Xây dựng nền kinh tế không sử dụng tiền mặt ở đây với vai trò trung tâm là Ngân hàng Nhà nước, Ngân hàng Nhà nước cung cấp và quản lý tất cả các tài khoản của tất cả các chủ thể cá nhân,
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
CHÂU THANH HẢO
NỀN KINH TẾ KHÔNG DÙNG TIỀN MẶT
VÀ NHỮNG TÁC ĐỘNG CỦA NỀN KINH TẾ KHÔNG DÙNG TIỀN MẶT Ở VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
CHÂU THANH HẢO
NỀN KINH TẾ KHÔNG DÙNG TIỀN MẶT VÀ NHỮNG TÁC ĐỘNG CỦA NỀN KINH TẾ KHÔNG DÙNG TIỀN MẶT Ở VIỆT NAM
Chuyên ngành : Tài chính – Ngân hàng
Mã số : 8340201 LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS NGUYỄN KHẮC QUỐC BẢO
Trang 3trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào Tất cả những phần kế thừa từ các nghiên cứu trước tác giả đều trích dẫn và trình bày nguồn cụ thể trong các mục tài liệu tham khảo
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 12 năm 2018
Tác giả
Châu Thanh Hảo
Trang 4Bảng 4.1: Tổng phương tiện thanh toán và tiền gửi của khách hàng tại các tổ chứ tín dụng tháng 5 năm 2018……… 41 Bảng 4.2: Tổng hợp so sánh các đặc trưng của nền kinh tế có sử dụng tiền mặt hiện nay và nền kinh tế không sử dụng tiền mặt………45 Hình 2.1: Quá trình lưu thông tiền tệ trong nền kinh tế giống như quá trình lưu thông máu trong cơ thể……… ……… 11 Hình 3.1: Cơ chế phát hành và lưu thông tiền tệ hiện nay ở Việt Nam……… 23 Hình 4.1: Cơ chế phát hành và lưu thông tiền tệ trong nền kinh tế không tiền mặt… ……31 Hình 4.2: Tổng phương tiện thanh toán và tiền gửi của khách hàng tại các tổ chứ tín dụng qua các năm…….……… 42 Hình 4.3: Tiền mặt lưu thông trên tổng phương tiện thanh toán………42
Trang 5Xây dựng nền kinh tế không sử dụng tiền mặt giúp minh bạch hóa các giao dịch trong
xã hội, tạo ra một xã hội công bằng, văn minh, hiệu quả, tiện lợi và giúp sử dụng triệt để các nguồn lực để phát triển kinh tế, kiểm soát toàn diện tất cả các hoạt động trong xã hội Xây dựng nền kinh tế không sử dụng tiền mặt ở đây với vai trò trung tâm là Ngân hàng Nhà nước, Ngân hàng Nhà nước cung cấp và quản lý tất cả các tài khoản của tất cả các chủ thể (cá nhân, pháp nhân,…) trong nền kinh tế, mỗi chủ thể chỉ có duy nhất một tài khoản ngân hàng tại Ngân hàng Nhà nước và các giao dịch dù là nhỏ nhất của các chủ thể với nhau bằng hình thức chuyển khoản trực tiếp với nhau thông qua ví điện tử, các thiết bị di động, máy tính, … Ngoài ra trong nền kinh tế không sử dụng tiền mặt, Ngân hàng Nhà nước kiểm soát và quản lý tất cả ngoại tệ, vàng (trừ vàng trang sức) Ngoại tệ và vàng sẽ không được lưu thông trong nền kinh tế trong nước, vàng và ngoại tệ chỉ phục vụ cho việc giao thương quốc tế
Nghiên cứu còn mang tính định tính, khái quát về vấn đề tiền tệ trong lĩnh vực kinh tế vĩ
mô do vậy nghiên cứu này là nền tảng cho những nghiên cứu chuyên sâu, nghiên cứu định lượng về từng vấn đề cụ thể khi xây dựng nền kinh tế không dùng tiền mặt Mặt khác theo
xu hướng phát triển của xã hội, của loài người thì trong tương lai không xa tiền mặt sẽ không còn xuất hiện trong cuộc sống hằng ngày của nhân loại Do vậy quốc gia nào nhanh chóng xây dựng nền kinh tế không dùng tiền mặt sớm thì sẽ tận dụng được thời cơ để phát triển đất nước
TỪ KHÓA
Thanh toán điện tử, ví điện tử, tiền mặt trong nền kinh tế, nền kinh tế không dùng tiền mặt
Trang 6efficient and convenient society and help to use resources for economic development We have comprehensive control over all activities in society
The cashless economy here with a central role of the National Bank, It’s providing and managing all accounts of all entities (individuals, legal entities, .) in the economy Each entity has only one bank account at the National Bank and the smallest transactions of each other in the form of transfer payments directly through electronic wallets, mobile electronic, computer, etc In addition to the cashless economy, the National Bank controls and manages all foreign currencies, gold (except jewelry gold) Foreign currency and gold will not be circulated in the domestic economy, gold and foreign currencies will only be used for international trade
The research is also qualitative and general overview of monetary issues in the macroeconomic field so this study is the basis for in-depth studies, quantitative research on each specific issue when constructing cashless economy On the other hand, according to the development trend of human society, in the near future cash will no longer appear in the daily life of mankind Therefore, any country that quickly builds a cashless economy will take advantage of the opportunity to develop the country
KEYWORDS
Electronic payments, electronic wallets, cash in the economy, cashless economy
Trang 7LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC BẢNG VÀ HÌNH
TÓM TẮT
ABSTRACT
CHƯƠNG 1: 1
GIỚI THIỆU 1
1.1 Mục tiêu nghiên cứu - Lý do nghiên cứu: 1
1.1.1 Mục tiêu nghiên cứu 1
1.1.2 Lý do nghiên cứu 1
1.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: 3
1.3 Phương pháp tiếp cận 3
1.4 Ý nghĩa của nghiên cứu này 3
1.5 Cấu trúc của luận văn 4
CHƯƠNG 2: 6
KHUNG LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU 6
2.1 Lịch sử của hệ thống tiền tệ 6
2.2 Lịch sử về hình thái tiền tệ 7
2.3 Vai trò của tiền tệ trong nền kinh tế 10
2.4 Khung lý thuyết và tổng quan các nghiên cứu 13
Trang 8CHƯƠNG 3: 22
HỆ THỐNG LƯU THÔNG TIỀN TỆ CỦA VIỆT NAM HIỆN NAY 22
3.1 Ngân hàng Nhà nước (Ngân hàng Trung ương) 22
3.2 Hệ thống lưu thông tiền tệ trong nền kinh tế hiện nay 22
3.2 Những bất cập 24
CHƯƠNG 4: 26
MÔ HÌNH LƯU THÔNG TIỀN TỆ KHÔNG DÙNG TIỀN MẶT VÀ GIẢI PHÁP 26
4.1 Khái niệm 26
4.2 Mô hình lưu thông tiền tệ không dùng tiền mặt trong nền kinh tế 27
4.2.1 Hình thức, vai trò và chức năng của các chủ thể 27
4.2.2 Lưu thông tiền tệ giữa các chủ thể 28
4.2.3 Phương tiện lưu thông tiền tệ giữa các chủ thể: 32
4.3 Các giải pháp để xây dựng nền kinh tế không dùng tiền mặt 36
4.3.1 Xây dựng hành lang pháp lý 36
4.3.2 Biện pháp hạn chế lưu thông vàng trong nền kinh tế 36
4.3.3 Biện pháp hạn chế lưu thông ngoại tệ trong nền kinh tế 37
4.3.4 Vai trò và hoạt động của Ngân hàng Thương mại trong nền kinh tế không dùng tiền mặt 37
4.4 Tốc độ lưu thông của tiền tệ trong nền kinh tế không sử dụng tiền mặt ở Việt Nam 38
4.5 Tiền thân của nền kinh tế không sử dụng tiền mặt ở Việt Nam 40
4.6 Thống kê phương tiện thanh toán trong nền kinh tế hiện nay ở Việt Nam 41
4.7 Thống kê tình hình sử dụng tiền mặt và các phương tiện thanh toán khác trong nền kinh tế hiện nay ở Việt Nam 43
4.8 Sự khác biệt giữa nền kinh tế có sử dụng tiền mặt hiện nay và nền kinh tế không sử dụng tiền mặt: 45
CHƯƠNG 5: 49
Trang 95.1.1 Tác động về mặt kinh tế 49
5.1.2 Tác động về mặt chính trị 49
5.1.3 Tác động về mặt xã hội 49
5.2 Những tác động tích cực của nền kinh tế không dùng tiền mặt ở Việt Nam 49
5.2.1 Tác động về mặt kinh tế 49
5.2.2 Tác động về mặt chính trị 50
5.2.3 Tác động về mặt xã hội 51
5.3 Những hạn chế của đề tài 52
TÀI LIỆU THAM KHẢO
BÀI BÁO
Trang 10CHƯƠNG 1:
GIỚI THIỆU 1.1 Mục tiêu nghiên cứu - Lý do nghiên cứu:
1.1.1 Mục tiêu nghiên cứu
Xây dựng nền kinh tế không sử dụng tiền mặt là một trong những cách hữu hiệu để phát triển đất nước, giúp minh bạch hóa các giao dịch trong xã hội, tạo ra một xã hội văn minh hơn, tăng cường tính hiệu quả và tiện lợi trong tất cả các hoạt động của xã hội và giúp sử dụng triệt để các nguồn lực để phát triển kinh tế, kiểm soát toàn diện tất
cả các hoạt động trong xã hội
Hiệu quả của việc lưu thông tiền tệ trong nền kinh tế ảnh hưởng rất lớn đến mọi mặt của xã hội, do vậy tính cấp thiết của việc kiểm soát dòng tiền trong nền kinh tế mà tất
cả các quốc gia đang hướng đến
Mục tiêu của đề tài này là tìm hiểu và làm rõ quá trình lưu thông của tiền tệ trong nền kinh tế hiện nay, những ưu điểm, bất cập mà nó mang lại cho xã hội, cho nền kinh
tế, từ đó đề xuất xây dựng mô hình lưu thông tiền tệ mà có thể loại bỏ được những nhược điểm, bất cập này và tăng cường khả năng kiểm soát, quản lý tiền tệ trong nền kinh tế
1.1.2 Lý do nghiên cứu
Xuyên suốt lịch sử nhân loại tiền tệ tồn tại bằng nhiều hình thái khác nhau phục vụ cho đời sống của con người, đồng thời tiền tệ đóng vài hết sức quan trọng trong đời sống của chúng ta, là phương tiện để thanh toán phục vụ cho việc trao đổi hàng hóa dịch vụ, là phương tiện để cất trữ, là thước đo giá trị,…
Từ buổi sơ khai con người đã sử dụng tiền tệ bằng các hình thức như là da, răng động vật, vỏ ốc sên tiếp đến là các dụng cụ lao động thô sơ, muối, hạt xâu chuổi, lương thực, vũ khí, thuốc lá, hạt ca cao Cho đến thế kỷ thứ 7 trước Công nguyên đồng tiền kim loại đầu tiên được hình thành ở miền tây Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay, tiếp đến là ở
Trang 11La Mã, Anh, Trung Quốc,… Do thiếu kim loại đồng để làm tiền xu nên buộc Trung Quốc là nước đầu tiên trên thế giới lưu hành tiền giấy vào khoản thế kỷ thứ 9
Vào những năm 1500 tại Cộng Hòa Séc ngày nay đồng giấy bạc Thaler ra đời là
tiền thân của đồng Đô La ngày nay (theo American Numismatic Association, “The
Ascent of Money”), công nghệ thông tin ngày càng phát triển do vậy tiền tệ trong xã
hội hiện đại ngày nay tồn tại như là các số liệu điện tử trong hệ thống các máy tính Hiện nay tiền tệ vẫn còn tồn tại dưới một số hình thái như đồng xu, giấy bạc, vàng, các số liệu điện tử trong hệ thống máy tính (tiền kỹ thuật số - tài khoản) Các hình thái như đồng xu, giấy bạc, vàng mang nhiều hạn chế ảnh hưởng đến sự phát triển của nhân loại như là: Chi phí phát hành, chi phí lưu thông, chi phí bảo quản còn cao, tình trạng tiền giả vẫn còn tồn tại, tính ẩn danh khi sử dụng các phương tiện này dẫn đến các tổ chức tội phạm dễ dàng thực hiện hành vi vi phạm của mình, khó kiểm soát các giao dịch bất minh, tình trạng hối lộ, tham nhũng khó kiểm soát, tình trạng trộm cắp Tiền mặt sẽ mất giá trị nội tại khi bị cất trữ không được đưa vào lưu thông trong nền kinh tế, gây lãng phí nguồn lực của xã hội Chính phủ không kiểm soát được tất cả các giao dịch kinh tế do vậy làm méo mó nền kinh tế, thất thu về thuế Không tận dụng được nguồn lực về tiền, vàng, ngoại tệ dự trữ trong dân với số lượng rất lớn dẫn đến lãng phí nguồn lực quốc gia Chính phủ không thể kiểm soát 100% lượng ngoại tệ trong nền kinh tế dẫn đến khó điều tiết cán cân thương mại quốc tế, điều chỉnh tỷ giá hối đoái
Dân gian có câu “Tiền là Máu”, tiền tệ trong nền kinh tế quan trọng giống như
máu trong cơ thể con người, còn trái tim giống như Ngân hàng Trung ương là nơi điều tiết bơm máu đi nuôi các tế bào, cơ quan trong cơ thể, do vậy nếu Ngân hàng Trung ương không kiểm soát triệt để và hiệu quả tiền tệ lưu thông trong nền kinh tế, giống như một trái tim hoạt động không hiệu quả thì không thể nuôi một cơ thể khỏe mạnh được, “huyết áp cao” cũng không tốt, “huyết áp thấp” cũng không tốt, cung cấp máu
Trang 12hại cho cơ thể lại càng không tốt, do vậy việc kiểm soát, điều tiết, sử dụng hiệu quả nguồn lực tài chính của xã hội (tiền) là một vấn đề hết sức quan trọng
Để khắc phục những hạn chế trên chúng ta cần xây dựng xã hội không sử dụng tiền
mặt (đồng xu, giấy bạc, vàng, ngoại tệ) đó là lý do tôi chọn đề tài này: “Nền kinh tế
không dùng tiền mặt và những tác động của nền kinh tế không dùng tiền mặt ở Việt Nam”
1.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Tìm hiểu và giới thiệu lịch sử hình thành và phát triển của tiền tệ trong xã hội loài người, vai trò của tiền tệ trong đời sống xã hội Trình bày và phân tích các hình thái của tiền tệ trong đời sống xã hội hiện nay, phân tích các ưu nhược điểm của những hình thái này
Tìm hiểu và phân tích ưu nhược điểm của quá trình lưu thông của tiền tệ trong nền kinh tế hiện nay ở Việt Nam
Đề xuất xây dựng nền kinh tế không dùng tiền mặt với vai trò trung tâm là Ngân hàng
Nhà nước và Ngân hàng Trung ương Đồng thời tìm hiểu và đánh giá những tác động
của nền kinh tế không dùng tiền mặt ở Việt Nam
1.3 Phương pháp tiếp cận
Đề tài này xây dựng dựa trên tình hình lưu thông tiền tệ trong nền kinh tế hiện nay ở Việt Nam và những ưu điểm, nhược điểm của mô hình lưu thông tiền tệ hiện nay mang lại cho nền kinh tế, xã hội Đồng thời dựa vào sự phát triển của khoa học kỹ thuật trong thời đại 4.0 hiện nay mà nhân loại đã đạt được Từ đó tác giả đề xuất xây dựng một mô hình lưu thông tiền tệ mới hoàn toàn không sử dụng tiền mặt trong nền kinh tế nhằm khắc phục được những nhược điểm, hạn chế trên và mang lại hiệu quả cho nền kinh tế, giúp cho đất nước phát triển
1.4 Ý nghĩa của nghiên cứu này
Nghiên cứu còn mang tính định tính, khái quát về vấn đề tiền tệ trong lĩnh vực kinh
tế vĩ mô do vậy nghiên cứu này là nền tảng cho những nghiên cứu chuyên sâu, nghiên
Trang 13cứu định lượng về từng vấn đề cụ thể khi xây dựng nền kinh tế không dùng tiền mặt Mặt khác theo xu hướng phát triển của xã hội, của loài người thì trong tương lai không
xa tiền mặt sẽ không còn xuất hiện trong cuộc sống hằng ngày của nhân loại Do vậy quốc gia nào nhanh chóng xây dựng nền kinh tế không dùng tiền mặt sớm thì sẽ tận dụng được thời cơ để phát triển đất nước
1.5 Cấu trúc của luận văn
Luận văn bao gồm năm chương cụ thể nội dung của từng chương như sau:
Chương 1: Giới thiệu
Trong chương này tác giả giới thiệu về mục tiêu nghiên cứu, lý do chọn đề tài
nghiên cứu “Nền kinh tế không dùng tiền mặt và những tác động của nền kinh tế
không dùng tiền mặt ở Việt Nam”, vì hiệu quả của việc lưu thông tiền tệ ảnh hưởng
rất lớn đến sự phát triển của nền kinh tế, giúp ổn định, tạo ra công bằng trong xã hội
Và nền kinh tế không dùng tiền mặt là xu hướng phát triển của nhân loại
Chương 2: Khung lý thuyết và tổng quan các nghiên cứu
Chương này giới thiệu về lịch sử hình thành và phát triển của hệ thống tiền tệ và của các hình thái tiền tệ từ đó cho thấy rằng vai trò của tiền mặt ngày càng mất đi, thay vào đó là tiền kỹ thuật số - tiền điện tử Ngoài ra trên thế giới cũng có nhiều nghiên cứu về nền kinh tế không dùng tiền mặt nhưng tiếp cận ở những khía cạnh khác Trong chương này tác giả giới thiệu khái quát về các nghiên cứu trên thế giới về nền kinh tế không dùng tiền mặt Qua đó tác giả rút ra ưu nhược điểm của mô hình nền kinh tế không dùng tiền mặt và nền kinh tế sử dụng tiền mặt
Chương 3: Hệ thống lưu thông tiền tệ của Việt Nam hiện nay
Chương này giới thiệu về cơ chế phát hành, quá trình tạo tiền và mô hình lưu thông tiền tệ trong nền kinh tế ở Việt Nam hiện nay Từ thực tiễn tác giả đã rút ra những bất cập phát sinh của hệ thống lưu thông tiền tệ Và những bất cập này cản trở sự phát triển của đất nước
Trang 14Trong chương này tác giả giới thiệu, đề xuất xây dựng một mô hình lưu thông tiền
tệ mới không sử dụng tiền mặt, với vai trò trung tâm là Ngân hàng Trung ương và Ngân hàng Nhà nước Tất cả các giao dịch của mọi cá nhân, tổ chức, kể cả Ngân hàng Thương mại điều thông qua Ngân hàng Nhà nước Ngân hàng Nhà nước là trung tâm quản lý, kiểm soát mọi giao dịch trong nền kinh tế Từ đó giúp khai thác hiệu quả nguồn lực của xã hội, giúp cho nền kinh tế phát triển, văn minh xã hội được nâng cao, phục vụ tốt nhất cho nhu cầu của con người
Ngoài ra trong chương này tác giả cũng đưa ra các giải pháp để xây dựng nền kinh
tế không sử dụng tiền mặt một cách hiệu quả, như là ví điện tử, quản lý vàng, hay là kiểm soát ngoại tệ trong nền kinh tế
Chương 5: Kết luận
Từ mô hình nền kinh tế không sử dụng tiền mặt, tác giả đưa ra đánh giá dự đoán về những tác động tiêu cực và tích về mặt kinh tế, chính trị, xã hội khi thực hiện mô hình này và đồng thời cũng nêu ra các hạn chế khi thực hiện đề tài này
Trang 15có nhu cầu trao đổi hàng hóa, lương thực, thực phẩm cho nhau để thỏa mãn hơn nhu cầu của mình
Từ nhu cầu trao đổi hàng hóa qua lại lẫn nhau loài người cần một vật ngang giá để ghi nhận những trao đổi đó Từ đó các hình thái của tiền tệ dần dần phát triển, đầu tiên là da
và răng động vật vì trong giai đoạn này vật nuôi là tài sản giá trị nhất, vỏ động vật như vỏ ốc sên cũng được sử dụng làm phương tiện trao đổi gọi là tiền vỏ ốc được sử dụng trong giới buôn bán ở Trung Quốc
Tiếp theo sự phát triển của nhân loại, khi con người tự tạo ra các công cụ, dụng cụ lao động bằng kim loại, giúp tăng năng suất lao động lúc này các công cụ, dụng cụ lao động là tài sản giá trị nhất do vậy các công cụ, dụng cụ này cũng được dùng làm phương tiện trao đổi như tiền
Khi loài người mở rộng giao thương giữa các vùng miền với nhau, người miền biển
và người miền núi, mỗi vùng miền sử dụng lương thực thực phẩm đặt thù của vùng mình làm ra đem trao đổi với vùng khác, ví dụ như người miền biển thì dễ dàng tạo ra được nhiều muối, đánh bắt hải sản trong khi người miền núi thì không, và ngược lại người miền núi thì làm ra ngũ cốc, lâm sản, thú rừng, khai thác kim loại tạo ra các công cụ lao động, do năng suất lao động tăng lên, một mặt các vùng miền dư thừa những sản vật do mình làm ra và thiếu những sản vật ở vùng miền khác làm được, từ đó phát sinh ra nhu cầu trao đổi qua lại lẫn nhau và những sản vật này trở thành phương tiện trao đổi trong đời sống loài người thời
Trang 16Khi nhu cầu trao đổi trong xã hội phát triển cao, từ đó tạo ra một tầng lớp làm trung gian trao đổi, thường gọi là lái buôn, khi trao đổi hàng hóa với nhau nãy sinh các bất tiện vì hàng hóa cồng kềnh, vận chuyển, bảo quản khó khăn,… từ nhu cầu đó cần một vật để ghi nhận giá trị của các hàng hóa đó mà đảm bảo thuận tiện trong lưu thông, để đáp ứng nhu cầu
đó đồng tiền kim loại ra đời
Vào khoản thế kỷ thứ 7 trước Công nguyên đồng tiền kim loại đầu tiên ra đời ở Miền tây Thổ Nhỉ Kỳ ngày nay, và tiếp theo đó ở La Mã, ở Anh ngày nay
Ở Trung Quốc vào khoản thế kỷ thứ 9 trước Công nguyên do thiếu hụt kim loại đồng
để đúc tiền buộc Trung Quốc là quốc gia đầu tiên lưu hành tiền giấy trên thế giới, sớm hơn các nước Châu Âu
Vào những năm 1500 tại Cộng Hòa Séc ngày nay đồng giấy bạc Thaler ra đời, là tiền thân của đồng Dolar ngày nay Cho đến ngày nay, tiền xu, tiền giấy, tiền kỹ thuật số cùng song song tồn tại ở nhiều quốc gia, tiền xu ngày càng thay đổi chất liệu bên trong để đáp ứng tốt hơn mục tiêu bảo quản và lưu thông, tiền giấy cũng vậy qua hàng ngàn năm thì chúng cũng chỉ thay đổi về chất liệu mẫu mã tương ứng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật giúp khó làm giả, bền chắc chắn, nhẹ,… đảm bảo các tiêu chí bảo quản và lưu thông Theo
sự phát triển của lịch sử thì tiền giấy dần dần thay thế tiền xu, mặc dù vậy tiền xu vẫn chưa kết thúc sứ mệnh lịch sử của mình ở một số quốc gia
Ngày nay tiền kỹ thuật số ra đời và phát triển nhanh chóng, dần dần thay thế cho tiền giấy và tiền xu trong đời sống con người Và một thời gian không xa nữa khoản vào năm
2050 tiền giấy và tiền xu sẽ kết thúc sứ mệnh lịch sử của mình
2.2 Lịch sử về hình thái tiền tệ
Các hình thái của tiền tệ thay đổi theo lịch sử phát triển của nhân loại, hình thái đầu tiên của tiền tệ là hóa tệ không kim loại là tiền tệ dưới dạng hàng hóa, tiếp đến là tiền tệ kim loại (tín tệ), tiền giấy (tín tệ) tồn tại cho đến ngày nay song song cùng với sự ra đời của bút
tệ, và trong những năm gần đây dưới sự phát triển của khoa học kỹ thuật, khoa học máy tính tiền kỹ thuật số ra đời và dần dần được ưu chuộng
Trang 17Hóa tệ: Hóa tệ bao gồm hóa tệ kim loại và hóa tệ phi kim loại, hóa tệ phi kim loại
chính là vật có giá trị làm vật trung gian để trao đổi hàng hóa qua lại lẫn nhau ví dụ như ở vùng nông thôn thời phong kiến, đến cả thời bao cấp người dân hay dùng lúa gạo làm vật trung gian để trao đổi các hàng hóa khác như lương thực khác, thực phẩm, vải vóc, gia súc, gia cầm, Ngày nay với sự tiện dụng của các phương tiện thanh toán khác nên hóa tệ phi kim loại hầu như không còn phổ biến trong nền kinh tế Hóa tệ kim loại tiêu biểu và vàng và bạc, mặt dù mang những đặt tính (có giá trị, có thể chia nhỏ được, đồng nhất, dễ bảo quản cất trữ, thuận tiện trong việc lưu thông) phù hợp với chức năng vai trò là phương tiện thanh toán, cất trữ nhưng vai trò ngày càng sụt giảm do chính phủ không khuyến khích hay nói cách khác là hạn chế sử dụng, ngoài ra khi giao dịch với số lượng lớn hóa tệ kim loại tương đối cồng kềnh khó mang theo, chuyên chở, tính lỏng không cao bằng các hình thái khác, đồng thời trữ lượng của kim loại quý này ngày càng cạn kiệt nên không đáp ứng được nhu cầu của nền kinh tế, ngoài ra các hình thái khác có nhiều ưu điểm hơn, phù hợp hơn trong xã hội ngày nay Ở nhiều nước trên thế giới hiện nay vai trò của hóa tệ kim loại chiếm một phần rất nhỏ trong các hình thái của tiền tệ điển hình như Nhật Bản hầu như không có cửa hàng kinh doanh vàng miếng, chỉ có một số cửa hàng kinh doanh vàng, bạc trang sức Do chênh lệch giá mua và giá bán nên vàng bạc trang sức không đóng vai trò là tiền tệ trong nền kinh tế
Tín tệ (tiền kim loại): Từ thế kỷ thứ 7 trước công nguyên tiền kim loại đã được sử
dụng và phát triển cho đến hiện nay ở một số nước vẫn còn sử dụng tiền kim loại trong lưu thông, với mệnh giá nhỏ, được sử dụng ở các máy bán hàng tự động, sử dụng ở các ga tàu điện dùng để mua vé tàu điện, sử dụng ở các cửa hàng, siêu thị Tuy nhiên ở Việt Nam vào ngày 17 tháng 12 năm 2003 Ngân hàng Nhà nước đưa vào lưu thông tiền kim loại mệnh giá nhỏ 200 đồng, 1000 đồng, 5000 đồng và ngày 01 tháng 04 năm 2004 tiếp tục đưa vào lưu thông một số mệnh giá 500 đồng, 2000 đồng nhưng do hạ tầng chưa đáp ứng được, nhu cầu
sử dụng cũng chưa nhiều, thói quen của người dân hay sử dụng tiền giấy Ngoài ra chất
Trang 18trong việc mang theo, bảo quản Nên từ năm 2011 thì hầu như tiền kim loại không còn lưu thông trong nền kinh tế ở Việt Nam
Tín tệ (tiền giấy): Xuất hiện sau tiền kim loại do thiếu hụt nguyên liệu để đúc tiền
kim loại nên vào thời triều Tống ở Trung Quốc đã phát hành tiền giấy, và cho đến ngày nay tiền giấy (cotton, polymer) là hình thái phổ biến nhất trong nền kinh tế, ở tất cả các nước trên thế giới hầu như đều sử dụng tín tệ tiền giấy trong nền kinh tế do chúng mang những ưu điểm như là: Gọn nhẹ dễ mang theo, có nhiều mệnh giá khác nhau đáp ứng nhu cầu đa dạng trong thanh toán, làm phương cất trữ của cải dưới hình thức giá trị Chính phủ độc quyền trong việc in ấn, phát hành kiểm soát, điều tiết lượng cung ứng ra thị trường Qua các thời kỳ khác nhau tiền giấy hầu như chỉ thay đổi chất liệu, mẫu mã tương xứng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật nhằm tránh làm giả và đảm bảo độ bền khi lưu thông
Bút tệ: Bút tệ là một hình thái tiền tệ được sử dụng bằng cách ghi chép trong sổ sách
kế toán của Ngân hàng Bút tệ xuất hiện đầu tiên ở Ngân hàng Anh vào giữa thế kỷ 19, sau
đó phát triển ra các nước khác và cho đến ngày nay hầu hết các nước điều sử dụng hình thái tiền tệ này, những nước phát triển sử dụng phổ biến hơn những nước kém phát triển Các giao dịch có giá trị lớn dễ dàng và an toàn, bút tệ cũng dễ dàng chuyển qua tín tệ tiền giấy khi cần Các ngân hàng phát hành các thẻ ATM giúp cho việc thanh toán được thuận lợi hơn, đồng thời người sử dụng dễ dàng hơn trong việc chuyển từ bút tệ sang tín tệ tiền giấy Việc
sử dụng bút tệ có chi phí lưu hành thấp hơn tiền giấy như chi phí in ấn, bảo quản, kiểm điếm,
vận chuyển Bút tệ là xu hướng phát triển của thời đại ngày nay
Tiền kỹ thuật số - Tiền điện tử: Được sử dụng thông qua hệ thống thanh toán tự
động các máy ATM (Automated teller machine), các máy POS (Point of Sale), các thiết bị này nối mạng trực tiếp với các ngân hàng trung gian thông qua mạng lưới liên minh thẻ Smartlink và Banknet giúp các chủ thẻ thực hiện các giao dịch thanh toán, chuyển khoản, rút tiền mặt,… tại những nơi có thiết bị này Ngoài ra một số tổ chức tài chính, kết hợp với các công ty viễn thông cung cấp dịch vụ thanh toán qua điện thoại di động Và theo tác giả Sử
Đình Thành, Vũ Thị Minh Hằng (2006) “Người ta còn dự kiến trong tương lai sẽ có một
Trang 19ngày mọi người đều có một thẻ ghi nợ cá nhân, không thể làm giả, được ghi vào máy tính trung tâm và mọi người sẽ thực hiện giao dịch bằng thẻ ấy” Và mục tiêu, mong ước của
tác giả khi thực hiện đề tài này cũng hy vọng có một ngày nào đó không xa nền kinh tế không dùng tiền mặt sẽ trở thành hiện thực
Tiền ảo: Là loại tiền được mã hóa bằng hệ thống máy tính sử dụng mã nguồn mở,
hoạt động dựa trên một giao thức ngang hàng blockchain trên mạng internet, loại tiền này không có một ngân hàng trung ương nào quản lý, không thuộc một chính phủ cụ thể nào, do vậy tính pháp lý của tiền ảo chưa được đảm bảo, tiền ảo mặt dù chưa được công nhận ở Việt Nam, nhưng trong những năm gần đây sự phát triển rất nhanh của chúng trên thế giới ít nhiều cũng ảnh hưởng đến Việt Nam, nhiều người đã nhập khẩu các máy đào tiền, khai thác, giao dịch mua bán các loại tiền này qua internet Tiền ảo có nhiều ưu điểm và đồng thời cũng có những hạn chế cụ thể nên chúng chưa được công nhận như một phương tiện thanh toán, trao đổi ở nhiều quốc gia Điểm qua trọng, mấu chốt của vấn đề là tiền ảo là tín tệ do vậy cần một quốc gia, tổ chức nào đó có đủ uy tín bảo lãnh thì mới có thể phát triển được Tiền ảo bản thân chúng chưa đủ tạo ra niềm tin để thực hiện chức năng tiền tệ như giao dịch, thanh toán, lưu thông, cất trữ Bên cạnh đó khả năng tiếp cận tiền ảo của người dân còn hạn chế, cơ chế sử dụng còn bất tiện nên cho đến giờ tiền ảo vẫn chưa được xã hội công nhận là phương tiện tiền tệ
2.3 Vai trò của tiền tệ trong nền kinh tế
Tiền tệ đóng vai trò hết sức quan trọng trong nền kinh tế của tất cả các quốc gia, hoạt động của nền kinh tế là mua bán, trao đổi các sản phầm hàng hóa dịch vụ,… và tiền tệ là phương tiện giúp hoạt động kinh tế được diễn ra một cách thuận lợi, hiệu quả Tiền tệ trong nền kinh tế như là máu trong cơ thể con người, nền kinh tế không có tiền như một cơ thể không có máu, lúc đó cơ thể sẽ không duy trì được sự sống và nền kinh tế cũng như vậy không có tiền mọi hoạt động sẽ bị ngưng trệ
Trang 20Hình 2.1: Quá trình lưu thông tiền tệ trong nền kinh tế giống như quá trình lưu thông máu trong cơ thể
(Nguồn: Tác giả tự đề xuất)
Trang 21Tiền lưu thông trong nền kinh tế cũng như là máu lưu thông trong cơ thể, khi ngân hàng trung ương bơm tiền ra nền kinh tế thông qua các ngân hàng thương mại, dòng tiền sẽ được các ngân hàng thương mại đưa ra thị trường thông qua cơ chế tạo tiền khi thực hiện các hoạt động cho vay, tiết kiệm, một phần tiền mặt có sẵn ngoài nền kinh tế mà ngân hàng không thể kiểm soát được, phần lớn tiền lưu thông ngoài nền kinh tế sẽ quay lại ngân hàng dưới hình thức tiết kiệm, thanh toán,… Vòng quay này càng nhanh giúp cho nền kinh tế càng hiệu quả, tương tư như máu được trái tim bơm qua phổi để trao đổi ô xy, sau đó quay
về tim để đưa đến các bộ phận tế bào trong cơ thể qua động mạch, thực hiện quá trình trao đổi chất, cung cấp ô xy các chất dinh dưỡng nuôi các tế bào và quay lại tim qua tĩnh mạch,
cứ thế vòng tuần hoàng này lặp đi lặp lại giúp đảm bảo cho cơ thể tồn tại và phát triển
Cơ chế tạo tiền trong nền kinh tế cũng như cơ chế tạo máu trong cở thể, để đáp ứng cho nền kinh tế lớn mạnh, phát triển thì nhu cầu về tiền trong nền kinh tế cũng nhiều hơn, trong cơ thể chúng ta cũng vậy khi còn bé thể trạng còn nhỏ thì chỉ cần lượng máu ít, nhưng khi lớn lên thì lượng máu cũng cần phải tăng theo một cách tương ứng, lượng máu cũng như lượng tiền trong nền kinh tế quá dư thừa cũng không tốt, quá thiếu hụt cũng không tốt, chúng ta cần một lượng vừa đủ về lượng vừa đảm bảo về chất thì mới giúp cho nền kinh tế hoạt động một cách hiệu quả, một cơ thể phát triển tốt cũng cần một lượng máu vừa đủ
Khi cơ thể chúng ta khỏe mạnh chúng ta có thể hiến máu, cứu người một lượng vừa
đủ thì cũng sẽ không ảnh hưởng nhiều đến sức khỏe của chúng ta, cũng giống như một nền kinh tế của Quốc gia thịnh vượng thì có thể viện trợ ODA cho những nước nghèo hơn để giúp những nước này phát triển, từ đó tạo được uy tín, có tiếng nói mạnh hơn trên thế giới
“Tiền là Máu” có vai trò hết sức quan trọng trong nền kinh tế, giúp cho nền kinh tế vận động và phát triển, do vậy làm gì để chúng ta sử dụng hiệu quả, kiểm soát triệt để dòng tiền trong nền kinh tế là mục tiêu nghiên cứu của đề tài này
Trang 222.4 Khung lý thuyết và tổng quan các nghiên cứu
Trên thế giới cũng đã có nhiều tác giả nghiên cứu những tác động, những lợi ích về nền kinh tế không dùng tiền mặt, nhưng hầu hết những nghiên cứu này là nghiên cứu thực nghiệm về những ảnh hưởng khi nền kinh tế chuyển từ tiền mặt sang các phương tiện thanh toán khác phi tiền mặt với vai trò các các ngân hàng thương mại và các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ thanh toán Hiện nay trên thế giới chưa có quốc gia nào thực hiện triệt để loại bỏ hoàn toàn tiền mặt ra khỏi nền kinh tế Bài viết này tác giả đề cập đến một cách tiếp cận khác, đó là loại bỏ hoàn toàn tiền mặt ra khỏi nền kinh tế, với Ngân hàng Nhà nước làm vai trò trung tâm trong mọi hoạt động của nền kinh tế
Theo Alilonu (2012), nền kinh tế không sử dụng tiền mặt không có nghĩa là loại bỏ hoàn toàn tiền mặt, vì tiền mặt sẽ tiếp tục là một phương tiện trao đổi hàng hoá và dịch vụ trong tương lai gần Đó là một môi trường tài chính làm giảm thiểu việc sử dụng tiền mặt bằng cách cung cấp các kênh thanh toán khác thay thế
Nền kinh tế không sử dụng tiền mặt là một hiện tượng toàn cầu Điều này không có nghĩa là sự vắng mặt hoàn toàn của các giao dịch tiền mặt trong nền kinh tế, nhưng giảm số lượng các giao dịch tiền mặt đến mức tối thiểu Nền kinh tế không sử dụng tiền mặt là một nền kinh tế mà giao dịch có thể được thực hiện mà không nhất thiết mang tiền mặt như một phương tiện trao đổi, giao dịch mà là sử dụng thanh toán bằng thẻ tín dụng hoặc thẻ ghi nợ đối với hàng hoá và dịch vụ Đây là nền kinh tế trong đó hàng hoá và dịch vụ được mua và trả tiền thông qua các phương tiện điện tử (Okoye và Ezejiofor, 2013)
Theo Marco và Bandiera (2004) cho rằng việc gia tăng sử dụng các công cụ ngân hàng không sử dụng tiền mặt làm tăng hiệu quả chính sách tiền tệ và mức độ sử dụng tiền điện tử hiện tại không gây ra mối đe dọa đối với sự ổn định của hệ thống tài chính Tuy nhiên, kết luận rằng các ngân hàng trung ương có thể mất quyền kiểm soát chính sách tiền tệ nếu chính phủ không có chính sách tài chính phù hợp
Trang 23Theo Obi (2012) định nghĩa xã hội không sử dụng tiền mặt là một trong những nơi không ai sử dụng tiền mặt, tất cả các khoản mua hàng được thực hiện bằng thẻ tín dụng, thẻ ATM, séc và chuyển trực tiếp từ tài khoản này sang tài khoản khác Nói cách khác, Obi đề cập đến ứng dụng rộng rãi của công nghệ máy tính trong hệ thống tài chính Theo ông, trong thế giới phương Tây hiện nay, gần 97% các giao dịch được thực hiện mà không có tiền mặt được trao đổi và điều này đã làm giảm đáng kể chi phí, tham nhũng và rửa tiền
Theo Costa và Grauwe (2001), một xã hội không sử dụng tiền mặt là một xã hội trong
đó tiền tệ phát hành bởi ngân hàng trung ương đã ngừng tồn tại Tất cả số tiền này là tiền cá nhân do các ngân hàng phát hành dưới hình thức tiền gửi, hoặc tiền điện tử giả mạo do các
tổ chức không phải là ngân hàng phát hành
Nền kinh tế không sử dụng tiền mặt (theo Adewale, 2012) chỉ đơn giản là minh hoạ cho một phong trào dần dần hoặc triệt để, toàn bộ hệ thống thanh toán của nền kinh tế từ việc sử dụng tiền mặt vật chất sang áp dụng hệ thống các phương thức thanh toán bằng tiền mặt phi vật chất khác trong các khoản thanh toán của tất cả các loại các giao dịch, bao gồm tất cả các hoạt động thương mại, nhà ở, phục vụ cá nhân, thương mại nội địa và thương mại quốc tế trong nền kinh tế Nền kinh tế không dùng tiền mặt chỉ đơn giản ngụ ý rằng tất cả các phương tiện thanh toán được thực hiện mà không sử dụng tiền mặt Các khoản thanh toán sẽ bao gồm từ các giao dịch trực tuyến, ngân hàng di động, thẻ ghi nợ và thẻ tín dụng, séc và chuyển khoản ngân hàng Nói cách khác, các giao dịch tài chính có thể được thực hiện ở bất cứ đâu qua internet với việc sử dụng máy tính và thiết bị di động Đó là sự đổi mới, dịch vụ ngân hàng điện tử và là một cuộc cách mạng thay đổi cuộc sống của hàng triệu người trên toàn cầu Do đó, một nền kinh tế không dùng tiền mặt là một tình huống mà có một dòng tiền nhỏ nhất định hoặc rất thấp trong xã hội, do đó mọi giao dịch sẽ được thực hiện qua các kênh điện tử
Trang 24Theo Humphrey (2004) nhận xét rằng các nước phát triển trên thế giới, trong phạm vi rộng lớn, đang chuyển từ các công cụ thanh toán bằng tiền giấy sang tiền điện tử, đặc biệt là thẻ thanh toán
Theo Nweke (2012) nền kinh tế hạn chế tiền mặt là nền kinh tế giảm thiểu tiền mặt trong khi các hình thức thanh toán khác, đặc biệt là thanh toán bằng điện tử được sử dụng Nói cách khác, nền kinh tế không dùng tiền mặt là sự kết hợp giữa hệ thống thanh toán dựa trên hệ thống thanh toán điện tử Nền kinh tế không dùng tiền mặt đại diện cho trạng thái thuần túy của hệ thống thanh toán không dùng tiền mặt, nơi mà ngân hàng trung ương không
in ra tiền xu và tiền giấy chắc chắn để lưu thông
Mặc dù khái niệm phát triển kinh tế đã được phổ biến rộng rãi trong thế kỷ 20, thuật ngữ này thực sự có trước thời kỳ của “trường phái kinh tế cổ điển" ở thế kỷ 19
Các nhà kinh tế của thời kỳ này ủng hộ một phương pháp luận dựa trên lịch sử chung cho phân tích kinh tế của họ, cũng như niềm tin rằng nhiệm vụ chính của kinh tế là phát hiện
ra các quy luật điều chỉnh các giai đoạn tăng trưởng và phát triển kinh tế Ví dụ, nhà kinh tế học người Đức Georg Friedrich List (1789-1846), người được coi là bậc tiền bối của trường phái kinh tế học cổ điển Đức, cho biết nền kinh tế của vùng ôn đới sẽ trải qua bốn giai đoạn phát triển kinh tế - đời sống du mục theo mùa vụ; nông nghiệp; nông nghiệp và chế tạo; và chế tạo, nông nghiệp và thương mại
Một nhà kinh tế học người Đức, Bruno Hildebrand (1812 - 1878), đã đưa ra một cách tiếp cận lịch sử khác biệt đối với việc nghiên cứu các giai đoạn tăng trưởng và phát triển kinh tế Ông khẳng định rằng chìa khóa để hiểu được các giai đoạn phát triển kinh tế đã được tìm thấy trong các điều kiện trao đổi, do đó ông đã đưa ra ba giai đoạn kinh tế dựa trên trao đổi hàng hóa, tiền tệ và tín dụng
Sự khẳng định này được gọi là Lý thuyết về các giai đoạn phát triển tiền tệ và là chủ
đề của bài báo này Lý thuyết của sự phát triển các giai đoạn tiền tệ giải thích rằng một nền
Trang 25kinh tế sẽ phát triển theo ba giai đoạn với các phương tiện trao đổi là trao đổi hàng hóa, tiền
sử dụng tiền giấy và tiền giấy giúp người có thu nhập vào thời điểm đó có thể tiếp cận tín dụng cho việc mua bất động sản nhờ các giấy viết tay như theo một nhà kinh tế khác đã
miêu tả một cách chính xác “Tầm nhìn của Hildebrand về xã hội phát triển từ trao đổi tiền
tệ trước khi đạt được sự tích hợp cao nhất trong nền kinh tế tín dụng nơi mà người có thu nhập thấp, ít tài sản có thể tiếp cận vốn và do đó giải quyết được một trong những vấn đề bức xúc nhất của xã hội hiện đại ”
Mặc dù Hildebrand cuối cùng đã thất bại trong việc phát triển một hệ thống kinh tế học, nhưng tầm nhìn của ông về mô hình phát triển kinh tế trao đổi bằng hàng hóa – trao đổi bằng tiền – trao đổi bằng tín dụng đã cung cấp bằng chứng lý thuyết về mối quan hệ giữa các phương tiện trao đổi và sự phát triển kinh tế
Xem xét các vấn đề thực nghiệm trong nền kinh tế không sử dụng tiền mặt, phương
trình nhu cầu tiền có thể được bắt nguồn mà không ảnh hưởng đến sản lượng và lạm phát
(Gali, 2008)
Trong trường hợp này, tiền đóng vai trò của một đơn vị tiền tệ và số dư tiền thực khi sản lượng, lạm phát và lãi suất đã được xác định Khi kiểm tra các tác động chi phí của các công cụ ngân hàng không sử dụng tiền mặt, Gresvik và Owre (2002) đã nghiên cứu mức chi phí của các ngân hàng Nauy để xử lý các công cụ thanh toán khác nhau
Trang 26Nghiên cứu đã nhận thấy rằng các thẻ thanh toán được sử dụng để rút tiền mặt tại máy ATM có chi phí cao hơn so với các giao dịch trực tiếp bằng tiền mặt, như là chi phí bảo trì và chi phí an ninh Ngoài ra nghiên cứu cũng phát hiện ra rằng chi phí sử dụng séc để rút tiền mặt đắt gấp ba lần so với việc rút tiền mặt tại máy ATM
Các nghiên cứu xuyên quốc gia như Humphrey và Cộng sự (1996) đã phân tích các
mô hình sử dụng tiền mặt và các công cụ thanh toán điện tử khác ở 14 nước phát triển, trong
đó có Hoa Kỳ Trong khi xử lý các công cụ thanh toán như thể là hàng hoá truyền thống, tác giả xây dựng các phương pháp về chi phí (tương tự như giá cả) của các phương thức thanh toán khác nhau để nghiên cứu xem sự khác biệt trong sử dụng công cụ tiền mặt giữa các nước có thể được giải thích bằng sự khác biệt về giá tương đối của các công cụ
Kết quả cho thấy sự khác biệt về giá cả không liên quan đến việc sử dụng các công cụ ngân hàng điện tử Nói cách khác, sự tiện lợi của việc sử dụng một công cụ cụ thể là một yếu
tố không đo được có thể lớn hơn những khác biệt về giá cả mà người dùng gặp phải (Carrow
và Staten, 2000)
Okoye và Ezejiofor (2013) đã kiểm tra các tiện ích và yếu tố quan trọng của chính sách không sử dụng tiền mặt, và mức độ mà nó có thể tăng cường sự phát triển của sự ổn định tài chính trong nước
Hiện đã có một số tác giả nghiên cứu về nền kinh tế không tiền mặt, như của Ordu
Monday Matthew, Anyanwaokoro, Mike, 2016, Cashless Economic Policy in Nigeria: A
Performance Appraisal of The Banking Industry Nghiên cứu này tập trung vào việc thanh
toán bằng thẻ ATM, thanh toán bằng chuyển khoản qua ngân hàng Kết quả cho thấy rằng nền kinh tế càng hạn chế lưu thông tiền mặt thì càng giảm chi phí phát sinh liên quan đến việc in ấn, bảo quản, lưu thông,… Và chính sách không sử dụng tiền mặt làm cho các công
ty hưởng lợi từ việc tiếp cận vốn nhanh hơn, giảm thất thoát doanh thu, giảm chi phí xử lý tiền mặt, chính sách không sử dụng tiền mặt sẽ làm giảm rủi ro phát sinh từ trộm cắp, tồn thất do hỏa hoạn
Trang 27Ngoài ra nhóm tác giả Thorsten Beck, Haki Pamuk, Ravindra Ramrattan, Burak R
Uras, 2018, Payment instruments, finance and development nghiên cứu về đổi mới công cụ
thanh toán qua thiết bị di động Bài báo này nghiên cứu ảnh hưởng của sự đổi mới công nghệ thanh toán (tiền di động) đối với việc kinh doanh và phát triển kinh tế Trong mô hình, thanh toán qua điện thoại di động chi phối tiền pháp định như một phương tiện trao đổi, vì
nó tránh được nguy cơ trộm cắp, nhưng đi kèm với chi phí giao dịch điện tử Nhóm nghiên cứu đã chỉ ra rằng các doanh nghiệp có tăng trưởng cao hơn và dễ dàng tiếp cận tín dụng thương mại có nhiều khả năng chấp nhận tiền di động như một công cụ thanh toán cho các nhà cung cấp Ý nghĩa định lượng của việc thanh toán qua điện thoại di động cho tăng trưởng và phát triển kinh tế
Nhóm tác giả Wanting Xiong, Han Fu, Yougui Wang, 2017, Money creation and
circulation in a credit economy nghiên cứu về cơ chế tạo tiền và lưu thông tiền trong nền
kinh tế có xét đến nợ Bài nghiên cứu này trình bày mô hình đại diện mô tả các cơ chế chính tạo tiền và lưu thông tiền tệ trong nền kinh tế có xét đến nợ Sự chú ý đặc biệt của nhóm tác giả này tập trung cho vai trò của nợ trong hai quy trình Với cách tiếp cận mô hình dựa trên tác nhân, các hiện tượng vĩ mô được xác lập từ các nguyên nhân vi mô Đề xuất một nền kinh tế với giả thuyết bao gồm một hệ thống ngân hàng và nhiều thương nhân Thay vì trở thành một người trung gian tài chính thuần túy, hệ thống ngân hàng được xem như là trung tâm của việc tạo ra tiền và đẩy mạnh việc lưu thông tiền tệ Các thương nhân tài trợ chi tiêu của họ không chỉ bởi khoản tiết kiệm của họ mà còn thông qua các khoản vay ngân hàng
Đề tài này nghiên cứu dựa trên nền tảng nghiên cứu của tác giả Cullen O Roche,
2011, Understanding the Modern Monetary System về hệ thống tiền tệ hiện đại Mục đích
chính của bài báo này là nhằm mô tả khách quan các thực tế hoạt động của hệ thống tiền tệ hiện đại tại Hoa Kỳ sử dụng các hiểu biết về Chủ nghĩa hiện thực tiền tệ Nghiên cứu này nhằm cung cấp cho người đọc sự hiểu biết tổng thể về tiền tệ, cơ chế tạo tiền và lưu thông
Trang 28trong nền kinh tế vĩ mô và hệ thống tiền tệ nói chung có thể được sử dụng để đạt được sự thịnh vượng
2.5 Hệ thống tiền tệ sử dụng và không sử dụng tiền mặt, ưu nhược điểm
2.5.1 Ưu nhược điểm của Mô hình lưu thông tiền tệ sử dụng tiền mặt
2.5.1.1 Ưu điểm
Mô hình lưu thông tiền tệ hiện nay với nền tảng là hoạt động của các Ngân hàng Thương mại tạo ra nguồn cung tiền cho nền kinh tế dòng tiền vừa lưu thông bên trong hệ thống ngân hàng và tiền mặt lưu thông bên ngoài nền kinh tế và các cá nhân được tự do giao dịch với nhau bằng nhiều hình thức giúp cho việc lưu thông, trao đổi được thuận tiện dễ dàng Như là các giao dịch nhỏ lẻ có thể diễn ra ở mọi lúc, mọi nơi kể cả ở vùng sâu, vùng
xa ở những nơi mà cơ sở hạ tầng chưa phát triển Trong những trường hợp cấp bách, đêm hôm, ngày lễ, ngày nghỉ giao dịch bằng tiền mặt là thuận tiện nhất
Giao dịch thanh toán bằng tiền mặt giúp cho những người làm trong những lĩnh vực dịch vụ dễ dàng nhận thêm được tiền boa từ khách hàng khi thanh toán dịch vụ Khi sử dụng tiền mặt trong việc cho, biếu, tặng, thưởng,… ngoài giá trị thật bằng hiện kim còn có giá trị
về mặt tinh thần khi người nhận nhận trực tiếp bằng tiền mặt thay vì nhận bằng hình thức chuyển khoản
Khi cơ sở hạ tầng, khoa học công nghệ chưa phát triển thì mô hình sử dụng tiền mặt kết hợp với chuyển khoản ngân hàng giúp ích rất nhiều cho nền kinh tế, cho việc lưu thông hàng hóa và cho mọi hoạt động của con người
2.5.1.2 Nhược điểm
Do dòng tiền vừa lưu thông bên trong hệ thống các tài khoản ngân hàng và lưu thông bằng tiền mặt bên ngoài và các cá nhân, doanh nghiệp dễ dàng chuyển đổi qua lại từ tài khoản sang tiền mặt và ngược lại làm cho Chính phủ không thể kiểm soát được dòng tiền trong nền kinh tế, hoạt động tội phạm, rửa tiền dễ dàng thực hiện, là môi trường thuận lợi
Trang 29cho nền kinh tế ngầm hoạt động, các hoạt động kinh doanh gian lận, trốn thuế, tham nhũng, hoạt động in ấn tiền giả, rửa tiền, trộm cắp
Chi phí nguồn lực đáp ứng cho việc lưu thông bằng tiền mặt cũng tương đối lớn như
là chi phí in tiền, vận chuyển, bảo quản, kiểm đếm, hao mòn,… vàng, ngoại tệ có tính thanh khoản thấp nhưng lại mang vai trò như tiền mặt, làm ảnh hưởng đến hiệu quả việc lưu thông tiền tệ Đồng thời nguồn lực của xã hội bị phân tán do tồn tại bằng nhiều hình thái khác nhau như là tài khoản ngân hàng, tiền mặt, vàng, ngoại tệ,… Chính phủ rất khó huy động nguồn lực này trong xã hội để phục vụ cho việc đầu tư, phát triển nền kinh tế, thay vào đó Chính phủ phải đi vay nợ quốc tế làm gia tăng chi phí trả lãi vay, gánh nặng nợ cho quốc gia
Tiền mặt, vàng, ngoại tệ được người dân cất trữ không đưa vào trong lưu thông sẽ mất đi giá trị theo thời gian
Vàng được lưu thông như tiền tệ, làm phương tiện thanh toán với chi phí cao, ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế của quốc gia, tình trạng nhập khẩu vàng làm cho đất nước mất đi một lượng ngoại tệ đáng kể từ đó tác động đến tỷ giá hối đoái và cán cân thương mại quốc
tế
Ngoại tệ lưu thông trong nền kinh tế trong nước, được người dân cất trữ dẫn đến Chính phủ không thể kiểm soát toàn diện làm ảnh hưởng đến cán cân thanh toán quốc tế, khó khăn trong việc điều tiết tỷ giá hối đoái
Các giao dịch ngầm, giao dịch bất minh gây méo mó nền kinh tế, gây thất thu về thuế tạo ra bất bình đẳng trong xã hội
2.5.2 Ưu nhược điểm của Mô hình lưu thông tiền tệ không sử dụng tiền mặt
2.5.2.1 Ưu điểm
Các giao dịch được thực hiện nhanh chóng, đơn giản, hiệu quả, an toàn, không tốn chi
Trang 30một cách toàn diện, triệt để vì Chính phủ kiểm soát tất cả mọi giao dịch của các cá nhân tổ chức trong xã hội, giảm thiểu việc gian lận thương mại, tình trạng tham nhũng, hối lộ… khai thác, tận dụng triệt để nguồn lực của đất nước
Chính phủ quản lý kiểm soát vàng, ngoại tệ một cách triệt để từ đó chủ động trong việc điều tiết tỷ giá hối đoái, cán cân thanh toán quốc tế
Giảm đáng kể chi phí, tồn thất cho nền kinh tế vì không sử dụng tiền mặt và vàng làm tăng hiệu quả của nền kinh tế
Hạn chế các giao dịch bất minh, giao dịch ngầm trong nền kinh tế giúp ổn xã hội, nhà nước không bị thất thu về thuế
Giảm chi phí hành chính, giấy tờ in ấn cho các hoạt động liên quan đến tiền mặt, giảm chi phí cho các hoạt động thanh toán, chuyển khoản, bất cứ nơi đâu mọi cá nhân, pháp nhân điều thực hiện được việc chuyển tiền qua lại một cách nhanh chóng và dễ dàng,…
Trang 31CHƯƠNG 3:
HỆ THỐNG LƯU THÔNG TIỀN TỆ CỦA VIỆT NAM HIỆN NAY
3.1 Ngân hàng Nhà nước (Ngân hàng Trung ương)
Ngân hàng Nhà nước (Ngân hàng Trung ương) thực hiện chức năng quản lý nhà nước, nhằm đảm bảo sự ổn định và an toàn của cho tất cả các hệ thống ngân hàng qua đó thực hiện các mục tiêu điều tiết, quản lý vĩ mô cho nền kinh tế Ngân hàng Nhà nước độc quyền phát hành tiền trên phạm vi toàn quốc, quản lý, cung ứng điều tiết tiền mặt ra nền kinh tế Là trung tâm thanh toán chuyển nhượng, bù trừ của các ngân hàng trung gian, và là nơi quản lý quỹ dự trữ bắt buộc của các ngân hàng trung gian
3.2 Hệ thống lưu thông tiền tệ trong nền kinh tế hiện nay
Trong nền kinh tế hiện nay tồn tại nhiều hình thái của tiền tệ được lưu thông như là: Tiền giấy, vàng, tài khoản ngân hàng, ngoại tệ,… một phần giúp đa dạng hóa trong lưu thông, nhưng ngược lại làm pha loãng nguồn lực tài chính của quốc gia, khó khăn trong việc kiểm soát dòng tiền trong nền kinh tế, những nguồn lực này một phần được lưu thông, một phần tích trữ, khoản tích trữ này không tạo ra giá trị cho xã hội đồng thời làm mất đi chi phí
cơ hội và giá trị nội tại theo thời gian
Trong mô hình lưu thông tiền tệ hiện nay, nguồn tiền được phát hành bởi Ngân hàng Nhà nước, Ngân hàng Nhà nước điều tiết lượng cung tiền ra nền kinh tế thông qua các Ngân hàng Thương mại, các Ngân hàng Thương mại thực hiện các nghiệp vụ nhận tiền gửi tiết kiệm và cho vay để đưa tiền vào lưu thông trong nền kinh tế
Dòng tiền lưu thông trong nền kinh tế bằng hai hình thức lưu thông bên trong hệ thống ngân hàng thương mại và lưu thông tiền mặt tự do bên ngoài, cả hai hình thức lưu thông Chính phủ hầu như không kiểm soát trực tiếp được dòng tiền trong nền kinh tế Chính phủ chỉ có thể kiểm soát lượng cung tiền ra nền kinh tế thông qua các công cụ, lãi suất, tỷ lệ
dự trữ bắt buộc, phát hành trái phiếu,…
Trang 32Hình 3.1: Cơ chế phát hành và lưu thông tiền tệ hiện nay ở Việt Nam
(Nguồn: Tác giả tự đề xuất)
Trang 33(1) Dòng tiền từ Ngân hàng Nhà nước bơm vào các Ngân hàng Thương mại ngược lại khi Ngân hàng Nhà nước muốn giảm lượng cung tiền ra nền kinh tế sẽ dùng các công cụ lãi suất, tỷ lệ dự trữ bắt buộc, phát hành trái phiếu,…để hút tiền về
(2) Các Ngân hàng Thương mại đưa tiền vào trong lưu thông bằng cách thực hiện các nghiệp vụ cho vay và nhận gởi tiết kiệm với các cá nhân, pháp nhân bao gồm cả các Ngân hàng Thương mại khác Ngoài ra Ngân hàng Thương mại cũng thực hiện các nghiệp vụ ủy thác thanh toán của các cá nhân pháp nhân cho Kho bạc Nhà nước và cho các Ngân hàng Nước ngoài bằng ngoại tệ
(3) Các cá nhân, pháp nhân giao dịch thanh toán, trả nợ, chuyển tiền qua lại lẫn nhau bằng hình thức chuyển khoản qua ngân hàng hoặc giao dịch bằng tiền mặt
(4) Ngoài tiền mặt, tài khoản thì vàng, ngoại tệ cũng được các cá nhân, pháp nhân giao dịch qua lại lẫn nhau
3.2 Những bất cập
Dòng tiền lưu thông ở tầng lớp thứ 1 (Ngân hàng Nhà nước và Các Ngân hàng Thương mại), Ngân hàng Nhà nước có thể kiểm soát điều tiết được lượng tiền lưu thông, khi dòng tiền lưu thông ở tầng lớp thứ 2 (Ngân hàng Thương mại với pháp nhân, cá nhân) thì Ngân hàng Nhà nước chỉ gián tiếp kiểm soát tốc độ và lưu lượng lưu thông tiền tệ và quá trình kiểm soát này có độ trễ nhất định Đến tầng lớp lưu thông thứ 3 (các cá nhân, pháp nhân giao dịch qua lại) thì Ngân hàng Nhà nước chỉ kiểm soát được một phần tình hình lưu thông tiền tệ trong nền kinh tế bằng hình thức chuyển khoản còn các giao dịch giữa các chủ thể với nhau bằng tiền mặt thì Ngân hàng Nhà nước không thể kiểm soát được và từ đây những thông tin méo mó, những giao dịch bất minh, các tổ chức rửa tiền, tội phạm, hoạt động mạnh trong tầng lớp lưu thông này Tầng lớp lưu thông thứ 4 là vàng, ngoại tệ thì hầu như không mang hiệu quả cho nền kinh tế, ngược lại còn mất đi chi phí cơ hội, phân tán nguồn lực của xã hội, tốn kém nguồn lực của nền kinh tế để vận hành chúng, nền kinh tế
Trang 34lộ, tham nhũng, tiêu thụ các hàng hóa trộm cắp, tình trạng trộm cắp, được giao dịch trong tầng lớp lưu thông này
Trang 35Hiện nay ở nhiều nước phát triển, việc thanh toán sử dụng tiền mặt rất hạn chế, các chủ thể thanh toán thông qua nhiều hình thức khác nhau, nhiều tài khoản khác nhau ở những ngân hàng khác nhau và hầu hết thực hiện thanh toán qua ngân hàng, máy ATM, POS, thanh toán qua điện thoại di động, vì thế ngân hàng trung ương không thể kiểm soát một cách triệt
để được dòng tiền trong nền kinh tế
Ngân hàng Trung ương: Do Quốc hội lập ra, hoạt động dưới sự giám sát của Quốc
hội, mục đích điều tiết lượng cung tiền thông qua Ngân hàng Nhà nước, công bố lãi suất cơ bản, trần lãi suất, quản lý và kiểm soát Ngân hàng Nhà nước
Ngân hàng Nhà nước: Do Chính phủ thành lập chịu kiểm soát, điều phối bởi Ngân
hàng Trung ương, chịu trách nhiệm quản lý các tài khoản của cá nhân, pháp nhân, trong toàn quốc và thực hiện giao dịch ngoại thương với các cá nhân, pháp nhân, ngân hàng, tổ chức tín dụng, chính phủ nước ngoài Có nghĩa vụ lập, cung cấp tài khoản cho tất cả công dân trong nước, các pháp nhân được thành lập trong nước, người nước ngoài khi đến, du lịch, làm việc, sinh sống, hoạt động ở Việt Nam
Tài khoản tại Ngân hàng Nhà nước: Mỗi công dân khi sinh ra sẽ được cấp duy nhất
một tài khoản tại Ngân hàng Nhà nước và tài khoản này sẽ tồn tại cho đến công dân dó qua
Trang 36pháp Mỗi pháp nhân (tổ chức, cơ quan nhà nước, doanh nghiệp, ngân hàng thương mại, công ty tài chính, …) khi thành lập cũng được cấp duy nhất một tài khoản ngân hàng tại Ngân hàng Nhà nước Công dân nước ngoài khi đến du lịch, làm việc, học tập, sinh sống ở Việt Nam cũng sẽ được cấp một tài khoản tiền Việt tại Ngân hàng Nhà nước, khi những người này về nước có thể chuyển thành ngoại tệ mang về và đóng tài khoản đó lại
Thiết bị thanh toán (Ví điện tử): Tương ứng với mỗi tài khoản tại Ngân hàng Nhà
nước, các chủ tài khoản sẽ được cấp một thiết bị thanh toán gọi là Ví điện tử Ví điện tử này thực hiện mọi giao dịch, mọi lúc, mọi nơi trong lãnh thổ Việt Nam
4.2 Mô hình lưu thông tiền tệ không dùng tiền mặt trong nền kinh tế
Mô hình lưu thông tiền tệ không dùng tiền mặt trong nền kinh tế bao gồm các chủ thể sau: Ngân hàng Trung ương, Ngân hàng Nhà nước, Kho bạc Nhà nước, Ngân Hàng Thương mại, Pháp nhân (Doanh nghiệp, tổ chức khác), Cá nhân
Phương tiện thanh toán, cất trữ của các chủ thể trừ Ngân hàng Trung ương, Ngân hàng Nhà nước chỉ duy nhất tài khoản tiền Việt Ngoại tệ, vàng thuộc quản lý trực tiếp của Ngân hàng Trung ương và Ngân hàng Nhà nước và sẽ không được đưa vào lưu thông trong nền kinh tế, chỉ khi thực hiện các giao dịch ngoại thương thì ngoại tệ, vàng sẽ được sử dụng
4.2.1 Hình thức, vai trò và chức năng của các chủ thể
Ngân hàng Trung ương: Ngân hàng Trung ương được thành lập bởi Quốc hội, hoạt
động độc lập không phụ thuộc vào quản lý điều hành từ Chính phủ, chức năng là tạo tiền điều tiết dòng tiền cung ứng cho Ngân hàng Nhà nước, quản lý giám sát hoạt động của Ngân hàng Nhà nước Quản lý kiểm soát ngoại tệ, vàng của quốc gia thông qua Ngân hàng Nhà nước, điều hành giá vàng, tỷ giá hối đóa, lãi suất cơ bản, trần lãi suất,… Ngân hàng Trung ương quyết định lãi suất tiền gởi cơ bản dựa trên tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế, mức độ lạm phát, chỉ số giá tiêu dùng, mức lãi suất cơ bản đảm bảo cho đồng tiền không bị mất giá Ngân hàng Nhà nước sẽ tự động thanh toán tiền lãi cho các tài khoản hằng tháng căn cứ vào giá trị số dư tối thiểu trong tài khoản trong tháng đó Nghĩa là Ngân hàng Nhà nước chỉ chi trả lãi suất cho phần tiền không giao dịch của cá nhân, tổ chức
Trang 37Ngân hàng Nhà nước: Được thành lập bởi Chính phủ do Chính phủ điều hành, chịu
sự quản lý giám sát của Ngân hàng Trung ương Cung cấp, quản lý tài khoản của tất cả các chủ thể trong nền kinh tế trừ Ngân hàng Trung ương Thực hiện giao dịch với Ngân hàng Trung ương để điều tiết lượng cung tiền ra nền kinh tế, giao dịch với các Ngân hàng Thương mại, Kho bạc Nhà nước, các Pháp nhân, các Cá nhân, thực hiện giao dịch thanh toán quốc tế
Kho bạc Nhà nước: Được thành lập và điều hành bởi Bộ Tài chính, chịu sự giám sát
của Ngân hàng Nhà nước, thực hiện mọi thu chi của Chính phủ như thu thuế, phí, lệ phí,… chi thường xuyên, chi đầu tư, tài trợ và cho các hoạt động của Chính phủ
Ngân Hàng Thương mại: Hoạt động dưới sự giám sát của Ngân hàng Nhà nước, thực
hiện các hoạt động cho vay, nhận tiền gởi tiết kiệm từ các cá nhân, pháp nhân Có chức năng tạo tiền cho nền kinh tế Tất cả các hoạt động của Ngân hàng Thương mại với các Pháp nhân (doanh nghiệp, tổ chức,…) với các Cá nhân điều thông qua Ngân hàng Nhà nước
Pháp nhân (doanh nghiệp, tổ chức khác): Mỗi pháp nhân khi thành lập được Ngân
hàng Nhà nước cấp duy nhất một tài khoản tiền Việt để thực hiện giao dịch với Ngân hàng Thương mại, Pháp nhân khác, cá nhân, với nước ngoài Mọi giao dịch điều thông qua Ngân hàng Nhà nước Khi giao dịch với nước ngoài ngoại tệ sẽ được chuyển sang tiền Việt tại thời điểm giao dịch và sẽ chỉ nhận được tài khoản tiền Việt, ngược lại khi cần thanh toán giao dịch với quốc tế thì tài khoản khoản tiền Việt sẽ được đổi sang ngoại tệ để thanh toán cho đối tác ở nước ngoài
Cá nhân: Bao gồm tất cả các cá nhân đang sinh sống ở Việt Nam(người Việt Nam và
người nước ngoài) và người Việt Nam ở nước ngoài, mỗi cá nhân sẽ được Ngân hàng Nhà nước cấp duy nhất một tài khoản tiền Việt khi mới sinh ra và đối với người nước ngoài thì được cấp khi lần đầu tiên đến Việt Nam Mọi hoạt động trao đổi giữa cá nhân với cá nhân, giữa cá nhân với pháp nhân, giữa cá nhân với Ngân hàng Thương mại, giữa cá nhân với Kho bạc nhà nước, giữa cá nhân với nước ngoài điều được thực hiện thông qua tài khoản tại Ngân hàng Nhà nước
Trang 38Ngân hàng Trung ương – Ngân hàng Nhà nước: Ngân hàng Trung ương là cơ quan
phát hành tiền dưới hình thức tài khoản cho Ngân hàng Nhà nước thông qua các công cụ tài chính để điều tiết lượng tiền trong nền kinh tế Kiểm soát mọi hoạt động của Ngân hàng Nhà nước, kiểm soát và quản lý ngoại tệ, vàng của quốc gia
Ngân hàng Nhà nước với Kho bạc Nhà nước: Ngân hàng Nhà nước cung cấp tài
khoản và quản lý các hoạt động, giao dịch của Kho bạc Nhà nước Mọi hoạt động thu chi của Kho bạc Nhà nước điều thực hiện thông qua Ngân hàng Nhà nước
Ngân hàng Nhà nước với Ngân hàng Thương mại: Ngân hàng Nhà nước cung cấp
duy nhất một tài khoản cho mỗi Ngân hàng Thương mại, mọi hoạt động của Ngân hàng Thương mại điều thông qua tài khoản này bao gồm nhận tiền gởi tiết kiệm, cho vay, chi trả tiền lương, thanh toán các chi phí, trả lãi suất cho các cá nhân, pháp nhân
Ngân hàng Nhà nước với Pháp nhân: Mỗi pháp nhân có duy nhất một tài khoản ở
Ngân hàng Nhà nước do vậy mọi hoạt động thu, chi, thanh toán điều thông qua tài khoản này
Ngân hàng Nhà nước với Cá nhân: Mỗi cá nhân cũng có duy nhất một tài khoản ở
Ngân hàng Nhà nước do vậy mọi khoản thu nhập nhận được, hay các khoản chi điều thông qua tài khoản này
Kho bạc Nhà nước với Ngân hàng Thương mại: Ngân hàng Thương mại thực hiện
nghĩa vụ đóng thuế, phí, lệ phí của mình cho Kho bạc Nhà nước
Kho bạc Nhà nước với Pháp nhân: Các pháp nhân thực hiện nghĩa vụ đóng thuế, phí,
lệ phí, phạt cho Kho bạc Nhà nước Khi Kho bạc chi đầu tư, xây dựng, mua sắm cho Chính phủ, cơ quan nhà nước, khi đó Kho bạc Nhà nước chi trả trực tiếp cho các pháp nhân liên
quan
Kho bạc Nhà nước với Cá nhân: Cá nhân thực hiện các nghĩa vụ đóng thuế, phí, lệ
phí, phạt cho Kho bạc Nhà nước, ngoài ra các cá nhân là công chức viên chức được nhận các khoản lương và phụ cấp từ Kho bạc Nhà nước, các cá nhân nhận trợ cấp xã hội, người được hưởng các ưu đãi, hỗ trợ theo chế độ cũng được nhận từ Kho bạc Nhà nước