1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Cở sở văn hoá việt nam

319 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Cơ sở văn hóa Việt Nam
Tác giả Trần Quốc Vượng, Tô Ngọc Thanh, Nguyên Chí Ben, Lâm Thị Mỹ Dung, Trần Thúy
Trường học Trường Đại Học Quy Nhơn
Chuyên ngành Văn hóa học
Thể loại Giáo trình
Năm xuất bản 1998
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 319
Dung lượng 8,36 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 của Ban chấp hành Trung ương khoá VII đã , khẳng định văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội, th ể hiện tầm cao và chiều sâu về trình độ phát triền của mộ

Trang 1

TRẦN QUỐC VƯỢNG (C h ủ biên)

TÔ NGỌC THANH - NGUYÊN c h í b e nLÂM T H Ị MỸ DUNG - TRAN THƯÝ a n h

c ơ SỞ VĂN HOÁ

VIỆT NAM

(Tái bản lần thứ hai mươi mốt)

TRƯỜNG ĐẠI HỌC QƯY NHƠN T H Ư V IỆ N

j

NHÀ XUẤT BẢN GIÁO DỤC VIỆT NAM

Trang 2

LỜI NÓI ĐẦU

Những năm gần đây, nhận thức uề vai trò của văn hoá ở nước

ta được nâng lên đúng với giá trị đích thực của nó Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 của Ban chấp hành Trung ương khoá VII đã , khẳng định văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội, th ể hiện tầm cao và chiều sâu về trình độ phát triền của một dân tộc, là sự kết tinh những giá trị tốt đẹp nhất trong quan hệ giữa người với người, với xã hội và với thiên nhiên Nó vừa là một động lực thúc đẩy vừa là một mục tiêu phát triển kinh t ế - xã hội của chúng ta Củng vi thế, việc giữ gìn, phát huy và chấn hưng văn hoá dân tộc được đặt ra một cách cấp bách, đòi hỏi sự tham gia của nhiều ngành, nhiều giới.

Giữa tháng 12 năm 1994, Hội nghị lần thứ 8 của úy ban quốc gia về Thập kỉ Quốc tế phát triển văn hoá của Việt Nam do Phó Thủ tướng Nguyễn Khánh làm chủ tịch đã họp Hội nghị tập trung thảo luận chủ đề: Bảo vệ và phát huy di sản vẫn hoá Việt Nam, đặc biệt là di sản văn hoá phi vật thể Hội nghị nàv đỏ củ nhiều kiến nghị với Đảng, Nhà nước, các Bộ, ngành, trong đó có kiến nghị: "Bộ Giáo dục và Đào tạo đưa vào chương trình giảng dạy ở các trường học nội dung bảo vệ và phát huy các di sản văn hoá, giáo dục cho thanh niên và học sinh về giá trị của văn hoá dân tộc và di sản văn hoá Việt Nam, nâng cao lòng tự hào dân tộc và ỷ thức bảo vệ di sản văn hoá" Ngày 10 tháng 1 năm 1995,

Bộ Giáo dục và Đào tạo đã k í công văn sô' 173/V P về việc tăng cường giáo dục các giá trị văn hoá dân tộc và di sản văn hoá Việt Nam, yêu cầu các cơ quan chuân bị hệ thông giáo trình, đưa mòn Văn hoá học và cơ sở văn hoá Việt Nam vào chương trình đại học, cao đẳng, đ ể phục vụ việc học tập của sinh viên.

Nhận trách nhiệm trước Bộ Giáo dục và Đào tạo, chúng tôi biên soạn giáo trinh môn Cơ sở văn hoá Việt Nam.

Trang 3

Khoa Văn hoá học nói chung và môn Cơ sở văn hoá Việt Na?n nói riêng có ý nghĩa rất quan trọng không chỉ trong nhà trường

mà còn ờ ngoài xã hội Tuy thế, với nhà trường đại học và cao đắng, Văn hoá học lại là môn học còn rất mới mẻ Hiện tại, còn có nhiều cách hiểu khác nhau về lịch sử và đặc điểm văn hoá Việt Nam, củng như còn nhiều cách hiêu, cách trình bày về môn Cơ sở văn hoá Việt Nam Chính vì vậy, chúng tôi thấy rằng, cần trinh bày cho sinh viên hiêu cả hai mặt lịch đại và đồng đại của văn hoá Việt Nam lẫn những đặc điểm về cả những kiến thức cơ bản

về môn Văn hoá học.

Sàu lần xuất bản đầu tiên, phục vụ cho hội nghị tập huấn về bộ môn Văn hoá học do Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức tại Hà Nội và Thành phô'Hồ Chí Minh, chúng tôi đả nhận được nhiều ý kiến đóng góp quý báu của các đồng nghiệp, các thầy giáo, cô giáo và bạn đọc các nơi (như PGS TS Nguyễn Xuân Kính, TS Nguyễn Thị Minh Thái, ông Nguyên Hoà, ông Lê Đình Bích, ông Trần Mạnh Hảo trên tạp chí Văn hoá dân gian, Tập san Kiến thức ngày nay, báo Thể thao và văn hoá, báo Văn nghệ) Chúng tôi xin tỏ lòng cảm ƠÌI ơ lần xuất bản này, chúng tôi đã sửa chữa và bô sung cho hoàn thiện hơn trên cơ sở các ý kiến đóng góp Tuy nhiên, chúng tôi nghĩ rằng

đê có cuốn giáo trinh về Văn hoá học hoàn chỉnh, bản thăn các tác giả còn phải nghiên cứu nhiều và cần có thêm nhiều ý kiến thảo luận, góp ý của độc giả Vì vậy rất mong các đồng nghiệp và bạn đọc góp ý, phê binh đ ể cuốn sách ngày một tốt hơn.

Với hi vọng môn Văn hoá học và Cơ sở văn hoá Việt Nam sẽ được khắng định vị thế\ như nó vốn cần có, chúng tồi mong rằng giáo trình sơ thảo này sẽ đóng góp tích cực vào việc giảng dạy và học tập trong các trường đại học và cao đăng.

Hà Nội, th án g 8 - 1998

Chủ biênTRẦN QUỐC VƯỢNG

Trang 4

CUỐN SÁCH ĐƯỢC VIẾT THEO CHƯƠNG TRÌNH

MÔN C ơ SỞ VĂN HOÁ VIỆT NAM (GIẢNG DẠY TRONG 60 TIẾT) VỚI 4 ĐƠN VỊ HỌC TRÌNH

- Đ ơn vi hoc tr ìn h 1

Chương 1 CÁC KHÁI NIỆM c ơ BẤN (15 tiế t) 7

Bài 1: Văn hoá và văn hoá học (4 tiế t) 7

Bài 2: Văn hoá và môi trường tự nhiên (3 tiê t) 24

Bài 3: Văn hoá và môi trường xã hội (4 tiế t) 36

Bài 4: Tiếp xúc và giao lưu văn hoá (4 tiế t) 50

- Đơn vi hoc trìn h 2 Chương 2 CẤU TRÚC, CÁC THIẾT CHẾ VÀ CHỨC NĂNG CỦA VĂN HOÁ (15 tiế t) 66

Bài 5: Hình thái và mô hình văn hoá (4 tiế t) 66

Bài 6: Những thành tô' của văn hoá (5 tiế t) 75

Bài 7: Chức năng và câu trúc của văn hoá (6 tiế t) 105

- Đơn vị hoc trìn h 3 Chương 3 DIỄN TRÌNH LỊCH s ử CỦA VĂN HOÁ VIỆT NAM (15 tiế t) 119

Bài 8: Văn hoá Việt Nam thời tiền sử và sơ sử (3 tiê t) 119

Bài 9: Văn hoá Việt Nam thiên niên kỉ đầu công nguyên (3 tiế t) 140

Bài 10: Văn hoá Việt Nam thời tự chủ (3 tiê t) 171

Bài 11: Văn hoá Viêt Nam từ năm 1858 đên năm 1945 (3 tiêt) 132

Bài 12: Văn hoá Việt Nam từ năm 1945 đến nay (3 tié t) 208

Trang 5

- Đ ơn vi hoc tr ìn h 4

Chương 4 KHÔNG GIAN VĂN HOÁ VIỆT NAM (13 tiế t) 22Ọ

Bài 13 Vùng văn hoá Tây Bắc (1,5 tiế t) 225

Bài 14 Vùng văn hoá Việt Bắc (1,5 tiết) 239

Bài 15: Vùng văn hoá châu thổ Bắc Bộ (3 tiế t) 248

Bài 16: Vùng văn hoá Trung Bộ (3 tiế t) 258

Bài 17: Vùng văn hoá Tây Nguyên (2 t iế t) 267

Bài 18: Vùng văn hoá Nam Bộ (2 tiế t) 282

Chương kết luận: Bài 19: Văn hoá và phát triển (2 tiế t) 295

Trang 6

Chương I

CÁC KHÁI NIỆM C ơ BẢN

Bài 1

VĂN HOÁ VÀ VĂN HOÁ HỌC

I - CON NGƯỜI - CHỦ/KHÁCH THE CỦA VĂN HOÁ

Một trong những khía cạnh cần xem xét của vấn đê là quan

hệ giữa con người và văn hoá

Mối quan hệ này được bộc lộ ra ồ ba khía cạnh quan trọng:

- Con người với tư cách là chủ th ể sáng tạo của văn hoá,

- Con người cũng là sản phẩm của văn hoá,

- Con người cũng là đại biểu m ang giá trị văn hoá do con người sáng tạo ra

N hư vậy, con người vừa là chủ thể nhưng vừa là khách thê của văn hoá Có nhìn n h ận văn hóá như một chỉnh th ể thông

nhâ't, chúng ta mới lí giải được mối quan hệ hữu cơ giữa con

người với xã hội, giữa con người với tự nhiên Trong những môi quan hệ ấy, con người là chủ thể, là tru n g tâm , như mô hình sau:

T h ế nhưng, từ trước đến nay cả ba th à n h tô' trong mô hình này, không phải đã được mọi người, mọi thời nhìn nhận một cách nhâ't quán

Trang 7

1 N hữ ng định ngh ĩa khác nhau về con người

Trong trường kì lịch sử, những câu hỏi "Ta từ đâu đến? Ta

đi đến đâu?", là những câu hỏi ám ảnh loài người từ muôn đời nay Và loài người luôn tìm cách giải đáp những câu hỏi này bằng các huyền thoại, sáng th ế luận, học thuyết triết học, tôn giáo v.v

Trong tư tưởng phương Đông, con người là vũ trụ thu nhỏ

"N hân thân tiểu thiên địa" (Lão Tử) Con người là sự thông

n h ấ t của không gian và thời gian Con người bao gồm cả vũ - không gian (trên dưới) và trụ - thòi gian (xưa qua nay lại).Theo mô hình tam phân (bộ ba) hay thuyết Tam Tài, con người là một trong ba ngôi ba th ế lực của vũ trụ bao la tức Thiên - Địa - Nhân Người nôi liền trời với đất, dung hoà hai cực đổi lập ấy để đ ạt được sự hài hoà hợp lí: "Thiên thời - địa lợi — nhân hòa"

Trong hệ thông quan niệm của P h ật giáo, người và muôn loài là bình đẳng, khác với quan niệm phương Tây cổ truyền cho con người là tru n g tâm vũ trụ, chúa tể của muôn loài.'* Q uan niệm về con người của triế t học phương Đông là:

"Tam tài", "Vạn vật tương đồng", "Thiên nhân hợp nhất" và quan niệm của P h ật giáo cho rằng con người bình đang với muôn loài, hoàn toàn tương đồng với xu th ế phát triển của sinh th ái học hiện đại và sinh thái học văn hoá

Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch

sử nhìn con người như một th àn h tô" đã tồn tại trong nhiều môi quan hệ xã hội như định nghĩa của Các Mác: "Trong tính thực tiễn của nó, con người là sự tổng hoà các quan hệ xã hội" Một sô nhà nghiên cứu cho rằng định nghĩa này đúng nhưng

để hiểu Các Mác hơn cần nhớ, năm 1865, khi hai cô con gái

L aura và Jenny Mác đặt câu hỏi với bô": "Châm ngôn ưa thích

Trang 8

n h â t của bô là gì?" Mác đã trả lời bằng một câu nổi tiếng của thời cổ đại La Mã: "Không có cái gì của con người, mà tôi lại coi nó như xa lạ'đối với tôi".

Trong thòi đại tin học, người ta hay sử dụng khái niệm con người nhiều chiều (M ultidimension) Khái niệm nàv về thực ch ất th ể hiện quan niệm trên của Các Mác Con người nhiều chiều ở đây có thể hiểu con người trong các chiều hưóng

tự nhiên xã hội, gia đình <-> xã hội, hành động tâm linh,

tà n n h ẫn n h ấ t - ăn, phá, khai thác và biến đổi tự nhiên) nôn con người hầu như không có đóng góp gì đárig kể cho quá trìn h tiên hoá của sinh quyển cũng như cho sự p h át triển của

hệ sinh thái, ngoài sự tồn tại và p h át triển của chính xã hội của mình

Từ th ế kỉ XVIII B.F ranklin đã định nghĩa con người là

"động v ật làm ra công cụ" Cho đến trưốc năm 1960 hầu hêt các nhà khoa học đều đã nghĩ như vậy Song những kêt quả quan sát và nghiên cứu tập tính của các loài dộng vật cấp cao

ở diều kiện th í nghiệm và điếu kiện tự nhiên cho thây ở những tình huống n h ấ t định, một sô" loài đã sử dụng đá, cành cây (như vượn - người chimpanje) Như vậy, mầm mông sử dụng công cụ đã xuâ"t hiện ở con vật Nhiều học giả phương Tây đã lợi dụng kết quả nghiên cứu đó để chông lại học thuyết về vai trò của lao động trong quá trìn h biến chuyển từ vượn th àn h người Vì thê", điểm mả"u chô"t là phải làm rõ những điều kiện

Trang 9

và tình huống môi trường tự nhiên, xã hội của hai hoạt động này Động vật sử dụng công cụ "ngẫu nhiên" không hệ thông, hay không muôn làm theo hệ thông và không bắt buộc Con người sử dụng và chế tạo công cụ một cách có ý thức, có hệ thông và-với một sự bắt buộc để có thể tồn tại do đã bị m ất đi những khả năng thể lực Hay "Con người còn tỏ ra là động vật duy n h ất đã biết "chọn" cách thích nghi để ph át triển hệ thần kinh tới mức đó (tư duy, chế tạo công cụ, ngôn ngữ), trong khi các động vật khác đã chọn cách biến đổi tứ chi của chúng để cải thiện dinh dưỡng Con người giữa toàn bộ th ế giối động vật

là loài đã p h át triển được bộ não"(1)

Ta có thể bổ sung thêm định nghĩa của B.Franklin "con người sơ khai - một loài linh trưởng biết chế tạo và sử dụng một cách hệ thông các công cụ bằng đá, tre, gỗ "(2)

Con người vừa là cá nh ân không thể chia cắt được, vừa là một sinh vật xã hội Đặc điểm của con người là sông cùng nhau, sông với nhau, th à n h một cộng đồng Tuy th ế loài vật cũng sông cùng nhau, sông vổi nhau, như vậy con người không phải là kẻ độc quyển về tính xã hội Song, tính xã hội của con vật được di truyền theo bản năng, không thay đổi, bất di, bất dịch từ ngàn đời nay Tính xã hội của con người được truyền qua con đường sinh học, và con đường văn hoá (thông qua tra u dồi, tu dưỡng, giáo dục) Tính xã hội của con người là quá trìn h với những nguyên lí và cấp độ diễn biến phức tạp Trong

tấ t cả các loài, "Con người là sinh vật có tính xã hội cao nhất" (F Ảngghen)

Con người luôn luôn sông trong hai th ế giới, thê giới thực

(1) Yves Coppens: Trò chuyện với Michel Batisse — Người đưa tin UNESCO,

Số 2, 1994, tr 9

(ỉ) o N.Machusin: Nguồn gốc loài người, Nxb Mừ Matxcơva, 1986, tr 194

Trang 10

và th ế giới biểu tượng Đặc điểm riêng của con người, theo L.A.Wllite, chính là năng lực biểu trư n g của tư duy con người.

2 S ự n h ìn n h ậ n v a i tr ò c ủ a c o n n gư ờ i:

C húng ta nói văn hoá trước hết phải nói tới con người

"Trong toàn bộ sự p h át triển xã hội, con người luôn luôn tồn tại vối hai tư cách: vừa là chủ thể, vừa là đối tượng Với tư cách là chủ thể, con người thực hiện sự p h át triển của xã hội,

mà trước h ết là sự p h át triển lực lượng sản xuất, Với tư cách

là đối tượng, con người hưởng th ụ những th à n h quả của sự

p h á t triển đó Không có con người thì không có sự hưởng th ụ cũng không có sự công hiến - nghĩa là không có sự p h át triển

Dĩ nhiên giả th iế t ấy là không th ể có được, nhưng nó cho thấy một điều trong tấ t cả những gì có th ể nói được vể sự tiến hoá của lịch sử trê n trá i đất, con người là tru n g tâm Hơn nữa cái

vị trí tru n g tâm đó được đảm bảo bằng hai vế - công hiến và hưởng thụ Ớ con người, vối tư cách là con người hai vê này có

sự gắn bó ch ặt chẽ và luôn luôn cần giữ được sự cân đôi trong

từ ng hoàn cảnh lịch sử"(1)

N hư vậy từ góc độ văn hoá, ta thấy con người một m ặt sáng tạo ra văn hoá (nghĩa vụ), m ặt khác con người là đôi tượng của văn hoá (quyền lợi - văn hoá vì con người)

Vì thê, dần dà, nhân loại càng nhận ra vai trò của con người

và càng ngày vai trò của con người càng được đánh giá cao

ơ Liên Xô (cũ), trước hiến pháp Xtalin 1936, X talin có một luận điểm, trong đó nêu vấn đề con người là quyết định

ơ Việt Nam, đã có lúc khoa học xã hội Việt Nam ít, hoặc còn né trá n h chuyện nghiên cứu những vấn đề về con người(1) Vũ Cao Đàm: Chiến lược con người - Trong Bàn về chiến lược con người

(Nhiều tác giả) - Viện TTKHKT Trung ương, Nxb Sự thật, 1990, tr 6

Trang 11

Việt Nam Tình hình đó đã thay đổi đặc biệt từ sau Đại hội VI của Đảng Cộng sản Việt Nam Yếu tô" con người ngày càng được coi trọng Nhiều trí thức Việt Nam đã nêu ý kiến: chiến lược đầu tiên là chiến lược về con người Nhiều học giả của các ngành khoa học xã hội, nhân văn tham gia soạn thảo cuốn

Chiến lược con người Con người là động lực, con người làm ra

văn hoá, kinh tế xã hội Nhiều ngành khoa học có liên quan tới con người Việt Nam như sử học, văn học, đạo đức học, tâm

lí học, giáo dục học, xã hội học đã đ ạt được không ít th àn h tựu trong nghiên cứu về con người Việt Nam với tư cách là đôi tượng của ngành mình Trong đó đáng lưu ý là đề tài khoa học cấp Nhà nưóc KX-07 "Con người vối tư cách là mục tiêu và động lực p h át triển kinh tế xã hội"

"Con người ở khắp mọi nơi đều giông nhau vì họ đều là con người" Đó là nguyên tắc căn bản của chủ nghĩa nhân văn triế t học, con người có quyền bình đẳng với nhau trên khắp hành tinh Tuy vậy khi chuyển khái niệm con người sang các ngành khoa học xã hội, nh ân văn có tính phân tích ta lại phải đôi diện vói những hiện thực khác, trong đó con người là giông nhau, đồng thời là khác nhau, bởi vì họ ở trong những tập hợp người đủ mọi kiểu, họ m ang trong mình dấu ấn dân tộc, chế

độ xã hội, đặc điểm thời đại, địa lí, giói tính, lứa tuổi, nghề nghiệp Khái niệm con người được nhìn nhận từ các góc độ khác nhau, tùy thuộc vào vấn đề tiếp cận Điều đó cũng bắt nguồn từ tính đa dụng vô cùng của con người trong sự thông

n h ât hiển nhiên của giông loài

II - CON NGƯỜI VIỆT NAM, CHỦ - KHÁCH THE CỦA VẢN HOÁ VIỆT NAM

Đã có rấ t nhiều nhận xét (theo tình cảm, theo lí trí) từ các quan điểm truyền thông, hiện đại, từ các góc độ nhận thức dân tộc, thê giới, về con người Việt Nam từ xưa tới nay Song

Trang 12

cho tới nay nhận thức về con người Việt Nam thực sự chưa đầy đủ Từ góc độ là chủ thê của văn hoá, con người Việt Nam một m ặt là con người cá nhân, m ặt khác m ang tải trong mình tín h dân tộc truyền thông "Con người phải có tính dân tộc cũng như phải có mũi, có tai Và tính dân tộc được trao cho con người từ lúc sinh ra và còn lại một cách b ấ t biến suốt cuộc đòi người ấy Nó cũng tồn tại chắc chắn trong ta chẳng hạn như là giới tín h "(1).

GS Đào Duy Anh đã chú ý các đặc điểm khí chất của

người Việt Nam khi ông viết cuốn Việt N a m văn hoá sử cương,

tuy nhiên theo ông, những tín h châ't ây không phải là b ấ t di

b ấ t dịch Ông cho rằng: "Về tín h ch ất tin h th ầ n thì người Việt Nam đại khái thông m inh, nhưng xưa nay thấy ít người có trí tuệ lỗi lạc phi thường Sức kí ức th ì p h á t đ ạ t lắm mà giàu trí nghệ th u ậ t hớn trí khoa học, giàu trực giác hơn luận lí Phần nhiều người có tín h ham học Song thích văn chương phù hoa hơn thực học, thích th à n h sáo và hình thức hơn là tư t ương

h o ạt động Não tưởng tượng thường bị não thực tiễn hoà hoãn bớt, nên dân tộc Việt Nam ít người mộng tưởng mà phán đoán thường có vẻ th iế t thực lắm Sức làm việc khó nhọc, n h ấ t là người ở m iền Bắc th ì ít dân tộc bì kịp, cảm giác hơi chậm chạp, song giỏi chịu đau đớn cực khổ và hay n h ẫn nhục Tính khí cũng hơi nông nổi, không bền chí, hay th ấ t vọng, hay khoe khoang tra n g hoàng bể ngoài; ưa hư danh và thích chơi cờ bạc Thường th ì n h ú t n h á t và chuộng hoà bình, song ngộ sự thì cũng biết hi sinh vĩ đại nghĩa Não sáng tác thì ít, nhưng mà

b ắ t chước thích ứng và dung hoá th ì rấ t tài Người Việt Nam lại rấ t trọng lễ giáo song cũng có não tinh vặt, hay bài bác chê

n) Dẫn theo Phạm Bích Hợp, Tâm lí dân tộc, tính cách và bản sắc,

Nxb TP Hồ Chí Minh, 1993, tr 80

Trang 13

nhạo"U) PGS Phan Ngọc trong công trình Văn hoá Việt Nam

và cách tiếp cận mới, khẳng định: "Văn hoá là một quan hệ

Nó là mốì quan hệ giữa th ế giới biểu tượng và thế giới thực tại Quan hệ ấy biểu hiện thành một kiểu lựa chọn riêng của một tộc người, một cá nhân so với một tộc người khác, một cá nhân khác" Trên nền ấy, ông cho rằng: "Bản sắc văn hoá, do

đó, không phải - là một vật mà là một kiểu quan hệ Kiểu quan hệ kết hợp, chằng nối từ nhiều góc rất khác nhau, nhưng tạo nên một thể thống nhất hữu cơ kì diệu Tôi tạm dùng chữ bricolage người Việt Nam là bậc thầy về nghệ thuật bricolage"® Thực ra ý này đầu tiên là của nhà sử học - nhà báo Jean Lacouture.

GS Hà Văn Tấn khi viết về sự hình thành bản sắc dân tộc Việt Nam cũng khẳng định sự tồn tại của tính cách dân tộc và tâm lí dân tộc "Tâm lí dân tộc biểu hiện trong phong cách tư duy, lối ứng xử (hay hành vi), đồng thòi biểu hiện ra trong tình cảm dân tộc Nó bị chê ước bởi các điều kiện tự nhiên mà trong đó cộng đồng đang tồn tại, điều kiện xã hội và điểu kiện lịch sử"* (3) Các yếu tô này bao gồm cả biến sô và hằng sô", chính vì vậy tính cách dân tộc và tâm lí dân tộc có biên chuyển Vì thế, khi tìm hiểu tâm lí dân tộc hay tính cách dân tộc (cả mặt tích cực và tiêu cực), phải xem xét vai'$rò tác động, sự chi phối của cả ba yếu tô' tự nhiên, xã hội và lịch sử

Có như vậy, ta mới có thể lí giải một cách cặn kẽ, khoa học, lí

u> Đào Duy Anh, Việt Nam văn hoá sử cương, tái bản, Nxb TP HCM

và Khoa Sử trường Ì)HSP, TP Hồ Chí Minh, 1992, tr 24

<2> Phan Ngọc, Văn hoá Việt Nam và cách tiếp cận mới, Nxb Văn hoá thông tin, Hà Nội, 1993, tr 24

(3) Hà Văn Tấn: Vê sự hình thành bản sắc dân tộc Việt Nam, trong cuôn Giáo sư s ử học, Nhà giáo Nhân dân Hà Văn Tân, Nxb ĐHQG

Hà Nội, tr 110-116

Trang 14

tìn h những yếu tô" trội trong tín h cách, tâm lí, bản sắc dân tộc, bản sắc văn hoá của người Việt Nam trong lịch sử và cả giai đoạn hiện nay Trong công trìn h nghiên cứu "Các giá trị tru y ền thông và con người Việt Nam hiện nay" thuộc đề tài KX-07, các tác giả đều thông n h ấ t trong những nhìn n h ận vể giá trị tin h th ần , tín h cách dân tộc Việt Nam mà điển hình là tin h th ầ n yêu nước, kiên cường gắn bó vối quê hướng xứ sở, cụ

th ể là với làng và nước, với nhà, làm tế bào chung; ý thức sâu sắc và vững bền về bản ngã; tin h th ầ n cô" kết cộng đồng; cần

cù, chịu thương, chịu khó, giỏi chịu đựng gian khổ, tìn h nghĩa; ứng xử linh hoạt mềm dẻo; dễ thích nghi, hội n h ập M ặt khác, do những điêu kiện môi trường tự nhiên khắc nghiệt,

th ấ t thường, điều kiện xã hội lắm chiến tra n h cùng vối những

h ạn chế của một nền sản x u ất nông nghiệp (tiểu nông) truyền thông chủ yếu dựa vào kinh nghiệm , nên căn tín h nông dân vói những m ặt tiêu cực của nó như tâm lí bình quân — cào bằng; tác phong tùy tiện, "ăn xổi" ; tâm lí cầư an, cẩu may;

th ủ cựu; gia trưởng(1) đã và đang ảnh hưởng không ít tới công cuộc xây dựng và p h á t triển một nền văn hoá Việt Nam tiên tiên m ang đậm đà bản sắc dân tộc

Tóm lại, ở Việt Nam từ xa xưa có con người cá n h ân trê n nền tản g tiểu nông, tuy nhiên do tư tưởng công xã phương Đông bao trù m nên vai trò cá nh ân không được p h á t huy Luôn luôn cá nh ân được đ ặt trong và dưới cộng đồng H ằng sô văn hoá Việt Nam cổ tru}rền về m ặt chủ th ể là người nông dân Việt Nam với tấ t cả những tín h chất tích cực và hạn chê của

nó T rên nền cơ bản là nông dân, song người nông dân đó lại tuỳ thuộc vào từng vùng (xứ, miền) văn hoá khác n h au mà lại

U) Phan Huy Lê, Vũ Minh Cĩiang (Chủ biên); Các giá trị truyền thống

và con người Việt Nam hiện nay, Hà Nội, 1996, từ tr 95-99

Trang 15

mang những nét trội, 'riêng trong tính cách Vượt lên cả về

không/thời gian là đặc điểm duy tình, duy nghĩa, duy cảm của con người Việt Xam trong môi quan hệ người - người, người -

tự nhiên; người - tâm linh; thần linh và n h ất là thái độ trách nhiệm với những thê hệ sau thể hiện qua khái niệm phúc đức.III - KHÁI NIỆM VĂN HOÁ VÀ CÁC KHÁI NIỆM KHÁC

Đây là những công cụ - khái niệm hay công cụ - nhận thức dùng để tiếp cận những vấn đề nghiên cứu Chúng thường hay bị, hay được sử dụng lẫn lộn, dù môi một khái niệm đều có những đặc trư ng riêng của mình

1 Khái niệm văn hoá

Văn hoá là sản phẩm do con người sáng tạo, có từ thuở bình minh của xã hội loài người, ớ phương Đông, từ văn hoá

đã có trong đời sông ngôn ngữ từ râ't sớm Trong Chu Dịch,

quẻ Bi đã có từ văn và hoá: Xem dáng vẻ con người, lấy đó mà giáo hoấ thiên hạ (Quan hồ nhân văn dĩ hoá thành thiên hạ) Người sử dụng từ văn hoá sớm nhâ't có lẽ là Lưu Hưống (năm 77-6 trước công nguyên), thòi Tây Hán vối nghĩa như một phương thức giáo hoá con người - văn trị giáo hoá Văn hoá ở đây được dùng đối lập vối vũ lực (phàm dấy việc võ là vì không phục tùng, dùng vãn hoá mà không sửa đổi, sau đó mới thêm chém giết) Ó phương Tây, để chỉ đối tượng mà chúng ta nghiên cứu, người Pháp, người Anh có từ culture, người Đức

có từ kultur, người Nga có từ kultura Những chữ này lại có chung gôc Latinh là chữ cultus animi là trổng trọt tinh thần Vậy chữ cultus là văn hoá với hai khía cạnh: trồng trọt, thích ứng với tự nhiên, khai thác tự nhiên và giáo dục đào tạo cá thế hay cộng đồng để họ không còn là con vật tự nhiên, và họ

có những phẩm chất tốt đẹp

Trang 16

Tuy vậy, việc xác định và sử dụng khái niệm văn hoá không đơn giản và th ay đối theo thòi gian T h u ậ t ngữ văn hoá với nghĩa "canh tác tinh thần" được sử dụng vào th ế kỉ X V II- XVIII bên cạnh nghĩa gốc là quản lí, canh tác nông nghiệp.Vào th ế kỉ XIX th u ậ t ngữ "văn hoá" được những n h à nh ân loại học phương Tây sử dụng như một danh từ chính N hững học giả này cho rằ n g văn hoá (văn minh) th ế giới có thể ph ân loại ra từ trìn h độ th ấp n h ấ t đến cao nh ất, và văn hoá của họ chiêm vị tr í cao n h ất Bởi vì họ cho rằn g bản c h ât văn hoá hướng về trí lực và sự vươn lên, sự p h á t triển tạo th à n h văn

m inh; E.B Taylo (E.B Taylor) là đại diện của họ Theo ông, văn hoá là to àn bộ phức th ể bao gồm hiểu biết, tín ngưỡng, nghệ th u ậ t, đạo đức, lu ậ t pháp, phong tục, nhữ ng k h ả năn g

và tập q u án khác m à con người có được vói tư cách là một

th à n h viên của xã hội

0 th ế kỉ XX, k h ái niệm "văn hoá" th ay đổi theo F.Boa (F.Boas), ý nghĩa văn hoá được quy định do k h ủ n g giải thích riêng chứ không phải b ắt nguồn từ cứ liệu cao siêu n h ư "trí lực", vì th ế sự khác n h au vê m ặt văn hoá từ ng dân tộc cũng không phải theo tiêu chuẩn trí lực Đó cũng là "tương đốĩ luận của văn hoá" Văn hoá không xét ở mức độ th âp cao m à ở góc

độ khác biệt

A L Kroibơ (A.L Kroeber) và C.L Klúchôn (C.L Kluckhohn) quan niệm văn hoá là loại h àn h vi rõ ràn g và ám thị đã được đúc kêt và tru y ề n lại bằng biểu tượng, và nó hình th à n h quả độc đáo của n h ân loại khác với các loại hình khác, trong đó bao gồm cả đồ tạo tác do con người làm ra

2 K hái n iệm vă n m in h

Văn m inh là danh từ H án Viôt (vo-n -j à- ve~ctep: m inh là

sáng), chí tia sáng cua đạo CUC, b ỉê u ^ y i^ ^ I ^ h ín h trị, pháp

Trang 17

luật, văn học, nghệ thuật Trong tiếng Anh, Pháp, từ civilisation vối nội hàm nghía văn minh, có từ căn gôc La tinh

là civitas với nghĩa gôc: đô thị, thành phô", và các nghĩa phái

s in h rth ị dân, công dân

w 'Đuran (W Durrant) sử dụng khái niệm văn minh để chỉ sự sáng tạo văn hoá, nhò một trậ t tự xã hội gảy ra và kích

thích Văn minh được dùng theo nghĩa tổ chức xã hội, tể chức

luân lí và hoạt động văn hoá

Văn m inh trong tiếng Đức là để chỉ các xã hội đã đạt được

tới giai đoạn tổ chức đô thị và chữ viết

Theo F Ảngghen, văn minh là chính trị khoanh văn hoá lại và sợi dây liên kết văn minh là Nhà nước Như vậy khái niệm văn minh thường bao hàm bôn yếu tô" cơ bản: đô thị, nhà nước, chữ viết, các biện pháp kĩ th u ậ t cải thiện, xếp đặt hợp lí, tiện lợi cho cuộc sông của con người

Tuy vậy, người ta vẫn hay sử dụng th u ậ t ngữ văn minh đồng nghĩa với văn hoá Các học giả Anh và Pháp thường sử dụng lẫn lộn hai khái niệm văn hoá (culture), văn minh (civilisation) để chỉ toàn bộ sự sáng tạo và các tập quán tinh

th ầ n và vật châ"t riêng cho mọi tập đoàn người

Thực ra, văn m inh là trình độ phát triển n h ất định của văn hoá về phương diện vật chất, đặc trưng cho một khu vực rộng lốn, một thòi đại, hoặc cả nhân loại Như vậy, văn minh khác với văn hoá ở ba điểm(1): Thứ nhất, trong khi văn hoá có

bề dày của quá khứ thì văn minh chỉ là một lát cắt đồng đại Thứ hai, trong khi văn hoá bao gồm cả văn hoá vật chất lẫn tin h th ần thì văn minh chỉ thiên về khía cạnh vật chất, kĩ

th u ật Thứ ba, trong khi'văn hoá mang tính dân tộc rõ rệt thì0) Trần Ngọc Thêm: Cơ sở văn hoá Việt Nam, trường ĐHTH, TP Hồ Chí Minh, 1995, tr 25

Trang 18

văn m inh thường m ang tín h siêu dân tộc - quốc tế Ví dụ nền văn m inh tin học hay văn m inh hậu công nghiệp và văn hoá

V iệt Nam, văn hoá N h ật Bản, văn hoá T rung Quốc Mặc dù giữa văn hoá và văn m inh có một điểm gặp gỡ n h a u đó là do con người sáng tạo ra

3 K hái n iệm v ă n h iế n

ở phương Đông, trong đó có Việt Nam, từ xa xưa đã phổ biến k h ái niệm văn hiến Có thể hiểu văn hiên là văn hoá theo cách dùng, cách hiểu trong lịch sử Từ đời Ly (1010) người Việt đã tự hào nước m ình là một "văn hiến chi bang" Đên đòi

Lê (thê kỉ XV) Nguyễn T rãi viết "Duy ngã Đại Việt chi quôc thực vi văn hiến chi b a n g "- (Duy nước Đ ại V iệt ta thực sự là

m ột nước văn hiến) Từ văn hiến mà N guyễn T rãi dùng ở đây

là m ột k h á i niệm rộng chỉ một nền văn hoá cao, trong'đó nêp sông tin h th ần , đạo đức được chú trọng

Văn hiến (hiến = hiền tà i) - tru y ền thống văn hoá lâu đòi

và tôt đẹp GS Đào Duy Anh khi giải thích từ "van lìiòn'

k h ẳn g định: "là sách vở" và n h ân v ậ t tôt trong một dòi‘I; Xói cách khác văn là văn hoá, hiến là hiền tài, như vậy văn hiến

th iê n về những giá trị tin h th ầ n do những người có tài đức chuyển tải th ể hiện tính dân tộc, tín h lịch sử rõ rệt

4 K hái n iêm văn v ậ t (vật = v ậ t ch ất)

T ruyền thông văn hoá tốt đẹp biểu hiện ở nhiều nhân tài trong lịch sử và nhiều di tích lịch sử "Hà Nội nghìn năm văn vật" Văn v ật còn là khái niệm hẹp để chỉ những công trìn h hiện v ậ t có giá trị nghệ th u ậ t và lịch sử, khái niệm văn vật cũng th ể hiện sâu sắc tính dân tộc và tín h lịch sử Khái niệm 1

(1) Hán Việt từ điển, Trường Thi xuất bản, Sách in lần thứ 3,1957, tr 527

Trang 19

văn hiến, văn vật thường gắn với phương Đông nông nghiệp trong khi khái niệm văn minh thường gắn vối phương Tảy đô thị N hư vậy, cho đến nay, chưa phải mọi người đã đồng ý vói

n h au tấ t cả vê định nghĩa của văn hoá Từ năm 1952, hai nhà

d ân tộc học Mĩ A.L Kroibơ (A.L Kroeber) và C.L Klúchôn (C

L Kluckhohn) đã trích lục được trên dưới ba trăm định nghĩa,

mà các tác giả khác nh au của nhiều nước từng p h át ra từ trước nữa cho đến lúc bấy giờ(1) Từ đó đến nay, chắc chắn sô" lượng định nghĩa tiếp tục tăng lên và đương nhiên, không phải lúc nào các định nghĩa đưa ra cũng có thể thông nhất, hay hoà hợp, bổ sung cho nhau Chúng tôi xin trích dẫn một sô" định nghĩa đã được công bô" trong những giáo trình và công trìn h nghiên cứu về Văn hoá học hay Cơ sở văn hoá Việt Nam Theo một sô" học giả Mĩ "Văn hoá là tấm gương nhiều m ặt

p h ản chiếu đời sông và nếp sông của một cộng đồng dân tộc"

Ớ tru n g tâm của văn hoá quyển là hệ tư tưởng cũng được xem

(1) Dẫn theo Nguyền Từ Chi: Từ định nghĩa của văn hoá Trong cuóm Văn hoá học đại cương và cơ sở văn hoá Việt Nam, Nxb Khoa học xã

hội, Hà Nội, 1996, tr 53

(2) Dẫn theo GS Trần Quốc Vượng, 100 năm giao thoa văn hoá Đông Tây.

<3) Hồ Chí Minh, Toàn tập, in lần 2, Nxb Chính trị Quôc gia, Hà Nội,

1995, tập 3, tr.431

Trang 20

tấ t cả n h ừ ng gì không phải là th iên nhiên mà có liên quan đến

con người trong suốt quá' trìn h tồn tại, p h á t triển, quá trìn h

con người làm nên lịch sử cốt lõi của sức sông dân tộc là văn hoá với nghĩa bao q u át và cao đẹp n h ấ t của nó, bao gồm cả hệ thông giá trị: tư tưởng và tìn h cảm, đạo đức với phẩm chất, trí

tu ệ và tà i năng, sự nhạy cảm và sự tiếp th u cái mới từ bên ngoài, ý thức bảo vệ tài sản và bản lĩnh của cộng đồng dân tộc, sức đề k h án g và sức chiến đấu để bảo vệ m ình và không ngừng lớn m ạnh"(1)

PGS P h a n Ngọc đưa ra m ột định nghĩa văn hoá m ang tín h c h ất th ao tác luận, khác với n h ữ ng định nghĩa trước đó, theo ông đều m ang tín h tin h th ầ n lu ậ n (2) "Không có cái v ật

gì gọi là văn hoá cả và ngược lại b ấ t kì v ật gì cũng có cái m ặt văn hoá V ăn hoá là một qu an hệ Nó là mối quan hệ giữa

th ế giới biểu tượng và th ế giới thực tại Q uan hệ ây biểu hiện

th à n h m ột kiểu lựa chọn riên g của một tộc người, một cá

n h â n so với một tộc người khác, một cá n h ân khác N ét khác

b iệt giữa các kiểu lựa chọn làm cho chúng khác nhau, lạo

th à n h những nền văn hoá khác n h au là độ khúc xạ(3) T ất cả mọi cái m à tộc người tiếp th u hay sáng tạo đều có một độ khúc xạ riên g có m ặt ở mọi lĩnh vực và r ấ t khác độ khúc xạ ở một tộc người khác"

T rên cơ sỏ phân tích các định nghĩa văn hoá, PGS TSKH

T rần Ngọc Thêm đã đưa ra một định nghĩa vê văn hoá như sau: "Văn hoá là một hệ thông hữu cơ các giá trị v ật ch ât và tin h th ầ n do con người sáng tạo và tích luỹ qua quá trìn h hoạt

(1) Văn hoá và đổi mới, Nxb Chính trị Quôb gia, H., 1994, tr.16

Trang 21

động thực tiễn trong sự tương tác giữa con người với môi trường

tự nhiên và xã hội của mình" Định nghĩa này đã nều bật 4 dặc trưng quan trọng của văn hoá: tính hệ thông, tính giá trị, tính lịch sử, tính nhân sinh(1) Chúng tôi cho rằng, trong vô vàn cách hiểu, cách định nghĩa về văn hoá, ta có thể tạm quy

vể hai loại Văn hoá hiểu theo nghĩa rộng như lối sông, lôi suy nghĩ, lối ứng xử Văn hoá hiểu theo nghĩa hẹp như văn học, văn nghệ, học vấn., và tuỳ theo từng trường hợp cụ thể mà có những định nghĩa khác nhau Ví dụ xét từ khía cạnh tự nhiên thì văn hoá là "cái tự nhiên được biến đổi bởi con ngưòi"(2) hay

"tất cấ những gì không phải là thiên nhiên đều là văn hoá"(3).Gần đây nhất, trong một bài viết của mình, PGS Nguyễn Từ Chi đã quy các kiểu nhìn khác nhau về văn hoá vào hai góc độ:

- Góc rộng, hay góc nhìn "dân tộc học" đây là góc chung của nhiều ngành khoa học xã hội

- Góc hẹp, góc thông dụng trong cuộc sông hàng ngày, còn gọi là gỏc báo chí

Theo cách hiểu góc rộng - văn hoá là toàn bộ cuộc sông (nếp sông, lối sông) cả vật châT xã hội và tinh thần của từng cộng đồng Ví dụ: nghiên cứu văn hoá Việt Nam là nghiên cứu lôì sông của các dân tộc Việt Nam

Văn hoá từ góc nhìn "báo chí" tuy cũng có những cách hiểu rộng hơn hay hẹp hơn, nhưng trước đây thường gắn với kiên thức của con người, của xã hội Ngày nay, văn hoá dưới góc "báo chí" đã hướng về lốì sông hơn là về kiến thức mà theo tác giả là lối sông gâp, đằng sau những biến động n hanh của

xã hội

(1) Trần Ngọc Thêm, Sđd, tr.20

'2) và (3) Dẫn theo Nguyễn Từ Chi, Sđd, tr 54

Trang 22

IV - ĐỊNH NGHĨA VĂN HOÁ CỦA UNESCO

Trong ý nghĩa rộng n h ất, "Văn hoá hôm nay có th ể coi là tổng th ể nh ữ n g n ét riêng biệt tin h th ầ n và v ậ tc h ấ t trí tuệ và xúc cảm quyết định, tín h cách của một xã hội hay của một nhóm người trong xã hội Văn hoá bao gồm nghệ th u ậ t và văn chương, nh ữ n g lối sông, nhữ ng quyền cơ bản của con người, những hệ thông các giá trị, nhữ ng tập tục và nhữ ng tín ngưỡng: Văn hoá đem lại cho con người khả năng suy xét về bản th ân C hính văn hoá làm cho chúng ta trở th à n h những sinh vật đặc biệt n h â n bản, có lí tính, có óc phê ph án và dâ'n

th â n một cách đạo lí Chính nhờ văn hoá mà con người tự th ể hiện, tự ý thức đươc bản th ân , tự biết m ình là một phương án chưa hoàn th à n h đ ặ t ra để xem xét những th à n h tự u của bản

th ân , tìm tòi không biết m ệt nhữ ng ý nghĩa mới mẻ và sáng tạo nên những công trìn h vượt trội lên bản th ân "(1)

N hư vậy, văn hoá không phải là một lĩnh vực riêng biệt Văn hoá là tổng th ể nói chung những giá trị v ật chát và tinh

th ầ n do con người sáng tạo ra Văn hoá là chìa khoá cua sụ

p h á t triển

Theo qu an niệm của UNESCO có 2 loại di sản văn hoá:Một là, những di sản văn hoá hữu th ể (Tangible) như đình, đền, chùa, miếu, lăng, mộ, nhà sàn v.v

H ai là, những đi sản văn hoá vô hình (Intangible) bao gồm các biểu hiện tượng trư n g và "không sờ thấy được" của văn hoá được lưu tru y ền và biến đổi qua thời gian, với một sô quá trìn h tái tạo, "trùng tu" của cộng đồng rộng rãi N hững

di sản văn hoá tạm gọi là vô hình này theo UNESCO bao gồm

(1) Tuyên bô" về những chính sách văn hoá - Hội nghị quốc tê do UNESCO chủ trì từ 26-7 đến 6-8-1982 tại Mêhicô

Trang 23

cả âm nhạc, múa, truyền thông, văn chương truyền miệng, ngôn ngữ, huyền thoại, tư th ế (tư thái), nghi thức, phong tục, tập quán, y dược cổ truyền, việc nấu ăn và các món ăn lễ hội,

bí quyết và quy trìn h công nghệ của các nghề truyền thông Cái hữu th ể và cái vô hình gắn bó hữu cơ với nhau, lồng vào nhau, như th â n xác và tâm trí con người

CÂU HỎI

1 T rìn h bày một sô" kh ái niệm về con người với tư cách là chủ - khách th ể của văn hoá

2. T rình bày k hái niệm văn hoá qua các giai đoạn Phân biệt

k h ái niệm văn hoá, văn minh, văn hiến, văn vật

3. N êu một sô' cách hiểu khác nhau về văn hoá Định nghĩa văn hoa của UNESCO

Bài 2 VĂN HOÁ VÀ MÔI TRƯỜNG T ự NHIÊN

I - Tự NHIÊN LÀ CÁI CÓ TRƯỚC

Con người tồn tại trong tự nhiên, bởi vậy, mối quan hệ giữa con người và tự nhiên cũng là một m ặt cơ bản của đòi sông văn hoá Tự nhiên là cái đương nhiên tồn tại, không phải

do ý muôn, hiểu biết và sáng tạo của con người, như sự giải thích từ này của GS Đào Duy 'Anh: "tạo hoá, vũ trụ, không phải sức người làm, không miễn cưỡng được"(1)

n) Hán Việt từ điển, Trường Thi xuất bản, in lần 3, s 1957, tr 342

Trang 24

Tự nhiên bao gồm hai n h ân tô": hữu sinh (biotic) và phi sinh (abiotic) Trong tự nhiên, ban đầu không có sự sông Sự sông x u ấ t hiện trê n trá i đất, cách đây trên 3 tỉ năm , bao gồm

ba nhóm: Nhóm sinh v ật sản xuất; nhóm sinh v ật tiêu th ụ và nhóm sinh v ậ t p h ân hủy

T h ế giới hữu sinh luôn luôn tồn tại (sống trong, sông cùng, sông với) th ế giới phi sinh Điều quan trọng n h ấ t trong

tự nhiên là những môi tương tác (thông nhất, m âu thuẫn) giữa các qu ần xã sinh v ậ t (hữu sinh) và phi sinh (môi trường

v ậ t lí, hoá học ) tạo th à n h hệ sinh thái

Tự nhiên là tự nhiên chứ không phải những gì ngoài ta Con người cũng là sản phẩm của tự nhiên hay là sản phẩm của chuỗi diễn hoá của tự nhiên (F Ăngghen) Nói cách khác, con người vôn sinh ra từ tự nhiên, cần có tự nhiên để tồn tại, như ng khác h ẳn động vật, con người không chỉ cần đên tự

nh iên như nguồn tư liệu sông, mà trước hêt như nguồn tư liệu lao động

Con người tồn tại trong môi trường tự nhiên, cùng phát, triển vối môi trường tự nhiên Vật chất trong cơ thể con người là

do môi trường tự nhiên cung cấp, không khí con người hít thở, nước con người uông đều lấy từ môi trường tự nhiên, thức ăn của con người cũng vậy Những khu vực trong môi trường tự nhiên thiêu một nguyên tô" hoá học nào đó thì người sông ở đó cũng thiêu chất tương tự, gây ra bệnh tậ t và ảnh hưởng tối sự phát triển về thể chất cũng như trí tuệ, tình cảm của con người

Tự nhiên đang th ay đổi chậm chạp và điều đó có hên quan trực tiêp đến con người trong mọi lĩnh vực hoạt động Vân đê

cơ bản là xác định vị trí của con người trong tự nhiên và môi quan hê của con người với tự nhiên Con người cũng là tự nhiên, trong con người cũng có m ặt tự nhiên (bản năng, bâm sinh ) và con người bao giờ cũng phải sông với tự nhiên

Trang 25

Chúng tôi cho rằng, trong thê ứng xử giữa con người và tự nhiên trước th ế kỉ XX, giữa phương Đông và phương Tây có ít nhát một sự khác nhau Những nền văn minh phương Tây (Hy-Lạ cổ đại, Thiên chúa giáo trung đại, Tư bản chủ nghĩa cận đại) đều xem thiên-tự nhiên là thù địch và do vậy cần phải chinh phục, thống trị, biến đổi tự nhiên.

Các nền văn minh phương Đông, như văn minh Phật giáo

An - Hoa, yăn minh Nho giáo Đông A, văn hoá Lão - Trang Đông Á, văn minh Thần giáo Nhật Bản (trong đó phải kể cả văn minh Đông Sơn - Đông Nam Á, văn minh Đại Việt - Việt Nam) đều có đức hiếu sinh (Nho giáo), cấm hay tiết kiệm sát sinh (Phật giáo) hay "hoà đồng vối tự nhiên" (Lão giáo).

Một trong mười đặc điểm của văn hoá thế giới hiện đại theo giới lí luận văn hoá Trung Hoa, là văn hoá từ chỗ quá tự tin vào sức mạnh của con người chuyển đến chỗ biết sức mạnh của thiên nhiên và chỗ yếu của con người Văn hoá công nghiệp là văn hoá chinh phục thiên nhiên, sau cuộc phục hưng văn hoá, con người thoát khỏi sự mê tín thần thánh, song lại mê tín chính sức mạnh của mình Trong quá trình cải tạo thiên nhiên, nay nhìn lại con người đã thấy trong đó sự can thiệp thô bạo vào thiên nhiên là có hại cho mình(1) Chính

vì vậy từ giữa th ế kỉ XX phương Tây dấy lên phong trào "tìm

về phương Đông" Người ta dự báo rằng tới thê kỉ XXI, con người sẽ biết sốhg hoà điệu hơn vối tự nhiên, hơn là phá phách

tự nhiên và triết lí của thế kỉ XXI là triết lí tân tự nhiên.

II - T ự NHIÊN NGOÀI TA: MÔI TRƯỜNG

Môi trường là một phần của ngoại cảnh, bao gồm những thực thể - hiện tượng tự nhiên mà cơ thể, quần thể, loài (quần

(1) Trần Lê Sáng Một vãi' vấn đề lí luận văn hoá ỏ Trung Quốc hiện nay, Tạp chí Văn hoá Nghệ thuật 9 (123), 1994, tr 22

Trang 26

xã) có q u a n hệ trự c tiếp, trước h ế t bằn g các mốì q u an hệ th ích nghi, rồi sa u đó mối là biến đổi.

T h u ậ t ngữ môi trường: hiện n ay người ta thường sử dụng rộng rã i k h á i niệm Mmôi trư ờng lớn" gồm môi trư ờng tự nhiên, môi trư ờ n g n h â n tạo và cả n h ữ n g môi trư ờng khác n h ư môi trư ờ n g đời sông, môi trư ờng văn hoá, môi trư ờng sinh th ái

Có môi trư ờ n g tự nhiên, có môi trư ờng n h â n tá c -tạ o

Môi trư ờ n g tự n h iên là m ột bộ p h ận tro n g "môi trư ờng lân", là tổng th ể các n h â n tô' tự n h iên xung quanh* chúng ta*

n h ư b ầ u k h í quyển, nước, thự c vật, động vật, th ổ nhưỡng,

n h a m th ạch , k h o án g sản, bức xạ m ặ t trời v.v

Môi trư ờng tự n h iên tác — tạo (môi trư ờng n h â n vi, n h â n văn), có người gọi đó là môi trư ờng v ăn hoá Kĩ th u ậ t và tổ chức xã hội của con người tạo nên m ột môi trư ờng mói, có sức tác động ngược trở lại tối môi trư ờng tự nhiên Môi trư ờng mới này bổ k h u y ê t cho th iê n n h iên tro n g một sô' trư ờng hợp nào đó

n h ư n g lại cản trở nh ữ n g h iệu quả thông thường của thiên

n h iê n tro n g m ột sô' trư ờng hợp khác m à con người đã không dề phòng đúng mức N hư vậy môi trường n h â n tác/tạo là hệ thông môi trư ờng được tạ o 'r a do con người lợi dụng tự nhiên, cải tạo

tự nhiên Vì môi trư ờng n h â n tác/tạo được sáng tạo và p h á t triể n trê n cơ sở môi trường tự nhiên, bởi vậy môi trư ờng n h ân tác—tạo bị môi trư ờng tự n h iên chi phối và ngược lại nó cũng

ả n h hưởng tới môi trường tự nhiên

III - CÁI T ự NHIÊN TRONG TA - BẢN NĂNG

Có m ột định nghĩa về văn hoá m à theo PGS N guyễn Từ Chi là ng ắn gọn nhất: T ất cả những gì không phải là th iên

n h iên đều là văn hoá Bản năn g là "vốn có", do đó cũng là

th iê n nhiên Cái "vốn có" này mọi sinh v ật đều có

Trang 27

Đặc điểm của loài vật là chúng chịu sự chi phôi của bản năng tự nhiên Sự phân biệt giữa tính người và tính sinh vật

có giá trị vể m ặt động vật học và khoa học Loài vật không có lịch sử tự thức Khác vói con người là động vật sông trong cả hiện tại, quá khứ và tương lai, các xã hội loài vật như xã hội loài kiến, loài mối hay loài ong - đã không thay đổi từ hàng ngàn năm nay, bởi vì đời sông của chúng, đời sông cá thê hay tập thể tuân theo những nguyên tắc không thể vi phạm, quy tắc của tự nhiên, của bản năng Loài người cũng có bản năng,

vì con người cũng là tự nhiên Song ở con người, những bản năng này luôn luôn bị đặt dưối sự kiểm soát của xã hội (các cưõng chế xã hội, các chuẩn mực xã hội) bằng những biện pháp khác nhau

Còn những bản năng không thể nào chặn đứng được, vì chúng gắn quá chặt vối sự sông, như ăn uống, giao hợp cả chết nữa, thì từng cộng đồng "văn hoá-hoá" chúng lên bằng những nghi thức - xã hội hay tôn giáo, mà hiệu quả cuôì cùng

là kiềm toả chúng lại trong vòng cộng đồng chấp nhận được(l) Văn hoá là sự chế ngự bản năng

Văn hoá, văn minh có mục đích nhiệm vụ bắt chúng ta chấp nhận những cưỡng chế xã hội bằng cách bù lại những thú vui tinh thần Như vậy văn hoá có nhiệm vụ điều hoà và giải quyết giữa những ham muôn cá nhân và các cưỡng chế xã hội(2)

N hư vậy khác vói loài vật, đặc điểm của loài người là khả năng vượt lên trê n sự thông trị của bản năng Bằng cách đó các học giả cho rằn g loài người bước vào một quá trìn h hai

m ặt Quá trìn h của tín h sử và quá trìn h của tính toàn cầu

(1) Nguyên Từ Chi: Từ định nghĩa của văn hoá. In trong cuốn Văn hoá học đại cương và cơ sở văn hoá Việt N a m, Sđd, tr 55

(2) J p Charrier Phân tâm học. Trẻ xuất bản, Sài Gòn, 1972, tr 14

Trang 28

Tính sử chính là khả năng tru y ền lại di sản của th ế hệ này cho th ế hệ sau - di truyền xã hội, di truyền văn hoá Tính toàn cầu do khả năng con người biết đến những nền văn hoá khác, học hỏi những thứ tiếng khác, gặp gõ những hình thức khác của nghệ th u ậ t hay chính trị so với những hình thức của

m ình và qua đó nh ận biết những con người khác bất kể thuộc nền văn hoá nào như những đồng loại của mình, nhờ vậy khám phá ra loài người Con người bao gồm phần xã hội và

ph ần sinh v ậ t (bản năng) - Con-người

IV - THÍCH NGHI VÀ BIỂN Đ ổ i T ự NHIÊN

Từng nền văn hoá, xét cho cùng, đểu là hậu quả của việc từng cộng đồng để tồn tại, phải thích ứng với thiên nhiên bao quanh nó(1)

Mối quan hệ của con người với tự nhiên là môi quan hệ nhiều chiều, môì quan hệ thích nghi, không thích nghi và biên đổi (tự nhiên, xã hội và chính mình)

(1) Nguyễn Từ Chi: Từ định nghĩa của văn hoá, Sđd, tr 55

Trang 29

Con người là một sinh vật nhìn về phía trước, m ắt hưóng

về tương lai Con người xưa nay vẫn sông trong nguy hiểm kể

từ thời tổ tiên xa xưa n h ấ t của loài người, đặt những môc đầu tiên trê n con đường tiến hoá của giông nòi

Kể từ buổi bình m inh của lịch sử, con người đã không ngừng vượt lên trên các khả năng và các giới hạn của mình

Có thể coi đặc điểm đó chính là động cơ tiến hoá của loài người Xu hướng chung của cọn người là thích nghi với cả những điều kiện sông mà môi trường tự nhiên áp đặt lẫn những thách thức mà con người tự đ ặt ra Loài người xuất hiện muộn trên trá i đất, tuy vậy bàn tay và khôi óc, con tim con người đã gây ra những biến đổi rộng khắp - trong không khí, nước và đất, trong các giới sinh vật khác, trong toàn bộ hệ thông các yếu tô" tác động qua lại và liên quan chặt chẽ với

n h au tạo th à n h môi trường sông

Có bôn giai đoạn sinh th ái trong lịch sử mốỉ quan hệ giữa con người với môi trường, cả về tác động của xã hội đối với môi trường tự nhiên lẫn điều kiện sông của con người Đó là giai đoạn thu lượm, giai đoạn đầu nông nghiệp, giai đoạn đầu đô thị, giai đoạn công nghiệp hiện đại(1)

Trong giai đoạn I, thoạt đầu tổ tiên con người hoà nhập vào môi trường sông rấ t giông cách của các loài động vật khác Sau đó, cách đây gần 500.000 năm, con người biết sử dụng lửa Đây là sự kiện có tác động sinh thái quan trọng, lửa đánh dấu một sự thay đổi về chất trong quan hệ giữa con người với môi trường Song ảnh hưởng sinh th ái chỉ giới hạn ở sự phá hoại của lửa vì môi trường dễ dàng hấp th ụ những hoá chất do

gỗ cháy sinh ra mà không bị ảnh hưởng bao nhiêu Từ đây.(n Stephen Boyden, Malcolm Hadley: Bàn tay con người, trong thông tin UNESCO, 1986, tr 35-38

Trang 30

con người trở th à n h một th ế lực sinh th ái đáng kê và cộng đồng con người không hoà nhập vào hệ sinh thái- khu vực của

m ình giông như những động vật khác nữa Ngoài lửa, sự bành trướng của con người cũng là một tác động sinh th ái nổi b ật tro n g giai đoạn này

Giai đoạn II (cách đây khoảng 12 nghìn năm) Đây là giai đoạn th u ầ n hoá súc v ật và cây trồng Con người trỏ th à n h một sinh v ật đã có thể điều khiển có chủ ý các quá trìn h 9Ình học để phục vụ mình Bàn tay con người đã làm biến đổi bề m ặt trá i đất, thay đổi th ảm thực vật, gây ra xói mòn, thay đổi cơ cấu cây, con Lối sông định cư làm th ay đổi bản chất mối quan hệ giữa con người với các loài sinh v ật khác gây nên những bệnh

tậ t mới mà trong lối sông trưóc đó đã không th ể có

Cả hai giai đoạn đầu đều có hai đặc điểm sinh th ái mà các

xã hội hiện đại không có Đó là tỉ lệ sử dụng năng lượng ngoại

th ể (chủ yêu là lửa) th ay đổi song song với tỉ lệ p h á t triển dân sô; h oạt động của con người tác động không đáng kể vào chu trìn h S in h -Đ Ịa-H o á

Giai đoạn III (cách đây khoảng 5 nghìn năm) Một loạt thay đổi quan trọng liên quan tới việc tổ chức xã hội và lôi sông của các th à n h viên xã hội Sự hình th àn h đô thị và lôi sông đô thị làm thay đổi cơ cấu thức ăn, việc chuyên môn hoá lao động trở th à n h thông lệ Tuy vậy sinh quyển và phần lớn các hệ sinh

th ái của con người đều ỏ trong trạ n g thái cân bằng động

Giai đoạn IV: Tỉ lệ gia tăn g mức sử dụng năng lượng không còn song song với tỉ lệ p h át triển dân sô Mức tiêu thụ năn g lượng tăn g nh an h gấp đôi tỉ lệ tăn g dân sô', các chu trìn h

S in h -Đ ịa - Hoá ở nhiều vùng không còn nguyên vẹn* nữa Thô cân bằng đã bị phá vỡ ở nhiều nơi trên trá i đất

Để tồn tại, các dân tộc, các cộng đồng người phải vượt qua

31

Trang 31

sự cản trở mà thiên nhiên gây ra Song khác với loài vật, con người không thể th u ần túy bằng bản năng vượt qua như các động v ật khác, mà phải dùng những biện pháp kĩ th u ậ t khác

n h au để thích nghi, biến đổi tự nhiên, buộc 11Ó không còn là thiên nhiên như cũ nữa, b ắt nó phục vụ lại mình Những biện pháp đó có thể gọi là: Chiến lược thích nghi Chính kết quả hay h ậu quả của chiến lược thích nghi này tác động không nhỏ tới việc hình th à n h những n ét đặc th ù của một bản sắc văn hoá, mô thức ứng xử của một tộc người Sự khác nhau về văn hoá giữa các dân tộc hay các nhóm, cộng đồng người được quy định bởi nhiều yếu tô" trong đó có nguyên nhân do con người là một sinh v ật có tư duy, có ý thức, có ngôn ngữ và khả năng biểu tượng hoá, có mô hình h àn h động được lựa chọn (tương đốì tự do) chứ không chỉ có mô hình h àn h động theo bản năng như ph ần lớn các động vật khác và do sự khác nhau về môi sinh C hính từ sự khác n h au về môi sinh này đã giúp cho các

n h à nghiên cứu văn hoá Việt Nam trong và ngoài nưóc khẳng định sự hiện hữu của một nền văn m inh và văn hoá Việt Nam bên cạnh nền văn m inh Hoàng Hà, văn hoá Trung Hoa Bản sắc văn hoạ của từng cộng đồng, từng dân tộc được khắc hoạ bởi những điều kiện lịch sử, xã hội và tâm lí dân tộc Theo nghĩa rộng, văn hoá là cái tự nhiên được biến đổi bởi con người, bao hàm cả kĩ th u ật, kinh tế để từ đó hình th àn h một

lối sông, một th ế ứng xử, một th ái độ tông quát của con người

đôi với vũ trụ , thiên nhiên và xã hội, là vai trò của con người tro n g vũ trụ đó, với một hệ thông những chuẩn mực, những giá trị, nhừng biểu tượng, những quan niệm tạo nên phong cách diễn tả tri thức và nghệ th u ậ t của con người Như vậy, thì phải x u ất p h át từ những điều kiện tự nhiên, rồi sau đó những điều kiện lịch sử để n h ận nhìn về cội nguồn và bản sắc văn hoá Viột Nam Trong những điều kiện đó, văn hoá Việt

Trang 32

N am khác và không phải là bản sao của văn hoá T ru n g Quôc

V ăn hoá V iệt Nam , văn m inh sông Hồng và văn hoá T rung Quốc khác n h a u từ căn bản Cội nguồn của văn hoá V iệt Nam

là n h ữ n g điều kiện của vùng n h iệt ẩm - gió m ùa Cội nguồn của văn hoá T ru n g Quổc lại là điều kiện của đại lục lạnh, khô, lượng m ưa ít, lượng bốc hơi cao

V - ĐẶC ĐIỂM MỐI TRƯỜNG T ự NHIÊN, HỆ SINH THÁI VIỆT NAM VỚI VẤN ĐỂ BẢN SAC DÂN TỘC, BẢN SẢC VĂN HOÁ VIỆT NAM

V iệt N am là m ột quốc gia nằm trong k h u vực Đông Nam

Á V ùng Đông N am châu Á này bao gồm m iền chân núi

H im alay a và Thiên Sơn Các dòng sông lớn của k h u vực đều

b ắ t nguồn từ h a i dãy n ú i này H ạ lưu của các dòng sông ấy - Dương Tử, sông Hồng, MêCông, Chaophaya đều là những

v ùng đồng bằng m àu mỡ, đầy ph ù sa Đặc trư n g tiêụ biêu của vùng này là sự chênh lệch k h á lớn giữa bình nguyên và núi rừng, sự chênh lệch tương đốì nhỏ giữa bình nguyên và mật biển C hính n ét đặc trư n g này cùng với điều kiện k h í hậu nóng, ẩm, m ưa nhiều và có gió m ùa là cơ sở th u ậ n lợi cho việc

p h á t sinh nghề nông trồng lúa nước từ r ấ t sớm, với văn hoá Hoà Bình, văn hoá Bắc Sơn

V iệt N am "nằm giữa Đông Nam Á" (lục địa hải đảo) (Yves Lacoste) "là ngã tư đường của các cư dân và các nển văn minh" (Olov Janse) Việt Nam - Bán đảo Đông Dương là đầu cầu để mỏ vào Đông Nam Á từ hướng Ân Độ và T rung Quôc Tính ch ất bán đảo rõ n ét của Việt Nam thê hiện ở khí hậu nóng, ẩm, m ưa nhiều và có hai m ùa gió rõ rệt Địa hình Việt

N am trả i dài (khoảng 15 vĩ độ); núi rừng chiêm 2/3 diện tích, sông ngòi nhiều và phân bô" đều khắp Đồng bằng chỉ chiêm một tỉ lệ khiêm tôn (chưa đến 1/3 diện tích) Ngoài ra, bao

Trang 33

quanh hưóng Đông và Nam là bờ biển k hoảng hơn 2000 km Tây và Bắc bị chắn bởi núi rừng, trong đó q u an trọ n g n h ấ t là dãy núi Hoàng Liên Sơn và dãy núi Trường Sơn Cũng vì vậy

mà việc phân bô hệ thống động v ậ t cũng n h ư tậ p q u án canh tác dân tộc Việt Nam là khá tiêu biểu và đặc th ù T a có th ê vạch ra phổ tự nhiên Việt Nam (hay h ằn g số tự n h iên V iệt Nam) như sau:

Nhiệt — Am — Gió mùa

Trong đó cân bằng bức xạ ỏ V iệt N am q u an h n ăm dương,

độ ẩm gần như thường xuyên 100%

Đông Nám Á — Việt Nam được đặc trư ng bỏi hệ sinh th á i phồn tạp (một trong hai loại hình hệ sinh th á i tự nh iên của thê giói) Trong hệ sinh th á i phồn tạp chỉ số đa dạng giữa số giông loài và số cá thể rấ t cao, thực vật p h át triển hơn so với động v ậ t (động vật dễ bị dịch bệnh do nhiệt ẩm gió mùa) Trong thời kinh tế thu lượm, h ái lượm (phổ rộng) vượt trộ i hơn să n b ăn (bắt), sử dụng đạm thủy sản là chính (Trong các di chỉ khảo cổ học chủ yếu là dấu tích quả, h ạ t cây và các động v ậ t sống dưới nước như vỏ sò, vỏ ốc, xương cá Xương động v ậ t hiếm m à phân nhiêu là động vật vừa và nhỏ) Thời kin h tế nông nghiệp, trông trọt (đa canh) vượt trội hơn chăn nuôi Trong m ột h ệ sinh thai phôn tạp lại có nhiều vùng sinh th ái khác nhau Theo GS Đào Thế Tuấn, Việt Nam có To vùng: Đông Bắc V iệt Nam , Tây Bac Viẹt Nam, trung tầm Bắc Việt Nam (châu thổ sông Hồng), Bắc Trung Bộ Việt Nam (Thanh - Nghệ - Tĩnh), Trung T rung

Bộ Việt Nam (Bình - Trị - Thiên), Nam Trung Bộ V iệt N am (Quảng Nam - Ninh Thuận - Bình Thuận), Bắc Tây Nguyên, Nam Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ Còn theo GS Mai Đình Yên có 19 vùng Ví dụ: vùng đầm phá ven biển T rung

Bộ, vùng hải đảo ven bờ, xa bờ, vùng núi, vùng đồi, vùng Hà Nội, vùng thành phố Hồ Chí Minh

34

Trang 34

Từ góc độ địa lí — văn hoá, chúng ta có th ể khái q u á t địa

h ìn h V iệt N am — dài Bắc — Nam, hẹp Tây - Đông; đi từ Tây sang Đông có N úi - Đồi - T hung - C hâu thổ - Ven biển - Biển

và H ải đảo Đi từ Bắc vô Nam là các đèo cắt ngang Tây Đông

Sự đa dạng của môi trường sinh thái, điều kiện tự nhiên

là yêu tô" góp p h ần tạo nên sự đa dạng văn hoá Trong vô vàn yêu tô" tác động đến cuộc sổng hàn g ngày từ góc độ tự nhiên, các n h à nghiên cứu trong và ngoài nước hầu như đều nêu b ật hai tín h trội của văn hoá Việt Nam tru y ền thông: sông hưốc

và thực vật Văn m inh Việt Nam — nền văn m inh thực v ật (khái niệm của học giả Pháp P.Gourou) hay văn m inh thôn dã, văn hoá lúa nước tín h c h ất thực v ật (mà côt lõi là cây lúa) in dấu ấn đậm n ét trong đời sống hàn g ngày của con người Việt Nam n hư ở, đi lại, mặc và ăn Bữa ăn (bữa cơm) được mô hình hoá Cơm - R au - Cá cộng vối không có thói quen ăn sữa và các sản phẩm từ sữa động vật, không có tru y ền thông chăn nuôi đại gia súc lấy th ịt, chăn nuôi gắn vối trồng trọt, phục vụ trồng trọt Tính châ"t thực v ậ t còn th ể hiện rõ n ét trong đời sông tâm linh m à điển h ìn h là tục thờ cây Môi trường sông — nước được coi là m ột yếu tô" đặc biệt quan trọng khi xem xét về những vấn đề văn hoá, con người Việt Nam Có th ể ĩiói đặc trư n g nước chính là k ết quả tổng th ể của những đặc điểm về dịa Lí, địa h ìn h cũng như khí hậu Yếu tô" nước m ang tín h ch ất phổ q u á t và đặc th ù này đã tạo nên sắc th á i riêng biệt trong tập quán kĩ th u ậ t canh tác (đê, ao, kênh, rạch ), cư trú (làng Ven sông, trê n sông "vạn chài, từ chợ búa, bên" tới những đô thị ven sông, biển hay ngã ba, ngã tư sông ), ỏ (nhà sàn, nhà ttiái hìn h thuyền, n h à - ao, n hà thuyền ), ăn (cá nưóc ngọt, nước mặn, các loại nhuyễn thể ), tới tâm lí ứng xử (linh hoạt, tttểm m ại như nước — chữ dùng của GS Cao Xuân Huy), sinh hoạt cộng đồng (đua thuyền, bơi chải ), tín ngưỡng, tôn giáo

Trang 35

(thờ cá, rắn , th ủ y thần ), phong tục tập quán, th à n h ngữ, tục ngữ, ca dao, nghệ th u ậ t (chèo, tuồng, rối nước, hò, lí ) và tru y ề n thống.

Bên cạnh những ưu đãi, thiên nhiên cũng đ ặ t ra cho con người V iệt Nam, dân tộc Việt Nam vối không ít khó khăn,

th ách thức bằng những tai biến b ấ t ngờ, khí h ậu th ấ t thường,

lũ lụt, bão tố, ẩm thấp gây vô vàn dịch bệnh cho người, cho động vật, m ùa màng Cuộc đấu tra n h kiên cường, chông chọi

h àn g ngàn năm vối những thử thách này của thiên nhiên đã

h u n đúc nên tín h cách kiên cường, tin h th ầ n cố k ết cộng đồng của người Việt m à điển hình là quá trìn h chinh phục và khai

p h á châu thổ Bắc Bộ

CÂU HỎI

1 T h ế nào là môi trường tự nhiên ? Môi trường nhân tác/tạo Đặc điểm hệ sinh th á i V iệt Nam

2 Anh, chị hiểu th ế nào về bản năng và biện pháp văn hoá

xã hội để kiềm chế bản năng

3 Quan hệ của con người Việt Nam với môi trường tự nhiên Việt Nam thể hiện những sắc thái gì trong nền văn hoá dân tộc

Bài 3 VĂN HOÁ VÀ MÔI TRƯỜNG XÃ HỘI

Con người là cá nh ân không thể chia cắt được đồng thòi

là sinh vật có tín h xã hội cao nhất

Con người không chỉ sống cùng, sống vói tự nhiên mà còn

p hải sống cùng nhau, sống vối nhau tạo th àn h những cộng

Trang 36

đồng xã hội Con người không phải chỉ có những-quan hệ vổi

tự nhiên và thê giới các biểu tượng của tự nhiên Giữa con người và con người nảy sinh những quan hệ ngày càng phức tạp Loài người đã trải qua những hình thức tổ chức xã hội khác nhau, mà mức độ phức tạp của nó không th ể biểu thị bằng một m ũi tên th ẳn g đi lên Khi nghiên cứu môi trường xã hội, chúng ta cần lưu ý các khái niệm sau:

X ã quyển: Toàn bộ các th ể chế pháp lí, chính trị, kinh tế,

xã hội và nghề nghiệp tạo nên xã hội loài người Xã quyển sử dụng tru y ền bá công nghệ, chịu trách nhiệm về sự lựa chọn những hình thức p h á t triển thông qua việc quốc tế hoá kinh

tê và thương m ại để dần dần áp đặt một hệ thông quản lí toàn cầu

N h â n tác quyển: Các vấn để được quyêt định thê nào

trong xã quyển? Đây là một lĩnh vực mơ hồ hơn, kín đáo hơn, không phải bao giờ cũng có thể phân tích duy lí và thuộc vế một quyển khác nữa, tức thê giới các ý tưởng mà ta có thê gọi

là nhân tác quyển hay còn gọi là quyển tinh thần Từ nhân tác qưyển sinh ra các nền văn hoá, tôn giáo, các nền văn minh.Chính ở mức độ này hình thành một cách bí hiểm về nhận thức các tập tính của chúng ta, các khát vọng của chúng ta với môi trường và phát triên sinh thái học văn hoa, nghiên cưu moi tương tác, nhịp điệu giữa môi trường — con ngươi — văn hoa

Con người không chỉ sông trong môi trương sinh thai ma

°on sông cả trong môt môi trương khac Mọt moi trương đa dược hình th àn h từ ngàn xưa, đó là môi trường văn hoá mà người ta còn gọi là sinh thái văn hoá

Môi trường văn hoá: Văn hoá một khi đa hình thanh, cung

môi trường sống của con ngươi N gu moi trương tự nhien Vâ môi trường xã hội là điều kiện sự hình thành và p hát triển

Trang 37

của môi trư ờng văn hoá th ì ngược lại môi trường văn hoá mỗi

k h i đã x u ấ t h iện lại góp p h ần r ấ t lớn trong việc tạo ra th ế ứng

xử và lối ứng xử của con người trong việc không ngừng cải

th iệ n môi trư ờng tự nhiên và môi trường xã hội

Môi trư ờng văn hoá quen thuộc của một cộng đồng người, bao giờ cũng gắn với các tru y ề n thống đã có ý nghĩa trường tồn của m ột cộng đồng ấy và vói hệ thông các giá trị được toàn

th ể cộng đồng công nhận

I - XẢ HỘi: T ổ CHỨC CÁC QUAN HỆ NGƯỜI - NGƯỜI

Xã hội là to àn bộ nhữ ng nhóm người, những tập đoàn, những lĩnh vực hoạt động, nh ữ n g yếu tô" hợp th à n h một tổ chức được điều khiển bằng nhữ ng th ể chê n h ấ t định Theo Các Mác, tro n g tín h hiện thực của nó, con người là tổng hoà các

q u an hệ xã hội Xã hội được hiểu n h ư những cơ cấu và những chức năng Cơ cấu th ể hiện các tương quan giữa các th à n h

p h ần tạo nên xã hội, những tầ n g lớp, những giai cấp, những nhóm người Chức năng th ể hiện các hoạt động đáp ứng nh u cầu của xã hội, các h o ạt động ấy nằm trong một hệ thông Xã hội th a y đổi - th ay đổi về cơ cấu và chức năng(1)

Có th ể lấy ví dụ về cơ cấu và chức năng của gia đình:

Q uan niệm chung được nhiều người nghiên cứu đồng tình: Gia đình là tế bào của xã hội Thực ra, gia đình cũng đã là xã hội, một xã hội th u nhỏ m à quan hệ người - người trong đó dựa trê n một loạt những nguyên tắc tìn h cảm, dòng máu, lu ân lí, đạo đức, k in h tế Mối quan hệ người - người trong gia đình cũng có sự th ay đổi theo thời gian, phụ thuộc vào các hình thức hôn n h â n cụ thể

Trong xã hội loài người, các huyền thoại sáng th ế luận và

(1) Phạm Bích Hợp, Tâm lí dân tộc, tính cách và bản sắc, Nxb TP Hồ Chí Minh, 1993, tr.110

Trang 38

tôn giáo khác nhau đểu giông nhau ơ chô sáng tạo ra mọt cạp nam - nữ đầu tiên ở buổi sơ khai của loài người Một người đàn ông, một người đàn bà và con cái tạo nên hình anh gia đinh 'Tuy vậy, trở ngược dòng lịch sử ta thấy có những câu trúc gia đình rộng lốn hơn, phức tạp hơn có thê gọi là 1 gia đình mcl

r ộng", như bầy, thị tộc, tông tộc Theo nghĩa rộng nhât, gia đinh là cội nguồn và chốn nương náu của mỗi người, một thiết chế có lệ lu ậ t và tôn ti trậ t tự Từ bao đời nay, chính £pa đinh

đã tạo nên mối liên hệ xã hội bền vững nhất, nơi duy trì và lưu truyen những nét đặc trưng của văn hoá dân tộc, truyền thông

gia đình, truyền thông dòng họ và sự di truyên văn hoá.

Mối liên hệ gia đình ở nhiểu nưâc trong xã hội ngày nay

có khuynh hướng lỏng lẻo và hiện có nhiểu đôi thay Gia đình

bị th u hẹp dần va thay đổi tính chất Gia đình h ạ t nhân vối tư cách là đơn vị sản xuất dần thay th ế bằng một mô hình khác Trong xã hội xuất hiện những gia đình "thiếu" hoặc ch? có mo hoặc chỉ có cha Giai đoạn hiện đại có xu hướng dung hoa moi quan hệ giữa gia đình và tự do cá nhan

Cơ cấu và chức năng của gia đình cũng phụ thuộc vào điều kiện lieh sử cụ thể của từng dân tộc, từng cộng ông người Ví dụ gia đình của một số dân tộc Đông A có nên chung

là Nho giáo

Gia đình cổ truyền của người Hoa là một thể chế xã hội,

chính tri, là hình thức gia đình lổn "tứ đại ngũ đại đồng đường" va sự phục tùng tuyệt đối của người phụ nữ ôi vớidàn ông "tam tòng, tứ đức"

Gia đình (gia tộc) ngudi N hật cổ truyền l ,i là một thê che

nã h ộ ik in h tê hôn là mọt cộng đóng vê huỵét chông, nói kháo

dĩ, đó là một đơn vị kinh doanh'» Gia đình cổ truyền cùa

H) Dẫn theo Phạm Bích Hợp, Sđd, tr 85

39

Trang 39

người V iệt đa số là gia đình h ạ t nhân, người phụ nữ có vai trò

quan trọ n g (1)

II - CÁ NHÂN VÀ XẢ HỘI

Xã hội V iệt N am trong hàng ngàn năm là một xã hội nông nghiệp, nền văn hoá của nó cũng là nền văn hoá nông nghiệp Trong xã hội ấy, gia đình, họ hàng và cùng vổi gia đình họ

h àn g là làng mạc tạo th à n h đơn vị xã hội cơ sở Điều này ấn định một nguyên tắc ngàn năm gần như b ấ t di, b ấ t dịch - các giá trị gia đình và cộng đồng được đ ặ t trên các giá trị cá nhân

Cá n h â n bị hoà ta n trong cộng đồng, tách riêng ra, cá n h ân không có mảy m ay ý nghĩa

"ở xã hội ta, cá n h ân chìm đắm ở trong gia tộc cho nên

n h ấ t th iế t những lu ân lí đạo đức, chế độ văn vật, chính trị pháp lu ật, đều lấy gia tộc chủ nghĩa làm gỐc."('->

Giữa phương Đông (bao gồm cả Việt Nam) và phương Tây

có sự khác biệt về cách nhìn nhận vai trò của cá n h ân trong xã hội Phương Đông coi trọng vai trò của cộng đồng, phương Tây coi trọng vai trò cá nhân

Có ba nguyên lí cơ bản tập hợp con người th à n h xã hội, khiến con người trở th à n h sinh v ật xã hội(3> Nguyên lí cùng cội nguồn hay nguyên lí cùng dòng máu: Đây là "cương lĩnh tự nhiên" của loài người, là nguyên lí tiên nghiệm xuất hiện ngay

từ buổi đầu của lịch sử loài người Có thể gọi nguyên lí cùng

<” Nguyễn Từ Chi: Nhận xét bước đầu về gia đình của người Viêt In trong cuốn Văn hoá học đại cương và cơ sở văn hoá Viet Nam Sđd

Trang 40

dòng m áu trong lịch sử loài người là một nguyên lí liên đại hay đó là một h ằn g sô" của văn hoá dân gian Nguyên lí này, với thòi gian, được mở rộng từ phạm vi gia đình, gia Lộc ra phạm vi tộc người và thậm chí trong trường hợp ở Việt Nam,

ra cả phạm vi quốc gia^dân tộc Nguyên lí cùng chỗ: hay trong văn hoá Việt Nam người ta thường gọi là quan hệ hàng xóm láng giềng Nguyên lí này đóng vai trò quan trọng từ thời đại

đá mới hay thời Cách mạng nông nghiệp (cách đây khoảng 10.000 năm), khi con người có nhu cầu sông định cư và chuyên môn hoá lao động Trong văn hoá cổ truyền Việt Nam, cùng với nguyên lí cùng cội nguồn, nguyên lí cùng chỗ là hai nguyên lí nền tảng của các quan hệ xã hội, các tổ chức xã hội

mà ta có th ể gắn vối gia đình (gia tộc) và làng xóm

Nguyên lí cùng lợi ích: đây là nguyên lí của các quan hệ tần g lớp, giai cấp, nghề nghiệp, giói tính

III - s ự XẢ HỘI HOÁ CÁ NHÂN VÀ s ự NHẬP THÂN VÃN HOÁ

Con người - sinh vật xã hội ngoài di truyền sinh học (như mọi loài của th ế giới sinh vật) còn thừa hưởng một loại di truyền khác - đó là di truyền văn hoá thông qua giáo dục (giáo dục hiểu theo nghĩa rộng là sự truyền đạt văn hoá ngoài nhà trường và trong nhà trường) Trong trường hợp này, gia đình là môi trường văn hoá đầu tiên để cá thể người tióp nhận văn hoá của cộng đồng Con người nhập thân vàn hoá trước hết ngay từ khi còn trong bào thai mẹ ở Việt Nam việc giáo dục con trẻ từ trong trứng nước là di truyền truyền thông văn hoá lâu đời và tốt đẹp Những điều kiêng cữ, cấm kị đối với phụ nữ mang thai dều nhằm mục đích tạo cho đứa trẻ một môi trường văn hoá lanh manh và trong sáng Ngay tư the ki XVI ơ Viẹt Nam đã có sách về Thai giáo (của bà ngoại chúa Trịnh Tráng)

Đứa trẻ vừa sinh ra đã được sông và cảm thụ, hội nhập văn

Ngày đăng: 28/02/2023, 15:53

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w