1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự theo pháp luật tố tụng hình sự việt nam từ thực tiễn thành phố đà nẵng

81 965 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 81
Dung lượng 0,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Phân tích các quy định của pháp luật tố tụng hình sự về tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm hình sự - Phân tích thực trạng tranh luận tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự trên địa b

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

ĐỖ THỊ THU TRANG

TRANH LUẬN TẠI PHIÊN TÒA SƠ THẨM

VỤ ÁN HÌNH SỰ THEO PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, hoàn toàn do tôi thực hiện Các đoạn trích dẫn và số liệu được sử dụng trong luận văn đều được dẫn nguồn và có độ chính xác cao nhất trong phạm vi hiểu biết của tôi

Tác giả luận văn

ĐỖ THỊ THU TRANG

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ TRANH LUẬN TẠI PHIÊN TÒA SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ 7

1.1 Khái niệm, đặc điểm, chủ thể và các điều kiện bảo đảm tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự 7

1.2 Quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự 13

Kết luận Chương 1 28

CHƯƠNG 2 THỰC TIỄN TRANH LUẬN TẠI PHIÊN TÒA SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 29

2.1 Khái quát tình hình xét xử sơ thẩm vụ án hình sự trên địa bàn thành phố Đà Nẵng 29

2.2 Thực trạng tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự 32

Kết luận Chương 2 47

CHƯƠNG 3 CÁC YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TRANH LUẬN TẠI PHIÊN TÒA SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ 48

3.1 Các yêu cầu nâng cao chất lượng tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự 48

3.2 Các giải pháp nâng cao chất lượng tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự 53

Kết luận Chương 3 67

KẾT LUẬN 68

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 71

PHỤ LỤC 75

Trang 4

Xã hội chủ nghĩa

Trang 5

Bảng 2.2

Số lượng và tỷ lệ % bị cáo nhận được sự bào chữa của luật sư trong giai đoạn xét xử sơ thẩm từ năm 2011 đến năm 2015

38

Trang 6

1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong toàn bộ quá trình tố tụng hình sự, xét xử đóng vai trò trung tâm, thể hiện đầy đủ nhất bản chất của hệ thống tư pháp của mỗi nhà nước, là giai đoạn quyết định tính đúng đắn, khách quan của việc giải quyết vụ án, bảo vệ

lợi ích nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân Trong xét

xử, phiên tòa là giai đoạn có vai trò đặc biệt quan trọng và mang tính quyết định trong giải quyết vụ án, thực hiện các nhiệm vụ, mục đích tố tụng đặt ra, việc nâng cao chất lượng phiên tòa luôn luôn là một nhu cầu, một đòi hỏi cấp thiết khách quan

Tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự là một thủ tục tố tụng đóng vai trò quan trọng trong việc xác định hành vi phạm tội của bị cáo, tính chất, mức độ và hậu quả do hành vi phạm tội gây ra; là một trong những giai đoạn quan trọng có ý nghĩa quyết định để Hội đồng xét xử thảo luận khi nghị

án Việc tranh luận tại phiên tòa được quy định nhằm đảm bảo cho vị đại diện Viện kiểm sát và những người tham gia phiên tòa được phân tích, đánh giá chứng cứ của vụ án góp phần đề ra những biện pháp xử lý phù hợp nhất với pháp luật Việc tranh luận tại phiên tòa cũng là một phương tiện hữu hiệu để người bào chữa hoặc bị cáo tiến hành phân tích lập luận, đưa ra lý lẽ hợp lý,

sắc bén, có sức thuyết phục để bảo vệ bị cáo một cách hiệu quả nhất

Cùng với việc thực hiện chủ trương của Đảng về cải cách tư pháp, BLTTHS năm 2003 đã giành Chương XXI (từ Điều 217 - 221) quy định cụ thể và đầy đủ hơn về trình tự, thủ tục tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm Vì vậy, hoạt động tranh luận, đối đáp tại phiên toà nói chung và của Kiểm sát viên nói riêng với bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác đã có những chuyển biến tích cực, rõ nét Hoạt động tranh luận, đối đáp của Kiểm sát viên để bác bỏ các quan điểm không có căn cứ của bị cáo, người bào chữa

Trang 7

tự, thủ tục tranh luận tại phiên toà nói riêng không phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của các chủ thể tham gia tranh tụng; chưa có những nhận thức đúng, nhận thức đầy đủ về tranh luận đúng tại phiên tòa hình sự sơ thẩm vụ án hình sự; kỹ năng của các chủ thể tham gia tranh luận còn nhiều hạn chế, tinh thần trách nhiệm chưa cao;…

Đối với vấn đề tranh luận tại phiên tòa hình sự, đã có một số công trình khoa học quan tâm nghiên cứu ở phạm vi và mức độ khác nhau Tuy nhiên, các công trình này mới chỉ đề cập đến một số khía cạnh nhất định của vấn đề tranh luận như: địa vị pháp lý của các chủ thể tham gia tranh luận; thủ tục tranh luận tại phiên tòa; tranh luận tại phiên tòa hình sự sơ thẩm hoặc tại phiên tòa hình sự phúc thẩm,…mà chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện và đầy đủ cả về lý luận và thực tiễn về tranh luận tại phiên tòa hình sự sơ thẩm tại một địa phương cụ thể

Với những lý do nêu trên, học viên lựa chọn đề tài “Tranh luận tại phiên

tòa sơ thẩm vụ án hình sự theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng” để làm luận văn thạc sĩ luật học của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Từ khi BLTTHS năm 2003 có hiệu lực thi hành đến nay, vấn đề tranh luận tại phiên tòa hình sự được nhiều chuyên gia, nhà nghiên cứu trong lĩnh

Trang 8

luật Tố tụng hình sự Việt Nam” của Bùi Thị Hà (2010); Luận văn thạc sĩ luật

học “Chức năng, nhiệm vụ của Kiểm sát viên trong tranh tụng tại phiên tòa

hình sự sơ thẩm” của Hà Minh Hải (2007); “Hoàn thiện các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 liên quan đến tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm - cơ sở lý luận và thực tiễn” đề tài khoa học cấp cơ sở TAND tối cao

(2011), Chủ nhiệm - TS Nguyễn Đức Mai;…

Ngoài ra, còn có một số bài viết đăng trên các tạp chí chuyên ngành về

các vấn đề có liên quan đến tranh luận tại phiên tòa hình sự như: “Đặc điểm

mô hình tố tụng tranh tụng và phương hướng hoàn thiện mô hình Tố tụng hình sự ở Việt Nam” của TS Nguyễn Đức Mai (2009), Tạp chí TAND,(23-

24); Đinh Văn Quế (2004), “Vai trò của Hội đồng xét xử trong việc tranh

tụng tại phiên tòa sơ thẩm hình sự”, Tạp chí Tòa án nhân dân; Nguyễn Thị

Thúy Hằng (2014), Một số kiến nghị góp phần thực hiện có hiệu quả nguyên

tắc tranh tụng tại phiên tòa hình sự, Tạp chí Tòa án nhân dân; “Một số vấn đề tranh tụng trong tố tụng hình sự”, Tạp chí Khoa học pháp lý, số 1/2003 của

TS Lê Tiến Châu; “Bản chất của tranh tụng tại phiên tòa”, Tạp chí Khoa học pháp lý, số 4/2004 của PGS.TS Trần Văn Độ; “Một số giải pháp để đảm bảo

quyền và nghĩa vụ của người bào chữa khi tranh tụng trong phiên tòa xét xử hình sự”, Tạp chí Kiểm sát, số 17/2005 của tác giả Nguyễn Tiến Long

Các bài viết, công trình nghiên cứu trên đây là những tài liệu quý giá, giúp cho tác giả luận văn xây dựng và hoàn thiện các ý tưởng khoa học trong quá trình nghiên cứu đề tài này Tuy nhiên, vẫn chưa có tài liệu, công trình nào đi sâu nghiên cứu, đánh giá về mặt thực tiễn tại thành phố Đà Nẵng để chỉ

Trang 9

4

ra các nguyên nhân, những tồn tại, vướng mắc và qua đó đề xuất giải pháp hoàn thiện tranh luận tại phiên tòa theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam

Vì vậy, việc đi sâu nghiên cứu về tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình

sự từ thực tiễn Đà Nẵng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng về mặt lý luận cũng như thực tiễn

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và pháp luật về tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự, thực trạng tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự tại thành phố Đà Nẵng, luận văn đề xuất một số giải pháp nhằm bảo đảm tranh luận đúng tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nêu trên, luận văn thực hiện các nhiệm vụ:

- Phân tích những vấn đề lý luận về tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm vụ

án hình sự theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam như khái niệm, đặc điểm, phạm vi, nội dung, chủ thể, các điều kiện bảo đảm tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự

- Phân tích các quy định của pháp luật tố tụng hình sự về tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm hình sự

- Phân tích thực trạng tranh luận tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình

sự trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, chỉ ra những bất cập, vướng mắc trong thực tiễn

- Đề xuất một số giải pháp bảo đảm tranh luận đúng tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài này tập trung nghiên cứu nội dung tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm

Trang 10

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng các phương pháp cụ thể để làm rõ những nội dung cần nghiên cứu như: phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, phương pháp thống kê

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

7 Cơ cấu của luận văn

Ngoài Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm

3 chương:

Chương 1 Những vấn đề lý luận và pháp luật về tranh luận tại phiên tòa

sơ thẩm vụ án hình sự

Trang 11

6

Chương 2 Thực tiễn tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự trên

địa bàn thành phố Đà Nẵng

Chương 3 Các yêu cầu và giải pháp nâng cao chất lượng tranh luận tại

phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự

Trang 12

7

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ TRANH LUẬN TẠI PHIÊN TÒA SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ

1.1 Khái niệm, đặc điểm, chủ thể và các điều kiện bảo đảm tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự

Để làm rõ khái niệm tranh luận tại phiên toà sơ thẩm vụ án hình sự,

trước hết cần làm sáng tỏ các khái niệm “Tranh luận” Có quan điểm cho rằng Tranh luận tại phiên tòa là “Hoạt động của những người tham gia tố tụng (các

bên) tại phiên toà, trong việc trao đổi, bàn cãi các ý kiến về vụ án” [12, tr.807]

Luận tội được hiểu là “xem xét, cân nhắc để định tội” [12, tr.1059] Như

vậy, luận tội của KSV được hiểu là hoạt động của KSV theo quy định của pháp luật để thực hiện chức năng buộc tội đối với bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm Nếu cáo trạng (quan điểm của VKS truy tố bị can ra trước Tòa án) là sự mở đầu cho giai đoạn xét xử vụ án hình sự, thì tại phiên toà sơ thẩm lời luận tội của KSV (hình thức pháp lý thể hiện quan điểm của VKS về các vấn đề cần giải quyết trong vụ án) là sự mở đầu cuộc tranh luận, đối đáp giữa các chủ thể của bên buộc tội và bên bào chữa Ngoài việc trình bày lời luận tội, KSV còn phải đưa ra những chứng cứ, lập luận của mình để đáp lại ý kiến của những người tham gia tranh luận về nội dung luận tội và các vấn đề cần giải quyết trong vụ án

Theo Từ điển Tiếng Việt thì đối đáp là “trả lời lại” [43, tr.547]

Theo Từ điển Luật học thì: Tranh luận tại phiên tòa hình sự là các bên

(Kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng) đưa ra quan điểm về giải quyết vụ án, nhằm làm sáng tỏ các tình tiết của vụ án [12, tr.258]

Trang 13

8

Trong phần tranh luận tại phiên tòa hình sự dưới sự giám sát của HĐXX

và sự điều khiển của Chủ toạ phiên toà, các chủ thể của bên buộc tội (KSV, người bị hại, nguyên đơn dân sự,…) và của bên bào chữa (người bào chữa, bị cáo, bị đơn dân sự,…) chính thức đưa ra các chứng cứ, các quan điểm, lập luận của mình về các vấn đề cần giải quyết trong vụ án để làm cơ sở cho HĐXX đưa ra phán quyết về vụ án bảo đảm xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật

Từ những phân tích, khái quát trên đây, có thể rút ra khái niệm về tranh luận tại phiên tòa hình sự như sau: Tranh luận tại phiên tòa hình sự là một thủ tục bắt buộc của phiên tòa hình sự (sơ thẩm, phúc thẩm), trong đó các chủ thể của bên buộc tội và bên bào chữa đưa ra quan điểm, lập luận của mình về các chứng cứ, các tình tiết của vụ án đã được làm rõ tại phần xét hỏi và đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận quan điểm của mình và bác bỏ quan điểm của bên đối lập về hướng giải quyết các vấn đề trong vụ án giúp cho HĐXX ra phán quyết về vụ án đúng pháp luật

Pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam thực hiện chế độ hai cấp xét xử gồm: Xét xử sơ thẩm và xét xử phúc thẩm, nhưng tại phiên tòa hình sự sơ thẩm thì

ý nghĩa và nội dung của tranh luận được thể hiện một cách đầy đủ nhất

Hoạt động tranh luận tại phiên toà sơ thẩm được bắt đầu bằng việc KSV trình bày lời luận tội và kết thúc trước khi bị cáo trình bày lời nói sau cùng Tranh luận tại phiên tòa hình sự có một số đặc điểm sau đây:

Thứ nhất, Tranh luận tại phiên tòa hình sự sơ thẩm thể hiện không chỉ tính minh bạch, công khai và dân chủ của tố tụng hình sự mà còn thể hiện bản chất dân chủ của Nhà nước XHCN của dân, do dân và vì dân Việc tranh luận, đối đáp của KSV với bị cáo, người bào chữa và những người tham gia

tố tụng khác sẽ làm cho phiên tòa khách quan, sống động hơn nhằm nâng

Trang 14

xử vụ án hình sự Về mặt thời gian thì thủ tục tranh luận được bắt đầu ngay sau khi Chủ toạ phiên toà tuyên bố kết thúc phần xét hỏi tiếp đến KSV trình bày lời luận tội

Thứ ba, Cũng như hoạt động tố tụng khác, tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự có nội dung nhất định theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự Nội dung tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự bao gồm toàn bộ các quan điểm, lập luận về các vấn đề cần giải quyết trong vụ án hình

sự mà các chủ thể của bên buộc tội và bên bào chữa đưa ra tại phiên toà đề nghị HĐXX chấp nhận hoặc bác bỏ khi ra phán quyết về vụ án Nội dung tranh luận của các chủ thể tại phiên toà sơ thẩm hình sự cũng xoay quanh các vấn đề cần chứng minh trong vụ án được quy định tại Điều 63 BLTTHS năm

2003, bao gồm: Có hành vi phạm tội xảy ra hay không, thời gian, địa điểm và những tình tiết khác của hành vi phạm tội; Ai là người thực hiện hành vi phạm tội, có lỗi hay không có lỗi, do cố ý hay vô ý, có năng lực trách nhiệm hình sự hay không; mục đích, động cơ phạm tội; Những tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo và những đặc điểm nhân thân của bị can, bị cáo; Tính chất và mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra

Nội dung tranh luận, đối đáp của người bào chữa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác chủ yếu tập trung vào các nội dung lời luận tội của

Trang 15

10

KSV trình bày tại phiên toà

Là một trong những hoạt động tố tụng hình sự, tranh luận tại phiên tòa được thực hiện bởi những chủ thể nhất định Chủ thể tham gia vào quá trình tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự là những chủ thể tham gia phiên toà: Các chủ thể của bên buộc tội (KSV, bị hại, nguyên đơn dân sự,…); bên bào chữa (bị cáo, người bào chữa, bị đơn dân sự,…) và những người tham gia tố tụng khác (người giám định, người phiên dịch); người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan hoặc người đại diện hợp pháp của họ; người bảo vệ quyền lợi của đương sự

Tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự, xét đến cùng là tranh luận giữa bên buộc tội và bên bào chữa (gỡ tội) Vậy các bên buộc tội và bào chữa đã có chức năng và vai trò gì trong tranh luận? Dưới đây, luận văn lần lược phân tích chức năng và vai trò của chúng

Trong các chủ thể của bên buộc tội, KSV là chủ thể chính trong việc thực hiện chức năng buộc tội trong tố tụng hình sự Tại phiên tòa KSV thay mặt Nhà nước thực hiện quyền công tố nhằm buộc tội bị cáo và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động xét xử Vì vậy, tranh luận và đáp lại ý kiến của các chủ thể khác tham gia tranh luận tại phiên toà không chỉ là quyền

mà còn là nghĩa vụ của KSV

Tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự, ngoài đọc bản cáo trạng và tham gia xét hỏi, mở đầu phần tranh luận KSV trình bày lời luận tội, đề nghị kết tội bị cáo theo toàn bộ hay một phần nội dung cáo trạng hoặc kết luận về tội nhẹ hơn và đề xuất với HĐXX về hướng giải quyết các vấn đề cụ thể trong vụ án Như vậy, phụ thuộc vào diễn biến phiên toà tại phần xét hỏi, lời luận tội của KSV sẽ thực hiện theo một trong ba tình huống sau: giữ nguyên, thay đổi nội dung buộc tội (rút một phần quyết định truy tố hoặc kết luận về tội danh nhẹ hơn) hoặc rút toàn bộ quyết định truy tố

Trang 16

11

Có thể thấy rằng, nếu quyết định truy tố (cáo trạng) của VKS là căn cứ phát sinh giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, thì lời luận tội của KSV tại phiên tòa sơ thẩm là cơ sở để các bên tiến hành tranh luận về các vấn đề cần giải quyết trong vụ án

Các chủ thể thực hiện chức năng bào chữa tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự bao gồm: bị cáo, người bào chữa, bị đơn dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và người đại diện hợp pháp của họ

So với các chủ thể khác thuộc bên bào chữa thì bị can, bị cáo luôn là chủ thể giữ vị trí trung tâm và cũng là chủ thể có địa vị pháp lý bất lợi nhất Vì vậy, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể này, pháp luật đã dành cho bị can, bị cáo rất nhiều quyền hạn trong quá trình tố tụng hình sự Theo quy định tại Điều 11 BLTTHS năm 2003, thì bị can, bị cáo có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa cho mình, các cơ quan tiến hành tố tụng

có trách nhiệm bảo đảm cho bị can, bị cáo thực hiện quyền bào chữa theo quy định của pháp luật Trường hợp bị cáo bị truy tố về tội có khung hình phạt tử hình; bị cáo là người chưa thành niên hoặc người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất thì bắt buộc cơ quan tiến hành tố tụng phải yêu cầu Đoàn Luật

sư cử người bào chữa cho bị can, bị cáo

Người bào chữa có thể là: Luật sư; người đại diện hợp pháp cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo; Bào chữa viên nhân dân (khoản 1 Điều 56 BLTTHS năm 2003) Người bào chữa có các quyền và nghĩa vụ được quy định tại Điều

58 BLTTHS năm 2003 Vai trò của người bào chữa (Luật sư bào chữa) tại phiên toà cũng như ở phần tranh luận là rất quan trọng, tại đây người bào chữa chứng minh về sự vô tội hoặc làm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo; giúp bị cáo về mặt pháp lý nhằm bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của họ, thông qua đó góp phần bảo vệ pháp chế XHCN Ngoài ra, sự tham gia của Luật sư bào chữa tại phiên toà còn bảo đảm tính dân chủ, sự bình đẳng

Trang 17

Ngoài KSV, các chủ thể khác thuộc bên buộc tội (người bị hại, nguyên đơn dân sự, người đại diện và người bảo vệ quyền lợi của họ) cũng tham gia vào việc tranh luận Theo quy định của BLTTHS, những người này có các quyền và nghĩa vụ nhất định khi tham gia tố tụng, trong đó có quyền trình bày

ý kiến để bảo vệ quyền và lợi ích của mình

Chất lượng và hiệu quả tranh luận tại các phiên tòa sơ thẩm vụ án hình

sự còn chịu sự tác động của nhiều yếu tố khác nhau: sự hoàn thiện của pháp luật; trình độ chuyên môn; kỹ năng, đạo đức nghề nghiệp và tinh thần trách nhiệm của thẩm phán, kiểm sát viên; trình độ dân trí của những chủ thể khác tham gia tranh luận

Trang 18

Đến năm 1988, BLTTHS đầu tiên của nước ta ra đời và đã quy định tương đối đầy đủ và cụ thể về trình tự, thủ tục tranh luận tại phiên tòa Tuy nhiên, sau gần 15 năm thực hiện (đã được 3 lần sửa đổi bổ sung vào các năm

1990, 1992 và 2000), các quy định của BLTTHS năm 1988 nói chung và các

quy định liên quan đến tranh luận tại phiên toà nói riêng đã bộc lộ nhiều bất cập, hạn chế không đáp ứng được yêu cầu cải cách tư pháp ở nước ta trong

tình hình mới Vì vậy, ngày 26/11/2003 kỳ họp thứ 4 Quốc Hội khóa XI đã

thông qua BLTTHS mới (gọi là BLTTHS năm 2003 gồm 08 phần, 37 chương, 346 điều) có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2004 Sau khi Bộ luật này được ban hành, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đã ban hành nhiều văn bản dưới luật (các Nghị quyết số 03/2004/NQ-HĐTP ngày 02/10/2004, số 04/2004/NQ-HĐTP ngày 05/11/2004, số 05/2005/NQ-HĐTP ngày 08/12/2005 của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao hướng dẫn thi hành Phần thứ nhất

“Những quy định chung”, Phần thứ ba “Xét xử sơ thẩm”, Phần thứ tư “Xét xử phúc thẩm”;…) nhằm tạo sự thống nhất nhận thức và áp dụng các quy định

của Bộ luật này trong thực tiễn

Trang 19

14

1.2.1 Các quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 liên quan đến tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm

Bao gồm một số quy định mang tính nguyên tắc của tố tụng hình sự, một

số quy định chung và các quy định cụ thể tại Chương XXI (Điều 217-221) của Bộ luật này

Là một hoạt động tố tụng, tranh luận tại phiên tòa cũng chịu sự chi phối của các nguyên tắc chung của tố tụng hình sự, đặc biệt là một số nguyên tắc liên quan đến việc bảo đảm cho hoạt động tranh tụng, tranh luận tại phiên tòa nhằm giúp HĐXX xác định được sự thật khách quan và ra phán quyết đúng đắn, chính xác và có tính thuyết phục cao về vụ án Các nguyên tắc bao gồm: Bảo đảm quyền bình đẳng trước Tòa án; Bảo đảm quyền bào chữa của người

bị tạm giữ, bị can, bị cáo; xác định sự thật của Tòa án; suy đoán vô tội;…

“Bảo đảm quyền bình đẳng trước Tòa án” (Điều 19): Nguyên tắc này là

một biểu hiện cụ thể của nguyên tắc Hiến định “Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật” và được thể hiện rõ nét nhất ở giai đoạn xét xử vụ án tại

phiên tòa Theo nguyên tắc này thì “Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa,

người bị hại và những người tham gia tố tụng khác đều có quyền bình đẳng trong việc đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, đưa ra yêu cầu và tranh luận dân chủ trước Tòa án Tòa án có trách nhiệm tạo điều kiện cho họ thực hiện các quyền đó nhằm làm rõ sự thật khách quan của vụ án” Nguyên tắc đòi hỏi

Tòa án phải tôn trọng quyền của những người tham gia tố tụng không phân biệt người đưa ra chứng cứ là KSV hay bị cáo, người bị hại… Tòa án là người trọng tài công minh giữa bên buộc tội và bên bào chữa và phải có thái

độ khách quan trong đánh giá toàn diện, đầy đủ các chứng cứ về vụ án mà các bên đưa ra để có phán quyết phù hợp với các tình tiết khách quan của vụ án Quy định này phần nào đã khắc phục được tính hình thức, thiếu dân chủ và không bình đẳng giữa bên buộc tội và bên bào chữa trong quá trình xét xử nói chung và trong tranh luận tại phiên toà nói riêng

Trang 20

15

“Bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo” (Điều

11) Đây là nguyên tắc được ghi nhận tại Điều 132 Hiến pháp 1992 (đã được

sửa đổi, bổ sung) Theo nguyên tắc này, thì ngoài quyền tự bào chữa, người

bị tạm giữ, bị can, bị cáo còn có quyền nhờ người khác (luật sư, người đại diện hợp pháp, bào chữa viên nhân dân) bào chữa cho mình; các cơ quan tiến hành tố tụng có trách nhiệm bảo đảm để bị can, bị cáo có thể thực hiện được quyền này

Sự tham gia của người bào chữa (đặc biệt là luật sư) vào quá trình tố tụng hình sự nói chung và tại phiên toà nói riêng không chỉ bảo đảm sự bình đẳng thực tế giữa bên buộc tội và bên bào chữa mà còn là điều kiện quan trọng để bị cáo có thể bảo vệ được các quyền và lợi ích của mình trong quá trình xét xử vụ án cũng như trong tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự; bảo đảm để HĐXX có thể xác định được sự thật khách quan và có phán quyết chính xác về vụ án; góp phần bảo vệ pháp chế XHCN

“Xác định sự thật của Tòa án” (Điều 10) Theo nguyên tắc này thì “Cơ

quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án phải áp dụng mọi biện pháp hợp pháp để xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ, làm rõ những chứng cứ xác định có tội và chứng cứ xác định vô tội, những tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo”

Ngoài ra, nguyên tắc này còn xác định trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng Bị can, bị cáo có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội

Tuy nhiên, cần nhận thức đúng về trách nhiệm chứng minh của Tòa án là nhằm thực hiện chức năng xét xử chứ không phải để buộc tội bị cáo Mặt khác, hoạt động chứng minh tại phiên toà là cuộc điều tra công khai nhằm kiểm tra, đánh giá độ tin cậy, tính khách quan và tính liên quan của tất cả chứng cứ được thu thập về vụ án làm cơ sở để HĐXX xác định sự thật khách

Trang 21

16

quan và ra phỏn quyết chớnh xỏc về vụ ỏn Vỡ vậy, HĐXX cú thể thực hiện trỏch nhiệm này bằng cỏch trực tiếp xột hỏi hoặc giỏn tiếp thụng qua hoạt động xột hỏi của cỏc bờn

“Suy đoỏn vụ tội” (Điều 9): Nội dung của nguyờn tắc này “Khụng ai bị

coi là cú tội khi chưa cú bản ỏn kết tội của Tũa ỏn đó cú hiệu lực phỏp luật”

đũi hỏi sự khỏch quan, vụ tư của HĐXX trong quỏ trỡnh xột xử vụ ỏn tại phiờn toà, khụng được phộp định kiến về sự cú tội của bị cỏo cho đến khi bản ỏn kết tội của Tũa ỏn đó cú hiệu lực phỏp luật Nú bảo đảm tớnh khỏch quan, vụ tư trong việc đỏnh giỏ chứng cứ, xem xột cỏc ý kiến tranh luận của cỏc bờn cũng như khi HĐXX nghị ỏn để ra phỏn quyết Mọi chứng cứ về vụ ỏn được thu thập hoặc được bổ sung tại phiờn tũa đều phải được thẩm tra cụng khai đầy đủ

mà khụng được xem nhẹ chứng cứ nào; trong quỏ trỡnh xột xử cũng như tranh luận tại phiờn toà, cỏc thành viờn HĐXX phải tiến hành cỏc thủ tục theo đỳng quy định của phỏp luật và phải luụn coi bị cỏo là người khụng cú tội

Ngoài ra, cỏc nguyờn tắc khỏc của tố tụng hỡnh sự (như: Bảo đảm phỏp chế XHCN, tụn trọng và bảo vệ cỏc quyền cơ bản của cụng dõn; Thực hành quyền cụng tố và kiểm sỏt việc tuõn theo phỏp luật trong tố tụng hỡnh sự;…) cũng chi phối ở phạm vi và mức độ nhất định đến quỏ trỡnh xột xử vụ ỏn núi chung và tranh luận tại phiờn toà núi riờng

Cỏc quy định chung về tranh luận tại phiờn tũa sơ thẩm vụ ỏn hỡnh sự của Bộ luật tố tụng hỡnh sự năm 2003

Cỏc quy định chung này bao gồm các quy định về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia tranh luận tại phiờn toà, cụ thể là:

Điều 37: Nhiệm vụ, quyền hạn và trỏch nhiệm của KSV: tham gia phiờn

toà; thực hiện việc luận tội; phỏt biểu quan điểm về việc giải quyết vụ ỏn, tranh luận với những người tham gia tố tụng tại phiờn toà; kiểm sỏt việc tuõn theo phỏp luật trong hoạt động xột xử của Tũa ỏn, của những người tham gia tố tụng;

Trang 22

17

Điều 39 và 40, quyền hạn và trỏch nhiệm Thẩm phỏn và Hội thẩm tham

gia xột xử cỏc vụ ỏn hỡnh sự; tiến hành cỏc hoạt động tố tụng thuộc thẩm quyền của HĐXX;

đơn dõn sự, bị đơn dõn sự, người cú quyền lợi nghĩa vụ liờn quan đến vụ ỏn;

hoặc người đại diện của họ trình bày ý kiến, tranh luận tại phiên toà để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình; quyền của người bào chữa,

người bảo vệ quyền lợi của đương sự;

Cỏc điều từ 63 đến 78, chứng cứ và chứng minh;

Điều 98 và Điều 99, ỏn phớ và trỏch nhiệm chịu ỏn phớ;

Cỏc quy định cụ thể tại Chương XXI của Bộ luật tố tụng hỡnh sự năm

2003 về tranh luận tại phiờn tũa sơ thẩm vụ ỏn hỡnh sự

Về trỡnh tự phỏt biểu khi tranh luận

Điều 217 quy định: Trỡnh tự phỏt biểu khi tranh luận

“1 Sau khi kết thỳc việc xột hỏi tại phiờn tũa, Kiểm sỏt viờn trỡnh bày lời

luận tội, đề nghị kết tội bị cỏo theo toàn bộ hay một phần nội dung cỏo trạng hoặc kết luận về tội nhẹ hơn; nếu thấy khụng cú căn cứ để kết tội thỡ rỳt toàn

bộ quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xột xử tuyờn bố bị cỏo khụng cú tội Luận tội của Kiểm sỏt viờn phải căn cứ vào những tài liệu, chứng cứ đó được kiểm tra tại phiờn toà và ý kiến của bị cỏo, người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự và những người tham gia tố tụng khỏc tại phiờn toà

2 Bị cỏo trỡnh bày lời bào chữa, nếu bị cỏo cú người bào chữa thỡ người này bào chữa cho bị cỏo Bị cỏo cú quyền bổ sung ý kiến bào chữa

3 Người bị hại, nguyờn đơn dõn sự, bị đơn dõn sự và người cú quyền lợi, nghĩa vụ liờn quan đến vụ ỏn hoặc người đại diện hợp phỏp của họ được trỡnh bày ý kiến để bảo vệ quyền và lợi ớch của mỡnh; nếu cú người bảo vệ quyền lợi cho họ thỡ người này cú quyền trỡnh bày, bổ sung ý kiến.”

Trang 23

18

Theo đó, khi bắt đầu phiên tranh luận, kiểm sát viên trình bày lời luận tội, sau đó đến lượt bị cáo trình bày lời bào chữa, nếu bị cáo có người bào chữa thì người này bào chữa cho bị cáo, tiếp đến là các chủ thể tham gia tranh luận khác đưa ra ý kiến tranh luận

Khoản 1 Điều 217 BLTTHS năm 2003 quy định kiểm sát viên đề nghị kết tội theo toàn bộ hay một phần cáo trạng cho thấy rằng thủ tục tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm đã rất coi trọng bản luận tội của kiểm sát viên, nó được xem là cơ sở cho các bên dựa vào đó tranh biện Ngay cả trong thủ tục đối đáp, bị cáo, người bào chữa và người tham gia tố tụng khác khi trình bày ý kiến cũng được luật đặt ra là xoay quanh bản luận tội

Lời bào chữa được thực hiện sau lời luận tội của kiểm sát viên Nếu người bào chữa có mặt tại phiên tòa thì người bào chữa sẽ trình bày lời bào chữa cho bị cáo, bị cáo bào chữa bổ sung Cần lưu ý là trường hợp bị cáo không nhờ người bào chữa, thì họ phải tự bào chữa hoặc lựa chọn phương thức từ chối bào chữa và chủ tọa phiên tòa không buộc bị cáo phải trình bày lời bào chữa

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự sẽ trình bày ý kiến để bảo vệ quyền lợi cho người bảo vệ Nếu không có người bảo vệ quyền

và lợi ích hợp pháp của đương sự thì người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan tự trình bày ý kiến để bảo

vệ quyền lợi cho mình

Tiếp theo Kiểm sát viên phải đưa ra những lập luận của mình đối với từng ý kiến có liên quan đến vụ án

Căn cứ vào Điều 217 BLTTHS năm 2003 để xác định trình tự phát biểu khi tranh luận, Chủ toạ phiên toà có quyền yêu cầu người phát biểu khi tranh luận phát biểu đúng những vấn đề liên quan đến vụ án và theo quy định tại Điều 217

Trang 24

19

Trong trường hợp vụ án được khởi tố theo yêu cầu của người bị hại quy định tại Điều 105 BLTTHS năm 2003, thì người bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của họ trình bày lời buộc tội tại phiên toà được thực hiện theo trình tự phát triển khi tranh luận tại phiên toà quy định tại Điều 217 BLTTHS và hướng dẫn tại mục 7 Phần I Nghị quyết số 03/2004/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao, mục 7 Phần I Nghị quyết số 03/2004/NQ-HĐTP quy định

như sau: Theo quy định tại khoản 3 Điều 51 của BLTTHS thì "trong trường

hợp vụ án được khởi tố theo yêu cầu của người bị hại quy định tại Điều 105 của Bộ luật này thì người bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của họ trình bày lời buộc tội tại phiên tòa" BLTTHS không quy định cụ thể người bị hại hoặc

người đại diện hợp pháp của họ trình bày lời buộc tội tại phiên tòa vào lúc nào Tuy nhiên, việc người bị hại hoặc người dại diện hợp pháp của họ trình bày lời buộc tội tại phiên tòa phải thực hiện theo đúng quy định chung của BLTTHS

về phiên tòa sơ thẩm; do đó, việc người bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của họ trình bày lời buộc tội tại phiên tòa được thực hiện theo trình tự phát biểu khi tranh luận tại phiên tòa quy định tại Điều 217 của BLTTHS năm 2003 Trong phần tranh luận tại phiên sơ thẩm bị cáo có quyền trình bày lời bào chữa Nếu bị cáo có người bào chữa thì người này bào chữa cho bị cáo và

bị cáo có quyền bào chữa bổ sung Trường hợp bị cáo có nhiều người bào chữa thì một người trong số họ trình bày lời bào chữa và những người khác bào chữa bổ sung Thực tiễn cho thấy khả năng tự bào chữa của bị cáo tại phiên tòa có nhiều hạn chế do đa số họ đều là người dân bình thường, khả năng nhận thức xã hội cũng như hiểu biết pháp luật còn hạn chế, điều kiện kinh tế khó khăn, tâm lý căng thẳng,…Vì vậy, sự giúp đỡ của người có trình

độ chuyên môn và nắm vững pháp luật (luật sư) là một bảo đảm quan trọng để

bị cáo có thể thực hiện quyền bào chữa của mình tại phiên toà hình sự nói chung và ở phần tranh luận nói riêng

Trang 25

20

Bị đơn dân sự, người đại diện hợp pháp hoặc người bảo vệ quyền lợi của

họ cũng có quyền tranh luận với KSV và các chủ thể khác về các vấn đề liên quan đến bồi thường thiệt hại hoặc các vấn đề liên quan đến quyền lợi, nghĩa

vụ của mình

Điều 218 Đối đáp

“Bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác có quyền

trình bày ý kiến về luận tội của Kiểm sát viên và đưa ra đề nghị của mình; Kiểm sát viên phải đưa ra những lập luận của mình đối với từng ý kiến

Người tham gia tranh luận có quyền đáp lại ý kiến của người khác Chủ toạ phiên toà không được hạn chế thời gian tranh luận, tạo điều kiện cho những người tham gia tranh luận trình bày hết ý kiến, nhưng có quyền cắt những ý kiến không có liên quan đến vụ án

Chủ tọa phiên tòa có quyền đề nghị Kiểm sát viên phải đáp lại những ý kiến có liên quan đến vụ án của người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác mà những ý kiến đó chưa được Kiểm sát viên tranh luận”

Sau lời luận tội của kiểm sát viên, lời bào chữa của người bào chữa và ý kiến của bị cáo, người tham gia tố tụng khác, các bên thực hiện việc đối đáp về những tình tiết, chứng cứ còn có mâu thuẫn, xung đột trong quan điểm Nếu không có hoạt động đối đáp thì mâu thuẫn không được làm rõ, dẫn đến không thể đưa ra các kết luận, đánh giá về những vấn đề cần phải giải quyết trong vụ

án Đối đáp còn tạo cơ hội thuận lợi cho bị cáo và người tham gia tố tụng được lập luận không bị hạn chế về thời gian, được trình bày hết ý kiến và đưa ra đề xuất của mình; đặc biệt là bên buộc tội phải có trách nhiệm trả lời, giải thích lý

do buộc tội, sự khác biệt trong quan điểm từ phía người bào chữa và người bị buộc tội và người tham gia tố tụng khác Điều 218 BLTTHS quy định bắt buộc Kiểm sát viên phải đưa ra lập luận đối với từng ý kiến Về phía người tham gia tranh luận có quyền đáp lại ý kiến của người khác tại phiên tòa Về phía chủ tọa

Trang 26

Yêu cầu của việc đối đáp:

Thứ nhất, phải tôn trọng sự thật khách quan, phải dựa trên những chứng

cứ của vụ án và quy định của pháp luật Kiểm sát viên trả lời, tranh luận với bị cáo, người bào chữa để làm rõ sự thật các tình tiết của vụ án Yêu cầu này đặt

ra cho Kiểm sát viên là khi có căn cứ xác định các tình tiết của vụ án là sự thật khách quan thì phải phân tích, đưa ra luận cứ để kết luận bảo vệ sự thật đó Thứ hai phải tôn trọng nguyên tắc dân chủ, bình đẳng Theo quy định của BLTTHS năm 2003 thì giữa Kiểm sát viên, người bào chữa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác bình đẳng trong việc đưa ra các chứng cứ,

đồ vật và đưa ra các nội dung tranh luận ( Điều 19)

Điều 219 Trở lại việc xét hỏi

“Nếu qua tranh luận mà thấy cần xem xét thêm chứng cứ thì Hội đồng xét

xử có thể quyết định trở lại việc xét hỏi Xét hỏi xong phải tiếp tục tranh luận”

Trong quá trình tranh luận các bên không được xét hỏi, nhưng HĐXX vẫn có thể quyết định trở lại việc xét hỏi khi cần xem xét thêm chứng cứ Xét hỏi xong phải tiếp tục tranh luận Thủ tục này là hết sức cần thiết, vì nếu việc xét hỏi thiếu sót thì phần tranh luận sẽ không toàn diện

Trang 27

22

Trong quá trình tranh luận, nếu xét thấy cần xem xét thêm chứng cứ mới thì Hội đồng xét xử có quyền trở lại việc xét hỏi, xét hỏi xong phải tiếp tục tranh luận

Sau khi những người tham gia tranh luận không còn trình bày gì thêm, chủ tọa phiên tòa tuyên bố kết thúc việc tranh luận và bị cáo được nói lời sau cùng Nếu trong lời nói sau cùng, bị cáo trình bày thêm tình tiết mới có ý nghĩa quan trọng đối với vụ án thì Hội đồng xét xử phải quyết định trở lại việc xét hỏi

Điều 221 Xem xét việc rút quyết định truy tố hoặc kết luận về tội nhẹ hơn

“1 Khi Kiểm sát viên rút một phần quyết định truy tố hoặc kết luận về

tội nhẹ hơn thì Hội đồng xét xử vẫn tiếp tục xét xử vụ án

2 Trong trường hợp Kiểm sát viên rút toàn bộ quyết định truy tố thì trước khi nghị án, Hội đồng xét xử yêu cầu những người tham gia tố tụng tại phiên tòa trình bày ý kiến về việc rút truy tố đó”

Theo quy định tại Điều 221, Điều 217 của BLTTHS năm 2003 thì cùng với việc luận tội nếu kiểm sát viên rút một phần quyết định truy tố hoặc kết luận về tội nhẹ hơn thì HĐXX vẫn tiếp tục xét xử vụ án Nếu kiểm sát viên rút toàn bộ quyết định truy tố thì trước khi nghị án, HĐXX yêu cầu những người tham gia tố tụng trình bày ý kiến về việc rút đó Khi nghị án, nếu HĐXX cho rằng việc rút quyết định truy tố đúng đắn thì ra bản án tuyên bị cáo không phạm tội; nếu thấy bị cáo có tội và rút quyết định truy tố không đúng, thì quyết định tạm đình chỉ việc xét xử và kiến nghị lên Viện kiểm sát cấp trên Trước hết, Kiểm sát viên trình bày lời buộc tội, đề nghị kết tội bị cáo theo toàn bộ hay một phần nội dung cáo trạng hoặc kết luận về tội danh nhẹ hơn Lời luận tội của Viện kiểm sát phải căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được kiểm tra tại phiên tòa, ý kiến của bị cáo, người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự và những người tham gia tố tụng khác Trong trường

Trang 28

1.2.2 Các quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 liên quan đến tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm

Để xây dựng nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Đảng

ta đã đề ra nhiều chủ trương cải cách tư pháp như: Nghị quyết số 08/NQ-TW ngày 02/1/2002 “Về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới” của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 08-NQ/TW), Nghị quyết số 48/NQ-TW ngày 26/5/2005 “Về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2020” của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 48-NQ/TW) , Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 “Về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020” của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 49-NQ/TW), Kết luận số 79/-KL/TW ngày 28/7/2010, Kết luận số 92/-KL/TW ngày 12/3/2014 của Bộ Chính trị; Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần X, XI

của Đảng Các Nghị quyết của Đảng nhấn mạnh: Cải cách mạnh mẽ thủ tục

tố tụng tư pháp theo hướng dân chủ, bình đẳng, công khai, minh bạch, chặt chẽ nhưng thuận tiện, đảm bảo sự tham gia và giám sát của nhân dân đối với hoạt động tư pháp; bảo đảm chất lượng tranh tụng tại các phiên tòa xét

xử, lấy kết quả tranh tụng tại tào làm căn cứ quan trọng để phán quyết bản

án, coi đây là khâu đột phá để nâng cao chất lượng hoạt động tư pháp; đồng

thời cải cách nhiều nội dung khác của tố tụng hình sự Đây là những định hướng quan trọng, chỉ đạo việc nghiên cứu, hoàn thiện các quy định của BLTTHS

Trang 29

24

Hiến pháp năm 2013 được Quốc hội khóa XIII thông qua tại kỳ họp thứ

6 đã thể hiện sâu sắc quan điểm của Đảng ta về tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm quyền con người, quyền công dân, bổ sung nhiều nguyên tắc tư pháp tiến bộ,

bổ sung và làm rõ hơn nhiệm vụ của Tòa án và Viện kiểm sát khi thực hiện chức năng Hiến định

Tổng kết thực tiễn hơn 10 năm thi hành đã khẳng định vai trò quan trọng của BLTTHS năm 2003 trong công cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm, góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ cuộc sống bình yên của nhân dân, tạo môi trường ổn định cho sự phát triển kinh tế - xã hội, hội nhập quốc tế, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN Mặc dù vậy, thực tiễn thi hành BLTTHS năm 2003 cũng bộc lộ những vướng mắc, bất cập

Thời gian qua, Quốc hội đã ban hành nhiều đạo luật liên quan đến tố tụng hình sự như: Luật tổ chức TAND, Luật tổ chức VKS nhân dân, Luật luật

sư, Luật trợ giúp pháp lý, Luật thi hành án hình sự… Quá trình xây dựng Dự

án BLTTHS phải quán triệt đầy đủ nội dung mới trong các đạo luật nêu trên

để đề xuất sửa đổi, bổ sung cho phù hợp, bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật

Chủ động hội nhập quốc tế đã trở thành nhu cầu nội tại của Việt Nam Việt Nam đã tham gia nhiều tổ chức quốc tế và trở thành thành viên của nhiều điều ước quốc tế trong lĩnh vực đấu tranh phòng, chống tội phạm

Từ những lý do trên, việc sửa đổi BLTTHS là khách quan, là cần thiết BLTTHS năm 2015 ra đời, gồm có 36 chương, 510 điều, nội dung sửa đổi, bổ sung rất lớn (176 điều mới, 317 điều sửa đổi, 26 điều bị bãi bỏ, 17 điều giữ nguyên)

Các quy định BLTTHS năm 2015 liên quan đến tranh luận tại phiên tòa

sơ thẩm vụ án hình sự:

Trang 30

25

BLTTHS năm 2015 đã bổ sung 5 nguyên tắc mới trong đó suy đoán vô tội (Điều 13), tranh tụng trong xét xử được bảo đảm (Điều 26), quy định cụ thể hơn, đầy đủ hơn về thủ tục tranh luận tại phiên tòa (Điều 322) nhằm bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong xét xử

BLTTHS năm 2015 đã quy định mở rộng diện chủ thể người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi gồm có: Luật sư, Bào chữa viên nhân dân, Trợ giúp viên pháp lý và Người đại diện của người bị buộc tội (đây là diện chủ thể mới, Điều 83)

Bãi bỏ các rào cản mang tính thủ tục hành chính, chuyển sang chế độ đăng ký thủ tục bào chữa Bỏ thủ tục xin cấp giấy chứng nhận bào chữa và thay bằng việc đăng ký thủ tục bào chữa Trong thời hạn 24h kể từ khi nhận đầy đủ giấy tờ hợp lệ (bản sao thẻ luật sư, chứng chỉ hành nghề…) cơ quan tiến hành tố tụng phải trả lời…(Điều 78) Đặc biệt, giấy chứng nhận bào chữa

sẽ có giá trị sử dụng trong suốt quá trình tham gia tố tụng (Khoản 6 Điều 78) Người bào chữa có quyền đề nghị tiền hành một số hoạt động tố tụng theo quy định của BLTTHS, đề nghị triệu tập điều tra viên và người tham gia tố tụng khác Đây là quy định mới nhằm nâng cao địa vị pháp lý của người bào chữa cũng như làm rõ trách nhiệm của điều tra viên trong quá trình tiến hành tố tụng (Điều 296)

Về quyền của người bào chữa, trong Điều 58 BLTTHS quy định, người

bào chữa có quyền tham gia hỏi, tranh luận tại phiên tòa Quyền được tham

gia hỏi, tranh tụng tại phiên tòa là quyền quan trọng, là cơ sở để phát huy

được vai trò tranh tụng của người bào chữa

Đối với vấn đề chứng cứ: BLTTHS năm 2015 có những điểm mới sau: Một là, phá bỏ sự độc quyền của các cơ quan tố tụng trong việc thu thập

chứng cứ; bổ sung người bào chữa và những người tham gia tố tụng có quyền thu thập, cung cấp chứng cứ (khoản 2 Điều 88) Đồng thời, quy định cụ thể

