1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Phân tích hình thái xã hồng vân

70 0 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân tích hình thái xã Hồng Vân
Trường học Trường Đại Học Xây Dựng
Chuyên ngành Kiến trúc và quy hoạch
Thể loại Luận văn
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 70
Dung lượng 9,23 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1. Phạm vi nghiên cứu (3)
    • 1.1. Ranh giới (3)
    • 1.2. Ranh giới nghiên cứu (3)
    • 1.3. Phạm vi thời gian (4)
  • 2. Phương pháp nghiên cứu (4)
  • II. GIỚI THIỆU CHUNG VÀ PHÂN TÍCH HÌNH THÁI XÃ HỒNG VÂN (0)
    • 1. Sơ đồ vị trí và mối liên hệ vùng (0)
      • 1.1. Sơ đồ vị trí xã Hồng Vân (0)
      • 1.2. Trong mối quan hệ vùng, có các mối quan hệ đáng chú ý sau (6)
    • 2. Lịch sử (7)
      • 2.1. Lịch sử hình thành (7)
      • 2.2. Văn hóa, di tích, danh nhân (0)
    • 3. Đặc điểm chung về hình thái phát triển kiến trúc (11)
      • 3.1. Kiến trúc các làng xã Hồng Vân (0)
      • 3.2. Kiến trúc và hình thái cổng làng (28)
      • 3.3. Kiến trúc phát triển Chùa (29)
      • 3.4. Kiến trúc Đền ,phủ (30)
      • 3.5. Kiến trúc Nhà thờ (36)
      • 3.6. Kiến trúc Nhà ở (39)
    • 4. Về mặt cảnh quan (0)
    • 5. Nhận xét (48)
    • 1. Vị trí khu vực (50)
    • 2. Phân tích hình thái kiến trúc cảnh quan (50)
      • 2.1. Phân tích đánh giá kiến trúc cảnh quan (50)
      • 2.2. Nhận xét kiến trúc cảnh quan (63)
      • 2.3. Sự thay đổi hình thái phát triển kiến trúc cảnh quan khu vực (0)
  • IV. Kết luận (0)
  • V. Tài liệu tham khảo (0)

Nội dung

Cấu trúc làng truyền thống Bắc Bộ Cấu trúc các làng thuộc xã Hồng Vân đều mang đậm hình thái phát triển của làng cổ Bắc Bộ xưa với một trục đường chính .Trên các trục đường chính là các

Phương pháp nghiên cứu

Thu thập tài liệu lịch sử, như bản đồ cổ và ảnh chụp cũ, là hoạt động quan trọng giúp bảo tồn di sản văn hóa Các nguồn lưu trữ này thường được lưu giữ tại thư viện, phòng truyền thống địa phương hoặc các kho lưu trữ cá nhân của nhà sử học, dân tộc học Việc tìm kiếm và bảo quản các tài liệu này không chỉ giúp nghiên cứu lịch sử mà còn góp phần gìn giữ giá trị văn hóa lâu dài.

Chụp ảnh, vẽ ghi các công trình kiến trúc, phân loại theo kiểu loại, đặc thù không gian, đối tượng ở, vị trí ở khu vực nào.

Thông qua điều tra trực tiếp tại hiện trường, trao đổi với người dân

Phương pháp phân tích sơ đồ hóa khu vực nghiên cứu

GIỚI THIỆU CHUNG VÀ PHÂN TÍCH HÌNH THÁI XÃ HỒNG VÂN

Hình 1 Sơ đồ vị trí xã Hồng Vân 1.2 Trong mối quan hệ vùng, có các mối quan hệ đáng chú ý sau:

Hồng Vân là xã nằm ở phía đông của Huyện Thường Tín, cách trung tâm

Hà Nội 18 km về phía Nam Với chiều dài hơn 4,5 km, chiều rộng khoảng

Dòng sông Hồng chảy qua ôm lấy sườn phía Đông của xã từ Bắc xuống Nam, mang phù sa hàng ngàn năm tạo nên vùng đất màu mỡ nuôi sống người dân Hồng Vân Xã còn có đường 427 liên tỉnh và hệ thống giao thông đường thủy Sông Hồng, tạo điều kiện thuận lợi thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội địa phương.

Diện tích đất tự nhiên toàn xã là 420,71ha.

Xã có diện tích đất canh tác là 182ha, gồm 6 thôn: Xâm Thị, Xâm Xuyên, Cơ Giáo, Cẩm Cơ, La Thượng và Vân La, với tổng số 1.699 hộ và 5.748 người dân Địa phương có hai tôn giáo chính là đạo Phật và đạo Thiên chúa giáo, trong đó có một thôn công giáo toàn tòng; đồng thời, 6/6 làng và 4 cơ quan được công nhận đạt danh hiệu làng văn hóa và cơ quan văn hóa, góp phần nâng cao đời sống tinh thần cộng đồng Các làng nghề sinh vật cảnh đã được công nhận, góp phần phát triển kinh tế địa phương Các trường Mầm Non, Tiểu học, THCS đều đạt chuẩn quốc gia, đảm bảo chất lượng giáo dục cho học sinh Đảng bộ xã gồm 167 đảng viên hoạt động tại 12 chi bộ, trong đó có 6 chi bộ khu dân cư, thể hiện sự đoàn kết và lãnh đạo vững mạnh của địa phương.

3 chi bộ nhà trường, 1 chi bộ cơ quan xã, 1 chi bộ trạm y tế, 1 chi bộ HTX Hoa cây cảnh và Dịch vụ Hồng Vân.

Xã nằm trong vùng đồng bằng, có địa hình thấp dần từ Bắc xuống Nam và từ Tây sang Đông, tạo điều kiện thuận lợi cho hệ thống tưới tiêu chủ động Địa hình của xã khá bằng phẳng, với độ cao giữa các khu vực không chênh lệch đáng kể, phù hợp cho phát triển nông nghiệp và giao thông thuận lợi.

Xã Hồng Vân cũng như nhiều địa phương khác thuộc đồng bằng Bắc

Bộ, chịu ảnh hưởng trực tiếp của khí hậu nhiệt đới, gió mùa Thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp.

 Nhiệt độ trung bình năm 23,8 0 C

 Nhiệt độ trung bình cao nhất 35 °C - 37 0 C (tháng 6 - tháng 8), thường kèm theo mưa to.

 Nhiệt độ trung bình thấp nhất có năm xuống dưới 10 0 C (tháng 12 đến tháng 1), có khi kèm theo sương muối.

Gió: Hướng gió chủ đạo: gió Đông Nam về mùa hè, gió Đông Bắc về mùa đông. Vận tốc gió trung bình 2 m/s.

Bão: Xã ít chịu ảnh hưởng trực tiếp của bão, chủ yếu ảnh hưởng gây mưa lớn, hàng năm thường có 5-7 cơn bão gây mưa lớn.

Mưa trung bình hàng năm tại khu vực này thường dao động từ 1.600 đến 1.800 mm, mang lại lượng nước phong phú cho hệ sinh thái địa phương Độ ẩm không khí trung bình hàng năm đạt khoảng 83%, với mức thấp nhất khoảng 80% vào tháng 1 và cao nhất khoảng 88% vào tháng 3, thể hiện đặc điểm khí hậu ẩm ướt góp phần duy trì sự đa dạng sinh học và sự phát triển của thực vật tại vùng này.

Nắng: Tổng số giờ nắng trong năm khoảng 1.600 - 1.800 giờ/năm.

Thường Tín từng là tên của một phủ thuộc Trấn Sơn Nam từ thời Lê đến nhà Nguyễn, nằm trong khu vực tỉnh Hà Nội và sau này thuộc tỉnh Hà Đông Phủ Thường Tín bao gồm các huyện Thanh Trì, Thượng Phúc (nay là Thường Tín) và Phú Xuyên.

Ngày 21 tháng 4 năm 1965, huyện Thường Tín thuộc tỉnh Hà Tây (gồm 32 xã: Chương Dương, Đại Áng, Dũng Tiến, Duyên Thái, Hà Hồi, Hiền Giang, Hòa Bình, Hồng Vân, Khánh Hà, Lê Lợi, Liên Ninh, Liên Phương, Minh Cường, Nghiêm Xuyên, Ngọc Hồi, Nguyễn Trãi, Nhị Khê, Ninh Sở, Quất Động, Tả Thanh Oai, Tân Minh, Thắng Lợi, Thống Nhất) chính thức được thành lập, phản ánh bước phát triển quan trọng trong lịch sử hành chính của tỉnh Hà Tây.

Nhất, Thư Phú, Tiền Phong, Tô Hiệu, Tự Nhiên, Văn Bình, Vạn Điểm, Văn Phú, Vân Tảo, Văn Tự.

Ngày 29 tháng 12 năm 1975, huyện Thường Tín thuộc tỉnh Hà Sơn Bình do hợp nhất 2 tỉnh Hà Tây và Hòa Bình.

Ngày 29 tháng 12 năm 1978, 4 xã ở phía bắc huyện Thường Tín là: Đại Áng, Liên Ninh, Ngọc Hồi, Tả Thanh Oai được sáp nhập vào huyện Thanh Trì.

Huyện Thường Tín còn lại 28 xã, bao gồm các xã như Chương Dương, Dũng Tiến, Duyên Thái, Hà Hồi, Hiền Giang, Hòa Bình, Hồng Vân, Khánh Hà, Lê Lợi, Liên Phương, Minh Cường, Nghiêm Xuyên, Nguyễn Trãi, Nhị Khê, Ninh Sở, Quất Động, Tân Minh, Thắng Lợi, Thống Nhất, Thư Phú, Tiền Phong, Tô Hiệu, Tự Nhiên, Văn Bình, Vạn Điểm, Văn Phú, Vân Tảo, Văn Tự.

Ngày 19 tháng 3 năm 1988, thị trấn Thường Tín chính thức được thành lập dựa trên việc điều chỉnh một phần diện tích tự nhiên và nhân khẩu của các xã Văn Bình, Văn Phú và Hà Hồi Sự kiện này đánh dấu bước phát triển quan trọng trong việc mở rộng và nâng cao hạ tầng của khu vực, góp phần thúc đẩy kinh tế và dân cư địa phương ngày càng phát triển bền vững.

Ngày 12 tháng 8 năm 1991, Thường Tín trở lại thuộc tỉnh Hà Tây Như vậy, huyện Thường Tín có 1 thị trấn và 28 xã, giữ ổn định đến nay.

Ngày 1 tháng 8 năm 2008, cùng với toàn bộ tỉnh Hà Tây, huyện Thường Tín được sáp nhập về thủ đô Hà Nội theo nghị quyết của Chính phủ Việt Nam.

