1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bảo hộ phần mềm máy tính theo quy định của pháp luật một số nước trên thế giới và bài học kinh nghiệm cho việt nam

109 165 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 109
Dung lượng 12,08 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phạm vi nghiên cứu Trong phạm vi và giới hạn của một luận văn Thạc sĩ, tác giả không đi sâu vào nghiên cứu vấn đề thực thi quyền SHTT đối với PMMT mà tập trung chủ yếu nghiên cứu những

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

HỨA THỊ THANH HÕA

ĐỀ TÀI

BẢO HỘ PHẦN MỀM MÁY TÍNH THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI VÀ

BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Hà Nội - 2017

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

HỨA THỊ THANH HÕA

ĐỀ TÀI

BẢO HỘ PHẦN MỀM MÁY TÍNH THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Chuyên ngành: Luật Quốc Tế

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chƣa đƣợc công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, đƣợc trích dẫn đúng theo quy định

Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của Luận văn này

Học viên

Hứa Thị Thanh Hòa

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên, em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy, cô giáo giảng dạy tại Trường Đại học Luật Hà Nội, đặc biệt là các thầy, cô giảng dạy tại Khoa Pháp luật Quốc tế - Trường Đại Học Luật Hà Nội cùng với tri thức và tâm huyết của mình đã nhiệt tình giảng dạy và truyền đạt những kiến thức quý báu cho em trong suốt quá trình theo học chương trình Thạc sĩ Luật học giúp em được trang bị nền tảng kiến thức để có thể hoàn thành được luận văn

Đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn và sự tri ân sâu sắc tới giáo viên hướng dẫn - TS Nguyễn Thái Mai - Giảng viên chính Khoa Pháp luật quốc tế - Trường Đại học Luật

Hà Nội người đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn, giúp đỡ em trong quá trình tìm hiểu và nghiên cứu kiến thức để em có thể hoàn thành tốt công trình nghiên cứu của mình Nếu không có những hướng dẫn, giúp đỡ của cô em nghĩ em sẽ gặp rất nhiều khó khăn để hoàn thành luận văn Tận đáy lòng mình, em rất biết ơn cô!

Lời cuối cùng, em cũng muốn gửi lời cảm ơn chân thành đến bố mẹ và gia đình- những người luôn bên em động viên và giúp đỡ trong cuộc sống cũng như đã tạo điều kiện tốt nhất cho em trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thiện luận văn

Hà Nội, ngày 10 tháng 08 năm 2017

Học viên

Hứa Thị Thanh Hòa

Trang 5

Trade - Related Intellectual Property Rights Agreement

trong thời đại kĩ thuật số

The WIPO Copyright Treaty

WIPO

Organization

Trang 6

MỤC LỤC BẢNG TỪ VIẾT TẮT

LỜI MỞ ĐẦU 1

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ PHẦN MỀM MÁY TÍNH VÀ ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ VỀ BẢO HỘ PHẦN MỀM MÁY TÍNH 6

1.1 KHÁI QUÁT VỀ PHẦN MỀM MÁY TÍNH 6

1.2 ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ VỀ BẢO HỘ PHẦN MỀM MÁY TÍNH 21

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 27

Chương 2 PHÁP LUẬT MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI VỀ BẢO HỘ PHẦN MỀM MÁY TÍNH 28

2.1 BẢO HỘ PHẦN MỀM MÁY TÍNH THEO CƠ CHẾ BẢO HỘ THÔNG TIN BÍ MẬT 28

2.2 BẢO HỘ PHẦN MỀM MÁY TÍNH THEO CƠ CHẾ BẢO HỘ SÁNG CHẾ 38

2.3 BẢO HỘ PHẦN MỀM MÁY TÍNH THEO CƠ CHẾ BẢO HỘ QUYỀN TÁC GIẢ 45

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 57

Chương 3 THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ BẢO HỘ PHẦN MỀM MÁY TÍNH TẠI VIỆT NAM TỪ KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA 58

3.1 THỰC TRẠNG BẢO HỘ PHẦN MỀM MÁY TÍNH TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY 58

3.2 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ BẢO HỘ PHẦN MỀM MÁY TÍNH TẠI VIỆT NAM TỪ KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA 76

TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 85

KẾT LUẬN 86

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO PHỤ LỤC

Trang 7

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

PMMT xuất hiện từ những năm 50 của thế kỉ XX và ngay lập tức trở thành một ngành công nghệ với bước phát triển mạnh mẽ, PMMT đã cho thấy rằng nó là một đối tượng mang bản chất phức tạp, chứa đựng hàm lượng đầu tư lớn về vật chất lẫn trí tuệ

Dự báo trong tương lai về tiềm năng phát triển một thị trường rộng lớn liên quan tới lĩnh vực này… Cùng với đó những tranh luận của các luật gia, các nhà nghiên cứu trên toàn cầu về lựa chọn cơ chế bảo hộ thích hợp nhất cho PMMT được khởi xướng, mỗi quan điểm đều có những lí lẽ riêng của mình và có những đề xuất giải quyết thuyết phục Tuy nhiên rõ ràng rằng mỗi cơ chế bảo hộ PMMT vẫn tồn tại những hạn chế nhất định và việc lựa chọn ra cơ chế bảo hộ nào là toàn diện nhất là vấn đề không dễ dàng

Ở Việt Nam, trong những năm qua ngành công nghệ thông tin nói chung và công nghệ phần mềm tuy còn non trẻ, nhưng lại có sự phát triển với tốc độ chóng mặt trở thành một phần gắn liền với mọi lĩnh vực đời sống xã hội Điểm đáng chú ý ở đây

đó là sự phát triển này đi liền với với nguyên tắc “cung cầu” của thị trường Ngày nay

nhu cầu sử dụng PMMT ngày càng tăng cao vì những mặt tích cực mà PMMT mang

lại cho người sử dụng Để đáp ứng “nhu cầu” của thị trường đòi hỏi phải có nguồn

“cung” tương ứng “Nguồn cung” này được thể hiện qua sự gia tăng nhanh chóng hàng

loạt doanh nghiệp, nhân lực trong lĩnh vực công nghệ thông tin, những người trực tiếp sáng tạo ra các sản phẩm phần mềm Cùng với đó là sự thu hút hàng loạt các doanh nghiệp nước ngoài đến đầu tư và mở rộng thị trường trong lĩnh vực PMMT

Trong bối cảnh đó, yêu cầu tất yếu đặt ra ở đây là cần phải xác định cơ chế bảo

hộ hợp lí đối với PMMT, nhằm mục đích thúc đẩy sáng tạo trí tuệ và xây dựng hành lang pháp lý đủ mạnh làm cơ sở cho sự phát triển bền vững của ngành công nghệ thông tin nói riêng và nền kinh tế đất nước nói chung

Để làm được điều đó, việc phân tích, nghiên cứu và tìm hiểu các quy định về bảo

hộ PMMT trong pháp luật của các quốc gia tiêu biểu, có nền công nghệ thông tin phát triển mạnh và nhiều kinh nghiệm bảo hộ PMMT như: Hoa Kỳ, Ấn Độ, Nhật Bản… là hết sức cần thiết Giúp chúng ta rút ra những bài học kinh nghiệm tốt nhất, để hoàn thiện các quy định pháp luật Việt Nam nhằm nâng cao hiệu quả bảo hộ PMMT Có như vậy,

Trang 8

Việt Nam mới có thể xây dựng ngành công nghệ thông tin nói chung và công nghệ phần mềm nói riêng phát triển một cách hiệu quả và bền vững Đây cũng là lý do mà

tác giả chọn đề tài “Bảo hộ phần mềm máy tính theo quy định của pháp luật một số

nước trên thế giới và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu cho

luận văn của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

2.1 Các công trình nghiên cứu của nước ngoài

Kể từ nửa cuối của thế kỷ XX, công nghệ phần mềm ra đời và trở thành một trong những ngành công nghiệp có sự phát triển nhanh nhất, chiếm lĩnh một thị phần lớn trong mọi mặt của đời sống xã hội Trong bối cảnh đó các quốc gia ngày càng quan tâm hơn tới vấn đề bảo hộ PMMT Các nghiên cứu cũng ngày càng tăng lên, tuy nhiên

nó vẫn luôn là một vấn đề gây nhiều tranh cãi và có nhiều ý kiến trái chiều, các nghiên cứu này chủ yếu được viết dưới dạng bài tham luận, hội thảo hoặc các ý kiến tranh luận như:

- Ania Jedrusik and Phil Wadsworth (2017), “Patent protection for software

implemented inventions”, Wipo Magazine, (01) Đưa ra những ý kiến về lợi ích và hạn

chế của cơ chế bảo hộ sáng chế đối với PMMT

- Rosa Maria Ballardini (2012), Intellectual Property Protection for Computer

Programs Developments, Challenges, and Pressures for Change Nghiên cứu, phân

tích các khía cạnh khác nhau của các chức năng PMMT và áp dụng quy định về các cơ chế bảo hộ trong hệ thống luật SHTT ở các nước đối với ngành công nghiệp PMMT

2.2 Các công trình nghiên cứu trong nước

Ở Việt Nam, vấn đề bảo hộ PMMT là vấn đề còn khá mới trong lý luận cũng như thực tiễn Phần lớn các nghiên cứu được đưa ra hiện nay đều tập trung trong phạm vi phân tích các quy định của pháp luật Việt Nam Tiêu biểu một số nghiên cứu khoa học như sau:

Nguyễn Đình Huy (2002), “Một vài suy nghĩ về bảo hộ CTMT ở Việt Nam”,

Tạp chí Khoa học pháp lý, (số 8); Nguyễn Như Hà (2007), “Một hướng tiếp cận bảo hộ

CTMT trong thế giới hội nhập”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, (số 12-236); Hoàng Minh Huệ (2009), “Một số vấn đề về bảo hộ CTMT hiện nay”, Tạp chí Hoạt động

Trang 9

khoa học (số 596); Trần Văn Hải (2009), “CTMT nên được bảo hộ là đối tượng nào

của quyền SHTT”, Tạp chí Hoạt động khoa học (số 597).v.v

Ngoài ra còn có những luận văn thạc sỹ liên quan đến vấn đề này như: Phạm

Minh Sơn (2006), Quyền tác giả đối với chương trình máy tính một số vấn đề lý luận

và thực tiễn, Trường Đại học Luật Hà Nội hay Trương Thị Tường Vi (2010), Bảo hộ quyền tác giả đối với chương trình máy tính theo pháp luật Việt Nam, Khoa Luật Đại

học Quốc Gia Hà Nội v.v

Các công trình nghiên cứu khoa học trên một mặt chỉ tập trung phân tích các quy định của pháp luật Việt Nam về bảo hộ PMMT mà không đi sâu nghiên cứu các quy định cụ thể của pháp luật của một số quốc gia có nền kinh tế phát triển và nhiều kinh nghiệm trong vấn đề bảo hộ PMMT Tuy nhiên, những bài viết của các tác giả đã phân tích cơ bản về pháp luật Việt Nam và đề xuất những phương hướng hoàn thiện pháp luật trong tương lai, đó là cơ sở để tác giả tiếp tục nghiên cứu, phát triển, so sánh với pháp luật nước ngoài nhằm xây dựng và hoàn thiện luận văn của mình

3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu của đề tài

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của Luận văn tập trung vào phân tích các cơ chế bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với PMMT (gọi tắt là bảo hộ PMMT) theo quy định pháp luật của một số quốc gia trên thế giới Cụ thể là các quy định về bảo hộ PMMT thông qua

cơ chế bảo hộ thông tin bí mật, sáng chế và quyền tác giả Thông qua đó đối chiếu, so sánh với các quy định của pháp luật Việt Nam, thực trạng bảo hộ PMMT tại Việt Nam,

để tìm ra những điểm mới, những điểm tiến bộ trong pháp luật của các quốc gia trên thế giới và rút ra các bài học kinh nghiệm nhằm hoàn thiện quy định pháp luật Việt Nam hiện hành về bảo hộ PMMT

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Trong phạm vi và giới hạn của một luận văn Thạc sĩ, tác giả không đi sâu vào nghiên cứu vấn đề thực thi quyền SHTT đối với PMMT mà tập trung chủ yếu nghiên cứu những nội dung trực tiếp liên quan đến PMMT và bảo hộ PMMT như: khái niệm về PMMT, điều kiện bảo hộ, nội dung bảo hộ PMMT và hành vi xâm phạm PMMT tương ứng với các cơ chế bảo hộ được quy định trong pháp luật một số quốc

Trang 10

gia tiêu biểu như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Ấn Độ.v.v Đây là các quốc gia có sự phát triển vượt bậc trong lĩnh vực công nghệ phần mềm cũng như sự hoàn thiện và đồng bộ của

hệ thống pháp luật về bảo hộ PMMT Trên cơ sở đó so sánh và rút ra bài học kinh nghiệm, đồng thời kiến nghị các giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về bảo hộ PMMT

4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

* Phương pháp luận: việc nghiên cứu luận văn sẽ dựa trên nền tảng cơ sở

phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác - Lênin Đây được coi là kim chỉ nam cho việc định hướng các phương pháp nghiên cứu cụ thể của tác giả trong quá trình thực hiện luận văn

* Phương pháp nghiên cứu: trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác -

Lênin, trong quá trình nghiên cứu luận văn, tác giả sẽ sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu cụ thể như sau:

- Phương pháp phân tích và bình luận để làm rõ những vấn đề lý luận và quy định pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia về bảo hộ PMMT

- Phương pháp so sánh để nhằm chỉ ra những điểm tương đồng và khác biệt giữa các quy định pháp luật về các cơ chế bảo hộ PMMT ở các hệ thống pháp luật khác nhau trên thế giới

- Phương pháp tổng hợp nhằm khái quát thực trạng pháp luật và thực tiễn bảo hộ PMMT ở Việt Nam hiện nay Để từ đó đưa ra những kiến nghị phù hợp nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam dựa trên bài học kinh nghiệm từ pháp luật của các quốc gia

5 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

- Đánh giá thực trạng và đề ra một số giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam

về bảo hộ PMMT trên cơ sở học hỏi kinh nghiệm các quy định của pháp luật nước ngoài

Trang 11

5.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Luận văn tổng hợp và phân tích khái niệm về PMMT Trên cơ sở đó, tìm hiểu quy định về bảo hộ PMMT theo pháp luật một số nước tiêu biểu Từ đó rút ra các bài học kinh nghiệm cho Việt Nam và đưa ra giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam nhằm tăng cường hiệu quả bảo hộ PMMT

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn

* Về mặt lý luận: Kết quả nghiên cứu của Luận văn có thể làm tài liệu tham

khảo, luận cứ đề xuất, bổ sung những vấn đề lý luận bảo hộ PMMT, đặc biệt là lý luận

về bảo hộ PMMT ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

* Về mặt thực tiễn: Luận văn có thể được dùng làm tài liệu để các cá nhân, doanh

nghiệp, tổ chức hoạt động trong lĩnh vực PMMT nghiên cứu, tham khảo và học hỏi nhằm có cái nhìn tổng quan về việc lựa chọn được cơ chế bảo hộ đối với PMMT được cho là tối ưu và đem lại hiệu quả bảo hộ tốt nhất trên cơ sở tham khảo một số hê thống

pháp luật về bảo hộ PMMT trên thế giới

7 Cơ cấu luận văn

Ngoài Phần mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và các Phụ lục Nội dung luận văn được bố cục thành 3 chương cụ thể như sau:

Chương 1 Một số vấn đề lí luận về phần mềm máy tính và điều ước quốc tế về

Trang 12

Chương 1

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ PHẦN MỀM MÁY TÍNH VÀ ĐIỀU ƯỚC

QUỐC TẾ VỀ BẢO HỘ PHẦN MỀM MÁY TÍNH

1.1 KHÁI QUÁT VỀ PHẦN MỀM MÁY TÍNH

1.1.1 Khái niệm phần mềm máy tính

Trong kỉ nguyên công nghệ số hiện nay, cùng với sự phát triển của khoa học kĩ thuật, máy vi tính (sau đây gọi tắt là máy tính) đã ra đời và trở thành công cụ không thể thiếu trong mọi khía cạnh của đời sống xã hội Các tính năng của máy tính luôn có sự cập nhật, đổi mới và ngày càng được nâng cao Hình thức máy tính cũng được thay đổi

từ những chiếc máy tính (PC) có kích thước lớn, dần được thay thế bằng các thiết kế nhỏ gọn, hợp thời trang thu hút được thị hiếu của người tiêu dùng

Mặc dù có nhiều cách giải thích khác nhau nhưng về cơ bản máy tính muốn hoạt động cần phải được cấu tạo bởi hai bộ phận: phần cứng và phần mềm Đây là hai bộ phận quan trọng nhất của máy tính chúng có mối tương quan mật thiết với nhau Phần cứng sẽ quyết định hiệu năng của phần mềm Phần cứng tốt thì phần mềm chạy nhanh,

ổn định Còn phần mềm chỉ có thể hoạt động được dựa trên cấu tạo của phần cứng tương thích

Nếu phần cứng máy tính là phần mà người dùng máy tính có thể nhìn thấy được bằng mắt thường với hình dạng cố định, có thể tương tác bằng cách sờ, cầm, nắm lấy.Ví dụ: Màn hình, chuột, bàn phím, dây cắm, CPU, Ram.v.v.Thì ngược lại PMMT

là các ứng dụng chạy bên trong máy tính, chúng ta không thể cầm, nắm, sờ vào được Một máy tính có rất nhiều phần mềm, mỗi phần mềm giải quyết một chức năng khác nhau để máy tính có thể hoạt động Nếu như về mặt kĩ thuật, phần mềm của máy tính

có vị trí hết sức quan trọng được coi là “linh hồn” của máy tính quyết định tới hiệu

năng của máy tính Thì về mặt kinh tế, phần mềm có khả năng đem lại cho chủ sở hữu phần mềm những lợi ích vật chất vô cùng to lớn, thậm chí có những phần mềm mà bản thân giá trị thương mại của nó lên tới hàng triệu đô la

Trang 13

Hiện nay, không những trong đời sống hàng ngày mà ngay cả về mặt mặt pháp

lý, vẫn đang tồn tại song song hai thuật ngữ “phần mềm máy tính” (computer software) và “chương trình máy tính” (computer program) Hai khái niệm này được sử

dụng thường xuyên, không có sự phân biệt một cách rõ ràng Thậm chí trong ngôn ngữ hàng ngày, nhiều người sử dụng đồng nhất và coi hai thuật ngữ trên là cùng chỉ một đối tượng.Tuy nhiên, nhận định này không chính xác bởi giữa chúng luôn tồn tại những điểm khác biệt nhau

Vì vậy khi tìm hiểu về PMMT theo hướng nghiên cứu chuyên sâu, đặc biệt trong vấn đề bảo hộ PMMT việc tiếp cận khái niệm PMMT dưới hai góc độ khoa học công nghệ và pháp luật là thực sự cần thiết nhằm giúp chúng ta hiểu rõ nội hàm khái niệm PMMT một cách toàn diện, đầy đủ và chính xác nhất

1.1.1.1 Dưới góc độ khoa học công nghệ

Dưới góc độ khoa học công nghệ có nhiều khái niệm về PMMT được đưa ra nhưng về cơ bản có nội dung tương tự như nhau:

Theo từ điển Computer Hope: “PMMT là một tập hợp các câu lệnh, chỉ thị cho

phép người sử dụng tương tác với máy tính, phần cứng của máy tính để thực hiện một nhiệm vụ hay một vấn đề cụ thể nào đó”(1)

Theo giáo trình cấu trúc máy tính – Đại học Thái Nguyên: “Phần mềm là hệ các

chương trình trong máy tính giúp người sử dụng (user) thực hiện một công việc nào đó”

Theo giáo trình Nhập môn công nghệ phần mềm – Đại học Hàng Hải: “Phần

mềm là một tập hợp bao gồm: Các lệnh (CTMT) khi thực hịên thì đưa ra hoạt động và kết quả mong muốn Các cấu trúc dữ liệu làm cho chương trình thao tác thông tin thích hợp Các tài liệu mô tả thao tác và cách dùng chương trình”

Từ những định nghĩa trên ta có thể thấy bất kì PMMT nào cũng được kết cấu bởi

ba yếu tố cơ bản như sau:

(1)

Software , http://www.computerhope.com/jargon/s/software.htm: “software is a collection of instructions that

enable the user to interact with a computer, its hardware, or perform tasks”, ngày truy cập 10/4/2017

Trang 14

Thứ nhất, các câu lệnh, chỉ thị (tức chương trình máy tính) được viết dưới dạng

mã nguồn và mã máy Theo đó:

- Ngôn ngữ máy (mã máy): Chứa toàn các số nhị phân (gồm số 0 và số 1) Vì tập lệnh của ngôn ngữ máy phụ thuộc vào loại vi xử lý nên ngôn ngữ máy sẽ khác nhau trên những máy tính có sử dụng bộ vi xử lý khác nhau Khi viết chương trình bằng ngôn ngữ máy, lập trình viên có thể điều khiển máy tính trực tiếp và đạt được chính xác điều mình muốn làm Do đó, các chương trình ngôn ngữ máy được viết tốt là những chương trình rất hiệu quả (tốc độ thi hành nhanh, kích thước nhỏ) Tuy nhiên chương trình viết ngôn ngữ máy mất rất nhiều thời gian để viết và rất khó đọc Mặt khác vì chương trình được viết bằng tập lệnh phụ thuộc vào bộ vi xử lý nên chương trình chỉ chạy được trên những máy tính có cùng bộ vi xử lý mà thôi Ngôn ngữ máy

cũng được gọi là ngôn ngữ cấp thấp (low-level language)

- Ngôn ngữ lập trình (mã nguồn): Được thiết kế thích hợp cho những đòi hỏi của các lập trình viên Nó độc lập với mã máy và người ta thường gọi là ngôn ngữ bậc cao Ngôn ngữ cấp cao gần gũi hơn với ý niệm ngôn ngữ mà hầu hết mọi người đều biết, nó bao gồm các danh từ, động từ, ký hiệu toán học, liên hệ và các thao tác luận lý Các yếu tố này có thể được phối hợp, liên kết với nhau tạo thành một hình thức của câu

Các "câu" này được gọi là các mệnh đề của chương trình (program statement) Do đó,

các lập trình viên dễ dàng đọc và dễ lập trình hơn so với ngôn ngữ máy Ngôn ngữ cấp cao thường không phụ thuộc vào máy tính, nghĩa là các chương trình viết bằng ngôn ngữ cấp cao có thể chạy trên các loại máy tính khác nhau (sử dụng các bộ vi xử lý khác nhau).(2)

Thứ hai, cấu trúc dữ liệu bao gồm cấu trúc làm việc và cấu trúc lưu trữ Đây là

cơ sở để xác định phương pháp tổ chức dữ liệu sao cho CTMT được viết bằng ngôn

ngữ lập trình có thể thao tác được đúng và hiệu quả

Thứ ba, các tài liệu liên quan gồm hướng dẫn kỹ thuật, tài liệu tham khảo và tài

liệu phát triển Đây là tài liệu giải thích phần mềm làm việc như thế nào? Hướng dẫn

sử dụng, giải thích cách dùng phần mềm đó ra sao? Các tài liệu này không những giúp

(2) Ngôn ngữ lập trình, http://www4.hcmut.edu.vn/~huynhqlinh/TinhocDC/THDC14/Bai04_1.htm, truy cập ngày 10/04/2017

Trang 15

người sử dụng biết và hiểu sâu sắc cách dùng PMMT mà còn là cơ sở để họ đưa ra những ý kiến đề xuất hợp lí góp phần xây dựng hoàn thiện PMMT

Như vậy, trong ba yếu tố tạo nên một PMMT thì CTMT là yếu tố hạt nhân quan

trọng nhất, nó giống như vai trò của “động cơ” trong một cỗ máy, các yếu tố còn lại là

dữ liệu và tài liệu chỉ đóng vài trò bổ sung cho CTMT.(3)

Qua các phân tích trên, có thể thấy dưới góc độ khoa học công nghệ khái niệm PMMT có nội hàm rộng hơn khái niệm CTMT Bởi lẽ, chính bản thân CTMT kết hợp cùng với tài liệu mô tả chương trình và tài liệu hỗ trợ đã tạo thành tổ hợp các yếu tố chính cấu tạo nên PMMT

1.1.1.2 Dưới góc độ pháp luật

Sự ra đời của máy tính và PMMT được coi là một cuộc cách mạng trong lĩnh vực công nghệ bởi những giá trị to lớn mà nó mang lại cho xã hội Tuy nhiên, trên thế giới cũng như ở Việt Nam việc đưa PMMT là một trong những đối tượng điều chỉnh của pháp luật nói chung và pháp luật SHTT nói riêng vẫn còn khá mới so với các đối tượng khác của quyền SHTT

Dưới góc độ pháp lý hiện nay vẫn đang tồn tại song song hai khái niệm “phần

mềm máy tính” và “chương trình máy tính”

Trong pháp luật quốc tế, đơn cử trong nội dung của Hiệp định về các khía cạnh liên quan tới Thương mại của quyền SHTT (TRIPs) Hiệp ước WIPO về quyền tác giả trong thời đại kĩ thuật số (WCT)… Xuyên suốt nội dung các điều ước này đều sử dụng

thuật ngữ “computer program” tức “chương trình máy tính” khi quy định về các vấn

đề có liên quan Tuy nhiên lại không có điều luật định nghĩa hay giải thích thế nào là chương trình máy tính?

Trong pháp luật quốc gia, mỗi nước lại đưa ra những khái niệm được diễn đạt

khác nhau trong luật của nước mình Có nước sử dụng thuật ngữ “phần mềm” có nước lại sử dụng thuật ngữ “chương trình máy tính”

(3) Khái niệm, định nghĩa chương trình máy tính là gì?, http://vlo.vn/c/chuong-trinh-may-tinh/, ngày truy cập 10/04/2017

Trang 16

Theo luật ngày 10 tháng 5 năm 1994 của Pháp: “Phần mềm là toàn bộ các

chương trình được tiến hành và các quy tắc, có thể cả tư liệu, liên quan đến việc vận hành của một tổng thể xử lý dữ liệu” (4)

Luật quyền tác giả của Nhật Bản định nghĩa: “Chương trình máy tính là sự thể

hiện các lệnh kết hợp dành cho máy tính để làm cho máy tính vận hành được và đạt được kết quả nhất định”.(5)

Luật quyền tác giả Hợp chủng quốc Hoa Kỳ: “Chương trình máy tính là tổng

thể các chỉ dẫn hoặc câu lệnh được sử dụng trực tiếp hoặc gián tiếp trong một máy tính để tạo ra một kết quả nhất định”.(6)

Trong xu thế hội nhập thế giới hiện nay và để điều chỉnh kịp thời các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực công nghệ phần mềm, pháp luật Việt Nam đã xây dựng các quy định về PMMT được ghi nhận trong nhiều văn bản luật

Khoản 1, Điều 2 Quyết định 128/2000/QĐ – TTG ngày 20 tháng 11 năm 2000 của Thủ tướng Chính phủ về một số chính sách và biện pháp khuyến khích đầu tư và

phát triển công nghiệp phần mềm định nghĩa: “Phần mềm được hiểu là chương

trình, tài liệu mô tả chương trình, tài liệu hỗ trợ, nội dung thông tin số hóa”

Tuy nhiên khi Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (Sửa đổi, bổ sung năm 2009 – Sau đây gọi tắt là Luật SHTT 2005) ra đời và có hiệu lực các nhà làm luật lại không tiếp tục

sử dụng thuật ngữ “phần mềm” mà thay vào đó lại sử dụng thuật ngữ “chương trình

máy tính” Cụ thể, khoản 1, Điều 22 quy định: “Chương trình máy tính là tập hợp các chỉ dẫn được thể hiện dưới dạng các lệnh, các mã, lược đồ hoặc bất kỳ dạng nào khác, khi gắn vào một phương tiện mà máy tính đọc được, có khả năng làm cho máy tính thực hiện được một công việc hoặc đạt được một kết quả cụ thể Chương trình máy tính được bảo hộ như tác phẩm văn học, dù được thể hiện dưới dạng mã nguồn hay mã máy”

(4) Trần Văn Hải (2012), “Bảo hộ chương trình máy tính như đối tượng độc lập của quyền sở hữu trí tuệ”, Tạp

chí nhà nước và pháp luật, (11) tr.33-42

(5) Khoản 10.2, Điều 2, Luật quyền tác giả Nhật Bản

(6) Điều 101, Luật quyền tác giả Hợp chủng quốc Hoa Kỳ

Trang 17

Sau đó, khoản 12 Điều 4 Luật Công nghệ thông tin năm 2006 lại sử dụng thuật

ngữ “phần mềm” và định nghĩa: “Phần mềm là chương trình máy tính được mô tả

bằng hệ thống ký hiệu, mã hoặc ngôn ngữ để điều khiển thiết bị số thực hiện chức năng nhất định”

Từ các quy định trên có thể thấy, mặc dù có những cách định nghĩa khác nhau về mặt thuật ngữ, khái niệm PMMT dưới góc độ pháp lí cũng có nội hàm rộng và bao quát khái niệm CTMT Một máy tính muốn hoạt động được ngoài phần cứng cần phải có phần mềm, một phần mềm phải được tạo thành từ các bộ phận cấu thành trong đó quan trọng nhất là CTMT Mỗi PMMT có thể được xây dựng từ nhiều CTMT và các CTMT này được coi là yếu tố chính tạo nên phần mềm, chất lượng của CTMT quyết định chất

lượng của phần mềm

Vì vậy, để nghiên cứu các quy định pháp luật về bảo hộ PMMT một cách sâu sắc và toàn diện Mặc dù có những định nghĩa khác nhau trong cách thể hiện nhưng về bản chất bảo hộ PMMT cũng chính là bảo hộ CTMT Do đó, để thống nhất việc sử

dụng thuật ngữ, trong luận văn này tác giả sử dụng thuật ngữ chung là PMMT

1.1.2 Đặc điểm của phần mềm máy tính

Hiện nay, bảo hộ quyền tác giả là một cơ chế được lựa chọn và chấp nhận rộng rãi trên toàn cầu để bảo hộ PMMT Cơ chế này nhìn chung được coi là khá phù hợp khi

nó bảo hộ tương đối đầy đủ về quyền SHTT đối với PMMT Có nhiều lý do giải thích cho sự lựa chọn này tuy nhiên tất cả đều xuất phát từ quan điềm cho rằng về bản chất, PMMT bao gồm các mã lệnh được viết bằng những ngôn ngữ lập trình nhằm giúp máy tính có thể thực hiện được một công việc cụ thể Những ngôn ngữ lập trình này xét từ góc độ nào đó cũng tương tự như ngôn ngữ cụ thể để tạo nên một tác phẩm văn học Tuy nhiên, như đã phân tích ở trên PMMT được tạo thành từ nhiều yếu tố và các yếu tố này có mối liên hệ mật thiết tới lĩnh vực khoa học kĩ thuật Do đó PMMT có những đặc điểm khác biệt rất lớn so với tác phẩm văn học nghệ thuật và chỉ khi hiểu rõ những điểm này, thì ta mới có thể nghiên cứu một cách toàn diện nhất các vấn đề về bảo hộ PMMT

Trang 18

1.1.2.1 Phần mềm máy tính liên quan tới nhiều đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ

Đặc điểm này của PMMT xuất phát từ lí do để xây dựng một PMMT phải trải qua nhiều công đoạn và ở mỗi công đoạn đều có mối liên quan tới những đối tượng khác của quyền SHTT như: bí mật kinh doanh, sáng chế, tác phẩm có bản quyền, nhãn hiệu(7) Cụ thể như sau:

Thứ nhất, bí mật kinh doanh: PMMT ra đời xuất phát điểm đầu tiên là việc các

doanh nghiệp, các chuyên gia trong lĩnh vực công nghệ thông qua nắm bắt, nghiên cứu nhu cầu xã hội sẽ đưa ra các ý tưởng phát triển một phần mềm mới vừa đáp ứng được yêu cầu thiết yếu của thị trường vừa có khả năng khai thác giá trị thương mại Để làm được điều này, các doanh nghiệp sẽ tiến hành các cuộc thảo luận, phân tích, đánh giá

và thể hiện các ý tưởng của mình qua các bản kế hoạch Sau khi đã có những ý tưởng, lập trình viên sẽ thiết kế cấu trúc hệ thống và thiết kế kiểu dữ liệu trừu tượng rồi viết

mã nguồn và dịch sang mã máy Để tạo sự đột phá trên thị trường, trước khi những phần mềm này được công bố các bản kế hoạch, bản thiết kế, các dòng mã chắc chắn sẽ không được doanh nghiệp công bố công khai mà được giữ kín thông tin như là một trong những bí mật kinh doanh của doanh nghiệp Ví dụ: các nhà đầu tư UBer đã xây

dựng ý tưởng và sản xuất nên phần mềm Uber cung cấp ứng dụng gọi taxi có khả năng

kết nối người dùng của hãng với các chủ xe hơi riêng (là đối tác của Uber) Uber cung cấp nhiều loại xe khác nhau, từ xe sang cho tới loại giá rẻ Phần mềm này đã đem lại cho Uber thành công vang dội đưa UBer trở thành một trong những Startup công nghệ

có giá trị thương mại lớn nhất trên thế giới hiện nay

Thứ hai, sáng chế: PMMT sau khi lên ý tưởng cần trải qua công đoạn thiết kế

cấu trúc hệ thống và thiết kế kiểu dữ liệu trừu tượng Bằng cách tạo ra các module và sắp xếp nó theo một trật tự nhất định để luồng dữ liệu được xử lí một cách trôi chảy nhất và công việc được thực hiện một cách nhanh nhất từ đó thiết kế các phép toán để thực hiện các công việc này Nhờ đó PMMT có những tính năng mới, sáng tạo và hiệu

(7) Nguyễn Như Hà (2007), “Một hướng tiếp cận bảo hộ phần mềm máy tính trong thế giới hội nhập”, Tạp chí

Nhà nước và Pháp luật, (12 - 236), tr.25

Trang 19

quả hơn so với các phần mềm cạnh tranh khác.(8)

Ví dụ: Tính năng trợ lý ảo Cortana lên PC của hệ điều hành Window 10 [Phụ lục 1] Cho phép người sử dụng nói vào micro của thiết bị, đặt câu hỏi hoặc ra lệnh điều khiển, Cortana sẽ trả lời câu hỏi hoặc thực hiện theo khẩu lệnh Như vậy, lập trình viên đã đưa ra được những giải pháp công nghệ mới, sáng tạo hơn và những thiết kế của họ gần như là sáng chế

Thứ ba, quyền tác giả: như đã phân tích ở trên, CTMT là một trong ba yếu tố tạo

nên PMMT CTMT dựa trên các giải thuật chi tiết và cấu trúc dữ liệu tương ứng, lập trình viên sẽ viết mã nguồn và sau đó biên dịch sang mã máy tương ứng với loại phần cứng mà phần mềm sẽ được cài đặt CTMT hoặc từng bộ phận của chương trình có thể được bảo hộ như các tác phẩm có bản quyền.(9)

Thứ tư, nhãn hiệu: khi PMMT được đưa vào lưu thông như một thực thể hỗn

hợp hàng hóa (vật mang phần mềm) + dịch vụ (quyền sử dụng các đối tượng SHTT theo quy định của nhà thiết kế) mỗi phần mềm đều được đặt một tên riêng và có thể được bảo hộ như một nhãn hiệu.(10)

Hiện nay, cơ chế bảo hộ quyền tác giả đối với PMMT được hầu hết các quốc gia trên thế giới lựa chọn Tuy nhiên một điều không thể phủ nhận đó là chính bản thân PMMT luôn có mối liên hệ mật thiết tới nhiều đối tượng của quyền SHTT như: bí mật kinh doanh, sáng chế…Vì vậy khi nghiên cứu các quy định của pháp luật về bảo hộ PMMT chúng ta cần tiếp cận dưới nhiều cơ chế bảo hộ khác chứ không nên chỉ xét riêng cơ chế bảo hộ quyền tác giả

1.1.2.2 Phần mềm máy tính luôn luôn mang tính sáng tạo

Thứ nhất, PMMT luôn mang tính sáng tạo bởi PMMT là một loại tài sản trí tuệ

Mà tài sản trí tuệ luôn có tính sáng tạo và đổi mới Đặc tính đảm bảo tài sản trí tuệ phải

là một đối tượng mới, nó có thể là một đối tượng chưa từng biết đến nhưng cũng có thể chỉ là một sự khác biệt, riêng có hoặc là một đối tượng đã biết nhưng bổ sung cái mới

(8) NguyễnTuấn Dũng (2014), Pháp luật quốc tế về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với phần mềm máy tính và

kinh nghiệm áp dụng cho pháp luật Việt Nam, Luận văn thạc sĩ ngành Luật Quốc Tế, Đại học Luật Hà Nội, Hà

Nội, tr 18

(9) Đào Minh Đức (2006), “Quyền sở hữu trí tuệ đối với phần mềm”, Tạp chí thế giới vi tính, (12), tr 40

(10) Nguyễn Như Hà (2007), “Một hướng tiếp cận bảo hộ phần mềm máy tính trong thế giới hội nhập”, Tạp chí

Nhà nước và Pháp luật, (12 - 236), tr.25

Trang 20

Một PMMT có thể được xây dựng bởi một hoặc nhiều tác giả, họ nắm bắt nhu cầu của thị trường và đưa ra các ý tưởng, có thể là ý tưởng phát triển từ những cái đã có hoặc các ý tưởng sáng tạo mới nhằm mục tiêu phát triển ra PMMT đáp ứng nhu cầu của cuộc sống

Thứ hai, tính sáng tạo là điểm chung của tất cả tài sản trí tuệ, tuy nhiên đối với

PMMT tính sáng tạo này không dựa theo một nguyên tắc nhất định hay nói cách khác PMMT luôn phát triển, sửa đổi, bổ sung và nâng cấp không theo một khuôn mẫu cố

