Vị trí và yêu cầu của môn Toán ở Tiểu học 6 3 Những yêu cầu cơ bản của việc dạy Toán ở lớp 1 8 II Nội dung, chương trình dạy Toán ở lớp 1 8 III Nguyên tắc và phương pháp dạy học Toán 9 C
Trang 1CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Hệ đào tạo: Chính quy.
Khen thưởng: Giáo viên giỏi cấp trường
Trang 2MỤC LỤC
Chương I: I Vị trí và yêu cầu của môn Toán ở Tiểu học 6
3 Những yêu cầu cơ bản của việc dạy Toán ở lớp 1 8
II Nội dung, chương trình dạy Toán ở lớp 1 8
III Nguyên tắc và phương pháp dạy học Toán 9
Chương II: Thực trạng của việc dạy học Toán ở tiểu học 11
I Thực trạng của việc dạy học Toán ở trường tiểu học 11
II Khả năng học toán và thực trạng dạy học toán của giáo
viên và học sinh trường tiểu học hiện nay
12
Chương III: Một số giải pháp 14
I Một số giải pháp rèn kĩ năng giải toán có lời văn 14
1 Khảo sát kĩ năng giải toán có lời văn của học sinh lớp 1 15
Trang 3PHẦN I PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài.
Ngay từ tấm bé, ai cũng được nghe giai điệu bài hát: “Tập đếm” quen thuộccủa tác giả Hoàng Công Sử:
“ Nào các bạn cùng ra đây, ta hát chung một bài nào
Nào các bạn cùng giơ tay, ta đếm cho thật đều
Một với một là hai, hai thêm hai là bốn
Bốn với một là năm, năm ngón tay sạch đều.”
Từ khi còn nhỏ, ông bà, bố mẹ và các cô giáo mầm non đã dạy cho trẻ nhỏbài hát này để trẻ vừa biết hát vừa kết hợp giơ những ngón tay nhỏ xíu, đáng yêulên để học toán ở mức độ đơn giản nhất Trẻ thích và thuộc rất nhanh Vậy còn giaiđoạn trẻ vào lớp một, lớp đầu tiên trong bậc Tiểu học thì sao? Với rất nhiều mônhọc mới: Mĩ thuật, âm nhạc, thể dục, tự nhiên xã hội, thủ công Hầu hết các mônnày học sinh đều chủ động tiếp thu một cách tích cực, rất yêu thích Trẻ học sôi nổi
vì trẻ đã được làm quem ngay từ mẫu giáo Nhưng còn Toán học thì đó là cả mộtvấn đề lớn đối với cả thầy và trò Làm sao để học sinh biết làm toán với nhữngcon số khô khốc, những phép tính cộng, trừ Những kĩ năng cơ bản nhất không thểthiếu trong bậc Tiểu học cũng như trong cuộc sống Trong khi xã hội chúng ta đanghoà cùng thế giới bắt nhịp vào cuộc sống hiện đại rất nhanh Một xã hội hiện đạivới sự phát triển không ngừng của công nghệ thông tin, khoa học kĩ thuật Bất cứnơi đâu, bất cứ lúc nào trẻ cũng cần phải có kiến thức cho riêng mình không dựanhờ vào ai Để làm được điều đó, trẻ phải nắm chắc được kiến thức toán học, đọcthông viết thạo Đặc biệt là môn Toán (môn học cơ bản) Môn toán ở lớp 1 mởđường cho trẻ đi vào thế giới diệu kì của Toán học, rồi mai đây các em lớn lên sẽtrở thành một bác sĩ giỏi, một nhà giáo, nhà khoa học, nhà thơ, trở thành những
Trang 4người lao động sáng tạo trên mọi lĩnh vực đời sống, sản xuất được sử dụng cộngnghệ hiện đại như máy tính xách tay Nhưng các em không bao giờ quên đượcnhững ngày đầu tiên đến trường học đếm và tập viết 1, 2, 3 học các bài toán đầutiên, các em không thể quên vì đó là những kỉ niệm đẹp nhất của đời người và hơnthế nữa là những con số, những phép tính đơn giản ấy cần thiết cho suốt cuộc đờicủa các em.
Là một giáo viên dạy lớp 1, tự bản thân tôi nhận thấy môn Toán là một trongnhững phân môn có tầm quan trọng đặc biệt, nhất là học sinh lớp 1 lại càng quantrọng hơn Môn Toán cung cấp những kiến thức cơ bản về số, những phép tínhtrong đại lượng và khái niệm cơ bản về hình học, bên cạnh đó nó còn góp phần vàophát triển tư duy, khả năng suy luận, phát triển ngôn ngữ, trau dồi trí nhớ, kíchthích cho các em trí tưởng tượng, óc khám phá, hình thành nhân cách cho các em
Thấy được tầm quan trọng của môn Toán nên tôi đã đi sâu tìm hiểu, học hỏi
và nghiên cứu ra những biện pháp mới để giảng dạy môn Toán thật tốt giúp họcsinh chủ động tiếp thu môn Toán một cách nhẹ nhàng thông qua hoạt động học tập
Để “học mà chơi - chơi mà học”, đó cũng là nhằm nâng cao chất lượng dạy học ởTiểu học nói chung và dạy học môn Toán nói riêng Mong các em trở thành nhữngcon người có ích giúp cho “non sông Việt Nam trở nên tươi sáng hơn, dân tộc ViệtNam có thể sánh vai với các cường quộc năm châu” như trích thư của Bác Hồmuôn vàn kính yêu của chúng ta đã gửi lại
II Đối tượng nghiên cứu:
Học sinh khối 1 đặc biệt là học sinh lớp 1A3 - trường Tiểu học Ba Trại
III Mục đích nghiên cứu:
Qua đề tài này, tôi muốn góp phần nhỏ vào việc nâng cao chất lượng dạy họcmôn Toán để tìm ra phương pháp giúp giáo viên dạy môn Toán cho học sinh lớp 1được tốt hơn
Cụ thể:
+ Dạy cho học sinh nhận biết về cấu tạo của một bài toán có lời văn lớp 1
Trang 5+ Đọc hiểu - phân tích - tóm tắt bài toán.
+ Giải toán đơn về thêm (bớt) bằng một phép tính cộng (trừ)
+ Trình bày bài giải gồm câu lời giải + phép tính + đáp số
+ Tìm lời giải phù hợp cho bài toán bằng nhiều cách khác nhau
IV Phạm vi nghiên cứu:
- Sách giáo khoa Toán 1
- Sách giáo viên Toán 1
- Chuẩn kiến thức kĩ năng Toán lớp 1
- Vở bài tập Toán của học sinh khối 1 và học sinh lớp 1A3
- Các phương pháp dạy học Toán ở Tiểu học
- Tập thể giáo viên khối 1 trường Tiểu học Ba Trại
V Thời gian nghiên cứu:
- Từ tháng 10 - 2012 đến 4 - 2013
VI Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp điều tra
- Phương pháp trắc nghiệm
- Phương pháp trực quan
- Phương pháp đàm thoại, gợi mở
- Phương pháp luyện tập
Trang 6PHẦN II: PHẦN NỘI DUNG
Chương I: Cơ sở lý luận
I Vị trí và yêu cầu của môn Toán ở Tiểu học.
1 Vị trí của dạy học môn Toán.
Trong các môn học ở Tiểu học, cùng với môn Tiếng Việt, môn Toán có vaitrò quyết định vì:
- Các kiến thức, kĩ năng của môn Toán ở Tiểu học có nhiều ứng dụng trongđời sống, rất cần thiết cho người lao động, để học tiếp các môn học khác ở Tiểu học
và học tiếp môn Toán ở Trung học
- Môn Toán giúp học sinh nhận biết những mối quan hệ về số lượng, hìnhdạng không gian của thế giới hiện thực Nhờ đó học sinh co phương pháp nhậnthức một số mặt của thế giới xung quanh, biết cách hoạt động có hiệu quả trong đờisống
- Môn Toán góp phần quan trọng trong việc rèn luyện phương pháp suy nghĩ.Suy luận, giải quyết vấn đề, góp phần phát triển trí thông minh, cách suy nghĩ độclập, linh hoạt, sáng tạo Góp phần quan trọng vào việc hình thành các phẩm chấtcần thiết, quan trọng của người lao động
