa “Cái đuôi e quẫy” như có một hội rước đuốc trong lòng biển đêm sâu thẳm Mỗi khi: “Cái đuôi em quẫy”, trăng như vàng hơn, rực
rỡ hơn, biển cả như sống động hẳn lên Nhà thơ gọi cá bằng một cách gọi rất dịu dàng-“em”
ẩn chứa sự yêu mến với cá và biển cả quê hương
- Người xưa thường nói: “Thi trung hữu họa” – nghĩa là trong thơ có hình có ảnh Quả đúng
như thế, mỗi loài cá ở đây là bức kí họa thần tình Chúng đâu chỉ là sản phẩm vô tri được đánh bắt bởi bàn tay con người Với họ - những người ngư dân này – cá là bạn, là “em”, là niềm cảm hứng cho con người trong lao động, và cũng chính là đối tượng thẩm mĩ cho thi ca Cảnh đẹp không chỉ ở màu sắc, ánh sáng, mà còn ở âm thanh.Nhìn bầy cá bơi lội, nhà thơ lắng nghe tiếng sóng vỗ rì rầm:
"Đêm thở : sao lùa nước Hạ long"
- Hình ảnh nhân hoá thật độc đáo Đêm vẫn thư giãn và thủy triều lên xuống tạo ra hơi thở của đêm Những đốm sao bạt ngàn in trên mặt nước, trôi dạt trên đầu những ngọn sóng triều
đập vào bãi cát được ví như: "lùa nước Hạ Long" Sao với nước cũng xuất hiện và tồn tại
Trang 4trong nhịp thở của đêm Nối những miền không gian lại với nhau, thiên nhiên như bức tranh sơn mài tráng lệ và kỳ ảo
Khổ 5=>Tiếng hát theo những người dân chài trong suốt cả cuộc hành trình và giờ đây tiếng hát cất lên là để gọi cá vào lưới:
Ta hát hài ca gọi cá vào
Gõ thuyền đã có nhịp trăng cao
- Bài hát căng buồm đưa đoàn thuyền ra khơi, bài hát lại vang lên trong công việc, biến lao động cực nhọc thành niềm vui phơi phới, niềm vui lao động, niềm vui được hòa nhập gắn bó thân thiết với thiên nhiên Lời ca gọi cá vào lưới nâng cao thêm chất thơ mộng của bức tranh Người dân chài gõ thuyền xua cá vào lưới, nhưng đây không phải là con người mà là ánh trăng: trăng in xuống dòng nước, sóng vỗ như gõ nhịp vào mạn thuyền xua cá Hiện thực được trí tưởng tượng sáng tạo thành hình ảnh lãng mạn, giàu chất thơ Cái nhìn của nhà thơ đối với biển cả và con người là cái nhìn tươi tắn, lạc quan, ông như hòa nhập vào công việc, vào con người, vào biển cả
- Từ đó, cảm xúc dâng trào, không thể không cất lên tiếng hát, bài ca về lòng biết ơn mẹ biển giàu có và nhân hậu:
“Biển cho ta cá như lòng mẹ Nuôi lớn đời ta tự buổi nào”
- Biển ở đây được Huy Cận ví như một người mẹ Một người mẹ luôn bao dung, che chở cho những đứa con của mình, một người mẹ sẽ luôn dành cho những đứa con những gì tốt đẹp
nhất, và luôn luôn là vậy, như câu thơ "nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra", chẳng bao giờ vơi cạn Thật vậy, "biển cho ta cá", luôn hào phóng với chúng ta, không bao giờ giữa lại
gì cho riêng mình Đây là một hình ảnh so sánh thật tài tình, mang đầy lòng biết ơn, kính trọng của Huy Cận với mẹ biển cả, với sự hào phóng của thiên nhiên Biển đã cho ta, nuôi ta lớn khôn từ những ngày ta còn thơ bé, nuôi lớn chúng ta qua bao thế hệ con người Phải, chúng ta thực lòng phải cảm tạ biển cả mênh mông đã cho ta của cải, nuôi lớn ta, giúp ta làm giàu cho quê hương đất nước Lời thơ vang lên như lời tâm tình, như lời thủ thỉ của con người dành cho mẹ biển bao la Đó là lời cảm ơn, lời biết ơn sâu sắc gửi tới biển, bởi biển hào phóng quá, yêu thương trìu mến quá! Qua phân tích ta thấy con người luôn có khát vọng chiến thắng, làm chủ thiên nhiên nhưng cũng vô cùng biết ơn thiên nhiên
Khổ 6=>Suốt dọc cả bài thơ là tiếng hát, sau những tiếng hát ca ngợi, những tiếng hát lao động hăng say là tiếng hát niềm vui thu hoạch:
“Sao mờ, kéo lưới kịp trời sáng,
Ta kéo xoăn tay chùm cá nặng.
Vẩy bạc đuôi vàng loé rạng đông, Lưới xếp buồm lên đón nắng hồng”
- “Sao mờ” là khoảng thời gian chuẩn bị trời đã bắt đầu rạng sáng, đó cũng chính là lúc
công việc của người ngư dân càng trở nên khẩn trương, mau lẹ để kéo lưới cho kịp trời sáng Cảnh lao động hiện lên như một bức tranh sống động với những nét tạo hình đầy khỏe khoắn, gân guốc với hình ảnh trung tâm là con người lao động
- Cụm từ “kéo xoăn tay” không chỉ cho thấy những mẻ cá bội thu, nặng trĩu mà đây còn là
một nét vẽ tạo hình với những bắp thịt săn chắc của những chàng thanh niên ngư dân cuồn
Trang 5cuộn nổi lên để kéo cá vào khoang thuyền Từ đó khiến ta chợt nhớ tới câu thơ của nhà thơ
Tế Hanh trong bài Quê hương khi cũng viết về dân chài lưới quê mình:
“Dân chài lưới làn da ngăm rám nắng
Cả thân hình nồng thở vị xa xăm”
- Ánh nắng hồng của bình minh hòa cùng với sắc màu của cá “bạc”, “vàng” có tác dụng tô đậm thêm sự giàu có và quý giá “rừng vàng biển bạc” của biển cả mà thiên nhiên ban tặng cho con người “Lưới xếp buồm lên đón nắng hồng” gợi tả công việc nhịp nhàng của ngư
dân với sự vận hành của vũ trụ Khi lưới xếp lên khoang cũng là lúc đoàn thuyền trở về đón
bình minh, kết thúc một ngày lao động vất vả, mệt nhọc Hình ảnh “nắng hồng” ở cuối khổ
thơ biểu tượng cho niềm vui, niềm lạc quan tin tưởng vào tương lai, sự hồi sinh mới mẻ của đất nước sau chiến tranh
Luận điểm 3: Cảnh đoàn thuyền đánh cá trở về (khổ cuối)
- Bài ca lao động khép lại trong khổ thơ cuối với hình ảnh đoàn thuyền trở về trong thắng lợi lúc bình minh lên:
“Câu hát căng buồm với gió khơi Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời Mặt trời đội biển nhô màu mới
Mắt cá huy hoàng muôn dặm phơi”
- Nếu khổ đầu nói lên thời điểm xuất phát thì khổ cuối là thời điểm trở về Điểm xuất phát lúc mặt trời xuống biển đỏ như hòn lửa thì lúc trở về bình minh mặt trời đội biển lên mang theo một màu mới khép kín một chu trình thời gian và cũng là hoàn thiện một chu trình làm việc của dân chài:
“Câu hát căng buồm cùng gió khơi Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời”
- Câu đầu tác giả lặp lại ở khổ thơ thứ nhất: “Câu hát căng buồm với gió khơi” Chỉ có từ
“với” là khác, có lẽ tác giả tránh sự lặp lại ở câu thơ trước Điều đó làm cho khổ thơ cuối
giống như điệp khúc của một bài hát, tạo cảm giác tuần hoàn về thời gian, về công việc lao động; nhấn mạnh khí thế tâm trạng của những người dân
- Đoàn thuyền ra đi hào hứng sôi nổi, nay trở về cũng với tinh thần ấy rất khẩn trương Câu hát đưa thuyền đi nay câu hát lại đưa thuyền về Đây là lần thứ ba tiếng hát vang lên Tiếng hát biểu hiện cho niềm vui của những người đánh cá khi được hưởng thành quả rực rỡ sau một đêm lao động vất vả Tiếng hát ấy vang lên hùng tráng khi đoàn thuyền đang rẽ sóng trở
về Nhà thơ nhân hóa “đoàn thuyền” đang “chạy đua cùng mặt trời”, chạy đua cùng thời gian Hai tiếng “chạy đua” cho ta thấy những người dân chài mặc dù suốt đêm làm việc
không mệt mỏi nhưng sức lực của họ vẫn dồi dào, khí thế của họ vẫn mạnh mẽ Được ví như nhãn tự của tác phẩm, Huy Cận nâng tầm con người lên với tầm của vũ trụ
- Quả cầu lửa của nhân loại, mặt trời lộng lẫy chói chang, giờ đây, đoàn thuyền với những người lao động cũng có thể sánh ngang với mặt trời Con người thật xứng đáng với tầm vóc chủ nhân biển cả, vẫn muốn dành thời gian để lao động, để cống hiến Sau một đêm lao động vất vả, họ vẫn dồi dào năng lượng, cũng giống như đất nước và con người Việt Nam, chìm trong chiến tranh, đạn bom loạn lạc, nhưng khi tổ quốc bước vào thời kì xây dựng, người dân vẫn luôn sẵn sàng tiên phong, đi theo tiếng gọi của Tổ quốc
- Mở đầu bài thơ là cảnh hoàng hôn, kết thúc bài thơ là cảnh bình minh “Mặt trời đội biển
nhô màu mới” Ánh mặt trời sáng rực, từ từ nhô lên ở phía chân trời xa cảm giác như mặt trời
đội biển Vẻ đẹp tráng lệ của bình minh trên biển được nhà thơ miêu tả sinh động qua biện
pháp nhân hóa “mặt trời đội biển” gợi cảm giác thần thoại Mặt trời có sức mạnh lớn lao,
Trang 6dường như nó đang đội biển mà lên và cái “màu biển” là màu hồng bình minh, là lời chào
đón của thiên nhiên với những người lao động cần cù Đặc biệt câu thơ cuối cùng gợi ra hình ảnh đoàn thuyền nối đuôi nhau trở về, chiếc nào trên khoang cũng đầy ắp cá Ánh mặt trời
chiếu vào mắt cá khiến cho mỗi mắt cá như một mặt trời nhỏ, lấp lánh Hình ảnh “mắt cá huy hoàng” vừa là thành quả lao động, vừa gợi ra niềm vui, niềm tự hào của những người
lao động và cuộc sống mới đầy tốt đẹp đang mở ra trước mắt Đó là một hình ảnh đầy sáng tạo và lãng mạn
3 Đánh giá, mở rộng
Đánh giá=> Nét nghệ thuật đặc sắc và nổi bật của “Đoàn thuyền đánh cá” là hình ảnh
thơ Cả bài thơ được dệt bằng nhiều hình ảnh đẹp, đa dạng và tinh tế với nhiều màu sắc Hầu như ở khổ thơ nào cũng có những hình ảnh đặc sắc, mới mẻ Nhà thơ đã sáng tạo hình ảnh từ
sự quan sát, cảm nhận chính xác về sự vật kết hợp với sự liên tưởng và trí tưởng tượng mạnh bạo cùng với cảm hứng lãng mạn bay bổng Phương thức nghệ thuật chủ yếu và phổ biến để xây dựng hình ảnh trong bài thơ này là so sánh và ẩn dụ, tượng trưng thêm vào đó là lối phóng đại, khoa trương đã đạt được hiệu quả thẩm mĩ và tạo được dấu ấn riêng cho thi phẩm Bên cạnh đó thì các yếu tố như lời thơ, nhịp điệu, vần,…cũng tạo nên âm hưởng, giọng điệu khỏe khoắn, tươi vui, mạnh mẽ…góp phần làm nên một bức tranh lao động thật đẹp, thật
sống động Mở rộng=>Từ việc miêu tả cảnh lao động đánh cá của người dân chài trên biển
ta lại liên tưởng đến công việc lặng thầm của nhân vật anh thanh niên trong “Lặng lẽ Sa Pa”
của Nguyễn Thành Long Họ là hiện thân của vẻ đẹp người lao động một thời Họ là điển hình cao đẹp của con người lao động mới, con người trưởng thành trong công cuộc xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc Chính họ đã đóng góp một phần công sức lớn lao của mình vào việc đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, là hậu phương vững chắc bảo vệ Tổ quốc thân yêu
III Kết bài
Với ngòi bút tài hoa, bay bổng cùng cảm hứng về vũ trụ, bài thơ "Đoàn thuyền đánh
cá" của Huy Cận đã xây dựng thành công hình tượng người lao động mới với những vẻ đẹp
đáng trân quý, với tầm vóc lớn lao trên cái nền thiên nhiên bao la, rộng lớn Hơn nửa thế kỉ
đã trôi qua, bài thơ vẫn giữ nguyên vẹn giá trị ban đầu của nó Và mỗi khi đọc lại, ta vẫn thấy hay trong khi một số bài thơ khác cùng viết về đề tài này đã rơi vào quên lãng
ĐỀ SỐ 2
Cảm nhận về vẻ đẹp của đoàn thuyền đánh cá qua khổ thơ đầu và khổ thơ cuối trong bài thơ
“Đoàn thuyền đánh cá” của Huy Cận:
“Mặt trời xuống biển như hòn lửa.
Sóng đã cài then, đêm sập cửa.
Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi,
Câu hát căng buồm cùng gió khơi.
Câu hát căng buồm với gió khơi,
Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời.
Mặt trời đội biển nhô màu mới,
Mắt cá huy hoàng muôn dặm phơi.”
Ngữ văn 9, Tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2018, tr.139,140)
I Mở bài
Huy Cận (1919-2005), tên đầy đủ là Cù Huy Cận-nhà thơ nổi tiếng từ phong trào thơ
Mới tiêu biểu của nền thơ ca hiện đại Việt Nam Nếu như trước Cách mạng tháng Tám, thơ ông mang đậm triết lí và tràn ngập nỗi buồn thì sau cách mạng các tác phẩm thơ ca của ông lại tràn ngập niềm vui, tình yêu thiên nhiên, con người và cuộc sống mới Một trong những bài thơ tiêu biểu đánh dấu sự chuyển biến trong giọng điệu và phong cách sáng tác của Huy
Trang 7Cận giai đoạn sau cách mạng có thể kể đến là “Đoàn thuyền đánh cá” Bài thơ đã khắc họa
nhiều hình ảnh đẹp tráng lệ, thể hiện sự hài hòa giữa thiên nhiên và con người lao động, bộc
lộ niềm vui, niềm tự hào của nhà thơ trước đất nước và cuộc sống Điều này được thể hiện rõ
nét qua khổ thơ đầu và cuối của bài Đây là hai khổ thơ miêu tả cảnh đoàn thuyền đánh cá
ra khơi đầy hào hứng và khi đoàn thuyền đánh cá trở về trong thắng lợi vẻ vang:
“Mặt trời xuống biển như hòn lửa.
Sóng đã cài then, đêm sập cửa.
Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi, Câu hát căng buồm cùng gió khơi.
Câu hát căng buồm với gió khơi, Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời.
Mặt trời đội biển nhô màu mới, Mắt cá huy hoàng muôn dặm phơi.”
II Thân bài
1 Khái quát chung
Bài thơ ra đời sau chuyến đi thực tế dài ngày của tác giả tới vùng mỏ Quảng Ninh, trong thời điểm miền Bắc nước ta đang trong giai đoạn đầu dựng chủ nghĩa xã hội (1958) Xuyên suốt toàn bài thơ là âm hưởng khỏe khoắn, hào hùng, lạc quan thể hiện rõ dấu ấn của
sự chuyển mình trong cảm hứng nghệ thuật của nhà thơ Huy Cận Bố cục bài thơ theo trình
tự một chuyến ra khơi của đoàn thuyền đánh cá, đồng thời cũng là sự vận động của tự nhiên theo thời gian của vũ trụ từ hoàng hôn đến bình minh trong đó có nhiều bức tranh đẹp, lộng lẫy trong không gian rộng lớn của trời biển Khổ thơ đầu của bài thơ là cảnh đoàn thuyền ra khơi đánh cá, khổ thơ cuối lại là cảnh đoàn thuyền trở về với chuyến thu hoạch thắng lợi Những hình ảnh, cảnh tượng lặp lại trong hai khổ thơ mang đến suy nghĩ và liên tưởng về sự lặp vòng, vần xoay của vũ trụ cũng như hoạt động của con người Thời gian tuần hoàn, từ hoàng hôn tới bình minh cũng giống như con người luôn luôn cố gắng phát triển sự nghiệp, cải tạo nước nhà
2 Cảm nhận vẻ đẹp của đoàn thuyền đánh cá qua khổ thơ đầu và khổ thơ cuối
2.1 Cảnh ra khơi và tâm trạng náo nức của con người.
a Cảnh hoàng hôn trên biển.
- Mở đầu bài thơ là cảnh đoàn thuyền ra khơi đánh cá được miêu tả thật độc đáo và ấn tượng:
“Mặt trời xuống biển như hòn lửa Sóng đã cài then đêm sập cửa”
- Nhà văn Nguyễn Tuân Đã viết “Mặt trời đỏ như lòng trứng khổng lồ, đặt trên mâm lễ từ từ tiến vào” với “hòn lửa” Khi hoàng hôn buông xuống, mặt trời như một quả cầu lửa khổng
lồ đang từ từ lặn xuống biển xanh, cả không gian vũ trụ như nhuốm một màu đỏ rực rỡ và huy hoàng.Với nghệ thuật so sánh, nhân hóa cho thấy cảnh biển hoàng hôn vô cùng tráng lệ, hùng vĩ Mặt trời được ví như một hòn lửa khổng lồ đang từ từ lặn xuống Trong hình ảnh liên tưởng này, vũ trụ như một ngôi nhà lớn, với đêm buông xuống là tấm cửa khổng lồ, những lượn sóng là then cửa
- Chi tiết “mặt trời xuống biển” có thể gây ra sự thắc mắc của người đọc vì bài thơ tả cảnh
đoàn thuyền đánh cá ở vùng biển miền Bắc, mà ở bờ biển nước ta, trừ vùng Tây Nam thường chỉ thấy cảnh mặt trời mọc trên biển chứ không thể thấy cảnh mặt trời lặn xuống biển Thực
ra hình ảnh mặt trời xuống biển là được nhìn từ trên con thuyền đang ra biển hoặc từ một hòn đảo vào lúc hoàng hôn, nhìn về phía tây, qua một khoảng biển thì vẫn có thể thấy như là mặt trời xuống biển Với sự quan sát tinh tế nhà thơ đã miêu tả rất thực chuyển đổi thời khắc giữa ngày và đêm
Trang 8b Khi thiên nhiên bước vào trạng thái nghỉ ngơi thì con người bắt đầu làm việc.
- Khi thiên nhiên vũ trụ bắt đầu đi vào trạng thái nghỉ ngơi thì con người bắt đầu công việc ra khơi đánh cá Đó là sự tương phản giữa thiên nhiên và con người:
“ Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi Câu hát căng buồm với gió khơi”
- Đoàn thuyền chứ không phải chỉ con thuyền ra khơi đã tạo ra sự tấp nập trên biển Chữ
“lại” vừa khẳng định nhịp điệu lao động của người dân chài đã đi vào ổn định, vừa thể hiện
sự đối lập giữa sự nghỉ ngơi của đất trời và sự làm việc của con người Tác giả đã tạo ra một hình ảnh khỏe, lạ mà thật từ sự gắn kết ba sự vật và hiện tượng: Câu hát, cánh buồm và gió khơi Người đánh cá căng buồm và cất câu hát lên nhà thơ có cảm giác như chính câu hát đó
đã làm căng cánh buồm Câu hát mang theo niềm vui, sự phấn chấn của người lao động trở thành sức mạnh cùng với gió biển làm căng cánh buồm để con thuyền lướt sóng ra khơi Nghệ thuật ẩn dụ trong hình ảnh thơ lãng mạn này đã góp phần thể hiện một hiện thực : Đó
là niềm vui phơi phới, tinh thần lạc quan của người dân chài Họ ra khơi trong tâm trạng đầy hứng khởi vì học tìm thấy niềm vui trong lao động, yêu biển và say mê với công việc chinh phục biển khơi làm giàu cho Tổ quốc
2.2 Cảnh đoàn thuyền trở về trong buổi bình minh lên.
a Cảnh đoàn thuyền trở về
- Nếu khổ đầu nói lên thời điểm xuất phát thì khổ cuối là thời điểm trở về Điểm xuất phát lúc mặt trời xuống biển đỏ như hòn lửa thì lúc trở về bình minh mặt trời đội biển lên mang theo một màu mới khép kín một chu trình thời gian và cũng là hoàn thiện một chu trình làm việc của dân chài:
“Câu hát căng buồm cùng gió khơi Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời”
- Câu đầu tác giả lặp lại ở khổ thơ thứ nhất: “Câu hát căng buồm với gió khơi” Chỉ có từ
“với” là khác, có lẽ tác giả tránh sự lặp lại ở câu thơ trước Điều đó làm cho khổ thơ cuối
giống như điệp khúc của một bài hát, tạo cảm giác tuần hoàn về thời gian, về công việc lao động; nhấn mạnh khí thế tâm trạng của những người dân Đoàn thuyền ra đi hào hứng sôi nổi, nay trở về cũng với tinh thần ấy rất khẩn trương Câu hát đưa thuyền đi nay câu hát lại đưa thuyền về Đây là lần thứ ba tiếng hát vang lên
- Tiếng hát biểu hiện cho niềm vui của những người đánh cá khi được hưởng thành quả rực
rỡ sau một đêm lao động vất vả Tiếng hát ấy vang lên hùng tráng khi đoàn thuyền đang rẽ
sóng trở về Nhà thơ nhân hóa “đoàn thuyền” đang “chạy đua cùng mặt trời”, chạy đua cùng
thời gian
- Hai tiếng “chạy đua” cho ta thấy những người dân chài mặc dù suốt đêm làm việc không
mệt mỏi nhưng sức lực của họ vẫn dồi dào, khí thế của họ vẫn mạnh mẽ Được ví như nhãn
tự của tác phẩm, Huy Cận nâng tầm con người lên với tầm của vũ trụ Quả cầu lửa của nhân loại, mặt trời lộng lẫy chói chang, giờ đây, đoàn thuyền với những người lao động cũng có thể sánh ngang với mặt trời
- Con người thật xứng đáng với tầm vóc chủ nhân biển cả, vẫn muốn dành thời gian để lao động, để cống hiến Sau một đêm lao động vất vả, họ vẫn dồi dào năng lượng, cũng giống như đất nước và con người Việt Nam, chìm trong chiến tranh, đạn bom loạn lạc, nhưng khi
tổ quốc bước vào thời kì xây dựng, người dân vẫn luôn sẵn sàng tiên phong, đi theo tiếng gọi của Tổ quốc
b Bình minh trên biển
- Mở đầu bài thơ là cảnh hoàng hôn, kết thúc bài thơ là cảnh bình minh “Mặt trời đội biển nhô màu mới” Ánh mặt trời sáng rực, từ từ nhô lên ở phía chân trời xa cảm giác như mặt trời
đội biển Vẻ đẹp tráng lệ của bình minh trên biển được nhà thơ miêu tả sinh động qua biện
Trang 9pháp nhân hóa “mặt trời đội biển” gợi cảm giác thần thoại Mặt trời có sức mạnh lớn lao, dường như nó đang đội biển mà lên và cái “màu biển” là màu hồng bình minh, là lời chào
đón của thiên nhiên với những người lao động cần cù Đặc biệt câu thơ cuối cùng gợi ra hình ảnh đoàn thuyền nối đuôi nhau trở về, chiếc nào trên khoang cũng đầy ắp cá Ánh mặt trời
chiếu vào mắt cá khiến cho mỗi mắt cá như một mặt trời nhỏ, lấp lánh Hình ảnh “mắt cá huy hoàng” vừa là thành quả lao động, vừa gợi ra niềm vui, niềm tự hào của những người
lao động và cuộc sống mới đầy tốt đẹp đang mở ra trước mắt Đó là một hình ảnh đầy sáng tạo và lãng mạn
3 Đánh giá, mở rộng
Đánh giá=>Với lời thơ dứt khoát, mạnh mẽ cùng âm hưởng bản anh hùng ca, hình ảnh thơ
lặp lại, tương xứng ở khổ đầu và khổ cuối, tác giả đã mang đến một bức họa với những khối màu vừa hài hòa, giao thoa vừa đối lập, tương phản Đặc sắc nghệ thuật của hai khổ thơ chính là ở chỗ, dùng những hình ảnh cũ nhưng nội dung lại nói về cái mới, tạo nên sự hô ứng giữa không gian và thời gian Không gian tuần hoàn, thời gian ngày đêm lặp vòng cũng giống như những người lao động luôn làm việc hăng say, hết mình cho sự nghiệp lớn lao của
dân tộc Mở rộng=>Từ hình ảnh ngư dân lao động trong Đoàn thuyền đánh cá của Huy Cận
ta lại liên tưởng đến nhân vật anh thanh niên cùng những nhân vật khác trong Lặng lẽ Sa Pa của Nguyễn Thành Long Họ là hiện thân của vẻ đẹp người lao động một thời Đó là những người ưu tú của quê hương trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Người lao động vô danh trong hai tác phẩm đủ mọi thành phần, lứa tuổi, nghề nghiệp, dù ở núi cao hay biển xa đều là những người nhiệt tình, say mê công việc, sống có lí tưởng Họ là điển hình cao đẹp của con người lao động mới, con người trưởng thành trong công cuộc xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc Chính họ đã đóng góp một phần công sức lớn lao của mình vào việc đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, là hậu phương vững chắc bảo vệ Tổ quốc thân yêu
III.Kết bài
Chỉ với khổ thơ đầu và cuối đã tạo nên một kết cấu bài thơ vô cùng đặc sắc Tiếng hát say mê niềm vui như đang làm rung động sợi dây tình cảm của ta và đây cũng chính là cái tài cái khéo của Huy Cận khi làm thơ Hơn nửa thế kỉ đã trôi qua, bài thơ vẫn giữ nguyên vẹn giá trị ban đầu của nó Phần nào, nó giúp chúng ta hiểu được chân dung tinh thần mới của Huy Cận sau bao biến cố lịch sử trọng đại của đất nước và dân tộc - một Huy Cận trữ tình cách mạng
ĐỀ SỐ 3
Cảm nhận của em về đoạn thơ sau:
Thuyền ta lái gió với buồm trăng Lướt giữa mây cao với biển bằng,
Ra đậu dặm xa dò bụng biển, Dàn đan thế trận lưới vây giăng.
Cá nhụ cá chim cùng cá đé,
Cá song lấp lánh đuốc đen hồng, Cái đuôi em quẫy trăng vàng chóe.
Đêm thở : sao lùa nước Hạ Long.
Ta hát bài ca gọi cá vào,
Gõ thuyền đã có nhịp trăng cao.
Trang 10Biển cho ta cả nhục lòng mẹ Nuôi lớn đời ta tự buổi nào.
(Trích Đoàn thuyền đánh cá - Huy Cận, Ngữ văn 9, Tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2019, tr.
140)
I Mở bài
Huy Cận là một trong những nhà thơ lớn của nền văn học Việt Nam, đặc biệt là trong phong trào Thơ mới Thơ của ông luôn có một phong cách rất riêng với những nhà thơ khác Tiêu biểu cho các tác phẩm của ông trong thời kì mới là bài thơ “Đoàn thuyền đánh cá” ra đời 1958 Bài thơ là lời ca ngợi thiên nhiên và con người lao động Việt Nam thời kì đất nước xây dựng chủ nghĩa xã hội Để lại nhiều ấn tượng nhất trong lòng người đọc là vẻ đẹp và mối giao hòa giữa con người và thiên nhiên trên cái nền lộng lẫy, tráng lệ của vũ trụ biển cả qua
ba khổ thơ sau:
“…Thuyền ta lái gió với buồm trăng
Lướt giữa mây cao với biển bằng
Ra đậu dặm xa dò bụng biển, Dàn đan thế trận lưới vây giăng.
Cá nhụ cá chim cùng cá đé
Cá song lấp lánh đuốc đen hồng.
Cái đuôi em quẫy trăng vàng chóe Đêm thở: sao lùa nước Hạ Long.
Ta hát bài ca gọi cá vào,
Gõ thuyền đã có nhịp trăng cao.
Biển cho ta cá như lòng mẹ Nuôi lớn đời ta tự buổi nào.”
II Thân bài
1.Khái quát chung
Bài thơ được sáng tác trong chuyến đi công tác của Huy Cận tại vùng mỏ Hòn Gai, Quảng Ninh năm 1958 và được bắt nguồn từ cảm hứng ngợi ca công cuộc xây dựng chú
nghĩa xã hội của miền Bắc tự do độc lập Với ý nghĩa đó, bài thơ "Đoàn thuyền đánh cá" là
khúc tráng ca, ca ngợi con người laò động với tinh thần làm chủ và niềm vui, niềm tin trước cuộc sống mới trong những năm đầu xây dựng đất nước Ba khổ thơ trên nằm giữa bài thơ,
đã làm nổi bật với vẻ đẹp tráng lệ của biển khơi và vẻ đẹp khỏe khoắn, mạnh mẽ của đoàn thuyền, của con người trong lao động Tất cả được viết lên bằng trí tưởng tượng mãnh liệt,bằng niềm hứng khởi bay bổng và bút pháp tạo hình đầy sáng tạo
2.Phân tích, cảm nhận
Luận điểm 1: Người dân ra khơi với tư thế tầm vóc lớn lao (khổ 3)
- Mở đầu đoạn thơ là hình ảnh đoàn thuyền lướt nhanh giữa trời cao biển rộng có cái lân lân, sảng khoái lạ thường:
“Thuyền ta lái gió với buồm trăng Lướt giữa mây cao với biển bằng.
Ra đậu dặm xa dò bụng biển