định, một nguyên tắc “bất di bất dịch” nào mà thay vào đó nó được tạo thành tùy vào

tình hình và các yêu cầu cụ thể, có thể là từ những đơn đặt hàng, từ những ý tưởng sáng tạo của các cá nhân tổ chức khác nhau thông qua việc tiếp thu nhu cầu xã hội, hoặc cũng có thể PMMT ra đời để thích nghi với những tiến bộ công nghệ mới đòi hỏi PMMT phải được nâng cấp Nói tóm lại, chính vì môi trường xã hội luôn thay đổi theo chiều hướng không xác định dẫn tới PMMT cũng phải thay đổi theo một cách tương ứng để đáp ứng được yêu cầu thiết yếu của thị trường

1.1.2.3 Phần mềm máy tính luôn thay đổi và dễ lạc hậu theo thời gian

PMMT khác với phần cứng máy tính cũng như các vật thể đặc định khác ở chỗ PMMT không bị hỏng hay bị hao mòn bởi tác động của điều kiện môi trường tự nhiên, nhưng lại bị tác động bởi yếu tố thời gian Bởi lẽ càng về sau công nghệ mới ra đời và ngày càng tiến bộ, những phiên bản nâng cấp PMMT được phát triển tiếp theo dẫn tới thực tế những PMMT cũ sẽ bị thoái hóa và lạc hậu, không phù hợp với thị hiếu người

sử dụng

Mặt khác, hàng ngày hàng giờ trên thế giới cho ra đời rất nhiều PMMT để phục

vụ nhu cầu của con người Đời sống ngày càng nâng cao thì các yêu cầu đặt ra đối với chất lượng của PMMT sẽ khắt khe hơn rất nhiều, đòi hỏi PMMT phải luôn được sửa đổi, bổ sung, nâng cấp, thay thế và tạo mới Chính vì vậy, yếu tố xã hội và thời gian là nguyên nhân tạo ra sự thay đổi của PMMT nếu không thay đổi sẽ trở nên lạc hậu và lỗi thời

(11) Nguyễn Thái Mai, Vũ Thị Phương Lan (chủ biên 2013), Giáo trình pháp luật quốc tế về sở hữu trí tuệ, NXB

Chính trị - Hành chính, Hà Nội, tr 24

Trang 21

1.1.2.4 Phần mềm máy tính là đối tượng dễ bị sao chép

Cơ chế bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm văn học nghệ thuật chỉ bảo hộ hình thức thể hiện tác phẩm chứ không bảo hộ nội dung tác phẩm Chính bởi vậy, khi sao chép một tác phẩm văn học nghệ thuật thì chất lượng và giá trị của bản sao đó sẽ có

sự thay đổi.Ví dụ: hiện nay trong lĩnh vực xuất bản sách, đặc biệt là giáo trình đại học

và sách giáo khoa Có sự xuất hiện tràn lan của những đầu sách lậu sao chép hoàn toàn nội dung và hình thức của sách có bản quyền Tuy nhiên, việc xác định được đâu là sách lậu, đâu là sách có bản quyền không gặp khó khăn bởi lẽ phần lớn sách lậu là những cuốn sách được in với chi phí rất rẻ, chất lượng thấp, nhìn bằng mắt thường có thể nhận ra

Đối với PMMT một thực tế không thể phủ nhận đó là trong tất cả các loại tác phẩm được bảo hộ bằng quyền tác giả thì PMMT luôn là đối tượng bị xâm phạm nhiều nhất, không những ở Việt Nam mà còn trên toàn thế giới Bởi lẽ PMMT là một loại tài sản trí tuệ chúng ta không thể cầm, nắm, hay thực hiện các tác động vật lý lên nó, PMMT là một sản phẩm chỉ tồn tại trong những cấu tạo vật chất nhất định như: Đĩa

CD, ổ cứng, USB… và được phân phối chủ yếu qua các kênh truyền thống như (hệ thống bán lẻ, hệ thống doanh nghiệp…) Thậm chí chỉ cần một cú click chuột, người sử dụng có thể sở hữu một PMMT mà không gặp bất cứ khó khăn nào Chính vì vậy, PMMT rất dễ bị sao chép một cách dễ dàng với số lượng lớn, khó phát hiện và bảo vệ Mặt khác chất lượng của PMMT sao chép lậu và của bản gốc là hoàn toàn như nhau rất khó có thể phân biệt, xác định và không dễ dàng để có thể nhận biết như một tác phẩm văn học nghệ thuật bị sao chép Chính đặc điểm này của PMMT đã dẫn tới các hành vi xâm phạm quyền SHTT đối với PMMT ngày càng trở nên phổ biến và việc bảo hộ cũng trở nên khó khăn hơn rất nhiều

1.1.3 Phân loại phần mềm máy tính

Có rất nhiều tiêu chí để phân loại PMMT Tuy nhiên, thường có hai cách phân loại PMMT như sau:

Trang 22

Thứ nhất, căn cứ vào phương thức hoạt động và lĩnh vực xử lý PMMT được chia thành hai loại như sau:

- Phần mềm hệ thống: là phần mềm có trách nhiệm kiểm soát, tích hợp và quản

lý các thành phần phần cứng riêng biệt của hệ thống máy tính, nó thực hiện các chức năng như chuyển dữ liệu từ bộ nhớ vào đĩa, hoặc xuất văn bản ra màn hình.(12) Phần mềm hệ thống chủ yếu bao gồm hệ điều hành, chương trình xử lý ngôn ngữ, chương trình tiện ích Hệ điều hành trực tiếp điều khiển và quản lý phần cứng của hệ thống, tổ chức phối hợp sự vận hành của máy tính, cung cấp dịch vụ và hỗ trợ cho các phần mềm

hệ thống và phần mềm ứng dụng khác Hệ điều hành có rất nhiều loại, có hệ điều hành một người sử dụng và hệ điều hành nhiều người sử dụng… Hệ điều hành mà máy tính

cá nhân thường sử dụng có Window 2007, Window 2010.v.v Khi tự tay viết một CTMT cần phải dùng đến chương trình xử lý ngôn ngữ Sử dụng chương trình lập trình máy tính cần thiết phải thông qua chương trình xử lý ngôn ngữ dịch thành lệnh mà máy tính có thể nhận biết thì mới có thể được thực hiện Chương trình tiện ích dùng để bảo

vệ sự vận hành bình thường của máy tính là công cụ phần mềm bảo vệ người quản lý

sử dụng Nó bao gồm chương trình chẩn đoán, chương trình kiểm tra lỗi, chương trình giám sát (13)

- Phần mềm ứng dụng: là loại phần mềm được xây dựng để giải quyết những vấn đề thực tế Thông thường, những phần mềm ứng dụng được thiết kế nhằm giải quyết những vấn đề cụ thể trong một lĩnh vực ứng dụng nào đó Vì thế tính đa dạng của lĩnh vực ứng dụng quyết định sự phong phú, đa dạng của các loại phần mềm ứng dụng Phần mềm ứng dụng cũng có thể được phân thành: Phần mềm đặt hàng và phần mềm đóng gói Trong đó những phần mềm được viết theo yêu cầu riêng của một cá nhân hay

(12) Computer Software Definition, http://www.openprojects.org/software-definition.htm: “Systemsoftware is

responsible for controlling, integrating, and managing the individual hardware components of a computer system

so that other software and the users of the system see it as a functional unit without having to be concerned with the low-level details suchas transferring data from memory to disk, or rendering text onto a display”, ngày truy

cập 17/04/2017

(13)

Thế nào là phần mềm hệ thống, phần mềm ứng dụng?,

https://kipkis.com/Th%E1%BA%BF_n%C3%A0o_l%C3%A0_ph%E1%BA%A7n_m%E1%BB%81m_h%E1% BB%87_th%E1%BB%91ng,_ph%E1%BA%A7n_m%E1%BB%81m_%E1%BB%A9ng_d%E1%BB%A5ng%3F , ngày truy cập 17/04/2017

Trang 23

tổ chức Ví dụ: phần mềm quản lý bán hàng, phần mềm quản lý nhân viên… Được gọi

là phần mềm đặt hàng Còn những phần mềm được viết dựa trên nhu cầu chung của nhiều người, không mang tính đặc thù cho một đối tượng riêng biệt được viết hoàn chỉnh và thường kèm theo phương tiện để cài đặt lên máy tính, người sử dụng chỉ cần mua và thông qua một số thiết lập cơ bản là có thể sử dụng được Ví dụ: phần mềm dùng cho việc xử lý văn bản có Microsoft Word, phần mềm thiết kế ảnh có Photoshop, phần mềm dùng cho thiết kế bổ trợ máy tính có AutoCAD.v.v Hiện nay, các chủng loại phần mềm ứng dụng phát triển rất đa dạng, có thể đáp ứng được yêu cầu của nhiều đối tượng trong mọi lĩnh vực khác nhau

Thứ hai, căn cứ vào tiêu chí quyền sử dụng, PMMT có thể được phân loại như sau:

- Phần mềm thương mại: Đây là phần mềm được sản xuất ra để bán và thu lợi nhuận Ví dụ: các phần mềm đóng gói hiện nay của Microsoft như Microsoft Office Thông thường, để tạo ra các phần mềm này nhà sản xuất phần mềm sẽ phải đầu tư một khoản chi phí rất lớn để nghiên cứu, sản xuất và phát triển phần mềm Do đó, họ cần phải thu được lợi nhuận để bù lại những chi phí đã bỏ ra và để tái đầu tư các nhà sản xuất cũng sẽ trích một phần trong số lợi nhuận để sáng tạo ra sản phẩm và công nghệ mới Vì vậy, những phần mềm này không thể miễn phí và giá thành của chúng cũng không hề rẻ Người dùng muốn sử dụng phải trả một khoản tiền để mua bản quyền phần mềm và người mua không được phép tự ý phân phối hay sao chép phần mềm đó

- Phần mềm thử nghiệm (giới hạn thời gian sử dụng): Đây là những phần mềm thương mại nhưng chỉ là những phiên bản thử nghiệm (demo) nhằm tiếp cận và giới thiệu tới người dùng qua đó kích thích khách hàng sử dụng Đặc điểm của loại phần mềm này là bị giới hạn trong một số tính năng và thời hạn sử dụng của sản phẩm: Ví dụ: khi cài đặt phần mềm diệt Virus Kaspersky, sau khi cài đặt hệ thống sẽ tự động cung cấp cho người dùng bản dùng thử trong thời hạn 30 ngày Hết thời hạn trên PMMT sẽ tự động bị khóa bản quyền và người dùng muốn tiếp tục sử dụng phải mua một phần mềm có bản quyền để duy trì quyền sử dụng phần mềm

- Phần mềm mã nguồn mở: “Phần mềm nguồn mở là phần mềm với mã nguồn

được công bố và sử dụng một giấy phép nguồn mở Giấy phép này cho phép bất cứ ai

Trang 24

cũng có thể nghiên cứu, thay đổi và cải tiến phần mềm, và phân phối phần mềm ở dạng chưa thay đổi hoặc đã thay đổi.” (14) Hiện nay, nguồn mở phổ biến nhất trên thế giới là Linux Từ một nhân Linux mở các nhà lập trình đã phát triển thành nhiều phần mềm hoàn chỉnh như: sản phẩm hệ điều hành Linux của các hãng Red Hat, SuSE, Mandrake, Hồng Kỳ.v.v

- Phần mềm miễn phí: là phần mềm mà người sử dụng không cần phải trả bất kì một khoản chi phí nào liên quan tới phần mềm, không hạn chế về thời hạn sử dụng, người dùng có thể sao chép, phân phối cho người khác Tuy nhiên, vẫn phải tôn trọng quyền nhân thân của tác giả, như tên tác giả và không được phép bán lại Phần mềm miễn phí khác với phần mềm mã nguồn mở ở chỗ khi phân phối sẽ không được cung cấp mã nguồn của nó Ví dụ: trình duyệt Chrome, trình duyệt Cốc Cốc.v.v

1.1.4 Ý nghĩa của bảo hộ phần mềm máy tính

Sự ra đời và phát triển với tốc độ nhanh chóng của máy tính nói chung và PMMT nói riêng đại diện cho sự thay đổi chưa từng thấy của cuộc cách mạng công nghiệp Giờ đây PMMT không chỉ được biết đến là một công cụ phổ biến, tác động tới hầu hết mọi khía cạnh của đời sống con người mà còn được biết đến là một ngành công nghiệp tạo ra nguồn thu lớn cho mỗi quốc gia Tuy nhiên, một thực tế hiện nay là tình trạng xâm phạm PMMT ngày càng trở nên phổ biến với những hành vi hết sức tinh vi

và phức tạp Để có thể đưa ra được những biện pháp chế tài tương xứng với hành vi xâm phạm PMMT cũng như củng cố kiến thức cho mọi người trong việc sử dụng PMMT có bản quyền chúng ta cần nhận thức rõ vai trò quan trọng của vấn đề bảo hộ đối với PMMT

Thứ nhất, đối với tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả đối với PMMT

Bảo hộ quyền tác giả đối với PMMT đang là cơ chế được lựa chọn ở hầu hết các quốc gia trên thế giới Việc tiến hành bảo hộ theo cơ chế này đã khuyến khích sự sáng tạo, thông qua các quy định của pháp luật tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả có thể sử dụng, khai thác các lợi ích có được từ chính PMMT do mình tạo ra, tạo động lực để hình thành các ý tưởng mới, tạo ra các sản phẩm phần mềm có tính ứng dụng cao, đáp

(14) Theo Tổ chức Sáng kiến Nguồn mở (OSI - Open Source Initiative)

Trang 25

ứng nhu cầu thiết yếu của xã hội Hơn nữa khi được pháp luật bảo hộ, tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả còn được quyền ngăn cản người khác khai thác, sử dụng trái phép tác phẩm của mình để thu lợi khi không được tác giả, chủ sở hữu cho phép Đặc biệt, thông qua cơ chế bảo hộ sẽ giúp lấy lại công bằng cho tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả khi phát hiện ra các hành vi xâm phạm đến quyền của họ Với các quy định pháp luật

về bảo hộ hộ có thể tiến hành khởi kiện đòi bồi thường thiệt hại về vật chất và tinh thần

do các hành vi xâm phạm gây ra đối với PMMT, khẳng định chắc chắn quyền sở hữu đối với thành quả sáng tạo của mình.(15)

Thứ hai, đối với doanh nghiệp

Để xây dựng và phát triển một PMMT hoàn chỉnh ra thị trường, các doanh nghiệp với vai trò là nhà sản xuất ra PMMT ngoài việc bỏ ra thời gian, công sức, trí tuệ, nhân lực còn phải đầu tư một khoản chi phí kinh tế rất lớn trong toàn bộ quá trình,

từ khi lên ý tưởng cho tới khi đưa được sản phẩm đến tay khách hàng Đối với bất kì một doanh nghiệp việc tạo ra lợi nhuận và thu hồi vốn ban đầu từ việc phát triển PMMT để cho phép tái đầu tư luôn là mục tiêu hướng tới Sự sống còn của một doanh nghiệp chỉ đảm bảo khi thu nhập được tạo ra đủ để trang trải những chi phí cần thiết Mối đe dọa lớn nhất đối với các nhà sản xuất trong lĩnh vực phần mềm đó là tình trạng

vi phạm bản quyền (16) Nếu quá ít người sử dụng trả tiền cho các PMMT mà thay vào

đó, PMMT được tạo ra bị sao chép, phân phối, sử dụng ….một cách tràn lan, trái pháp luật thì nhà sản xuất sẽ không nhận được đủ thu nhập để chi trả cho các chi phí mà họ

đã bỏ ra Vì vậy, việc bảo hộ PMMT sẽ góp phần ngăn chặn các hành vi xâm phạm, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp yên tâm sáng tạo và thiết lập đầu tư

Thứ ba, đối với quốc gia

Một nghiên cứu mới đây của BSA - Liên minh Phần mềm và INSEAD một trong những trường đại học kinh tế hàng đầu thế giới, cho biết việc tăng cường sử dụng phần mềm có bản quyền, chứ không phải tăng cường sử dụng phần mềm lậu sẽ có nhiều ý nghĩa hơn đối với nền kinh tế của một quốc gia Nghiên cứu cho biết ở Việt

(15) Nguyễn Thu Hương (2016), Bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh trên Internet theo quy định của

Điều ước quốc tế và pháp luật Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội tr.22

(16) William A White (2003), Copyright in Computer - More Wrong Than Right?, pp.14

Trang 26

Nam, cứ tăng 1% mức sử dụng phần mềm có bản quyền thì sẽ tạo ra được khoảng 87 triệu đô la giá trị sản phẩm kinh tế quốc dân, so với mức 37 triệu đô la có được từ việc tăng tương tự đối với phần mềm lậu Có nghĩa là sử dụng phần mềm có bản quyền sẽ làm cho giá trị kinh tế tăng thêm được 50 triệu đô la Nghiên cứu khẳng định rằng việc tăng sử dụng phần mềm có bản quyền sẽ làm tăng đáng kể tổng sản phẩm quốc nội (GDP), cũng như tác động thúc đẩy kinh tế của phần mềm có bản quyền là cao hơn đáng kể so với phần mềm lậu (17) Từ đó có thể thấy rằng, vấn đề bảo hộ PMMT là một việc làm hết sức cần thiết, nó tạo động lực to lớn giúp cho nền kinh tế đất nước phát triển, làm tăng nguồn thu đáng kể vào ngân sách nhà nước Nếu pháp luật mỗi quốc gia không có một cơ chế bảo hộ hữu hiệu để kiểm soát và ngăn chặn các hành vi xâm phạm các đối tượng của quyền SHTT nói chung và xâm phạm đối với PMMT nói riêng, thì đây sẽ là một trong nguyên nhân chính dẫn tới tình trạng suy giảm nghiêm trọng thu nhập quốc doanh và đẩy lùi sự phát triển của nền kinh tế đất nước

Mặt khác ngành công nghiệp phần mềm hiện nay đã, đang và sẽ trở thành ngành công nghiệp hái ra tiền ở mỗi quốc gia Bởi đây là lĩnh vực tiềm năng thu hút vốn đầu

tư của các nhà đầu tư nước ngoài Tuy nhiên, chỉ khi quốc gia sở tại thực hiện tốt công tác bảo hộ đối với PMMT thì mới có thể tạo nên niềm tin cho các nhà đầu tư Họ sẽ không bao giờ bỏ ra công sức, thời gian và tiền bạc ở một quốc gia khi mà hành lang pháp lý ở quốc gia đó không bảo đảm an toàn cho những tài sản trí tuệ của họ

Ngoài ra, không chỉ mang tính chất kinh tế thuần túy mà việc bảo hộ PMMT còn mang tính chất chính trị Nhiều quốc gia coi việc bảo hộ PMMT là một phần không thể thiếu trong việc thiết lập mối quan hệ về mặt thương mại, hợp tác đối với các quốc gia khác.Việc xây dựng pháp luật và tham gia vào các điều ước cũng là một bước quan trọng trong công tác bảo hộ quyền SHTT của quốc gia đó trong hệ thống bảo hộ của thế giới Một khi đã là thành viên của các tổ chức thế giới thì quốc gia đó sẽ được bảo

hộ một cách trọn vẹn

Trí tuệ của con người là nguồn gốc của sự sáng tạo mà từ đó sẽ sản sinh ra nhiều sản phẩm phục vụ cho lợi ích kinh tế và tinh thần của con người Với sự phát triển của

(17) Thông cáo báo chí, http://portal.bsa.org/insead/assets/prs/APAC/pr_vietnam_vietnamese.pdf , ngày truy cập 18/04/2017

Trang 27

toàn cầu và sự bùng nổ công nghệ thông tin thì việc bảo hộ PMMT không chỉ liên quan đến quyền lợi của cá nhân mà còn là quyền lợi của một tập thể, một quốc gia Do đó

việc bảo hộ trở thành một vấn đề có ý nghĩa đặc biệt quan trọng

1.2 ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ VỀ BẢO HỘ PHẦN MỀM MÁY TÍNH

Vào tháng 2 năm 1985, Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới và Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên Hợp Quốc đã triệu tập tại Geneva một nhóm chuyên gia

để bàn bạc về các khía cạnh của quyền tác giả về bảo hộ PMMT Tại cuộc họp này, trên cơ sở các cuộc thảo luận và nghiên cứu kĩ lưỡng đã đi tới quyết định việc công nhận PMMT được bảo hộ như một tác phẩm văn học ra đời.( 18)

Kể từ đó tới nay PMMT được bảo hộ như tác phẩm văn học và thuộc đối tượng điều chỉnh của các ĐƯQT trong lĩnh vực này Trong đó tiêu biểu là các ĐƯQT sau:

1.2.1 Công ước Berne về bảo hộ các tác phẩm văn học nghệ thuật 1886 (Berne Convention for the Protection of Literary and Artistic Works)

Công ước Berne là ĐƯQT đa phương đầu tiên thiết lập và bảo vệ quyền tác giả giữa các quốc gia có chủ quyền được kí kết ngày 09/09/1886 tại Thủ đô Berne của Thụy Sĩ Cho tới nay Công ước Berne đã trải qua bảy lần xem xét điều chỉnh, sửa đổi,

và bổ sung cho thích ứng với những tiến bộ của khoa học công nghệ cũng như những đòi hỏi của các nước mới dành được độc lập đang phát triển cần được tiếp cận với các tác phẩm văn hóa, khoa học vì mục tiêu phát triển quốc gia.(19)

Có thể thấy, trong nội dung của Công ước Berne, PMMT không nằm trong đối tượng được quy định là một tác phẩm được bảo hộ (20)

Điều này xuất phát từ một số lý

WIPO, International IP Protection of Software: History, Purpose and Challenges,

http://www.wipo.int/edocs/mdocs/copyright/en/wipo_ip_cm_07/wipo_ip_cm_07_www_82573.pdf, ngày truy cập 22/04/2017

(19) Bùi Ngọc Toàn (1999), “Việt Nam với việc gia nhập Công ước Berne về bảo hộ các tác phẩm văn học và nghệ

thuật”, Tạp chí nghiên cứu quốc tế, (29), tại địa chỉ:

http://www.dav.edu.vn/en/reseach/introduction/64-thong-tin- van-hoc-va-nghe-thuat.html, ngày truy cập 22/04/2017

(20) Xem Điều 2, Công Ước Berne

Trang 28

Hai là, có lẽ tại thời điểm Công ước Berne ra đời và ở các lần sửa đổi, bổ sung

là lúc mà hệ thống máy tính và nền công nghệ phần mềm chưa phát triển mạnh như bây giờ Do đó Công ước Berne không đề cập tới PMMT là đối tượng cần được bảo hộ

Tuy nhiên, hiện nay với việc quy định PMMT được bảo hộ như một tác phẩm văn học và việc lựa chọn cơ chế bảo hộ quyền tác giả đối với PMMT là cơ chế bảo hộ phổ biến nhất trên toàn thế giới thì Công ước Berne trở thành công ước có vị trí quan trọng trong pháp luật quốc tế, điều chỉnh về bảo hộ quyền tác giả nói chung và bảo hộ PMMT nói riêng

Công ước Berne quy định về vấn đề bảo hộ dựa trên ba nguyên tắc cơ bản sau:

Thứ nhất, nguyên tắc đối xử quốc gia: theo đó tác phẩm của tác giả thuộc một

quốc gia thành viên phải được các quốc gia thành viên khác bảo hộ không thấp hơn sự bảo hộ dành cho tác phẩm của tác giả thuộc các quốc gia đó

Thứ hai, nguyên tắc bảo hộ tự động: đây là nguyên tắc đặc thù trong lĩnh vực

quyền tác giả, cụ thể quyền tác giả phát sinh ngay khi tác phẩm định hình dưới dạng vật chất nhất định mà không lệ thuộc vào bất kì thủ tục nào như đăng kí chấp giấy chứng nhận, nộp lưu chiểu hoặc các thủ tục tương tự khác

Thứ ba, nguyên tắc bảo hộ độc lập: nguyên tắc này được hiểu là việc hưởng và

thực hiện các quyền theo Công ước độc lập với những gì được hưởng tại nước xuất xứ của tác phẩm

Phạm vi bảo hộ của Công ước bao gồm tất cả các loại tác phẩm thuộc lĩnh vực văn học nghệ thuật, khoa học trong đó có PMMT với thời hạn bảo hộ là suốt cuộc đời tác giả và 50 năm sau khi tác giả mất, khi tham gia Công ước Berne thì tác phẩm ra đời trước khi nước đó trở thành thành viên cũng được bảo hộ (21)

Công ước dành cho tác giả các quyền tài sản liên quan tới PMMT như độc quyền dịch, sao chép dưới bất cứ hình thức nào, theo bất cứ quy trình nào.v.v Bên cạnh đó, Công ước cũng thừa nhận sự bảo hộ đối với các quyền nhân thân của tác giả như quyền công bố, quyền về danh nghĩa tác giả và quyền bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm, và quyền thu hồi v.v

(21) Phạm Minh Sơn (2006), Quyền tác giả đối với phần mềm máy tính, một số vấn đề lí luận và thực tiễn, Luận

văn Thạc sĩ Luật học, Đại học luật Hà Nội, Hà Nội, tr 15

Trang 29

Để đảm bảo sự cân bằng thích hợp giữa người nắm quyền tác giả và người sử dụng tác phẩm, Công ước quy định hạn chế một số quyền kinh tế nhất định của tác giả, cho phép sử dụng các tác phẩm mà không cần phải xin phép và trả thù lao cho người nắm quyền tác giả chẳng hạn như trích dẫn và sử dụng tác phẩm dưới hình thức minh họa với mục đích giảng dạy, những ghi chép nhất thời để phát tin.v.v Đặc biệt, nhằm khuyến khích việc tham gia Công ước của những nước mới dành được độc lập đang có những khó khăn trong việc phát triển kinh tế, văn hóa và xã hội, Công ước còn dành hẳn một phụ lục cho phép các nước đang phát triển trong những điều kiện cụ thể có thể không cần phải cấp phép đối với trường hợp dịch các tác phẩm nước ngoài để giảng dạy, nghiên cứu, học tập, hoặc tái bản và sử dụng tác phẩm nhằm mục đích giáo dục chính quy và không chính quy. (22)

1.2.2 Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ - Hiệp định TRIPs 1994 (Trade - Related Intellectual Property Rights Agreement)

Tại vòng đàm phán Uruguay tiến tới thành lâp WTO, Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền SHTT đã được thông qua Đây là Hiệp định toàn diện nhất về bảo hộ SHTT bởi Hiệp định này là kết quả của sự kết hợp một số công ước quốc tế ra đời trước đó Hiệp định TRIPs thiết lập các tiêu chuẩn bảo hộ tối thiểu trong thời hạn cụ thể cho hầu hết các đối tượng SHTT, chứa đựng những quy định mở, thiết lập những quy định thực thi quyền SHTT (23)

Hiệp định gồm 7 phần và 73 Điều quy định về nhiều khía cạnh của quyền SHTT Trong đó về vấn đề quyền tác giả Hiệp định TRIPs không quy định lại mà đặt chúng trong mối quan hệ với Công ước Berne khi quy định các nước thành viên phải tuân thủ các điều từ Điều 1 đến Điều 21 và phụ lục của Công ước Berne 1971 (Điều 9)

(22) Bùi Ngọc Toàn (1999), “Việt Nam với việc gia nhập Công ước Berne về bảo hộ các tác phẩm văn học và nghệ

thuật”, Tạp chí nghiên cứu quốc tế, (29), tại địa chỉ: tin-tu-lieu/tap-chi-ncqt/nam-1999/442-so-29-viet-nam-voi-viec-gia-nhap-cong-uoc-berne-ve-bao-ho-cac-tac- pham-van-hoc-va-nghe-thuat.html, ngày truy cập 22/04/2017

http://www.dav.edu.vn/en/reseach/introduction/64-thong-(23) Nguyễn Như Quỳnh (2013), “Tổng quan về hiệp định TRIPs”, cuu-shtt/t-ng-quan-v-hi-p-d-nh-trips, ngày truy cập 22/04/2017

Trang 30

Tuy nhiên so với Công ước Berne các quy định trong Hiệp định TRIPs được cho là phù hợp và tiến bộ hơn rất nhiều, đặc biệt là trong vấn đề bảo hộ PMMT thể hiện ở các nội dung sau:

Thứ nhất, Điều 10 của Hiệp định TRIPs quy định: “Các chương trình máy tính,

dù dưới dạng mã nguồn hay mã máy, đều phải được bảo hộ như tác phẩm văn học theo Công ước Berne (1971)” Có thể thấy, trong quy định này Hiệp định TRIPs đã có ít

nhất hai điểm đáng lưu ý:

Đầu tiên, Hiệp định TRIPs đã giải quyết vấn đề tồn tại trong Công ước Berne khi lần đầu tiên có một ĐƯQT đề cập một cách trực tiếp và ghi nhận PMMT là đối tượng được bảo hộ theo cơ chế quyền tác giả như một tác phẩm văn học Điều này đảm bảo cho việc thiết lập các tiêu chuẩn tối thiểu về bảo hộ quyền tác giả đối với PMMT, tạo cơ sở để các quốc gia thành viên xây dựng cơ chế bảo hộ hiệu quả và toàn diện

Tiếp theo, Hiệp định TRIPs cũng xác định một cách rõ ràng phạm vi bảo hộ đối

với PMMT khi nó quy định cả hai đối tượng là “mã nguồn” và “mã máy” sẽ được bảo

hộ theo các quy định trong công ước Berne về bảo hộ quyền tác giả

Thứ hai, căn cứ theo quy định tại Điều 1 của Hiệp định TRIPs: “các quốc gia thành viên, Các Thành viên có thể, nhưng không bị bắt buộc, áp dụng trong luật của mình việc bảo hộ mạnh hơn so với các yêu cầu của Hiệp định này, miễn là việc bảo hộ

đó không trái với các điều khoản của Hiệp định này Các Thành viên sẽ tự do quyết định phương pháp thích hợp nhằm thi hành các điều khoản của Hiệp định này trong

hệ thống pháp luật và thực tiễn của mình.” Từ quy định này ta thấy, Hiệp định TRIPs

đã linh hoạt trong việc cho phép các quốc gia được áp dụng các cơ chế bảo hộ phù hợp nhất tùy vào từng điều kiện hoàn cảnh của mỗi quốc gia Đối với PMMT bên cạnh quy định áp dụng cơ chế bảo hộ quyền tác giả, TRIPs đưa ra hai cơ chế bảo hộ khác để các quốc gia lựa chọn áp dụng hoặc bổ sung

- Cơ chế bảo hộ sáng chế: căn cứ theo quy định tại Khoản 1, Điều 27, Hiệp định

TRIPs: “Tuỳ thuộc vào quy định tại các khoản 2 và khoản 3 sau đây, patent phải được

cấp cho bất kỳ một sáng chế nào, dù là sản phẩm hay là quy trình, thuộc mọi lĩnh vực công nghệ, với điều kiện sáng chế đó phải mới, có trình độ sáng tạo và có khả năng áp dụng công nghiệp . Tuỳ thuộc vào khoản 4 Điều 65, khoản 8 Điều 70 và khoản 3 Điều

Trang 31

này, các patent phải được cấp và các quyền patent phải được hưởng không phân biệt nơi tạo ra sáng chế, lĩnh vực công nghệ và bất kể các sản phẩm được nhập khẩu hay được sản xuất trong nước” Như vậy, có thể thấy Hiệp định TRIPs không ngăn cản một

quốc gia thành viên cấp patent cho PMMT, PMMT có thể được công nhận sự bảo hộ bằng sáng chế nếu nó đó đáp ứng được các điều kiện về khả năng cấp bằng sáng chế theo quy định của mỗi quốc gia

- Cơ chế bảo hộ thông tin bí mật: căn cứ theo quy định tại Điều 39, Hiệp định

TRIPs thông tin bí mật được bảo hộ phải đáp ứng ba điều kiện: “có tính bí mật; có giá

trị thương mại vì nó có tính bí mật và; được người kiểm soát hợp pháp thông tin đó giữ

bí mật bằng các biện pháp hợp lí”.(24) Đối với một PMMT thông thường sẽ chứa đựng rất nhiều thông tin quan trọng, về bản chất chúng luôn có tính bí mật và có giá trị thương mại rất lớn Do đó đối với bất kì một nhà phát triển phần mềm nào những thông tin đó trở thành một bí mật kinh doanh và cần được bảo hộ Hiệp định TRIPs không loại trừ và cho phép các quốc gia thành viên có thể áp dụng cơ chế bảo hộ thông tin bí mật đối với PMMT

Trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, hành vi xâm phạm quyền SHTT đối với PMMT được coi là mối đe dọa lớn nhất đối với sự phát triển của ngành công nghệ phần mềm Những tranh chấp liên quan tới PMMT cũng từ đó mà nảy sinh và gây thiệt hại lớn về mặt kinh tế, Hiệp định TRIPs ra đời đã xây dựng một cơ sở pháp lý được đánh giá là hiệu quả, công bằng, hợp lý và đạt được sự đồng thuận cao của các nước thành viên

1.2.3 Hiệp ước WIPO về quyền tác giả trong thời đại kĩ thuật số (The WIPO Copyright Treaty - WCT)

Hiệp ước WCT là một ĐƯQT đa phương đặc biệt quan trọng trong lĩnh vực quyền tác giả, trực tiếp điều chỉnh vấn đề bảo hộ quyền tác giả trong môi trường số Hiệp ước được Hội nghị ngoại giao của WIPO về một số vấn đề về quyền tác giả và

(24) Nguyễn Thái Mai, Vũ Thị Phương Lan (chủ biên, 2013), Giáo trình pháp luật quốc tế về sở hữu trí tuệ, NXB

Chính trị - Hành chính, Hà Nội, tr 197

Trang 32

quyền kề cận thông qua ngày 20/12/1996 tại Geneva Tính đến nay, Hiệp ước WCT có

95 quốc gia thành viên, trong đó chưa có sự tham gia của Việt Nam. (25)

Mặc dù Hiệp định TRIPs được đánh giá là Hiệp định đa phương toàn diện nhất

về SHTT nhưng do sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ và sự ra đời của Internet, Hiệp định TRIPs đã bộc lộ những vấn đề chưa thể giải quyết được, đó là những vấn đề liên quan đến bảo hộ quyền SHTT trên môi trường số

Hiệp ước WCT có 25 Điều, bao gồm các quy phạm pháp luật về quyền tác giả quốc tế hiện đại nhất Bởi lẽ, ngoài việc đưa vào nghĩa vụ áp dụng các quy định thực chất của Công ước Berne, Hiệp ước này còn đưa vào các quy định thực chất của Hiệp định TRIPs nhưng không phải bằng việc trích dẫn mà bằng việc kế thừa các quy định tương ứng với sự thay đổi một số từ ngữ đã được coi là sự cụ thể hóa và mở rộng sự bảo hộ của Công ước Berne, đặc biệt trong điều khoản về bảo hộ PMMT Theo đó:

Thứ nhất, cũng giống như Công ước Berne và Hiệp định TRIPs, Hiệp ước WCT

không đưa ra bất kì định nghĩa nào về PMMT mà thay vào đó thuật ngữ “chương trình

máy tính” tức “computer program” lại được ghi nhận trong luật mẫu của WIPO Cụ

thể như sau: “chương trình máy tính được hiểu là một tập hợp các câu lệnh, chỉ thị mà

khi đưa vào một máy có khả năng lưu trữ dữ liệu làm cho nó có khả năng xử lý thông tin để biểu thị, thực hiện hoặc hoàn thành một chức năng, nhiệm vụ hoặc kết quả”.(26)

Thứ hai, Hiệp ước WCT được coi là một phiên bản nâng cao của các ĐƯQT

trước đó về bảo hộ PMMT Cụ thể theo Điều 4 Hiệp ước WCT: “Chương trình máy

tính được bảo hộ như là tác phẩm văn học theo nghĩa của Điều 2 Công ước Berne Sự bảo hộ này áp dụng cho các chương trình máy tính, bất kể chúng được thể hiện dưới hình thức hoặc phương thức nào” Quy định này là sự kế thừa và hoàn toàn phù hợp

với Khoản 1, Điều 2 Công ước Berne (27)

Bởi lẽ Hiệp ước WCT đã xác định phạm vi

bảo hộ đối với PMMT “dưới bất kì hình thức và phương thức nào” Mặt khác, nó cũng

có vai trò bổ sung cho quy định tại khoản 1, Điều 10 của Hiệp định TRIPs khi TRIPs

(25) WIPO - Administered Treaties, Contracting Parties - WIPO Copyright Treaty,

http://www.wipo.int/treaties/en/ShowResults.jsp?lang=en&treaty_id=16, ngày truy cập 24/04/2017

(26)

Model provisions on the protection of computer software,

http://ftp.wipo.int/pub/library/ebooks/wipopublications/wipo_pub_814(e).pdf, ngày truy cập 23/04/2017

(27) Khoản 1, Điều 2 Công Ước Berne quy định “tác phẩm văn học bao gồm tất cả bất kì được biểu hiện theo

phương thức hay dưới hình thức nào ”

Trang 33

chỉ xác định phạm vi bảo hộ PMMT gói gọn ở “mã nguồn” và “mã máy”.(28)

và thậm chí là nền kinh tế của cả một đất nước Ngày nay, vấn đề bảo hộ PMMT không chỉ được quy định trong các ĐƯQT mà hơn cả nó đã và đang trở thành vấn đề được tất các các quốc gia trên thế giới quan tâm, coi đây là giải pháp mang ý nghĩa sống còn đối với sự phát triển của ngành công nghệ phần mềm Để có thể bảo hộ PMMT một cách tối đa và hiệu quả Chương 2 luận văn sẽ tập trung tìm hiểu cụ thể những cơ chế bảo hộ

và các quy định về bảo hộ PMMT của một số quốc gia tiêu biểu Những cách thức cũng như các quy định pháp luật về bảo hộ PMMT ở các nước này sẽ rất bổ ích cho Việt Nam tham khảo và học tập trong quá trình nâng cao hiệu quả bảo hộ PMMT

(28) Điều 10, Hiệp định TRIPs quy định: “Các chương trình máy tính, dù dưới dạng mã nguồn hay mã máy ”

Trang 34

Chương 2 PHÁP LUẬT MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI VỀ BẢO HỘ PHẦN

MỀM MÁY TÍNH

So với các đối tượng SHTT khác PMMT là đối tượng có lịch sử non trẻ, nhưng lại trải qua quá trình phát triển nhanh chóng với nhiều biến đổi lớn về hình thức và kĩ thuật Để phù hợp với những thay đổi đó, các cơ chế bảo hộ PMMT ở các quốc gia đã

có thay đổi linh hoạt nhằm kịp thời điều chỉnh các vấn đề phát sinh trong thực tiễn Nếu ĐƯQT đưa ra các quy định khung làm cơ sở để các quốc gia tham khảo và áp dụng, thì pháp luật quốc gia lại quy định những vấn đề cụ thể và chi tiết về bảo hộ quyền SHTT nói chung và bảo hộ PMMT nói riêng Do đó, ngoài một số điểm tương đồng về quy định bảo hộ thì tùy thuộc vào điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội ở mỗi quốc gia sẽ có những quy định riêng, đặc thù và có hiệu quả để bảo hộ PMMT Đây là

cơ sở để các quốc gia khác có thể tham khảo và học hỏi nhằm hoàn thiện pháp luật nước mình

Hiện nay trên thế giới có nhiều cơ chế được áp dụng để bảo hộ PMMT, nhưng phổ biến nhất là 3 cơ chế sau: bảo hộ theo cơ chế TTBM, sáng chế và quyền tác giả Đặc biệt ở những quốc gia có nền kinh tế phát triển và nền công nghệ phần mềm đứng đầu thế giới như Hoa Kỳ, Ấn Độ, Nhật Bản… các quy định pháp luật về các cơ chế bảo hộ PMMT được đánh giá hết sức chặt chẽ và hiệu quả Vì vậy, tác giả lựa chọn phân tích các cơ chế bảo hộ PMMT trên cơ sở pháp luật của một số quốc gia tiêu biểu,

từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm cho pháp luật Việt Nam

2.1 BẢO HỘ PHẦN MỀM MÁY TÍNH THEO CƠ CHẾ BẢO HỘ THÔNG TIN BÍ MẬT

Bảo hộ PMMT bằng cơ chế bảo hộ TTBM được coi là cơ chế bảo hộ đầu tiên được áp dụng khi đặt ra vấn đề bảo hộ PMMT trên thế giới

Thứ nhất, về mặt thời gian ở giai đoạn ban đầu của quá trình phát triển, PMMT

là một loại hàng hóa chưa phổ biến, chỉ được sở hữu bởi Chính phủ và những tập đoàn lớn khi đó bản thân PMMT là một loại bí mật mà khi được áp dụng có thể đem lại

Trang 35

nhiều lợi thế kinh doanh cho chủ sở hữu bí mật Tại thời điểm này, việc sử dụng một PMMT thường được chỉ giới hạn trong tập đoàn sở hữu nó để đem lại lợi ích cho bản thân tập đoàn và lúc đó PMMT không phải là một sản phẩm mà quyền sử dụng nó được phổ biến ngoài thị trường như hiện nay

Thứ hai, như đã phân tích ở Chương 1 luận văn, bản thân PMMT liên quan tới

nhiều đối tượng của quyền SHTT, trong đó để cho ra đời một sản phẩm phần mềm các nhà sản xuất phần mềm phải trải qua giai đoạn phân tích, đánh giá và thể hiện các ý tưởng qua các bản kế hoạch Hay còn gọi là giai đoạn thực hiện các bước đặc tả phần mềm để hình thành các tài liệu đặc tả yêu cầu chức năng của phần mềm thì các tài liệu

đặc tả đó thường được bảo hộ bằng cơ chế bảo hộ TTBM

Từ những lí do trên, có thể thấy việc bảo hộ PMMT theo cơ chế bảo hộ TTBM

là sự lựa chọn của nhiều quốc gia Trong phạm vi của luận văn tác giả lựa chọn các quy định của Hoa Kỳ và của Liên Bang Nga để nghiên cứu - đây là hai quốc gia có các đạo luật riêng biệt về bảo hộ TTBM và được xem là cơ sở pháp lý chủ đạo để bảo hộ PMMT.(29)

2.1.1 Điều kiện bảo hộ đối với thông tin bí mật là phần mềm máy tính

Trên thế giới có nhiều tên gọi khác nhau đối với loại thông tin bí mật có giá trị trong lĩnh vực kinh doanh thương mại, như bí mật thương mại (trade secret), bí quyết

kĩ thuật (know-how), bí mật kinh doanh, thông tin bí mật (confidential information).v.v

Do sự khác biệt về điều kiện kinh tế, chính trị-xã hội, truyền thống xây dựng pháp luật

và nhiều yếu tố khác mà các hệ thống pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia trên thế giới có nhiều cách giải thích khác nhau về các thuật ngữ trên Tuy nhiên thuật ngữ

“thông tin bí mật” là thuật ngữ được sử dụng có phạm vi rộng nhất bao gồm tất cả các

thông tin mà chủ thể nắm giữ trong hoạt động sản xuất kinh doanh bao gồm cả PMMT Mặt khác, Hiệp định TRIPs cũng sử dụng thuật ngữ TTBM trong nội dung các quy định của Hiệp định.(30) Do đó xuyên suốt toàn bộ luận văn này, tác giả lựa chọn

Trang 36

sử dụng thuật ngữ “TTBM” như quy định tại Hiệp định TRIPs nhằm đảm bảo sự thống nhất khi sử dụng thuật ngữ

Việc bảo hộ PMMT theo cơ chế bảo hộ TTBM trong pháp luật các nước xuất phát từ các lý do sau:

Thứ nhất, PMMT là một dạng cụ thể của TTBM được bảo hộ theo pháp luật các nước

Hoa Kỳ là một trong số những quốc gia có quy định hết sức chặt chẽ về bảo hộ TTBM, Khoản 4, Điều 1, Luật Bí mật thương mại thống nhất 1979 – The Uniform Trade Secret Act được ban hành năm 1979 (sửa đổi năm 1985, 1990 - Sau đây gọi tắt

là UTSA 1979) nêu rõ : “Bí mật thương mại là các thông tin bao gồm, công thức, mẫu

hình, sưu tập các thông tin, chương trình, phương sách, biện pháp, công nghệ hoặc quy trình”

Tương tự như vậy Khoản 2 Điều 3 Luật bí mật thương mại của Liên bang Nga

năm 2004, TTBM được giải thích là “thông tin khoa học, kĩ thuật, công nghệ, sản xuất,

tài chính, kinh tế hoặc những thông tin khác bao gồm cả bí quyết sản xuất”.(31)

Từ các quy định trên có thể nhận thấy rằng, ở đây TTBM được các quốc gia quy định có phạm vi rất rộng, ngoài các thông tin trong lĩnh vực kinh doanh thương mại thì các thông tin trong lĩnh vực khoa học kĩ thuật, trong đó có PMMT cũng được coi là các TTBM

Thứ hai, PMMT mang những đặc điểm của một TTBM - là đối tượng của quyền SHTT Theo đó:

TTBM là sản phẩm của trí tuệ, do chủ sở hữu đầu tư trí tuệ, tiền bạc, công sức,

thời gian… để tạo ra, nó mang tính chất “vô hình” con người không thể nhìn thấy và

việc tiếp cận nó được thực hiện thông qua các dạng thể hiện của nó, hay nói cách khác

nó đã được “vật chất hóa” thành các dạng cụ thể Con người muốn tiếp nhận chúng

phải thông qua quá trình tư duy khoa học của trí tuệ PMMT cũng vậy để tạo ra một PMMT các lập trình viên, các nhà sản xuất PMMT cũng phải đầu tư không những về

kinh tế, nhân lực mà còn cả về “chất xám” để hoàn thiện một PMMT và đưa nó ra thị

(31) Luật Bí mật Thương mại Liên Bang Nga 2004, http://www.rg.ru/2004/08/05/taina-doc.html, ngày truy cập 01/07/2017

Trang 37

trường Hơn nữa PMMT là vật không thể cầm, nắm, sờ… hay cảm nhận, mà PMMT chỉ được nhận diện thông qua các hình thức như: Đĩa CD-ROM, USB, hoặc một file định dạng exe.v.v Khi được cài đặt vào thiết bị tương thích thì PMMT mới có thể

hoạt động được Do đó PMMT là một sản phẩm mang đầy đủ tính chất là “tài sản trí

tuệ”

Ngoài ra, phạm vi của TTBM bao trùm tất cả các lĩnh vực khoa học, kĩ thuật và thương mại PMMT được coi là một dạng thông tin nằm trong nhóm lĩnh vực về khoa học, kĩ thuật Về bản chất, chủ sở hữu một PMMT không sử dụng (theo nghĩa là sử dụng trực tiếp) PMMT để thu lợi, mà chủ yếu thông qua việc chuyển giao quyền sử dụng PMMT thì TTBM ở đây là thông tin giá trị bên trong PMMT bao gồm: Cấu trúc hay các tổ chức của PMMT, đặc điểm và quy trình bên trong PMMT Thông tin giá trị bên trong này được thể hiện chủ yếu qua mã nguồn (source code) của PMMT.(32) Đối với chủ sở hữu PMMT thì mã nguồn được coi là một TTBM có giá trị không được phân phối và tiếp cận dễ dàng đối với người được cung cấp để sử dụng PMMT, tính bí mật của mã nguồn chính là lợi thế để chủ sở hữu PMMT có được lợi thế cạnh trạnh so với các đối thủ trong cùng lĩnh vực

Cuối cùng, chủ sở hữu TTBM chủ yếu là các chủ thể tham gia vào hoạt động sản xuất, kinh doanh So với các loại thông tin khác chủ sở hữu TTBM thường là các chủ thể trực tiếp tham gia vào hoạt động sản xuất hoặc kinh doanh, hoặc các chủ thể hoạt động trong lĩnh vực khoa học, kĩ thuật Đối với PMMT để cho ra đời PMMT, chủ sở hữu PMMT có thể là người trực tiếp tham gia vào quá trình viết và hoàn thiện PMMT hoặc cũng có thể là người trực tiếp đầu tư nhân lực, tiền bạc… để tạo ra PMMT và thu lợi nhuận từ kết quả của hoạt động đó Vì vậy các TTBM nói chung và PMMT nói riêng luôn tồn tại mối quan hệ mật thiết với chủ sở hữu

Từ những đặc điểm trên của PMMT đối chiếu với quy định trong pháp luật của

các quốc gia có thể khẳng định rằng: “PMMT là một dạng thông tin bí mật nằm trong

lĩnh vực khoa học kĩ thuật và có thể được bảo hộ bằng cơ chế bảo hộ TTBM”

(32) Alan Story (2004), Intellectual Property and Computer Software – ABattle of Competing Use and Access Visions for Countries of the South, Kent Law School, University of Kents, pp.12

Trang 38

Tuy nhiên, PMMT muốn được bảo hộ là TTBM phải đáp ứng các điều kiện nhất định theo quy định của từng quốc gia

Cụ thể ở Hoa Kỳ, theo UTSA 1979 PMMT muốn được bảo hộ là TTBM phải đáp ứng bốn điều kiện sau: phải là một dạng thông tin, có giá trị kinh tế độc lập, không phải là hiểu biết thông thường và được bảo vệ bằng các biện pháp bảo mật hợp lí.(33)

Thứ nhất, là một dạng thông tin: thông tin đó làm phát sinh các giá trị kinh tế

độc lập mà nếu tiết lộ bí mật đó cho đối thủ cạnh tranh có thể đem lại một số lợi thế nhất định cho đối thủ Khi đó đối thủ sẽ không tốn nhiều thời gian để tìm kiếm, phát triển mở rộng thị trường mà chỉ cần sử dụng thông tin đó để tiếp cận thị trường nhanh chóng và hiệu quả hơn Tuy nhiên cần phải lưu ý rằng, PMMT là dạng thông tin theo

Pháp luật Hoa Kỳ còn đặt ra yêu cầu thông tin đó cần có “tính bí mật” Theo án lệ của

Hoa Kỳ yếu tố bí mật được bảo hộ đối với lĩnh vực PMMT thường là mã nguồn, đây là đối tượng không được phân phối, không được tiếp cận dễ dàng đối với người được cung cấp để sử dụng phần mềm đó

Tuy nhiên, trong thực tế ngành công nghệ phần mềm hiện nay, tồn tại dạng mã

là mã nguồn mở (Free and open-source software – FOSS) như tên gọi của nó, không có

“tính bí mật” trái lại chủ sở hữu luôn cố gắng công bố rộng rãi tới người dùng Nhưng

PMMT với mã nguồn mở này vẫn có thể trở thành đối tượng được bảo hộ TTBM nếu chủ sở hữu của PMMT chỉ sử dụng PMMT này trong hoạt động kinh doanh để tạo lợi thế và giữ bí mật về bản thân PMMT đó

Ví dụ: Năm 2015 Google mở TensorFlow, là phần mềm mã nguồn mở chuyên tạo các dịch vụ về trí tuệ nhân tạo, trong đó có nhận diện hình ảnh và giọng nói, phiên dịch ngôn ngữ Tuy nhiên Google không công khai mọi bí mật Họ vẫn giữ một phần TensorFlow cho riêng mình, trong đó có cả rất nhiều dữ liệu quan trọng để đào tạo các dịch vụ AI (trí tuệ nhân tạo) của họ Google chỉ đơn giản chia sẻ mã nguồn đủ để tạo khác biệt.(34)

(33)

Xem Phần 4 UTSA 1979

(34) Bùi Lê Duy (2015), “2015: Năm chuyển mình của phần mềm nguồn mở”, Tạp chí công nghệ thông tin và

truyền thông, tại địa chỉ:

http://www.pcworld.com.vn/articles/cong-nghe/cong-nghe/2015/12/1245921/2015-nam-chuyen-minh-cua-phan-mem-nguon-mo/ , ngày truy cập 01/07/2017

Trang 39

Thứ hai, có giá trị kinh tế độc lập: một thông tin chỉ được bảo hộ khi nó có giá

trị kinh tế độc lập, giá trị ở đây có thể là giá trị thực tế hoặc giá trị tiềm năng trong tương lai mà thông tin đó mang lại và nó cần gắn với một lợi ích kinh tế cho chủ sở hữu thông tin

Thứ ba, không phải là hiểu biết thông thường: thông tin đó không phải là hiểu

biết thông thường hoặc các cá nhân có được lợi ích kinh tế từ việc tiết lộ hay sử dụng thông tin sẽ không dễ dàng tiếp cận được bằng các phương thức thích hợp Chẳng hạn, đối với PMMT để PMMT được bảo hộ thì PMMT đó phải là một bước tiến sáng tạo, không thể được tạo ra một cách dễ dàng đối với người hiểu biết trung bình về lĩnh vực

kĩ thuật tương ứng Thực tế cho thấy có những PMMT được tạo ra bởi những người có trình độ lập trình trung bình, sử dụng hiểu biết lập trình thông thường mà nhiều người

có kinh nghiệm khác trong lĩnh vực này có thể tạo ra PMMT nếu họ muốn Những PMMT như vậy tất yếu rằng không bao giờ đáp ứng được điều kiện bảo hộ bằng cơ chế bảo hộ TTBM

Thứ tư, sử dụng các biện pháp hợp lý để duy trì tính bảo mật: vì bản chất của

TTBM là tạo ra giá trị kinh tế độc lập cho người sở hữu nên chủ sở hữu cần phải áp dụng các biện pháp hợp lý để bảo vệ TTBM Các biện pháp bảo mật được cho là thích hợp mà chủ sở hữu bí mật đó có thể áp dụng như cam kết bằng hợp đồng bảo mật

thông tin và hợp đồng không tiết lộ thông tin, dán nhãn “bảo mật” hoặc “bí mật” lên

văn bản thông tin bảo mật, hạn chế tiếp cận hoặc sử dụng thông tin lưu trữ trong máy tính,…(35)

Từ những phân tích trên chúng ta có thể thấy quy định về điều kiện bảo hộ TTBM theo quy định của UTSA 1979 được coi là chi tiết và đầy đủ, là cơ sở pháp lý quan trọng để nhận dạng TTBM nói chung và TTBM là PMMT nói riêng

2.1.2 Nội dung bảo hộ thông tin bí mật là phần mềm máy tính

2.1.2.1 Quyền của chủ sở hữu

Như phân tích ở trên PMMT là một dạng thông tin nằm trong phạm vi bảo hộ TTBM Do đó cũng như các đối tượng khác của quyền SHTT, khi được bảo hộ chủ sở

(35) Mark S VanderBroek and Christian B (2006), Protecting and enforcing trade secrets in franchise, Franchise

Law Journal 193 , Number 4, Volume 25, American Bar Association, pp 6

Trang 40

hữu TTBM là PMMT có các quyền theo quy định của pháp luật Pháp luật của các quốc gia có quy định tương đối cụ thể về vấn đề này Theo đó chủ sở hữu của PMMT thường có các quyền như: độc quyền sử dụng PMMT, độc quyền khai thác thương mại đối với PMMT, chuyển giao quyền sử dụng đối với PMMT, yêu cầu bên vi phạm bồi thường thiệt hại trong trường hợp hành vi xâm phạm PMMT gây ra các thiệt hại cho chủ sở hữu thông tin…

Cụ thể, theo quy định tại Điều 6, 7 Luật bí mật Thương mại của Liên Bang Nga năm 2004, quy định quyền chủ sở hữu TTBM như sau:

- Sử dụng bí mật thương mại theo nhu cầu của mình không trái với pháp luật Liên Bang Nga;

- Cho phép và cấm tiếp cận bí mật thương mại, quy định trình tự và điều kiện tiếp cận với thông tin đó;

- Đưa vào lưu thông dân sự bí mật thương mại trên cơ sở hợp đồng có quy định các điều kiện về bảo hộ bí mật thông tin này;

- Yêu cầu các pháp nhân và cá nhân được tiếp cận với bí mật thương mại Các

cơ quan nhà nước, địa phương được chủ sở hữu trao bí mật thương mại tuân thủ các nghĩa vụ bảo vệ bí mật của thông tin đó;

- Bảo vệ quyền lợi của mình trong trường hợp thông tin bị người thứ ba tiết lộ, tiếp nhận, và sử dụng bất hợp pháp và có quyền đòi bồi thường thiệt hại khi bị thiệt hại;

Trong các quyền của chủ sở hữu PMMT thì quyền khai thác thương mại PMMT

là một trong các quyền rất quan trọng, được các chủ sở hữu sử dụng một cách tối đa nhằm phục vụ lợi ích chính đáng của họ, việc khai thác này được thực hiện thông qua một trong hai cách sau:

Thứ nhất, tự mình khai thác PMMT Chủ sở hữu có quyền sử dụng PMMT

Theo đó, việc khai thác lợi ích từ PMMT thông qua việc bản thân PMMT tạo ra lợi thế cho các sản phẩm, dịch vụ chứa đựng PMMT Đó có thể là những phần mềm kế toán, phần mềm thống kê mà một công ty cung cấp dịch vụ kế toán sử dụng để tăng tốc độ

và tính chính xác trong các báo cáo kế toán của mình Đó cũng có thể là những phần mềm được tích hợp sẵn trong các thiết bị được sản xuất giúp thiết bị đó có những chức năng mà thiết bị khác không có hay vượt trội hơn Điều này thể hiện rõ trong các phần

Ngày đăng: 14/03/2019, 20:23

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Công ƣớc Berne về bảo hộ các tác phẩm văn học nghệ thuật 1886 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công ƣớc Berne về bảo hộ các tác phẩm văn học nghệ thuật
Năm: 1886
17. US Patent Law. https://www.law.cornell.edu/patent/patent.overview.html Sách, bài viết tạp chí Sách, tạp chí
Tiêu đề: US Patent Law
18. Alan Story (2004), Intellectual Property and Computer Software – ABattle of Competing Use and Access Visions for Countries of the South, Kent Law School, University of Kents Sách, tạp chí
Tiêu đề: Intellectual Property and Computer Software – ABattle of Competing Use and Access Visions for Countries of the South
Tác giả: Alan Story
Năm: 2004
19. Vân Anh (2016), “BSA: Việt Nam giảm 3% tỷ lệ vi phạm bản quyền phần mềm máy tính”, Báo điện tử Infornet, tại địa chỉ: http://ictnews.vn/cntt/nuoc-manh-cntt/bsa-viet-nam-giam-3-ty-le-vi-pham-ban-quyen-phan-mem-may-tinh- Sách, tạp chí
Tiêu đề: BSA: Việt Nam giảm 3% tỷ lệ vi phạm bản quyền phần mềm máy tính
Tác giả: Vân Anh
Năm: 2016
20. Cục sở hữu trí tuệ Việt Nam (2014), Bộ sách về quản lí tài sản trí tuệ: Tài liệu hướng dẫn đơn đăng kí soạn thảo sáng chế của WIPO, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ sách về quản lí tài sản trí tuệ: Tài liệu hướng dẫn đơn đăng kí soạn thảo sáng chế của WIPO
Tác giả: Cục sở hữu trí tuệ Việt Nam
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2014
21. Đào Minh Đức (2006), “Quyền sở hữu trí tuệ đối với phần mềm”, Tạp chí thế giới vi tính, (12) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyền sở hữu trí tuệ đối với phần mềm”, "Tạp chí thế giới vi tính
Tác giả: Đào Minh Đức
Năm: 2006
22. Nguyễn Tuấn Dũng (2014), Pháp luật quốc tế về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với phần mềm máy tính và kinh nghiệm áp dụng cho pháp luật Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ ngành Luật Quốc Tế, Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật quốc tế về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với phần mềm máy tính và kinh nghiệm áp dụng cho pháp luật Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Tuấn Dũng
Nhà XB: Đại học Luật Hà Nội
Năm: 2014
23. Bùi Lê Duy (2015), “2015: Năm chuyển mình của phần mềm nguồn mở”, Tạp chí công nghệ thông tin và truyền thông, tại địa chỉ:http://www.pcworld.com.vn/articles/cong-nghe/cong-nghe/2015/12/1245921/2015-nam-chuyen-minh-cua-phan-mem-nguon-mo/ , ngày truy cập 01/07/2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: 2015: Năm chuyển mình của phần mềm nguồn mở
Tác giả: Bùi Lê Duy
Nhà XB: Tạp chí công nghệ thông tin và truyền thông
Năm: 2015
24. Nguyễn Như Hà (2007), “Một hướng tiếp cận bảo hộ phần mềm máy tính trong thế giới hội nhập”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, (12 - 236) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một hướng tiếp cận bảo hộ phần mềm máy tính trong thế giới hội nhập”, "Tạp chí Nhà nước và Pháp luật
Tác giả: Nguyễn Như Hà
Năm: 2007
25. Trần Văn Hải (2009), “Chương trình máy tính nên được bảo hộ là đối tượng nào của quyền sở hữu trí tuệ”, Tạp chí Khoa học (596) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình máy tính nên được bảo hộ là đối tượng nào của quyền sở hữu trí tuệ
Tác giả: Trần Văn Hải
Nhà XB: Tạp chí Khoa học
Năm: 2009
26. Trần Văn Hải (2012), “Bảo hộ chương trình máy tính như đối tượng độc lập của quyền sở hữu trí tuệ”, Tạp chí nhà nước và pháp luật, (11) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo hộ chương trình máy tính như đối tượng độc lập của quyền sở hữu trí tuệ”, "Tạp chí nhà nước và pháp luật
Tác giả: Trần Văn Hải
Năm: 2012
27. Học Viện Kỹ Thuật Mật Mã, Giáo trình pháp luật An toàn Thông tin, Hà Nội, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình pháp luật An toàn Thông tin
13. Indian Patent Act 1970. http://ipindia.nic.in/writereaddata/Portal/ev/sections-index.html Link
14. Swedish Act on Copyright in literary and artistic Works (Act 1960: 729, of December 30, 1960, as amended up to April 1, 2009).http://www.wipo.int/wipolex/en/text.jsp?file_id=290912 15. The Uniform Trade Secret Act 1979 Link
44. BSA global software survey May 2016, http://globalstudy.bsa.org/2016/downloads/studies/BSA_GSS_US.pdf, ngày truy cập 17/07/2017 Link
47. Interactive Avatars for Telecommunication Systems, https://encrypted.google.com/patents/US20130258040, ngày truy cập 17/7/2017 Link
50. Model provisions on the protection of computer software, http://ftp.wipo.int/pub/library/ebooks/wipopublications/wipo_pub_814(e).pdf, ngày truy cập 23/4/2017 Link
53. Software, http://www.computerhope.com/jargon/s/software.htm ngày truy cập 10/4/2017 Link
56. WIPO - Administered Treaties, Contracting Parties - WIPO Copyright Treaty, http://www.wipo.int/treaties/en/ShowResults.jsp?lang=en&treaty_id=16, ngày truy cập 24/04/2017 Link
57. WIPO, International IP Protection of Software: History, Purpose and Challenges, http://www.wipo.int/edocs/mdocs/copyright/en/wipo_ip_cm_07/wipo_ip_cm_07_www_82573.pdf, ngày truy cập 22/04/2017 Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w