2 Nhiệm vụ của dạy học môn Toán.
a Nhiệm vụ chung:
Môn Toán ở Tiểu học có nhiệm vụ giúp học sinh:
- Hình thành hệ thống các kiến thức cơ bản, đơn giản, có nhiều ứng dụngtrong đời sống về số học các số tự nhiên, các số thập phân bao gồm cả cách đọc,cách viết, so sánh các số tự nhiên
- Có những đóng góp ban đầu, thiết thực về các đại lượng cơ bản như độ dài,khối lượng thời gian, Biết sử dụng các dụng cụ để thực hành đo lường, biết ướclượng các số đo đơn giản
Trang 7- Biết nhận dạng và bước đầu biết phân biệt một số hình học thường gặp.
- Biết cách giải và trình bày giải với những bài toán có lời văn Nắm chắc,thực hiện đúng quy trình bài toán
- Thông qua những hoạt động học tập toán để phát triển đúng mức một sốkhả năng trí tuệ và thao tác tư duy quan trọng nhất như: so sánh, phân tích, tổnghợp
- Hình thành phong cách học tập và làm việc có suy nghĩ, có kế hoạch, cókiểm tra, có tinh thần hợp tác, độc lập, sáng tạo, có ý chí vượt khó khăn, cẩn thận,kiên trì, tự tin
b Nhiệm vụ cụ thể:
- Kiến thức: Bước đầu có một số kiến thức cơ bản, đơn giản, thiết thực vềphép đếm, về các số tự nhiên trong phạm vi 100, phép cộng, phép trừ không nhớtrong phạm vi 100, độ dài và đo độ dài trong phạm vi 20cm, về tuần lễ và ngàytrong tuần, đọc giờ đúng trên đồng hồ, một số hình học, bài toán có lời văn
- Kĩ năng: Học sinh được rèn luyện các kĩ năng thực hành: đọc, đếm, so sánh,ghi lại càc đọc các số, giá trị vị trí các chữ số, cấu tạo thập phận của số cps hai chữ
số trong phạm vi 100 Thực hành nhận biết hình vuông, hình tam giác, hình tròn,đoạn thẳng, điểm, vẽ đoạn thẳng có độ dài đến 10cm, giải một số bài toán đơn vềcộng, trừ, bước đầu biết diễn đạt bằng lời, bằng kí hiệu một số nội dung đơn giảncủa bài học và thực hành Tập dượt, so sánh, phân tích, tổng hợp, trìu tượng hoá,khát quát hoá trong phạm vi của nội dung chương trình toán lớp 1
3 Những yêu cầu cơ bản của việc dạy học môn Toán ở lớp 1.
a Yêu cầu:
* Kiến thức, kĩ năng:
- Biết đọc, viết, so sánh các số tự nhiên từ 0 đến 10
Trang 8- Thuộc các bảng tính đã học Biết thực hiên các phép tính cộng, trừ khôngnhớ trong phạm vi 100 Biết tên gọi, kí hiệu đơn vị đo độ dài và biết dùng dụng cụ
đo độ dài, biết xem ngày tháng trong một số trường hợp đơn giản Nhận dạng vàgọi đúng tên, dùng thước để vẽ các hình đã học Giải và trình bày bài toán có lờivăn
b Trình độ tối thiểu cần đạt:
- Học sinh phải đọc , viết, so sánh được các số trong phạm vi 100
- Thực hiện phép tính: nhanh, chính xác, nắm chắc thứ tự khi thực hiện phéptính các nhiều dấu phép tính cộng, trừ
- Tìm thành phần chưa biết của phép tính ở mức độ đơn giản (dạng điền sốthích hợp vào ô trống)
- Đọc, biết vẽ, đo đoạn thẳng có độ dài cho trước (cm) Xem lịch, đồng hồ
- Yếu tố hình học: Nhận biết, gọi đúng tên điểm, đoạn thẳng các hình đã học
- Giải và trình bày bài giải các bài toán có lời văn không quá 3 bước với cấutrúc đơn giản
II Nội dung chương trình dạy Toán lớp 1.
Môn Toán và môn Học vần (kì II chuyển sang Tập đọc) chiếm 3 phần thờigian, số tiết so với thời gian môn học khác Mỗi tiết 35-40 phút được chia làm 4giai đoạn
- Giai đoạn 1: Từ tuần 1 đến tuần 6 Học sinh được học các số đến 10, hìnhvuông, hình tròn, hình tam giác
- Giai đoạn 2: Từ tuần 7 đến tuần 17 Học sinh học về phép cộng, phép trừtrong phạm vi 10 Giai đoạn này lần đầu tiên học sinh được làm quen với dạngtoán: nhìn hình vẽ, nêu thành bài toán ở mức độ đơn giản rồi nêu phép tính
- Giai đoạn 3: Từ tuần 18 đến hết tuần 28 Giai đoạn này học sinh học về các
số trong phạm vi 100, đo độ dài, giải bài toán Đặc biệt là tiết 84 tuần 21 học sinhhọc về giải toán có lời văn
Trang 9- Giai đoạn 4: Từ tuần 29 đến hết tuần 35 Học sinh học về phép cộng, phéptrừ trong phạm vi 100, đo thời gian Giai đoạn này học sinh thường xuyên được rènluyện kĩ năng giải toán có lời văn.
iii nguyªn t¾c vµ ph¬ng ph¸p d¹y to¸n.
1.Nguyên tắc dạy học Toán.
-Kết hợp dạy toán với giáo dục: Thông qua quá trình hình thành kiến thức,
rèn luyện kĩ năng môn Toán mà rèn luyện con người góp phần thực hiện mụctiêu môn Toán ở Tiểu học
- Phương pháp học tập chủ động, tích cực, phương pháp suy nghĩ có căn cứ,
có kế hoạch, có ưu tiên
- Các đặc tính cần thiết của người lao động mới ( cần cù, kiên trì, vượt khókhăn, cẩn thận, yêu thích chân lí, cái hay, cái đẹp, trung thực,
- Đảm bảo tính khoa học, tính vừa sức: Dạy học Toán phải chính xác, phải
giúp học sinh thấy nguồn gốc thực tế của kiến thức, mối quan hệ giữa cáckiến thức, tính thiết thực của kiến thức
- Đảm bảo tính trực quan, tính tích cực, tự giác: Kiến thức Toán trừu
tượng, khái quát Muốn học sinh hiểu, dễ học phải đảm bảo tính trực quan
Sử dụng trực quan đúng mức sẽ góp phần phát triển tư duy trừu tượng họcsinh
- Đảm bảo tính hệ thống và tính vững chắc: Môn Toán là một trong những
môn có tính hệ thống chặt chẽ, muốn vậy phải:
Xác định rõ vị trí của từng bài học ở từng chương, từng lớp trong toàn bộ
chương trình
Thường xuyên quan tâm đến hệ thống kiến thức từng bài học trong từnggiai đoạn học
Sự vững chắc của kiến thức và kĩ năng môn Toán đòi hổi phải củng cố,
ôn tập thực hành thường xuyên, tập trung vào những nội dung cơ bản nhất củachương trình
Trang 10- Đảm bảo sự cân đối giữa học và hành, kết hợp dạy học với tính ứng
dụng trong đời sống: cần coi trọng phương pháp thực hành, coi trọng rèn
luyện các kĩ năng thực hành, hết sức hạn chế các phương pháp làm cho họcsinh ít hoạt động Vì vậy cần chọn các phương pháp để góp phần giúp họcsinh nhận biết được nguồn gốc thực tế và khả năng vận dụng trong đờisống hàng ngày của các nội dung trừu tượng của môn Toán
2 Ph ươ ng pháp dạy học Toán.
a Phương pháp trực quan: Giáo viên tổ chức, hướng dẫn học sinh hoạt động
trực tiếp trên các hiện tượng, sự vật cụ thể để dựa vào đó nắm bắt được kiếnthức, kĩ năng của môn Toán
b Phương pháp thực hành luyện tập: là phương pháp dạy học liên quan đến
hoạt động thực hành luyện tập các kiến thức, kĩ năng của môn học, Chiếm50% tổng thời gian dạy học Toán Vì vậy phương pháp này được thườngxuyên sử dụng trong dạy học Toán ở Tiểu học
Làm trên bảng đen
Làm trên bảng con của học sinh
Luyện tập Toán trong vở
Làm trong phiếu học tập
c Phương pháp gợi mở vấn đáp: là phương pháp sử dụng một hệ thống các
câu hỏi để hướng dẫn học sinh suy nghĩ, lần lượt trả lời từng câu hỏi, từngbước dần đến kết luận cần thiết, giúp học sinh tự mình tìm ra kiến thức mới
d Phương pháp giảng giải minh hoạ: Phương pháp này dùng lời nói để giải
thích, kết hợp với các phương tiện trực quan để hỗ trợ cho việc giải thích
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG CỦA VIỆC DẠY HỌC
PHÂN MÔN TOÁN LỚP 1
Trang 11I THỰC TRẠNG CỦA VIỆC DẠY HỌC TOÁN Ở CÁC TRƯỜNG TIÊU HỌC.
- Trong những năm trở lại đây, việc dạy học Toán cho học sinh Tiểu học được
Bộ Giáo Dục, Sở Giáo Dục, Phòng Giáo Dục, đặc biệt là Ban giám hiệu, các thầy
cô và các bậc phụ huynh rất quan tâm Chính vì thế, mục tiêu rèn Toán cho họcsinh lớp 1 cũng như lớp 2 được đặt lên hàng đầu
- Năm học 2012-2013 là năm trọng tâm của việc thực hiện chuyên đề đối vớicác phân môn của lớp 1, đặc biệt là môn Toán Chuyên đề Toán đựơc sự chỉ đạoquan tâm sắt xao của Sở Giáo Dục do học sinh yếu môn Toán từ những năm họctrước vẫn còn chiếm tỉ lệ cao trên toàn quốc cũng như trong địa bàn thành phố HàNội.Do vậy chuyên đề Toán năm nay được thực hiện 2 lần trong năm lần lượt theotrình tự các cấp:
+ Chuyên đề lần thứ nhất diến ra vào tháng 9: ( Tiết 19: Bài số 9) tại Sở GiáoDục Hà Nội, sau đó lại được triển khai lại một lần nữa tại PGD các quận, huyện.Lần thứ 3 diễn ra tại các trường do những giáo viên đi tiếp thu chuyên đề về truyềnthụ lại
+ Tương tự như vậy chuyên thứ hai về môn Toán lại được triển khai vào tháng
4 năm học 2012- 2013.(Tiết 85: Giải toán có lời văn)
+ Ngoài ra được sự hướng dẫn của Bộ Giáo Dục các nhà trường đã thực hiệnrất tốt việc” Đổi mới đánh giá trong dạy học Toán lớp 1” Toàn bộ học sinh khốilớp 1 năm học 2012- 2013 trở về sau phải được học 10 buổi trên tuần
- Cụ thể trong các nhà trường còn có sự quan tâm đặc biệt đối với giáo viên vàhọc sinh lớp 1 như:
+ Mỗi giáo viên và học sinh được trang bị 1 bộ thực hành học Toán
+ Giáo viên được tham dự đầy đủ những chuyên đề về Toán và cuộc thi giáoviên dạy giỏi và thao giảng ít nhất 2 lần trên năm tại cấp cơ sở để học hỏi và traudồi kiến thức, trau dồi kinh nghiệm Thống nhất phương pháp dạy đồng bộ trongkhối xây dựng tiết dạy tốt góp phần nâng cao chất lượng giáo dục
Trang 12+ Học sinh được tạo điều kiện tốt nhất để tham dự các cuộc thi “ giải toántrên mạng Internet ” cấp trường và cấp huyện, cuộc thi “khảo sát chất lượng họcsinh giỏi” cấp trường diễn ra đều đặn vào cuối tháng 3 hàng năm
- Hàng tuần, học sinh đều có tiết học để luyện thêm Toán vào buổi chiều
- Nhà trường tổ chức các buổi ngoại khoá Toán cho học sinh từng khối lớpriêng
- Tổ chức các sân chơi bằng cách giao lưu giữa các trưòng bạn trên cùng địabàn để học sinh có dịp mở rộng kiến thức về môn Toán
II KHẢ NĂNG VÀ THỰC TRẠNG DẠY - HỌC TOÁN CỦA GIÁO VIÊN VÀ HỌC SINH TIỂU HỌC HIỆN NAY.