Hồng Vân có nghĩa là mây hồng, mang ý nghĩa tượng trưng cho vẻ đẹp huyền bí và thiêng liêng Theo truyền thuyết, khi xưa, Tiên Dung và Chử Đồng Tử đi khắp nơi để cứu giúp người nghèo và đã dừng chân tại một vùng đất đẹp, nơi xuất hiện một đám mây hồng kỳ diệu Họ đã cảm nhận được vẻ đẹp tuyệt vời của thiên nhiên và dân chúng địa phương ra cảm tạ, đồng thời đặt tên cho xã là Hồng Vân để ghi nhớ dấu ấn kỳ diệu này.

Hồng Vân nổi bật với nhiều danh lam thắng cảnh và di tích lịch sử được xếp hạng cao Trong đó, các di tích như chùa Xâm Xuyên, đình Xâm Thị và Bến phà 2 đều có ý nghĩa lịch sử quan trọng, ghi dấu chân của Chủ tịch Hồ Chí Minh và các lãnh đạo cấp cao của nhà nước trong những chuyến thăm quan trọng vào năm These historical sites not only góp phần preserving the cultural heritage but also attract many visitors tìm hiểu về quá khứ hào hùng của địa phương.

Chợ mới ông già, theo truyền thuyết, là chợ từ thời xưa do cha của Chử Đồng Tử ngồi dưới gốc đa bán cá, và người dân đã bắt chước theo để buôn bán, tạo thành chợ lâu đời Người dân trong thôn Vân La tự hào về truyền thuyết này vì nếu đúng như vậy, đây sẽ là chợ cổ nhất Việt Nam Ngày nay, chợ đã được xây dựng mới nhưng vẫn giữ được ý nghĩa lịch sử và truyền thống, thể hiện nét đẹp văn hóa của địa phương Thôn Cơ Giáo là một thôn theo đạo Thiên Chúa toàn tòng, góp phần làm nên nét đặc trưng văn hóa của vùng đất này.

Xã có nhiều khu di tích văn hóa phong phú, góp phần preserving giá trị lịch sử và văn hóa của địa phương Trong đó, một số di tích đã được công nhận là di tích lịch sử cấp quốc gia bởi các cơ quan quản lý trung ương, nổi bật là đền Xâm These heritage sites thu hút du khách và thúc đẩy phát triển du lịch địa phương, góp phần bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống của xã.

- Đền Xâm Thị ,Đình Xâm Thị ,Miếu Xâm Thị thuộc làng Xâm Thị

- Đình Cẩm Cơ ,Chùa Cẩm Cơ thuộc làng Cẩm Cơ

- Đình Xâm Xuyên làng Xâm Xuyên

* Một số hình ảnh về các chùa , đình , nhà thờ tiêu biểu của Xã Hồng Vân ĐÌNH CẨM CƠ – THÔN CẨM CƠ

CHÙA CẨM CƠ – THÔN CẨM CƠ ĐÌNH XÂM XUYÊN – THÔN XÂM XUYÊN

CÁC CÔNG TRÌNH DI TÍCH LỊCH SỬ TRÊN ĐỊA BÀN

3.Đặc điểm chung về hình thái phát triển kiến trúc

3.1.Kiến trúc các làng của xã Hồng Vân

Cấu trúc làng truyền thống Bắc Bộ

Các làng thuộc xã Hồng Vân đều phản ánh rõ nét cấu trúc phát triển của làng cổ Bắc Bộ xưa với một trục đường chính trung tâm Trên trục đường này tập trung các công trình tín ngưỡng, văn hóa và công cộng như đình, chùa, miếu, nhà văn hóa và nhà trẻ, tạo nên trung tâm sinh hoạt cộng đồng Nhà ở nằm dọc theo trục đường chính, mở rộng sang hai bên vào các ngõ ngách nhỏ trong làng, thể hiện quy hoạch truyền thống của làng Bắc Bộ Bao quanh làng là các ao hồ và đồng ruộng, vừa giữ vai trò sinh thái, vừa là nguồn cung cấp nông nghiệp chủ yếu, góp phần tạo nên nét đặc trưng của làng cổ Hồng Vân.

Chương trình nâng cấp các công trình công cộng trong thôn nhằm đảm bảo phục vụ tốt các hoạt động như hội họp, các công việc chung của cộng đồng, góp phần phát triển sự gắn kết và cộng đồng Đồng thời, xây dựng thêm trường mầm non mới giúp các con em trong thôn có nơi học tập và vui chơi gần nhà, giảm bớt khó khăn trong việc đi lại Chùa trong thôn đã được xây dựng mới, khang trang hơn, đáp ứng nhu cầu lễ hội và tín ngưỡng của người dân Trạm y tế xã đã được xây dựng mới, khang trang và toàn diện trong khu vực rộng 26ha, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân trong việc chăm sóc sức khỏe.

GIỚI THIỆU CHUNG VÀ PHÂN TÍCH HÌNH THÁI XÃ HỒNG VÂN

Lịch sử

Thường Tín từng là tên của một phủ thuộc Trấn Sơn Nam từ thời Lê và nhà Nguyễn, nằm trong tỉnh Hà Nội và sau đó thuộc tỉnh Hà Đông Phủ Thường Tín bao gồm các huyện Thanh Trì, Thượng Phúc (nay là Thường Tín) và Phú Xuyên, góp phần vào vùng truyền thống lịch sử của miền Bắc Việt Nam.

Ngày 21 tháng 4 năm 1965, huyện Thường Tín thuộc tỉnh Hà Tây (hợp nhất 2 tỉnh Hà Đông và Sơn Tây), gồm 32 xã: Chương Dương, Đại Áng, Dũng Tiến,Duyên Thái, Hà Hồi, Hiền Giang, Hòa Bình, Hồng Vân, Khánh Hà, Lê Lợi,Liên Ninh, Liên Phương, Minh Cường, Nghiêm Xuyên, Ngọc Hồi, Nguyễn Trãi,Nhị Khê, Ninh Sở, Quất Động, Tả Thanh Oai, Tân Minh, Thắng Lợi, Thống

Nhất, Thư Phú, Tiền Phong, Tô Hiệu, Tự Nhiên, Văn Bình, Vạn Điểm, Văn Phú, Vân Tảo, Văn Tự.

Ngày 29 tháng 12 năm 1975, huyện Thường Tín thuộc tỉnh Hà Sơn Bình do hợp nhất 2 tỉnh Hà Tây và Hòa Bình.

Ngày 29 tháng 12 năm 1978, 4 xã ở phía bắc huyện Thường Tín là: Đại Áng, Liên Ninh, Ngọc Hồi, Tả Thanh Oai được sáp nhập vào huyện Thanh Trì.

Huyện Thường Tín còn lại 28 xã bao gồm các địa phương như Chương Dương, Dũng Tiến, Duyên Thái, Hà Hồi, Hiền Giang, Hòa Bình, Hồng Vân, Khánh Hà, Lê Lợi, Liên Phương, Minh Cường, Nghiêm Xuyên, Nguyễn Trãi, Nhị Khê, Ninh Sở, Quất Động, Tân Minh, Thắng Lợi, Thống Nhất, Thư Phú, Tiền Phong, Tô Hiệu, Tự Nhiên, Văn Bình, Vạn Điểm, Văn Phú, Vân Tảo và Văn Tự.

Ngày 19 tháng 3 năm 1988, thành lập thị trấn Thường Tín trên cơ sở điều chỉnh một phần diện tích tự nhiên và nhân khẩu của các xã Văn Bình, Văn Phú và Hà Hồi.

Ngày 12 tháng 8 năm 1991, Thường Tín trở lại thuộc tỉnh Hà Tây Như vậy, huyện Thường Tín có 1 thị trấn và 28 xã, giữ ổn định đến nay.

Ngày 1 tháng 8 năm 2008, cùng với toàn bộ tỉnh Hà Tây, huyện Thường Tín được sáp nhập về thủ đô Hà Nội theo nghị quyết của Chính phủ Việt Nam.

Hồng Vân có nghĩa là mây hồng, biểu tượng của vẻ đẹp huyền bí và hòa bình Truyền thuyết kể rằng, xưa kia, Tiên Dung và Chử Đồng Tử rong ruổi khắp nơi để cứu giúp người nghèo, thể hiện lòng nhân ái và nghĩa khí Khi đến địa phận xã, họ thấy cảnh đẹp mê hoặc và bất ngờ xuất hiện một đám mây hồng, tượng trưng cho điềm lành, rồi hạ xuống nghỉ ngơi Người dân địa phương đã ra cảm tạ và đặt tên cho xã theo hình ảnh mây hồng này, như một lời cầu mong bình yên, hạnh phúc và phước lành cho cộng đồng.

Hồng Vân nổi bật với nhiều danh lam thắng cảnh và di tích lịch sử được xếp hạng, như chùa và đình Xâm Xuyên, Xâm Thị, thu hút du khách yêu thích khám phá heritage Đặc biệt, bến phà 2 ghi dấu dấu ấn quan trọng khi là nơi Bác Hồ cùng các lãnh đạo cấp cao của nhà nước đã ghé thăm vào năm, góp phần làm nổi bật giá trị lịch sử của địa phương.

Chợ mới ông già có truyền thuyết từ năm 1966, nơi cha của Chử Đồng Tử từng ngồi bán cá dưới gốc đa và người dân bắt chước theo đó để bán hàng, hình thành nên chợ lâu đời Tên chợ được đặt để nhớ ơn người sáng lập ra chợ, phản ánh giá trị lịch sử và truyền thống của địa phương Ngày nay, chợ đã được xây dựng mới nhưng người dân thôn Vân La vẫn tự hào về truyền thuyết và nguồn gốc hình thành chợ, vì nếu đúng như truyền thuyết, đây có thể là chợ cổ nhất Việt Nam Thôn Cơ Giáo là một cộng đồng theo đạo Thiên Chúa toàn tòng, thể hiện sự đa dạng văn hóa và tôn giáo của khu vực.

Xã có các khu di tích văn hóa phong phú, phản ánh giá trị lịch sử và văn hóa lâu đời của địa phương Trong số đó, nhiều di tích đã được Chính phủ Trung ương công nhận là di tích lịch sử cấp quốc gia, tiêu biểu như đền Xâm Những di tích này không chỉ là nơi lưu giữ nét đẹp văn hóa truyền thống mà còn thu hút đông đảo du khách thập phương đến tham quan, nghiên cứu và gìn giữ di sản thiên nhiên và nhân văn của địa phương.

- Đền Xâm Thị ,Đình Xâm Thị ,Miếu Xâm Thị thuộc làng Xâm Thị

- Đình Cẩm Cơ ,Chùa Cẩm Cơ thuộc làng Cẩm Cơ

- Đình Xâm Xuyên làng Xâm Xuyên

* Một số hình ảnh về các chùa , đình , nhà thờ tiêu biểu của Xã Hồng Vân ĐÌNH CẨM CƠ – THÔN CẨM CƠ

CHÙA CẨM CƠ – THÔN CẨM CƠ ĐÌNH XÂM XUYÊN – THÔN XÂM XUYÊN

CÁC CÔNG TRÌNH DI TÍCH LỊCH SỬ TRÊN ĐỊA BÀN

Đặc điểm chung về hình thái phát triển kiến trúc

3.1.Kiến trúc các làng của xã Hồng Vân

Cấu trúc làng truyền thống Bắc Bộ

Các làng thuộc xã Hồng Vân đều mang đặc trưng phát triển của làng cổ Bắc Bộ xưa, với một trục đường chính làm trung tâm Trên trục đường chính này, có các công trình tín ngưỡng, văn hóa và công cộng như đình, chùa, miếu, nhà văn hóa, nhà trẻ, thể hiện rõ nét văn hóa truyền thống của làng Nhà ở nằm dọc theo trục đường chính và mở rộng ra hai bên, kết nối các ngõ nhỏ trong làng Xung quanh làng, là hồ, ao và đồng ruộng bao phủ, tạo thành môi trường nông thôn yên bình, phù hợp với đặc trưng nông nghiệp của vùng miền.

Trong khuôn khổ phát triển hạ tầng, thôn đã nâng cấp các công trình công cộng để phục vụ các hoạt động như hội họp và công việc chung của cộng đồng Đồng thời, xây dựng thêm trường mầm non mới nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc học tập và vui chơi của trẻ em trong thôn, giúp giảm bớt khó khăn khi phải đi lại xa Chùa trong thôn cũng được xây dựng mới, khang trang hơn để phục vụ các lễ hội và nhu cầu tín ngưỡng của người dân Trạm y tế xã đã xây dựng mới, hiện đại và thuận tiện trong khu vực rộng 26ha, đảm bảo chăm sóc sức khỏe toàn diện cho người dân, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống trong cộng đồng.

Khu vực trồng trọt và canh tác xung quanh thôn đang hướng tới sự chuyển đổi phù hợp với xu hướng phát triển bền vững và nhu cầu xã hội Người dân đã bắt đầu chuyển đổi từ các loại cây truyền thống sang trồng hoa và cây hoa màu nhằm nâng cao giá trị kinh tế và đa dạng hóa sản phẩm Đặc biệt, các vùng trồng rau có diện tích lớn được phát triển để phục vụ nhu cầu của khu du lịch sinh thái trong xã, góp phần thúc đẩy kinh tế địa phương và phát triển du lịch cộng đồng.

Xã Hồng Vân có lịch sử hình thành từ lâu, trải qua nhiều giai đoạn lịch sử và sự thay đổi về kiến trúc phù hợp với các thời kỳ Các kiểu quy hoạch và kiến trúc cổ vẫn còn tồn tại và thể hiện rõ qua các công trình truyền thống như cổng làng, đình làng, miếu, chùa, và giếng làng Các công trình này phản ánh rõ nét đặc trưng văn hóa và lịch sử của xã Hồng Vân qua các thời kỳ.

Làng xã Bắc Bộ nổi bật với các công trình truyền thống như Đình, Chùa, Miếu, Đền, thể hiện rõ nét đặc điểm kiến trúc qua các thời kỳ lịch sử Những công trình này không chỉ là biểu tượng văn hóa đặc trưng của vùng mà còn là niềm tự hào của cộng đồng, đóng vai trò trung tâm trong các lễ hội, hoạt động văn hóa và sinh hoạt chung của cả xã.

Cổng làng là biểu tượng đặc trưng của mỗi làng, góp phần tạo nên nhận diện riêng biệt và thể hiện nét đẹp truyền thống của cộng đồng Đối với thôn Xâm Xuyên, cổng làng được xây dựng dựa trên trục chính dẫn vào làng, thể hiện sự hướng về trung tâm và giữ gìn nét đẹp văn hóa địa phương Mỗi kiểu kiến trúc cổng làng đều phản ánh đặc trưng riêng của từng làng, góp phần làm phong phú thêm di sản văn hóa Việt Nam.

Đình làng được xây dựng tại trung tâm thôn, nằm trên trục đường chính vào làng, tạo điều kiện thuận lợi cho việc hội họp cộng đồng và thu hút khách du lịch tham quan Điều này phản ánh rõ nét đặc trưng quy hoạch của làng xã Bắc Bộ, nơi đình làng là công trình kiến trúc đầu tiên mà du khách gặp phải sau khi qua cổng làng, thể hiện nét đẹp truyền thống và kiến trúc đặc trưng của vùng đất này.

+ Các công trình như Đình, miếu, giếng…nằm tại trung tâm làng phục vụ cho hoạt động văn hóa, lễ hội, sinh hoạt chung của làng.

Hệ thống giao thông trong làng được thiết kế gồm đường trục chính chạy từ cổng làng qua các công trình trung tâm, giúp kết nối nội bộ thuận tiện Các tuyến đường nhỏ phân nhánh giống như cành cây, mở rộng từ trục chính để kết nối từng hộ gia đình, tạo điều kiện đi lại dễ dàng Ngoài ra, hệ thống đường còn nối ra các khu vực đất màu, đất canh tác trồng trọt và chăn nuôi, phục vụ hoạt động nông nghiệp của làng.

Trong làng, chủ yếu các hộ gia đình tập trung vào hoạt động nông nghiệp, đặc biệt là canh tác trồng trọt và phát triển cây cảnh Ngoài ra, nghề du lịch sinh thái cũng đóng vai trò quan trọng, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế địa phương và tạo việc làm ổn định cho cộng đồng dân cư.

Hệ thống các trục đường, cây xanh, sông, ao và các thửa đất trồng rau bao quanh làng, tạo thành một môi trường lý tưởng cho hoạt động sản xuất và sinh hoạt hàng ngày của cư dân Những yếu tố tự nhiên và cơ sở hạ tầng này góp phần bảo vệ, phát triển cộng đồng và duy trì cuộc sống bền vững trong làng.

Dù trải qua nhiều giai đoạn thay đổi của lịch sử, cấu trúc làng xã Bắc bộ vẫn giữ gìn nét truyền thống nguyên thủy Các biến đổi về kiến trúc và hoạt động sản xuất phản ánh sự thích nghi phù hợp với đời sống và nhu cầu của người dân Tuy nhiên, cấu trúc chung của làng xã Bắc bộ xưa vẫn được bảo tồn, thể hiện rõ nét đặc trưng văn hóa và lịch sử của vùng miền.

 Về kiến trúc hình thái đình làng a. lịch sử hình thành đình làng.

Đình làng có lịch sử phát triển lâu dài bắt nguồn từ thời Hùng Vương, bắt đầu dưới hình thức chòi nghỉ dạng nhà sàn Vào thế kỉ X, đình Trạm xuất hiện và trở thành công trình phổ biến trong thời kỳ Lý – Trần, phục vụ cho các chuyến vi hành của nhà vua Đến thế kỉ XV dưới thời các vua Lê, đình làng được ghi nhận với vai trò là trung tâm của làng xã, phản ánh vị trí quan trọng trong đời sống cộng đồng Vào đầu thế kỉ XIX, đình làng bắt đầu mở rộng về phía Đàng Trong, thể hiện sự phát triển và mở rộng quy mô của loại hình đình làng qua các thời kỳ.

Kiến trúc đình làng thời Hùng Vương được xây dựng tại những vị trí trung tâm của làng, thường ở nơi có không gian thoáng đãng, gần sông nước, phù hợp với yếu tố phong thủy giúp tăng cường năng lượng cho ngôi đình Đình làng là một thiết chế văn hóa – tín ngưỡng đa chức năng, gồm chức năng tín ngưỡng, hành chính và văn hóa, tạo nên nét đặc trưng riêng biệt của đình làng Bắc Bộ Chính vì vậy, đình làng thường có quy mô lớn, rộng rãi, với câu nói nổi tiếng “to như cái đình làng” phản ánh tính cộng đồng và tầm quan trọng của kiến trúc này Các đình như đình làng Vân La, đình làng Xâm Xuyên thể hiện rõ nét kiến trúc dân gian cổ truyền mang đậm nét văn hóa truyền thống của vùng miền.

Phối cảnh đình La Thượng d. yếu tố cảnh quan đình làng Bắc Bộ.

Yếu tố "thủy" đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong kiến trúc của mỗi ngôi đình, giúp cân bằng khí hậu bên trong và tạo nên sự hài hòa giữa yếu tố dương (đình) và âm (mặt nước) Khi không có ao hồ thiên nhiên, dân làng thường đào giếng khơi trước đình để có mặt nước phù hợp với thế "tụ thủy" – điểm tụ thủy quan trọng của làng Đình làng thường được xây dựng bằng cấu trúc bằng gỗ, thiết kế theo phong cách trang trí, trạm khắc tinh xảo, góp phần làm tăng vẻ đẹp thẩm mỹ và khí chất của ngôi đình Mặt nước không chỉ tạo cảnh quan sinh động mà còn giúp cải thiện đáng kể khí hậu và tạo sự cân đối âm dương cho không gian kiến trúc.

Mặt hồ nước trong xanh trước đình làng Vân La

Giếng làng xuất hiện cùng với sự hình thành của ngôi đình, không chỉ là nguồn cung cấp nước sinh hoạt trong lành mà còn là nơi tụ họp, giao lưu của cộng đồng dân làng Nước giếng còn có ý nghĩa thiêng liêng trong các ngày lễ hội, thường được dùng để cúng lễ, thể hiện sự trân trọng và gắn bó với quê hương Hình ảnh giếng làng luôn in đậm trong ký ức của người xa quê như biểu tượng đẹp về nét đẹp truyền thống và đời sống cộng đồng của làng quê Việt Nam.

Nhận xét

Dựa trên khảo sát hiện trạng, cấu trúc quy hoạch của xã Hồng Vân vẫn giữ vẻ truyền thống của làng xã cũ, nhưng đã có sự thay đổi phù hợp với sự phát triển của địa phương Hệ thống giao thông được mở rộng và nâng cấp từ đường đất sang đường bê tông, góp phần thúc đẩy giao thương và đi lại thuận tiện hơn Các công trình nhà ở cũng chuyển từ nhà gạch cũ sang nhà tầng sử dụng vật liệu tốt hơn, đảm bảo an toàn và mỹ quan Đồng thời, các công trình công cộng được sửa chữa và nâng cấp nhằm phục vụ cộng đồng ngày càng tốt hơn, thúc đẩy sự phát triển bền vững của xã.

Các công trình và di tích nổi tiếng tại địa phương như Đình Xâm Xuyên, Đền Xâm Thị và Nhà thờ Cơ Gíao đều có giá trị lịch sử và nghệ thuật kiến trúc cao, góp phần làm phong phú di sản văn hóa của khu vực.

Việc giữ gìn và bảo tồn các công trình lịch sử tại xã Hồng Vân là rất cần thiết để bảo vệ giá trị văn hóa đặc trưng của địa phương Cần tiến hành nâng cấp, tu sửa phù hợp nhằm đảm bảo các chức năng vốn có của công trình không bị mất đi Những hoạt động này giúp mọi người dễ dàng tìm hiểu, nhận thức và khám phá các giai đoạn lịch sử quan trọng của xã Hồng Vân, góp phần nâng cao ý thức giữ gìn di sản văn hóa dân tộc.

Với sự phát triển của xã hội và quá trình đô thị hóa, cấu trúc làng xã cũ đang mở rộng ra các phía để đáp ứng nhu cầu sinh hoạt, ăn ở và làm việc của người dân Các công trình nhà ở xây dựng nhiều hơn, dẫn đến tăng diện tích đất ở nhưng cũng làm thu hẹp diện tích đất nông nghiệp Do đó, cần có quy hoạch hợp lý để cân bằng giữa việc sử dụng đất nhằm tránh tình trạng quá tải và bảo vệ nguồn tài nguyên nông nghiệp truyền thống.

Làng xã Hồng Vân nổi bật với cấu trúc kiến trúc pha trộn giữa các công trình nhà ở cũ và các công trình mới, phản ánh quá trình phát triển lịch sử của khu vực Sự tồn tại song song này minh chứng cho những thay đổi qua các thời kỳ lịch sử, giúp thế hệ hiện tại và tương lai hiểu rõ hơn về quá trình hình thành và phát triển của làng xã Điều này góp phần bảo tồn giá trị văn hóa và lịch sử, đồng thời tạo nền tảng cho sự phát triển bền vững của cộng đồng địa phương.

Khu vực làng xóm cũ vẫn giữ được nét kiến trúc đặc trưng của Bắc Bộ, với những ngôi nhà cổ xuống cấp nhưng vẫn còn lưu giữ đặc trưng kiến trúc truyền thống Cảnh quan đường ngõ, sân vườn trong khu vực góp phần bảo tồn những nét văn hóa kiến trúc đặc trưng của làng quê xưa Việc duy trì các ngôi nhà cổ và cảnh quan truyền thống giúp giữ gìn giá trị lịch sử và nét đẹp văn hóa của khu vực làng xóm cũ.

Việc khảo sát hiện trạng quy hoạch và kiến trúc của khu vực giúp đánh giá và nhận xét các công trình hiện hữu, bao gồm cả những công trình đã xuống cấp để có hướng xây dựng mới hoặc cải tạo phù hợp Điều này đảm bảo phát triển khu vực bám sát vào quy hoạch và kiến trúc hiện tại, giữ lại những giá trị cần thiết và xây dựng mới những phần phù hợp với quy hoạch chung của khu vực.

Phân tích hình thái khu vực nghiên cứu

Phân tích hình thái kiến trúc cảnh quan

2.1 Phân tích đánh giá kiến trúc cảnh quan.

Kiến trúc cảnh quan khu vực đang có sự thay đổi rõ rệt và đa dạng, với sự chuyển mình từ các công trình nhà ở cũ sang các công trình nhà ở cao tầng, kiên cố, hiện đại và phong phú về kiểu dáng Các công trình công cộng cũng được tu sửa hoặc xây dựng mới khang trang hơn, góp phần nâng cao diện mạo khu vực Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại một số công trình cổ, góp phần giữ gìn giá trị lịch sử và kiến trúc truyền thống của địa phương.

Trục giao thông chính của thôn vẫn được duy trì như cũ, kết nối nội bộ thôn với hệ thống đường nhựa của xã qua cổng làng, tạo điều kiện thuận lợi cho việc đi lại Đường chính là tuyến đường bê tông lớn, kết hợp với hệ thống đường nhỏ phân bố theo dạng mạng xương cá, giúp đảm bảo giao thông thông suốt trong toàn khu vực.

2.1.2 Hiện trạng hình thái công trình.

Các công trình trong thôn có lịch sử hình thành từ lâu đời, bắt đầu từ khu trung tâm là Nhà thơ Cơ Giáo và Nhà văn hóa thôn Các công trình này dần được mở rộng ra xung quanh, góp phần xây dựng bộ mặt văn hóa và cộng đồng của làng.

Các công trình nhà ở bám sát trục giao thông chính của khu vực, thuận tiện cho việc giao thông đi lại của người dân.

Hướng chính của các công trình là hướng vòng cung Đông – Bắc , Tây - Nam.

Dựa trên các bản vẽ, chúng ta có thể xây dựng phương án phát triển hạ tầng giao thông, mạng lưới cấp thoát nước và cấp điện phù hợp cho khu vực Ngoài ra, việc phân bố công trình trong thôn thể hiện rõ mối quan hệ giữa không gian trống và không gian mở, góp phần tối ưu hóa quy hoạch và phát triển bền vững của cộng đồng.

2.1.4 Hiện trạng công trình công cộng. a.Công trình giáo dục

Xã Hồng Vân hiện có đủ các cơ sở giáo dục, gồm một trường mầm non 2 tầng, một trường tiểu học và một trường trung học cơ sở, đảm bảo chất lượng trang thiết bị và hoạt động vui chơi cho trẻ nhỏ Các trường đều nằm trong khu dân cư, giúp tiết kiệm thời gian đi học cho học sinh, dù do xây dựng lâu năm và nguồn kinh phí hạn chế, nên phạm vi phục vụ của trường vẫn chưa đạt đủ theo quy chuẩn Các trường được xây dựng trên trục đường chính, gần các tuyến giao thông thuận tiện, tạo điều kiện di chuyển dễ dàng cho người dân.

502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared

502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared

502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared

Thôn Cơ Gíao là một làng phát triển dựa trên đạo Thiên Chúa toàn tòng, với người dân chủ yếu theo đạo Thiên Chúa Công trình nổi bật nhất của thôn là Nhà thờ Giáo sứ Cẩm Cơ, trở thành biểu tượng của cộng đồng Vì là một thôn theo đạo Thiên Chúa, nơi đây không có các cấu trúc cổ truyền của làng quê Bắc Bộ như đình, chùa hay đền miếu Điều này tạo nên sự khác biệt rõ nét so với các làng quê khác trong xã, góp phần định hình nét đặc trưng văn hóa của Cơ Gíao.

Lịch sử Giáo xứ Cẩm Cơ nằm ở thôn Cơ Giáo, xã Hồng Vân, huyện Thường Tín, Hà Nội, thuộc hạt Phú Xuyên trong Tổng Giáo Phận Hà Nội Giáo xứ Cẩm Cơ đã được thành lập từ lâu, gồm họ nhà xứ Cẩm Cơ và bốn họ lẻ: Tự Nhiên, Vĩnh Lộc, Phú Mỹ, Nội Thôn, với tổng cộng 1.326 giáo dân Người dân địa phương chủ yếu sống bằng nghề nông truyền thống Từ xưa, cộng đoàn tín hữu đã xây dựng một ngôi nhà thờ bằng tre, lợp lá để làm nơi thờ phượng và sinh hoạt tôn giáo.

Năm 1927, ngôi nhà thờ được xây bằng gạch, lợp ngói có tổng diện tích : 192m2, trong đó chiều dài 24m, chiều rộng 8m, và ngọn tháp cao

 Kiến trúc : nhà thờ, với chiều dài là 41,02m; chiều rộng 13,03 m và tổng diện tích bao gồm cả hai cánh thánh giá là 580m2; hai tháp cao 38m.

 Một số hình ảnh của nhà thờ sau khi đã được tu sửa vào năm 2015:

Khung cảnh bao quát nhà thờ

Cận cảnh kiến trúc bên trong nhà thờ 2.1.6 Một số công trình kiến trúc tiêu biểu. a Kiến trúc nhà ở

Thôn Cơ Gíao có lịch sử hình thành lâu đời, trải qua nhiều giai đoạn phát triển khác nhau, nhờ đó các công trình trong thôn mang đậm nét kiến trúc đặc trưng của từng thời kỳ Các công trình tiêu biểu phản ánh rõ ràng các giai đoạn lịch sử, sự thay đổi và sự phát triển của thôn qua các thời kỳ Qua việc tìm hiểu các công trình này, chúng ta có thể hiểu rõ hơn về quá trình hình thành, kiến trúc độc đáo và giá trị văn hóa của thôn Cơ Gíao.

Ngôi nhà truyền thống Việt Nam có vẻ ngoài mộc mạc, giản dị, với tường xây bằng gạch lợp ngói âm dương và mái dốc đơn giản không trang trí cầu kỳ Các đường chỉ vạch dài khắc trên tường và hàng cột hiên bên dưới mái tạo nên nét đẹp thanh lịch, kín đáo Phía dưới mái nhà là tường quét vôi trắng, phản ánh sự giản dị, khiêm nhường đặc trưng của kiến trúc Việt cổ Bên trong, vẻ ngoài mộc mạc ấy ẩn chứa cội nguồn vững chắc của dân tộc và sức sống mạnh mẽ, lâu bền của người Việt Nam.

Trong bối cảnh xã hội ngày càng phát triển, thôn làng cũng không ngừng thay đổi với nhiều công trình kiến trúc mới thay thế các công trình cổ xưa Hiện nay, các công trình nhà cao tầng, khang trang, hiện đại xuất hiện ngày càng phổ biến hơn, sử dụng chủ yếu các vật liệu như gạch, xi măng và sơn nhiều màu sắc phù hợp với điều kiện của từng gia đình Các công trình xây dựng thường có quy mô từ 1 đến 4 tầng, phản ánh sự đổi mới và phù hợp với xu hướng phát triển đô thị hóa.

Các công trình nhà mới xây dựng được chú trọng đến kiểu dáng và mẫu nhà phù hợp với sở thích của người sử dụng Trong khuôn viên nhà, còn có sự kết hợp hài hòa giữa sân vườn, cây xanh và cảnh quan xung quanh, tạo nên không gian sống xanh, thoáng đãng và thu hút.

2.2 Nhận xét kiến trúc cảnh quan. a.

Các tuyến đường nội bộ chủ yếu vẫn là mạng lưới làng xã cũ được nâng cấp để phù hợp với nhu cầu giao thông hiện tại Mạng lưới đường phân nhánh, mới đã phục vụ tốt hơn cho các phương tiện cá nhân như xe máy và xe đạp hàng ngày Tuy nhiên, các tuyến đường này vẫn chưa đảm bảo khả năng lưu thông cho các phương tiện cơ giới lớn như ô tô và xe chở vật liệu, gây hạn chế trong vận chuyển hàng hóa và phát triển kinh tế địa phương.

Ngày đăng: 26/02/2023, 12:00

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w