Trang 31

Hai là, bổ sung dữ liệu điện tử là một nguồn chứng cứ quan trọng và đặc

thù (điểm c khoản 1 Điều 87)

Các quy định BLTTHS năm 2015 về tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm vụ

án hình sự:

Trình tự tranh luận quy định tại BLTTHS năm 2003 quy định thành một phần riêng gọi là phần tranh luận, nhưng tranh luận quy định trong BLTTHS

năm 2015 nằm trong Phần bắt đầu phiên tòa

Điều 320 BLTTHS năm 2015 quy định trình tự phát biểu khi tranh luận,

bổ sung nội dung “Trường hợp vụ án được khởi tố theo yêu cầu của người bị

hại thì người bị hại hoặc người đại diện của họ trình bày, bổ sung ý kiến sau khi Kiểm sát viên trình bày luận tội

Luận tội của Kiểm sát viên được quy định tại Điều 321: “2 Nội dung

luận tội phải phân tích, đánh giá khách quan, toàn diện, đầy đủ những chứng

cứ xác định có tội, chứng cứ xác định vô tội; tính chất, mức độ nguy hiểm cho

xã hội của hành vi phạm tội; hậu quả do hành vi phạm tội gây ra; nhân thân

và vai trò của bị cáo trong vụ án; tội danh, hình phạt, áp dụng điểm, khoản, điều của Bộ luật hình sự, những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; mức bồi thường thiệt hại, xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp; nguyên nhân, điều kiện phạm tội và những tình tiết khác có ý nghĩa đối với vụ án

3 Đề nghị kết tội bị cáo theo toàn bộ hay một phần nội dung bản cáo trạng hoặc kết luận về tội nhẹ hơn; đề nghị mức hình phạt chính, hình phạt bổ sung, biện pháp tư pháp, trách nhiệm bồi thường thiệt hại, xử lý vật chứng

4 Kiến nghị các biện pháp phòng ngừa tội phạm và vi phạm pháp luật”

Trang 32

27

So với BLTTHS năm 2003 thì BLTTHS năm 2015 quy định cụ thể về nội dung bản luận tội của Viện Kiểm sát nhằm tăng trách nhiệm của Viện Kiểm sát, Kiểm sát viên trong việc luận tội, bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong xét xử

Điều 322 quy định cụ thể hơn, đầy đủ hơn về thủ tục tranh luận tại phiên tòa:

1 Bị cáo, người bào chữa, người tham gia tố tụng khác có quyền tr nh bày

ý kiến, đưa ra chứng cứ, tài liệu và lập luận của m nh để đối đáp v i Kiểm sát viên về những chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định v tội; t nh ch t, mức

độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; hậu quả do hành vi phạm tội gây ra; nhân thân và vai trò của bị cáo trong vụ án; những t nh tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm h nh sự, mức h nh phạt; trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp; nguyên nhân, điều kiện phạm tội và những t nh tiết khác có ý nghĩa đối v i vụ án

Bị cáo, người bào chữa, người tham gia tố tụng khác có quyền đưa ra đề nghị của mình

2 Kiểm sát viên phải đưa ra chứng cứ, tài liệu và lập luận để đối đáp đến cùng từng ý kiến của bị cáo, người bào chữa, người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa

Người tham gia tranh luận có quyền đáp lại ý kiến của người khác

3 Chủ toạ phiên tòa không được hạn chế thời gian tranh luận, phải tạo điều kiện cho Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa, bị hại, người tham gia tố tụng khác tranh luận, trình bày hết ý kiến nhưng có quyền cắt những ý kiến không liên quan đến vụ án và ý kiến lặp lại

Chủ tọa phiên tòa yêu cầu Kiểm sát viên phải đáp lại những ý kiến của người bào chữa, người tham gia tố tụng khác mà những ý kiến đó chưa được Kiểm sát viên tranh luận

Trang 33

28

4 Hội đồng xét xử phải lắng nghe, ghi nhận đầy đủ ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa, người tham gia tranh luận tại phiên tòa để đánh giá khách quan, toàn diện sự thật của vụ án Trường hợp không chấp nhận ý kiến của những người tham gia phiên tòa thì Hội đồng xét xử phải nêu rõ lý

do và được ghi trong bản án”

Đối với các trình tự, thủ tục trở lại việc xét hỏi (Điều 323), bị cáo nói lời nói sau cùng (Điều 324) cơ bản được sửa đổi, bổ sung về câu chữ, nội dung nhưng cơ bản là trên tinh thần nội dung quy định tại Điều 219, 220 BLTTHS

năm 2003

Điều 325 quy định về xem xét việc rút quyết định truy tố hoặc kết luận

về tội nhẹ hơn tại phiên tòa, giống như Điều 221 BLTTHS năm 2003, không sửa đổi bổ sung gì

Kết luận Chương 1

Chương 1 của luận văn tập trung phân tích một số vấn đề lý luận như: khái niệm, đặc điểm, phạm vi tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự, đồng thời cũng đã đi sâu phân tích các điều kiện bảo đảm tranh luận tại phiên

tòa sơ thẩm vụ án hình sự

Tác giả đã nêu ra các quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam hiện hành và đã được sửa đổi, bổ sung tại BLTTHS năm 2015 về tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm và phân tích làm sáng tỏ các quy định này

Trang 34

29

CHƯƠNG 2 THỰC TIỄN TRANH LUẬN TẠI PHIÊN TÒA SƠ THẨM

VỤ ÁN HÌNH SỰ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

2.1 Khái quát tình hình xét xử sơ thẩm vụ án hình sự trên địa bàn thành phố Đà Nẵng

Theo Báo cáo tổng kết công tác của Tòa án nhân dân hai cấp thành phố

Đà Nẵng từ năm 2011 đến năm 2015, tình hình xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của Tòa án hai cấp thành phố Đà Nẵng được thể hiện qua bảng tổng hợp sau:

Bảng 2.1 Tình hình xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của Tòa án nhân dân hai cấp

Tỷ lệ

% so với

án đã thụ lý

Số lượng (vụ án)

Tỷ lệ

% so với

án đã giải quyết

Số lượng (vụ án)

Tỷ lệ

% so với

án đã giải quyết

Số lượng (vụ án)

Tỷ lệ

% so với

án đã giải quyết

(Nguồn: Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng)

án hình sự với 1.643 bị cáo, giải quyết 962 vụ với 1.643 bị cáo, đạt tỷ lệ 100% Trong đó, ở giai đoạn sơ thẩm, Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng

Trang 35

30

thụ lý và giải quyết 62 vụ với 261 bị cáo, đạt tỷ lệ 100%; Tòa án cấp huyện thụ lý và giải quyết 574 vụ với 1.089 bị cáo, đạt tỷ lệ 100% số vụ Trong đó

có 05 vụ với 13 bị cáo bị hủy do sai, chiếm tỷ lệ 0,51%; án bị sửa do sai là 06

vụ với 15 bị cáo, chiếm tỷ lệ 0,62% số án đã giải quyết, không có trường hợp

bị oan “Các vụ án hình sự sơ thẩm được xét xử trong hạn luật định, đạt

100% số án thụ lý Quá trình giải quyết các vụ án được thực hiện đúng quy định của pháp luật TTHS và tinh thần cải cách tư pháp, đảm bảo cho những người tham gia tố tụng thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ của mình” [29]

vụ án hình sự với 1.810 bị cáo, đã giải quyết 1.064 vụ với 1.806 bị cáo, đạt tỷ

lệ 99,6% Trong đó, ở giai đoạn sơ thẩm, Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng thụ lý và giải quyết 51 vụ với 51 bị cáo, đạt tỷ lệ 100%; Tòa án quận huyện thụ lý 716 vụ với 1.265 bị cáo, giải quyết 715 vụ với 1.264 bị cáo, đạt tỷ lệ

99,8%

Trong số án sơ thẩm Tòa án thành phố Đà Nẵng giải quyết thì trả hồ sơ

điều tra bổ sung 12 vụ với 33 bị cáo, được chấp nhận 10 vụ (đạt tỷ lệ 83,3%)

Có 27 vụ với 46 bị cáo bị kháng cáo, kháng nghị, cấp phúc thẩm xét xử đều giữ nguyên án sơ thẩm, sửa án 10 vụ với 15 bị cáo, chủ yếu do phát sinh tình tiết giảm nhẹ mới (bồi thường thiệt hại sau khi xử sơ thẩm…)

Toà án quận huyện trả hồ sơ điều tra bổ sung 34 vụ với 70 bị cáo (được

chấp nhận 29 vụ, đạt tỷ lệ 85,3%), đưa ra xét xử 686 vụ với 1.119 bị cáo Có

298 vụ với 424 bị cáo kháng cáo, bị kháng nghị Kết quả xét xử phúc thẩm sửa án 55 vụ với 100 bị cáo, trong đó sửa do lỗi chủ quan 04 vụ, 03 vụ do điều tra không đầy đủ Còn lại là giữ nguyên án sơ thẩm, đình chỉ xét xử phúc

thẩm [30]

án hình sự với 1.822 bị cáo, đã giải quyết 1.031 vụ với 1.815 bị cáo, đạt tỷ lệ

Trang 36

31

99,7% số vụ Trong đó, ở giai đoạn sơ thẩm, Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng thụ lý và giải quyết 66 vụ với 163 bị cáo, đạt tỷ lệ 100%; tòa án cấp huyện thụ lý 668 vụ với 1.254 bị cáo, giải quyết 665 vụ với 1.247 bị cáo, đạt tỷ

lệ 99,5% số vụ

Trong số án sơ thẩm Tòa án thành phố Đà Nẵng giải quyết thì trả hồ sơ

điều tra bổ sung 10 vụ, được chấp nhận 9 vụ (đạt tỷ lệ 90%) Toà án quận huyện

trả hồ sơ điều tra bổ sung 29 vụ, được chấp nhận 24 vụ, đạt tỷ lệ 82,8% [31]

vụ án hình sự với 1.787 bị cáo, đã giải quyết 1.046 vụ với 1.778 bị cáo, đạt tỷ

lệ 99,8% số vụ Trong đó, ở giai đoạn sơ thẩm, Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng thụ lý và giải quyết 62 vụ với 122 bị cáo, đạt tỷ lệ 100%; Tòa án cấp huyện thụ lý 702 vụ với 1.249 bị cáo, giải quyết 762 vụ với 1.247 bị cáo, đạt

tỷ lệ 99,73% số vụ Trong số án sơ thẩm Tòa án thành phố Đà Nẵng giải quyết

thì trả hồ sơ điều tra bổ sung 12 vụ, được chấp nhận 12 vụ (đạt tỷ lệ 100%) Toà

án quận huyện trả hồ sơ điều tra bổ sung 40 vụ, được chấp nhận 34 vụ, đạt tỷ lệ

85% [32]

án hình sự với 1.637 bị cáo, đã giải quyết 987vụ với 1.626 bị cáo, đạt tỷ lệ 99,7% về số vụ và 99,3% về số bị cáo Trong đó, ở giai đoạn sơ thẩm, Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng thụ lý và giải quyết 66 vụ với 163 bị cáo, đạt tỷ

lệ 100%; tòa án cấp quận huyện thụ lý 664 vụ với 1.164 bị cáo, giải quyết 662

vụ với 1.154 bị cáo, đạt tỷ lệ 99,7% số vụ và 99% về số bị cáo

Trong số án sơ thẩm Tòa án thành phố Đà Nẵng giải quyết thì trả hồ sơ điều tra bổ sung 14 vụ, được chấp nhận 12 vụ (đạt tỷ lệ 85,7%) Toà án quận huyện trả

hồ sơ điều tra bổ sung 56 vụ, được chấp nhận 48 vụ, đạt tỷ lệ 85,7% [33]

Qua bảng thống kê cho ta thấy, trong 5 năm qua Tòa án nhân dân hai cấp thành phố Đà Nẵng đã thụ lý, giải quyết số lượng các vụ án hình sự tương đối lớn,

Trang 37

32

trong đó số lượng án bị hủy hoặc cải sửa chiếm tỷ lệ thấp, không có trường hợp nào xử oan người vô tội

2.2 Thực trạng tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự

2.2.1 Những kết quả đạt được từ thực tiễn tranh luận và nguyên nhân

Thực tiễn tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự trên địa bàn thành phố Đà Nẵng trong thời gian từ năm 2011 đến năm 2015 cho thấy tại phần tranh luận, HĐXX giữ vai trò trọng tài và không tham gia vào quá trình tranh luận của bên buộc tội và bên bào chữa Nếu ở phần xét hỏi Chủ toạ phiên toà thể hiện vai trò tích cực của mình trong việc xét hỏi cũng như trong việc điều khiển quá trình xét hỏi nhằm làm sáng tỏ các tình tiết của vụ

án, thì trong phần tranh luận Chủ tọa phiên toà chỉ giữ vai trò là người trọng tài điều khiển quá trình tranh luận, đối đáp của các bên bảo đảm tuân thủ trình tự, thủ tục mà pháp luật quy định và hướng hoạt động tranh luận tập trung vào các vấn đề cần giải quyết trong vụ án, đặc biệt là những vấn đề mà các bên có quan điểm khác nhau

Trong đó, điển hình như bị cáo Lê Quang H, sinh năm 1982; chỗ ở số 103 Phạm Tứ, phường Khuê Trung, quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng bị Viện

kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng truy tố về tội “Tàng trữ trái phép chất

ma túy” theo điểm e khoản 4 Điều 194 BLHS Tại phần tranh luận, đại diện

Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng giữ nguyên quan điểm truy tố đối

với bị cáo Lê Quang H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị

HĐXX áp dụng điểm e khoản 4, khoản 5 Điều 194; khoản 2 Điều 46 BLHS xử phạt bị cáo Lê Quang Hòa mức án 20 năm tù; về phần xử lý vật chứng, trả lại cho bà Hồ Thị Thanh Nh (là vợ của bị cáo) ½ giá trị xe mô tô biển kiểm soát 43G1-12077 Luật sư bào chữa cho bị cáo Lê Quang H thống nhất về tội danh

và điều luật mà Viện kiểm sát đã truy tố đối với bị cáo, tuy nhiên Luật sư đề nghị HĐXX áp dụng thêm tình tiết bị cáo khai báo thành khẩn được quy định

Trang 38

33

tại điểm p khoản 1 Điều 46 BLHS; đối với vật chứng là xe mô tô, tại phiên tòa,

cả bị cáo và bà Hồ Thị Thanh Nh đều xác định đây là tài sản riêng của bà Nh nên đề nghị HĐXX tuyên trả lại xe cho bà Hồ Thị Thanh Nh Kết quả xét xử, HĐXX chấp nhận ý kiến của Luật sư về áp dụng điểm p khoản 1 Điều 46 BLHS, đồng thời chấp nhận ý kiến của Kiểm sát viên về tịch thu sung công quỹ Nhà nước đối với ½ giá trị xe mô tô BKS 43G1-12077 HĐXX đã quyết định: Áp dụng điểm e khoản 4 Điều 194; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46

BLHS; xử phạt: Lê Quang H 20 (hai mươi) năm tù Về xử lý vật chứng: Áp

dụng Điều 41 BLHS; Điều 76 BLTTHS, tuyên tịch thu sung công quỹ Nhà nước đối với ½ giá trị xe mô tô BKS 43G1-12077, số khung: 164883, số máy:

164895 do bà Hồ Thị Thanh Nh đứng tên chủ sở hữu [35]

Chủ tọa phiên tòa không hạn chế thời gian tranh luận, đối đáp của các bên nhưng có những phiên tòa xét xử vụ án hình sự, một phần nội dung các bên tranh luận không liên quan đến vụ án thì Chủ tọa đã cắt nhũng nội dung

đó và yêu cầu các bên tranh luận vào nội dung cần tranh luận, đồng thời Chủ tọa phiên tòa cũng chấn chỉnh thái độ ứng xử không đúng hoặc thiếu văn hóa của những người tham gia tranh luận

Nhằm nâng cao chất lượng và mở rộng tranh tụng tại phiên tòa, hoạt động tranh luận của KSV tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự đã có những chuyển biến tích cực Với tư cách là chủ thể chính của bên buộc tội, KSV đã phát huy được vai trò, vị trí của mình góp phần đáng kể vào việc nâng cao chất lượng tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm thể hiện cụ thể ở một số điểm sau đây:

Thực tiễn tranh luận tại phiên tòa cho thấy, KSV đã nhận thức đúng và đầy đủ về bản chất, ý nghĩa của tranh luận đối với quá trình xét xử vụ án hình

sự và vai trò của mình trong việc thực hiện chức năng công tố tại phiên toà

Vì vậy, khi được phân công tham gia phiên toà, KSV đã dành thời gian nghiên cứu chứng cứ, tài liệu đã được thu thập có trong hồ sơ để nắm vững

Trang 39

34

nội dung vụ án; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; nguyên nhân, điều kiện phạm tội cũng như nhân thân của bị cáo; để từ đó xây dựng

dự thảo bản luận tội, đề cương xét hỏi, dự kiến những tình huống có thể xảy

ra tại phiên toà và hướng xử lý khi tranh luận, đối đáp phù hợp với diễn biến tại phiên toà

Thực tiễn tranh luận tại phiên tòa cũng cho thấy, KSV đã chủ động và tích cực hơn khi tham gia xét hỏi để kiểm tra các chứng cứ, tài liệu và các tình tiết về vụ án; ghi chép ý kiến, đề nghị của bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác và kịp thời bổ sung dự thảo luận tội Vì vậy, hoạt động tranh luận, đối đáp và đề xuất của KSV về các vấn đề cần giải quyết trong vụ án phù hợp với diễn biến tại phiên toà, có sức thuyết phục không chỉ đối với HĐXX

mà cả với những người tham dự phiên toà

Điển hình như bị cáo Nguyễn Thế S, sinh năm 1972; nơi cư trú: Trực

Cát 2, phường Tràng Cát, quận Hải An, thành phố Hải Phòng bị Viện kiểm

sát nhân dân thành phố Đà Nẵng truy tố về tội “Tàng trữ trái phép chất ma

túy” theo điểm b khoản 4 Điều 194 BLHS Luật sư Chế Giang S thuộc Đoàn

Luật sư thành phố Đà Nẵng bào chữa cho bị cáo Tại phần tranh luận, Luật sư nêu ý kiến không thống nhất việc áp dụng tình tiết “tái phạm nguy hiểm” theo điểm g khoản 1 Điều 48 BLHS đối với bị cáo, bởi bản án năm 2001 không áp dụng tính tiết “tái phạm” và mức án đối với bị cáo chỉ 20 tháng tù nên không

có cơ sở cho rằng bị cáo “tái phạm nguy hiểm” trong vụ án này Kiểm sát viên

đã đưa các chứng cứ lập luận như sau: Ngày 17.9.1994, bị cáo bị Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng xét xử 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 tháng Trong thời gian thử thách, ngày 08.02.1996 bị cáo tiếp tục phạm tội “Cướp tài sản công dân” (bị xét xử tại bản án số 36/HSST ngày 12.5.2000 của Tòa án nhân dân huyện An Hải, thành phố Hải Phòng), do đó bị cáo chưa được xóa án tích theo khoản 2 Điều

Trang 40

35

53 BLHS năm 1985 Do chưa được xóa án tích, trong thời gian từ năm 1996 đến 1998 bị cáo tiếp tục thực hiện hai vụ trộm cắp tài sản và bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử tại hai bản án (bản án số 91/HSST ngày 12.4.2001 và bản án số 174/HSST ngày 05/7/2001) Trong đó bản án sau cùng vào ngày 05.7.2001, Tòa án tổng hợp hình phạt của cả 3 bản

án trước, buộc bị cáo phải chấp hành mức hình phạt 110 tháng tù và bản án này bị cáo phạm tội thuộc trường hợp “tái phạm” Tính đến ngày bị cáo phạm tội trong vụ án này thì bản án số 174/HSST ngày 05/7/2001 chưa được xóa án tích, do đó bị cáo phạm tội thuộc trường hợp “tái phạm nguy hiểm” Kết quả, HĐXX chấp nhận ý kiến của Viện kiểm sát, đã áp dụng điểm b khoản 4; khoản 5 Điều 194; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48

BLHS Xử phạt bị cáo Nguyễn Thế S 20 (hai mươi) năm tù [34]

Chất lượng tranh luận, đối đáp của KSV đã có sự chuyển biến rõ nét như: KSV đã chú ý ghi chép ý kiến của bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác về nội dung luận tội, đặc biệt là những ý kiến khác với quan điểm của VKS Khi tranh luận, KSV đã bình tĩnh phân tích, lập luận có sức thuyết phục trên cơ sở các chứng cứ đã được kiểm tra tại phiên tòa và các quy định pháp luật để làm sáng tỏ sự thật khách quan về vụ án, bảo

vệ quan điểm truy tố của VKS

Ngoài ra, phương pháp tranh luận của KSV cũng có nhiều tiến bộ, linh hoạt thể hiện ở thái độ bình tĩnh, khiêm tốn, khách quan, bình đẳng và tôn trọng ý kiến của những người tham gia tố tụng; sử dụng thuật ngữ chính xác, lập luận ngắn gọn, rõ ràng, dễ hiểu và có sức thuyết phục nên từng bước đã khắc phục được hiện tượng “đao to, búa lớn” trong tranh luận, đối đáp

Đối với những vụ án xét xử lưu động hoặc án trọng điểm, khi tranh luận, đối đáp, KSV đã biết kết hợp giữa chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước

về xử lý tội phạm với đặc điểm tình hình thực tế của địa phương; chú ý phân

Ngày đăng: 08/11/2016, 14:12

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Dương Thanh Biểu (2007), Tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm, Nxb. Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm
Tác giả: Dương Thanh Biểu
Nhà XB: Nxb. Tư pháp
Năm: 2007
5. Nguyễn Mai Chi (2011), Tranh luận tại phiên tòa theo yêu cầu cải cách tư pháp, Luận văn thạc sĩ, Học viện Khoa học xã hội - Viện Khoa học xã hội Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tranh luận tại phiên tòa theo yêu cầu cải cách tư pháp
Tác giả: Nguyễn Mai Chi
Năm: 2011
6. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2011
7. Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2016
8. Đỗ Đức Hồng Hà (2009), Chỉ dẫn, tra cứu Bộ luật tố tụng hình sự, Nxb Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ dẫn, tra cứu Bộ luật tố tụng hình sự
Tác giả: Đỗ Đức Hồng Hà
Nhà XB: Nxb Thống kê
Năm: 2009
9. Đỗ Trung Hiếu (2013), Tranh tụng trong tố tụng hình sự qua thực tiễn Quảng Nam, Luận văn thạc sĩ, Học viện Khoa học Xã hội - Viện Khoa học xã hội Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tranh tụng trong tố tụng hình sự qua thực tiễn Quảng Nam
Tác giả: Đỗ Trung Hiếu
Năm: 2013
10. Nguyễn Thị Thúy Hằng (2014) “Một số kiến nghị góp phần thực hiện có hiệu quả nguyên tắc tranh tụng tại phiên tòa hình sự”, Tạp chí Tòa án nhân dân số 11, tr.1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số kiến nghị góp phần thực hiện có hiệu quả nguyên tắc tranh tụng tại phiên tòa hình sự”, "Tạp chí Tòa án nhân dân
11. Nguyễn Văn Hiển (2011), Về nguyên tắc tranh tụng trong tố tụng hình sự, Nxb Chính trị quốc gia – Sự thật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về nguyên tắc tranh tụng trong tố tụng hình sự
Tác giả: Nguyễn Văn Hiển
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia – Sự thật
Năm: 2011
12. Học viện Pháp lý thuộc Bộ Tư pháp (2006), Từ điển Luật học, Nxb Từ điển Bách khoa – Nxb Tư pháp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Luật học
Tác giả: Học viện Pháp lý thuộc Bộ Tư pháp
Nhà XB: Nxb Từ điển Bách khoa – Nxb Tư pháp
Năm: 2006
14. Khoa Luật - Đại học quốc gia Hà Nội (2001), Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam
Tác giả: Khoa Luật - Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2001
15. Nguyễn Hoài Nam (2010) “Thực trạng và hướng hoàn thiện chức năng xét xử của Tòa án trong Bộ luật tố tụng hình sự 2003”, Tạp chí Tòa án nhân dân số 16, tr.18 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng và hướng hoàn thiện chức năng xét xử của Tòa án trong Bộ luật tố tụng hình sự 2003”, "Tạp chí Tòa án nhân dân
16. Nguyễn Đức Mai (2009), “Đặc điểm mô hình tố tụng tranh tụng và phương hướng hoàn thiện mô hình Tố tụng hình sự ở Việt Nam”, Tạp chí TAND số 23-24 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm mô hình tố tụng tranh tụng và phương hướng hoàn thiện mô hình Tố tụng hình sự ở Việt Nam"”, Tạp chí TAND
Tác giả: Nguyễn Đức Mai
Năm: 2009
17. Đinh Thị Mai, (2014), Quyền của người bị hại trong tố tụng hình sự Việt Nam, NXB Khoa học Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyền của người bị hại trong tố tụng hình sự Việt Nam
Tác giả: Đinh Thị Mai
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội
Năm: 2014
18. Nguyễn Bằng Phi (2014) “Luận bàn về Tòa án là cơ quan xét xử, thực hiện quyền tư pháp ở Việt Nam”, Tạp chí Tòa án nhân dân số 15, tr.1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luận bàn về Tòa án là cơ quan xét xử, thực hiện quyền tư pháp ở Việt Nam"”, Tạp chí Tòa án nhân dân
19. Nguyễn Thái Phúc (2008), “Vấn đề tranh tụng và tăng cường tranh tụng trong tố tụng hình sự theo yêu cầu cải cách tư pháp”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật (số 8), tr. 6-8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề tranh tụng và tăng cường tranh tụng trong tố tụng hình sự theo yêu cầu cải cách tư pháp”, "Tạp chí Nhà nước và pháp luật
Tác giả: Nguyễn Thái Phúc
Năm: 2008
20. Đinh Văn Quế (2004), “Vai trò của Hội đồng xét xử trong việc tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm hình sự”, Tạp chí Tòa án nhân dân (số 01), tr. 14 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của Hội đồng xét xử trong việc tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm hình sự”," Tạp chí Tòa án nhân dân
Tác giả: Đinh Văn Quế
Năm: 2004
21. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1988), Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988
Tác giả: Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Năm: 1988
24. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1992), Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, NXB Sự thật - Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Tác giả: Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Nhà XB: NXB Sự thật - Hà Nội
Năm: 1992
25. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2013), Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, NXB Sự thật - Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Tác giả: Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Nhà XB: NXB Sự thật - Hà Nội
Năm: 2013
28. Nguyễn Trương Tín (2008), “Một số vấn đề về sự tham gia tố tụng của Kiểm sát viên tại phiên tòa hình sự sơ thẩm trong điều kiện cải cách tư pháp”, Tạp chí Tòa án nhân dân (số 19), tr. 12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về sự tham gia tố tụng của Kiểm sát viên tại phiên tòa hình sự sơ thẩm trong điều kiện cải cách tư pháp”, "Tạp chí Tòa án nhân dân
Tác giả: Nguyễn Trương Tín
Năm: 2008

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng  Tên bảng  Trang - Tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự theo pháp luật tố tụng hình sự việt nam từ thực tiễn thành phố đà nẵng
ng Tên bảng Trang (Trang 5)
Bảng  2.1. Tình hình xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của Tòa án nhân dân hai cấp - Tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự theo pháp luật tố tụng hình sự việt nam từ thực tiễn thành phố đà nẵng
ng 2.1. Tình hình xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của Tòa án nhân dân hai cấp (Trang 34)
Hình 3.1. Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng - Tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự theo pháp luật tố tụng hình sự việt nam từ thực tiễn thành phố đà nẵng
Hình 3.1. Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng (Trang 80)
Hình 3.3. Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng - Tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự theo pháp luật tố tụng hình sự việt nam từ thực tiễn thành phố đà nẵng
Hình 3.3. Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng (Trang 81)
Hình 3.4. Phòng xử án hình sự - Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ - Tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự theo pháp luật tố tụng hình sự việt nam từ thực tiễn thành phố đà nẵng
Hình 3.4. Phòng xử án hình sự - Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ (Trang 81)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w