1 Về giáo viên:
- Việc soạn giáo án chuẩn bị cho việc dạy trên lớp đối với 1 số giáo viên cũngnhư việc cho điểm và nhận xét trong vở học sinh cũng chưa được chu đáo việc dạyToán của giáo viên ở các lớp Tiểu học phải được tiến hành theo hai khâu cơ bảnsau:
- Soạn giáo án Toán:
- Thực hiện giáo án trong giờ dạy trên lớp
+ Đồ dùng dạy học : còn sơ sài , tạm bợ, cũ, đồ dùng trực quan chưa bắt mắt
để thu hút học sinh vào tiết học
+ Giáo viên ngại soạn giáo án Power Point và dạy trình chiếu trong khi trường
đã đầy đủ các phương tiện hỗ trợ cho giáo viên khi giảng dạy
+ Phương pháp dạy học: Chưa sử dụng nhiều phương pháp dạy học như :
phương pháp phương pháp trực quan, so sánh, phương pháp luyện tập mà chỉ sửdụng phương pháp gợi mở qua quýt rồi cho học sinh làm bài tập rồi chuyển sangtiết khác Giáo viên nghĩ :” Giải Toán có lời văn” chỉ cần thiết khi học sinh bướcvào “tiết 84- Bài toán có lời văn” nên chỉ chú trọng vào dạy kĩ năng đặt tính, làmtính của học sinh mà không nghĩ đó là những bài toán làm bước đệm cho học sinh
Trang 13được bắt đầu từ” tiết 26: Phép cộng trong phạm vi 3” tuần 7 cho đến: “tiết 63:Luyện tập” tuần 16 mới kết thúc giai đoạn chuẩn bị chính thức bước vào giai đoạnhọc “Giải Toán có lời văn”
+ Trình bày bảng: chưa khoa học, chữ viết mẫu xấu, chưa tỉ mỉ.
Môn Toán rất khô và cứng vì thế, chưa tạo được sự hững thú khi dạy và họcphân môn này, ở trong một số trường khi đi kiểm tra, tình trạng như trên vẫn còntồn tại dẫn đến hiệu quả trong tiết Toán chưa đạt được như mong muốn
+ Tư duy của học sinh còn mang tính trực quan là chủ yếu
+ Đọc được đề bài nhưng chưa hiểu đề bài, chưa biết thế nào là tìm hiểu bàitoán có lời văn
+ Không biết tìm hiểu bài toán như: bài toán cho biết gì?Bài toán hỏi gì?
+ Không hiểu các thuật ngữ toán học như: thêm, bớt, cho đi, mua về, bay đi,chạy đến, và câu hỏi: Có tất cả bao nhiêu? Còn lại bao nhiêu?
+ Không biết tóm tắt bài toán, lúng túng khi nêu câu lời giải, có khi học sinhnêu lại câu hỏi của bài toán Không hiểu thuật ngữ toán học nên không biết nêncộng hay trừ dẫn đến nói sai, viết sai phép tính, sai đơn vị, viết sai đáp số
+ Một số em làm đúng nhưng khi cô hỏi lại không biết trả lời Chứng tỏ các
em chưa nắm được một cách chắc chắn cách giải bài toán có lời văn
+ Khi về nhà học sinh lại chưa được bố mẹ quan tâm đến bài vở của con do
đi làm vất vả hoặc muốn quan tâm nhưng không biết dạy con sao cho đúng phươngpháp dẫn đến giáo viên rất vất vả khi dạy đến dạng bài toán có lời văn
CHƯƠNG III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP