Khoản 3 Điều 81 BLHS Lào quy định: "Phạm tội trong tình trạng tinh thần bị kích động mạnh không thể kiềm chế được do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân đối với người phạm t
Trang 1Tạp chí luậthọc - 63
hi nói đến vụ án giết người là người ta
nghĩ ngay đến việc cần phải trừng trị
nghiêm khắc kẻ giết người Bởi vì, giết người
là tội nguy hiểm nhất trong các tội xâm
phạm tính mạng, sức khoẻ của con người vì
nó trực tiếp xâm phạm đến quyền sống của
con người Tuy nhiên, không phải bao giờ
hành vi cố ý tước đoạt tính mạng của người
khác cũng đều bị coi là trọng tội mà thực tiễn
cho thấy có một số trường hợp tuy có hành vi
tước đoạt tính mạng của người khác nhưng
tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi
này không phải đặc biệt nghiêm trọng do có
tình tiết nhất định Đó là trường hợp quy
định tại khoản 3 Điều 81 BLHS Lào Nếu
xét về cấu thành thì trường hợp này có thể
được quy định ở điều luật khác với tội danh
riêng Hi vọng rằng sắp tới trường hợp phạm
tội này sẽ được quy định thành tội danh riêng
ở điều luật khác
Khoản 3 Điều 81 BLHS Lào quy định:
"Phạm tội trong tình trạng tinh thần bị kích
động mạnh không thể kiềm chế được do hành
vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân
đối với người phạm tội hay đối với người
thân thích của người đó thì bị phạt tước
quyền tự do từ 3 năm đến 5 năm"
Khi xét trường hợp phạm tội trong tình
trạng tinh thần bị kích động mạnh do hành vi
trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân đối
với người phạm tội hay đối với người thân thích của người đó thì cần phải xem xét cả 3 mặt sau đây: Tình trạng tinh thần của bị cáo, hành vi trái pháp luật của nạn nhân và mối quan hệ giữa trạng thái tinh thần của bị cáo với hành vi trái pháp luật của nạn nhân
1 Tinh thần bị kích động mạnh Một người bình thường không mắc bệnh tâm thần hay một bệnh khác làm ảnh hưởng
đến khả năng nhận thức của họ thì họ phải chịu toàn bộ TNHS do hành vi nguy hiểm cho xU hội mà mình đU gây ra Nhưng cũng
có trường hợp người đó có hành vi nguy hiểm cho xU hội trong lúc họ không còn sáng suốt và khả năng nhận thức về hành vi của mình không còn đầy đủ như lúc bình thường, lúc đó họ không tự chủ được mình và không thấy hết được tính chất nguy hiểm cho xU hội của hành vi của mình Họ bị hạn chế về hoạt
động ý trí và lí trí
Việc xác định một người có bị kích động mạnh về tinh thần hay không là vấn đề phức tạp ở đây vấn đề phải giải quyết là làm sao
có thể biết được người đó có bị kích động mạnh về tinh thần hay không Lúc bị cáo phạm tội, cơ quan pháp luật không có ở đó, sau khi phạm tội thì trạng thái tâm lí của bị cáo đU trở lại bình thường Có ý kiến cho
K
* Nghiên cứu sinh Lào
Trang 264 - Tạp chí luật học
rằng cần phải trưng cầu giám định để xác
định lúc phạm tội bị cáo có thể bị kích động
mạnh về tinh thần hay không, chỉ có y học
mới kết luận được, vì trạng thái tâm lí của
mỗi người khác nhau, cùng một sự việc mà
người này xử sự khác người kia, có người bị
kích động mạnh về tinh thần nhưng có người
không hề bị kích động Theo quan điểm trên
thì người không có chuyên môn về y học thì
không thể biết được bị cáo lúc phạm tội tinh
thần có bị kích động mạnh hay không? Tất
nhiên ngoài ý thức chuyên môn về y học,
giám định viên còn cần phải kết hợp xem xét
hoàn cảnh thực tế lúc bị cáo phạm tội, mối
quan hệ giữa bị cáo với nạn nhân và hành vi
trái pháp luật của nạn nhân
Ngược lại, có ý kiến lại cho rằng làm sao
có thể dùng biện pháp y học để kết luận một
người bình thường khi nào tinh thần bị kích
động mạnh, vì lúc họ phạm tội và lúc giám
định pháp y trạng thái tinh thần họ hoàn toàn
khác nhau Đây không phải là trường hợp
người bị bệnh tâm thần khi phạm tội nhưng
sau đó lại bình thường Do đó, khi xem xét bị
cáo giết người có trong tình trạng tinh thần bị
kích động mạnh hay không thì phải xem xét
người bình thường ở vào hoàn cảnh phạm tội
của bị cáo có thể xử sự ra sao
Chúng tôi cho rằng khoa học có thể cho
phép sử dụng biện pháp giám định pháp y để
kết luận một người trong lúc phạm tội, tinh
thần có bị kích động mạnh hay không nhưng
đồng thời cũng phải kết hợp xem xét các tình
tiết khác của vụ án và nhân thân bị cáo như
quá trình sự việc xảy ra, nghề nghiệp, trình
độ văn hóa, tính tình, thương tật, bệnh lí,
hoàn cảnh gia đình bị cáo, quan hệ giữa bị
cáo với nạn nhân
2 Nạn nhân phải là người có hành vi trái pháp luật nghiêm trọng
Hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân trước hết bao gồm những hành vi trái pháp luật hình sự đối với can phạm hoặc
đối với những người thân thích của can phạm Thông thường, hành vi trái pháp luật của nạn nhân xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự của can phạm hoặc người thân thích của can phạm nhưng cũng có một số trường hợp xâm phạm đến tài sản của can phạm như đập phá tài sản, đốt cháy, cướp giật, trộm cắp
Về vấn đề này cũng có những quan điểm khác nhau: Quan điểm thứ nhất cho rằng, hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân phải là hành vi cấu thành tội phạm và phải là tội phạm nghiêm trọng Nếu hành vi trái pháp luật của nạn nhân chưa cấu thành tội phạm nghiêm trọng thì hành vi giết người của bị cáo là giết người thông thường theo khoản 1 Điều 81 BLHS Lào
Quan điểm thứ hai cho rằng, hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân chỉ là hành vi vi phạm pháp luật nói chung tức là vi phạm bất kì quy phạm pháp luật nào như luật giao thông, luật lao động, luật hành chính, luật HN&GĐ, luật hình sự vì trong thực tế
có nhiều trường hợp nạn nhân chỉ có hành vi trái pháp luật thông thường, chưa phải là hành vi phạm tội nhưng cũng làm cho tinh thần bị cáo bị kích động mạnh
Quan điểm thứ hai phù hợp với điều luật vì điều luật quy định nạn nhân có hành vi trái pháp luật nghiêm trọng chứ không quy định
là có hành vi phạm tội nghiêm trọng
Khi đánh giá hành vi trái pháp luật của nạn nhân như thế nào là nghiêm trọng cũng
Trang 3Tạp chí luậthọc - 65
phải xem xét toàn diện, có những hành vi
bản thân nó đU là hành vi trái pháp luật
nghiêm trọng như hành vi phạm tội nhưng
cũng có hành vi tuy bản thân nó chưa phải là
nghiêm trọng nhưng nó được lặp đi lặp lại
nhiều lần nên tính chất của nó lại là nghiêm
trọng, ví dụ: A và B nhà ở cạnh nhau chung
một bức tường, B đU đục tường từ phía nhà
mình sang nhà A trong khi vợ con của A
đang ốm cần sự yên tĩnh để nghỉ ngơi A đU
nhiều lần yêu cầu B chấm dứt hành vi đó
nhưng B không nghe, A bực mình giằng lấy
búa của B đánh một cái làm B ngU gục phải
đưa đi cấp cứu nhưng sau đó B đU chết
Trong trường hợp này phải coi hành vi trái
pháp luật của B là nghiêm trọng vì nó được
lặp đi lặp lại nhiều lần A phạm tội trong tình
trạng tinh thần bị kích động mạnh nếu nạn
nhân không có lỗi thì rõ ràng là không thể có
sự kích động mạnh về tinh thần của bị cáo
3 Mối quan hệ giữa trạng thái tinh thần của bị cáo và hành vi trái pháp luật của nạn nhân
Đây là mối quan hệ nhân quả giữa hành
vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân với trạng thái tinh thần của bị cáo Hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân phải là nguyên nhân của tình trạng tinh thần
bị kích động mạnh của bị cáo Nếu tinh thần
bị cáo bị kích động mạnh là do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của người khác thì bị cáo không được xử theo khoản 3 Điều 81 BLHS Lào mà phải coi trường hợp giết người của bị cáo là trường hợp giết người thông thường./
Một vài suy nghĩ (Tiếp theo trang 53)
4 Giải quyết tranh chấp liên quan đến
tư vấn đầu tư chứng khoán
Hoạt động tư vấn đầu tư chứng khoán đU
thực hiện trong thực tế vì vậy khả năng xảy
ra tranh chấp liên quan đến vấn đề này là
hiện thực Tuy nhiên, để tiến hành giải quyết
tranh chấp thường phải dựa trên những căn
cứ khác nhau như cơ sở phát sinh tranh chấp,
loại tranh chấp, thoả thuận giải quyết trong
hợp đồng, cơ quan giải quyết tranh chấp
trong trường hợp không thoả thuận trong hợp
đồng Những căn cứ này dường như rất khó
xác định trong điều kiện cụ thể hiện nay
Theo quy định hiện hành, mọi tranh chấp
phát sinh liên quan đến chứng khoán và thị
trường chứng khoán bắt buộc phải giải quyết
tại thị trường,(13) cụ thể do ban hoà giải tại
trung tâm giao dịch chứng khoán(14) giải
quyết Tuy nhiên, đối với hoạt động tư vấn
đầu tư, quan điểm của chúng tôi nếu giải quyết tại ban hoà giải này chưa thực sự thích hợp bởi đây là loại dịch vụ tư vấn, mặt khác, cơ cấu thành phần ban hoà giải hiện nay dường như chưa có đảm bảo cho người đầu tư và còn một số lí do khác nữa Vì vậy, theo
ý kiến chúng tôi cần phải sớm xem xét lại để ban hành văn bản pháp luật có hiệu lực pháp
lí ở mức độ cần thiết quy định về giải quyết tranh chấp liên quan đến chứng khoán và thị trường chứng khoán, trong đó có tranh chấp
về tư vấn đầu tư chứng khoán./
(13)Xem: Điều 78 Nghị định số 48/1998/NĐ-CP ngày 11/7/1998
(14)Xem: Quy định về tổ chức ban hoà giải tại trung tâm giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh (Ban hành kèm theo Quyết định số 39/2000/QĐ-TTGD3 ngày 12/6/2000 của giám đốc Trung tâm giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh)