1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

(Luận văn) nền kinh tế không dùng tiền mặt và những tác động của nền kinh tế không dùng tiền mặt ở việt nam

77 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nền Kinh Tế Không Dùng Tiền Mặt Và Những Tác Động Của Nền Kinh Tế Không Dùng Tiền Mặt Ở Việt Nam
Tác giả Châu Thanh Hảo
Người hướng dẫn PGS.TS. Nguyễn Khắc Quốc Bảo
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế TP. Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Kinh tế
Thể loại Luận văn thạc sĩ kinh tế
Năm xuất bản 2018
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 77
Dung lượng 3,83 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • tháng 5 năm 2018 (0)
  • CHƯƠNG 1: (10)
    • 1.1. Mục tiêu nghiên cứu - Lý do nghiên cứu (10)
      • 1.1.1. Mục tiêu nghiên cứu (10)
      • 1.1.2. Lý do nghiên cứu (10)
    • 1.2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu (12)
    • 1.3. Phương pháp tiếp cận (12)
    • 1.4. Ý nghĩa của nghiên cứu này (12)
    • 1.5. Cấu trúc của luận văn (13)
  • CHƯƠNG 2: (13)
    • 2.1. Lịch sử của hệ thống tiền tệ (15)
    • 2.2. Lịch sử về hình thái tiền tệ (16)
    • 2.3. Vai trò của tiền tệ trong nền kinh tế (19)
    • 2.4. Khung lý thuyết và tổng quan các nghiên cứu (22)
    • 2.5. Hệ thống tiền tệ sử dụng và không sử dụng tiền mặt, ưu nhược điểm (28)
      • 2.5.2. Ưu nhược điểm của Mô hình lưu thông tiền tệ không sử dụng tiền mặt (29)
  • CHƯƠNG 3: (13)
    • 3.1. Ngân hàng Nhà nước (Ngân hàng Trung ương) (31)
    • 3.2. Hệ thống lưu thông tiền tệ trong nền kinh tế hiện nay (31)
    • 3.2. Những bất cập (33)
  • CHƯƠNG 4: (13)
    • 4.1. Khái niệm (35)
    • 4.2. Mô hình lưu thông tiền tệ không dùng tiền mặt trong nền kinh tế (36)
      • 4.2.1. Hình thức, vai trò và chức năng của các chủ thể (36)
      • 4.2.2. Lưu thông tiền tệ giữa các chủ thể (37)
      • 4.2.3. Phương tiện lưu thông tiền tệ giữa các chủ thể (41)
    • 4.3. Các giải pháp để xây dựng nền kinh tế không dùng tiền mặt (45)
      • 4.3.1. Xây dựng hành lang pháp lý (45)
      • 4.3.2. Biện pháp hạn chế lưu thông vàng trong nền kinh tế (45)
      • 4.3.3. Biện pháp hạn chế lưu thông ngoại tệ trong nền kinh tế (46)
      • 4.3.4. Vai trò và hoạt động của Ngân hàng Thương mại trong nền kinh tế không dùng tiền mặt (46)
    • 4.4. Tốc độ lưu thông của tiền tệ trong nền kinh tế không sử dụng tiền mặt ở Việt Nam (47)
    • 4.5. Tiền thân của nền kinh tế không sử dụng tiền mặt ở Việt Nam (49)
    • 4.6. Thống kê phương tiện thanh toán trong nền kinh tế hiện nay ở Việt Nam (50)
    • 4.7. Thống kê tình hình sử dụng tiền mặt và các phương tiện thanh toán khác trong nền (52)
    • 4.8. Sự khác biệt giữa nền kinh tế có sử dụng tiền mặt hiện nay và nền kinh tế không sử dụng tiền mặt (54)
  • CHƯƠNG 5: (14)
    • 5.1. Những tác động tiêu cực của nền kinh tế không dùng tiền mặt ở Việt Nam (58)
      • 5.1.1. Tác động về mặt kinh tế (58)
      • 5.1.2. Tác động về mặt chính trị (58)
      • 5.1.3. Tác động về mặt xã hội (58)
    • 5.2. Những tác động tích cực của nền kinh tế không dùng tiền mặt ở Việt Nam (58)
      • 5.2.1. Tác động về mặt kinh tế (58)
      • 5.2.2. Tác động về mặt chính trị (59)
      • 5.2.3. Tác động về mặt xã hội (60)
    • 5.3. Những hạn chế của đề tài (61)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (77)

Nội dung

Mục tiêu nghiên cứu - Lý do nghiên cứu

Xây dựng nền kinh tế không sử dụng tiền mặt là phương pháp hiệu quả để phát triển đất nước, minh bạch hóa giao dịch xã hội và tạo ra một xã hội văn minh hơn Điều này không chỉ tăng cường tính hiệu quả và tiện lợi trong các hoạt động xã hội mà còn giúp tối ưu hóa nguồn lực cho phát triển kinh tế và kiểm soát toàn diện các hoạt động trong xã hội.

Hiệu quả của lưu thông tiền tệ trong nền kinh tế có ảnh hưởng sâu rộng đến mọi khía cạnh của xã hội Do đó, việc kiểm soát dòng tiền trở thành một nhiệm vụ cấp thiết mà tất cả các quốc gia đều hướng tới.

Mục tiêu của đề tài này là phân tích quá trình lưu thông tiền tệ trong nền kinh tế hiện nay, đồng thời chỉ ra những ưu điểm và bất cập mà nó mang lại cho xã hội và nền kinh tế Từ đó, đề xuất xây dựng một mô hình lưu thông tiền tệ nhằm khắc phục những nhược điểm hiện tại và nâng cao khả năng kiểm soát, quản lý tiền tệ trong nền kinh tế.

Tiền tệ đã tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau trong suốt lịch sử nhân loại, đóng vai trò quan trọng trong đời sống con người Nó không chỉ là phương tiện thanh toán cho việc trao đổi hàng hóa và dịch vụ, mà còn là công cụ để cất trữ giá trị và thước đo giá trị.

Từ thời kỳ đầu, con người đã sử dụng nhiều hình thức tiền tệ như da, răng động vật, vỏ ốc sên, dụng cụ lao động thô sơ, muối, hạt xâu chuỗi, lương thực, vũ khí, thuốc lá và hạt ca cao Đến thế kỷ thứ 7 trước Công nguyên, đồng tiền kim loại đầu tiên xuất hiện ở miền tây Thổ Nhĩ Kỳ, đánh dấu một bước tiến quan trọng trong lịch sử tiền tệ.

Vì thiếu kim loại đồng để sản xuất tiền xu, Trung Quốc đã trở thành quốc gia đầu tiên trên thế giới phát hành tiền giấy vào khoảng thế kỷ thứ 9.

Vào những năm 1500 tại Cộng Hòa Séc ngày nay đồng giấy bạc Thaler ra đời là tiền thân của đồng Đô La ngày nay (theo American Numismatic Association, “The

Với sự phát triển không ngừng của công nghệ thông tin, tiền tệ trong xã hội hiện đại ngày nay chủ yếu tồn tại dưới dạng các số liệu điện tử trong hệ thống máy tính.

Hiện nay, tiền tệ tồn tại dưới nhiều hình thức như đồng xu, giấy bạc, vàng và tiền kỹ thuật số Tuy nhiên, các hình thức truyền thống này gặp nhiều hạn chế, bao gồm chi phí phát hành và lưu thông cao, nguy cơ tiền giả, và tính ẩn danh trong giao dịch, tạo điều kiện cho tội phạm thực hiện hành vi vi phạm Điều này dẫn đến khó khăn trong việc kiểm soát các giao dịch bất minh, cũng như tình trạng hối lộ và tham nhũng.

Tiền mặt sẽ mất giá trị khi không được lưu thông trong nền kinh tế, gây lãng phí nguồn lực xã hội Chính phủ không thể kiểm soát tất cả các giao dịch kinh tế, dẫn đến méo mó nền kinh tế và thất thu thuế Việc không tận dụng nguồn lực tiền, vàng, và ngoại tệ dự trữ lớn trong dân gây lãng phí nguồn lực quốc gia Hơn nữa, chính phủ không thể kiểm soát 100% lượng ngoại tệ trong nền kinh tế, gây khó khăn trong việc điều tiết cán cân thương mại quốc tế và điều chỉnh tỷ giá hối đoái.

Tiền tệ trong nền kinh tế đóng vai trò quan trọng như máu trong cơ thể, với Ngân hàng Trung ương là trái tim điều tiết lưu thông tiền tệ Nếu Ngân hàng Trung ương không kiểm soát hiệu quả, nền kinh tế sẽ không thể phát triển khỏe mạnh Cả huyết áp cao và thấp đều không tốt, và việc cung cấp tiền cho các "tế bào ung thư" trong nền kinh tế sẽ gây hại Do đó, việc kiểm soát và sử dụng hiệu quả nguồn lực tài chính là rất quan trọng Để khắc phục những hạn chế này, cần xây dựng một xã hội không sử dụng tiền mặt, đó là lý do tôi chọn đề tài “Nền kinh tế không dùng tiền mặt và những tác động của nền kinh tế không dùng tiền mặt ở Việt Nam.”

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Tiền tệ đã có một lịch sử hình thành và phát triển lâu dài trong xã hội loài người, đóng vai trò quan trọng trong đời sống xã hội Bài viết này sẽ trình bày và phân tích các hình thái của tiền tệ hiện nay, đồng thời đánh giá các ưu nhược điểm của từng hình thái Việc hiểu rõ vai trò và các hình thức của tiền tệ sẽ giúp chúng ta nhận thức sâu sắc hơn về ảnh hưởng của nó trong các hoạt động kinh tế và xã hội.

Quá trình lưu thông tiền tệ trong nền kinh tế Việt Nam hiện nay có nhiều ưu nhược điểm cần được phân tích kỹ lưỡng Việc xây dựng nền kinh tế không dùng tiền mặt, với Ngân hàng Nhà nước và Ngân hàng Trung ương đóng vai trò trung tâm, là một hướng đi tiềm năng Đồng thời, cần tìm hiểu và đánh giá những tác động của nền kinh tế không dùng tiền mặt đến sự phát triển kinh tế và xã hội tại Việt Nam.

Phương pháp tiếp cận

Đề tài này phân tích tình hình lưu thông tiền tệ tại Việt Nam, nêu rõ ưu điểm và nhược điểm của mô hình hiện tại đối với nền kinh tế và xã hội Bên cạnh đó, tác giả nhấn mạnh sự phát triển của khoa học kỹ thuật trong thời đại 4.0, từ đó đề xuất xây dựng một mô hình lưu thông tiền tệ mới hoàn toàn không sử dụng tiền mặt Mô hình này nhằm khắc phục những hạn chế hiện tại và nâng cao hiệu quả cho nền kinh tế, góp phần vào sự phát triển của đất nước.

Ý nghĩa của nghiên cứu này

Nghiên cứu này mang tính định tính và khái quát về vấn đề tiền tệ trong kinh tế vĩ mô, tạo nền tảng cho các nghiên cứu chuyên sâu và định lượng về các vấn đề cụ thể trong việc xây dựng nền kinh tế không dùng tiền mặt.

Theo xu hướng phát triển của xã hội, tiền mặt có thể sẽ biến mất khỏi cuộc sống hàng ngày trong tương lai gần Do đó, các quốc gia nhanh chóng xây dựng nền kinh tế không dùng tiền mặt sẽ có cơ hội phát triển mạnh mẽ hơn.

Cấu trúc của luận văn

Luận văn bao gồm năm chương cụ thể nội dung của từng chương như sau:

Trong chương này, tác giả trình bày mục tiêu nghiên cứu và lý do chọn đề tài "Nền kinh tế không dùng tiền mặt và những tác động của nền kinh tế không dùng tiền mặt ở Việt Nam" Việc lưu thông tiền tệ có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển kinh tế, góp phần ổn định và tạo ra công bằng trong xã hội.

Và nền kinh tế không dùng tiền mặt là xu hướng phát triển của nhân loại.

Lịch sử của hệ thống tiền tệ

Trong từng giai đoạn phát triển của nhân loại, cách sử dụng tiền phản ánh trình độ phát triển xã hội Từ thời kỳ sơ khai, khi con người sử dụng công cụ thô sơ để săn bắt và hái lượm, nhu cầu trao đổi hàng hóa và thực phẩm đã xuất hiện, giúp thỏa mãn nhu cầu sống của họ.

Để đáp ứng nhu cầu trao đổi hàng hóa, con người đã cần một vật ngang giá để ghi nhận các giao dịch Qua thời gian, tiền tệ đã phát triển từ những hình thức đơn giản như da và răng động vật, do vật nuôi là tài sản quý giá nhất trong giai đoạn đó Ngoài ra, vỏ động vật, đặc biệt là vỏ ốc sên, cũng được sử dụng làm phương tiện trao đổi, được gọi là tiền vỏ ốc, phổ biến trong giới buôn bán ở Trung Quốc.

Với sự tiến bộ của nhân loại, con người đã phát minh ra các công cụ lao động bằng kim loại, nâng cao năng suất lao động Những công cụ này trở thành tài sản quý giá nhất và được sử dụng như phương tiện trao đổi, tương tự như tiền tệ.

Khi giao thương giữa các vùng miền phát triển, người miền biển và miền núi đã sử dụng lương thực thực phẩm đặc trưng của mình để trao đổi Người miền biển dễ dàng sản xuất muối và đánh bắt hải sản, trong khi người miền núi lại có ngũ cốc, lâm sản và kim loại để tạo ra công cụ lao động Sự gia tăng năng suất lao động dẫn đến tình trạng dư thừa sản phẩm ở mỗi vùng miền, đồng thời tạo ra nhu cầu trao đổi hàng hóa giữa các vùng Những sản vật này trở thành phương tiện trao đổi quan trọng trong đời sống của con người thời bấy giờ.

Khi nhu cầu trao đổi trong xã hội gia tăng, một tầng lớp trung gian, gọi là lái buôn, đã hình thành Tuy nhiên, việc trao đổi hàng hóa gặp nhiều bất tiện do hàng hóa cồng kềnh và khó khăn trong vận chuyển, bảo quản Để giải quyết vấn đề này, cần có một phương tiện ghi nhận giá trị hàng hóa, từ đó đồng tiền kim loại đã ra đời, giúp thuận tiện hơn trong lưu thông.

Vào khoảng thế kỷ thứ 7 trước Công nguyên, đồng tiền kim loại đầu tiên xuất hiện ở miền tây Thổ Nhĩ Kỳ, sau đó lan rộng đến La Mã và Anh Đến thế kỷ thứ 9 trước Công nguyên, Trung Quốc trở thành quốc gia đầu tiên trên thế giới phát hành tiền giấy do thiếu hụt kim loại đồng, sớm hơn nhiều so với các nước châu Âu.

Vào thế kỷ 16, đồng giấy bạc Thaler ra đời tại Cộng Hòa Séc, đánh dấu sự khởi đầu của đồng Đô la hiện nay Hiện nay, tiền xu, tiền giấy và tiền kỹ thuật số cùng tồn tại ở nhiều quốc gia, với tiền xu ngày càng được cải tiến về chất liệu để nâng cao khả năng bảo quản và lưu thông Tiền giấy cũng trải qua nhiều thay đổi về chất liệu và mẫu mã, nhờ vào sự phát triển của khoa học kỹ thuật, nhằm chống giả mạo và tăng độ bền Mặc dù tiền giấy dần thay thế tiền xu trong lịch sử, nhưng tiền xu vẫn giữ vai trò quan trọng tại một số quốc gia.

Ngày nay, tiền kỹ thuật số đang phát triển nhanh chóng và dần thay thế tiền giấy cũng như tiền xu trong cuộc sống hàng ngày của con người Trong một thời gian không xa, chúng ta có thể thấy sự chuyển mình mạnh mẽ của hình thức thanh toán này.

2050 tiền giấy và tiền xu sẽ kết thúc sứ mệnh lịch sử của mình.

Lịch sử về hình thái tiền tệ

Các hình thái của tiền tệ đã thay đổi theo lịch sử phát triển của nhân loại, bắt đầu từ hóa tệ không kim loại dưới dạng hàng hóa Tiếp theo là tiền tệ kim loại và tiền giấy, vẫn tồn tại cho đến ngày nay cùng với sự xuất hiện của bút tệ Gần đây, nhờ sự phát triển của khoa học kỹ thuật và khoa học máy tính, tiền kỹ thuật số đã ra đời và ngày càng được ưa chuộng.

Hóa tệ bao gồm hóa tệ kim loại và phi kim loại, trong đó hóa tệ phi kim loại từng được sử dụng làm vật trung gian trao đổi hàng hóa, như lúa gạo trong thời phong kiến và bao cấp Tuy nhiên, ngày nay, với sự phát triển của các phương tiện thanh toán hiện đại, hóa tệ phi kim loại đã trở nên ít phổ biến Hóa tệ kim loại, như vàng và bạc, mặc dù có những đặc tính phù hợp với vai trò thanh toán và cất trữ, nhưng đang dần mất đi vai trò do chính phủ hạn chế sử dụng và tính cồng kềnh khi giao dịch lớn Hơn nữa, trữ lượng kim loại quý ngày càng cạn kiệt, không đáp ứng được nhu cầu kinh tế, trong khi các hình thức thanh toán khác có nhiều ưu điểm hơn Ở nhiều quốc gia, như Nhật Bản, vai trò của hóa tệ kim loại rất nhỏ, với hầu như không có cửa hàng kinh doanh vàng miếng, và vàng bạc trang sức không còn được xem là tiền tệ trong nền kinh tế.

Tiền kim loại đã được sử dụng từ thế kỷ thứ 7 trước công nguyên và vẫn còn lưu hành ở một số quốc gia, đặc biệt là với mệnh giá nhỏ cho các giao dịch như mua vé tàu điện và thanh toán tại cửa hàng Tại Việt Nam, Ngân hàng Nhà nước đã phát hành tiền kim loại mệnh giá nhỏ vào năm 2003 và 2004, nhưng do hạ tầng chưa đáp ứng và thói quen sử dụng tiền giấy của người dân, tiền kim loại không được ưa chuộng Chất lượng của một số đồng tiền kim loại cũng chưa đảm bảo, cùng với trọng lượng nặng gây bất tiện, dẫn đến việc tiền kim loại hầu như không còn lưu thông trong nền kinh tế Việt Nam từ năm 2011.

Tín tệ (tiền giấy) ra đời do thiếu hụt nguyên liệu để đúc tiền kim loại, bắt đầu từ triều Tống ở Trung Quốc Ngày nay, tiền giấy (cotton, polymer) là hình thức phổ biến nhất trong nền kinh tế toàn cầu, được sử dụng rộng rãi nhờ vào những ưu điểm như gọn nhẹ, dễ mang theo và có nhiều mệnh giá khác nhau Tiền giấy không chỉ đáp ứng nhu cầu thanh toán đa dạng mà còn là phương tiện cất trữ của cải Chính phủ giữ độc quyền trong việc in ấn và phát hành tiền giấy, kiểm soát lượng cung ứng ra thị trường Qua các thời kỳ, tiền giấy chủ yếu thay đổi về chất liệu và mẫu mã để phù hợp với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, nhằm ngăn chặn làm giả và đảm bảo độ bền khi lưu thông.

Bút tệ là hình thức tiền tệ được ghi chép trong sổ sách kế toán của ngân hàng, lần đầu tiên xuất hiện tại Ngân hàng Anh vào giữa thế kỷ 19 và hiện nay được sử dụng rộng rãi trên toàn thế giới, đặc biệt là ở các nước phát triển Bút tệ cho phép thực hiện các giao dịch lớn một cách an toàn và dễ dàng chuyển đổi sang tiền giấy khi cần thiết Các ngân hàng phát hành thẻ ATM giúp việc thanh toán trở nên thuận tiện hơn, đồng thời hỗ trợ người dùng trong việc chuyển đổi giữa bút tệ và tiền giấy Việc sử dụng bút tệ có chi phí lưu hành thấp hơn so với tiền giấy, bao gồm chi phí in ấn, bảo quản, kiểm đếm và vận chuyển, do đó bút tệ đang trở thành xu hướng phát triển của thời đại hiện nay.

Tiền kỹ thuật số, hay còn gọi là tiền điện tử, được sử dụng thông qua hệ thống thanh toán tự động như máy ATM và máy POS Các thiết bị này kết nối trực tiếp với các ngân hàng trung gian thông qua mạng lưới liên minh thẻ.

Smartlink và Banknet hỗ trợ chủ thẻ thực hiện giao dịch thanh toán, chuyển khoản và rút tiền tại các thiết bị tương ứng Một số tổ chức tài chính cùng với các công ty viễn thông cũng cung cấp dịch vụ thanh toán qua điện thoại di động Theo Sử Đình Thành và Vũ Thị Minh Hằng (2006), trong tương lai, mọi người sẽ sở hữu một thẻ ghi nợ cá nhân không thể làm giả, được lưu trữ trên máy tính trung tâm, từ đó thực hiện giao dịch dễ dàng Tác giả hy vọng rằng nền kinh tế không dùng tiền mặt sẽ trở thành hiện thực trong thời gian không xa.

Tiền ảo là loại tiền được mã hóa bằng hệ thống máy tính với mã nguồn mở, hoạt động dựa trên giao thức ngang hàng blockchain trên internet Loại tiền này không được quản lý bởi ngân hàng trung ương hay thuộc về một chính phủ cụ thể nào, dẫn đến tính pháp lý của tiền ảo chưa được đảm bảo Mặc dù chưa được công nhận tại Việt Nam, tiền ảo vẫn thu hút sự quan tâm của nhiều người.

Trong những năm gần đây, sự phát triển nhanh chóng của tiền ảo trên thế giới đã ảnh hưởng đến Việt Nam, với nhiều người nhập khẩu máy đào tiền và tham gia giao dịch qua internet Tiền ảo mang lại nhiều ưu điểm nhưng cũng tồn tại những hạn chế, khiến chúng chưa được công nhận là phương tiện thanh toán ở nhiều quốc gia Điều quan trọng là tiền ảo cần có sự bảo lãnh từ một quốc gia hoặc tổ chức uy tín để có thể phát triển bền vững.

Tiền ảo hiện tại chưa đủ tạo niềm tin để thực hiện các chức năng tiền tệ như giao dịch, thanh toán, lưu thông và cất trữ Hơn nữa, khả năng tiếp cận tiền ảo của người dân còn hạn chế và cơ chế sử dụng vẫn còn bất tiện, dẫn đến việc tiền ảo chưa được xã hội công nhận là phương tiện tiền tệ.

Vai trò của tiền tệ trong nền kinh tế

Tiền tệ là yếu tố thiết yếu trong nền kinh tế của mọi quốc gia, đóng vai trò như phương tiện cho các hoạt động mua bán và trao đổi hàng hóa, dịch vụ Nó giúp cho nền kinh tế hoạt động một cách hiệu quả và thuận lợi Giống như máu trong cơ thể con người, tiền tệ là cần thiết để duy trì sự sống; không có tiền, mọi hoạt động kinh tế sẽ bị ngưng trệ.

Hình 2.1: Quá trình lưu thông tiền tệ trong nền kinh tế giống như quá trình lưu thông máu trong cơ thể

(Nguồn: Tác giả tự đề xuất)

Tiền lưu thông trong nền kinh tế giống như máu trong cơ thể, với ngân hàng trung ương bơm tiền qua các ngân hàng thương mại Các ngân hàng thương mại đưa tiền ra thị trường thông qua hoạt động cho vay và tiết kiệm Một phần tiền mặt không kiểm soát được sẽ quay lại ngân hàng dưới hình thức tiết kiệm và thanh toán Vòng quay tiền tệ này càng nhanh thì nền kinh tế càng hiệu quả, tương tự như máu được bơm từ tim qua phổi để trao đổi ô xy và quay lại tim, đảm bảo quá trình trao đổi chất và cung cấp dinh dưỡng cho tế bào.

Cơ chế tạo tiền trong nền kinh tế tương tự như cơ chế tạo máu trong cơ thể Để nền kinh tế phát triển mạnh mẽ, nhu cầu về tiền cũng tăng lên, giống như khi cơ thể lớn lên cần nhiều máu hơn Tuy nhiên, cả tiền và máu đều cần phải ở mức cân bằng; quá dư thừa hay thiếu hụt đều không tốt Một lượng tiền vừa đủ và chất lượng cao sẽ giúp nền kinh tế hoạt động hiệu quả, tương tự như một cơ thể khỏe mạnh cần có lượng máu phù hợp.

Khi cơ thể khỏe mạnh, việc hiến máu không ảnh hưởng nhiều đến sức khỏe, tương tự như một nền kinh tế thịnh vượng có khả năng viện trợ ODA cho các nước nghèo hơn Điều này không chỉ giúp các quốc gia này phát triển mà còn nâng cao uy tín và tiếng nói của quốc gia viện trợ trên trường quốc tế.

"Tiền là Máu" đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế, thúc đẩy sự vận động và phát triển Do đó, việc sử dụng hiệu quả và kiểm soát dòng tiền trong nền kinh tế là mục tiêu nghiên cứu chính của đề tài này.

Khung lý thuyết và tổng quan các nghiên cứu

Nhiều tác giả trên thế giới đã nghiên cứu tác động và lợi ích của nền kinh tế không dùng tiền mặt, chủ yếu tập trung vào các nghiên cứu thực nghiệm về sự chuyển đổi từ tiền mặt sang các phương tiện thanh toán phi tiền mặt, với sự tham gia của ngân hàng thương mại và doanh nghiệp cung cấp dịch vụ thanh toán Tuy nhiên, chưa có quốc gia nào hoàn toàn loại bỏ tiền mặt khỏi nền kinh tế Bài viết này đề xuất một cách tiếp cận mới, đó là hoàn toàn loại bỏ tiền mặt, với Ngân hàng Nhà nước đóng vai trò trung tâm trong mọi hoạt động kinh tế.

Theo Alilonu (2012), nền kinh tế không sử dụng tiền mặt không đồng nghĩa với việc loại bỏ hoàn toàn tiền mặt, vì tiền mặt vẫn sẽ là phương tiện trao đổi hàng hóa và dịch vụ trong tương lai gần Thay vào đó, đây là một môi trường tài chính nhằm giảm thiểu việc sử dụng tiền mặt thông qua việc cung cấp các kênh thanh toán thay thế.

Nền kinh tế không sử dụng tiền mặt đang trở thành một xu hướng toàn cầu, không có nghĩa là hoàn toàn loại bỏ giao dịch tiền mặt, mà là giảm thiểu số lượng giao dịch này Trong nền kinh tế này, các giao dịch có thể được thực hiện mà không cần tiền mặt, chủ yếu thông qua việc sử dụng thẻ tín dụng hoặc thẻ ghi nợ để thanh toán cho hàng hóa và dịch vụ Điều này cho thấy sự chuyển mình sang các phương tiện thanh toán điện tử ngày càng phổ biến (Okoye và Ezejiofor, 2013).

Theo Marco và Bandiera (2004), việc gia tăng sử dụng công cụ ngân hàng không dùng tiền mặt nâng cao hiệu quả chính sách tiền tệ mà không đe dọa sự ổn định của hệ thống tài chính Tuy nhiên, họ cũng cảnh báo rằng các ngân hàng trung ương có thể mất quyền kiểm soát chính sách tiền tệ nếu chính phủ không thực hiện các chính sách tài chính phù hợp.

Xã hội không sử dụng tiền mặt, theo định nghĩa của Theo Obi (2012), là một môi trường mà mọi giao dịch mua sắm đều được thực hiện thông qua thẻ tín dụng, không có sự hiện diện của tiền mặt.

ATM và chuyển khoản trực tiếp giữa các tài khoản là ứng dụng phổ biến của công nghệ máy tính trong hệ thống tài chính Hiện nay, gần 97% giao dịch không dùng tiền mặt ở thế giới phương Tây, điều này giúp giảm chi phí, tham nhũng và rửa tiền một cách đáng kể.

Theo Costa và Grauwe (2001), một xã hội không sử dụng tiền mặt là xã hội mà tiền tệ do ngân hàng trung ương phát hành không còn tồn tại Trong xã hội này, tất cả tiền đều là tiền cá nhân do các ngân hàng phát hành dưới dạng tiền gửi hoặc tiền điện tử giả mạo từ các tổ chức không phải ngân hàng.

Nền kinh tế không sử dụng tiền mặt là một phong trào chuyển đổi từ việc sử dụng tiền mặt vật chất sang các phương thức thanh toán phi vật chất, áp dụng cho tất cả các loại giao dịch thương mại, nhà ở, và dịch vụ cá nhân Điều này có nghĩa là mọi khoản thanh toán đều được thực hiện mà không cần tiền mặt, bao gồm giao dịch trực tuyến, ngân hàng di động, thẻ ghi nợ, thẻ tín dụng, séc và chuyển khoản ngân hàng Sự phát triển này cho phép các giao dịch tài chính diễn ra mọi lúc, mọi nơi qua internet, nhờ vào sự đổi mới trong dịch vụ ngân hàng điện tử Kết quả là, nền kinh tế không dùng tiền mặt tạo ra một môi trường với dòng tiền rất thấp trong xã hội, nơi mọi giao dịch được thực hiện qua các kênh điện tử.

Theo Humphrey (2004), các quốc gia phát triển trên toàn cầu đang dần chuyển đổi từ việc sử dụng tiền giấy sang tiền điện tử, đặc biệt là thẻ thanh toán.

Nền kinh tế hạn chế tiền mặt, theo Theo Nweke (2012), là mô hình kinh tế giảm thiểu việc sử dụng tiền mặt, đồng thời khuyến khích các hình thức thanh toán khác, đặc biệt là thanh toán điện tử.

Nền kinh tế không dùng tiền mặt là sự kết hợp giữa các hệ thống thanh toán điện tử, đại diện cho trạng thái thuần túy của việc thanh toán không dùng tiền mặt Trong mô hình này, ngân hàng trung ương không in tiền xu và tiền giấy để lưu thông.

Khái niệm phát triển kinh tế, mặc dù trở nên phổ biến trong thế kỷ 20, thực chất đã tồn tại từ trước thời kỳ của "trường phái kinh tế cổ điển" vào thế kỷ 19.

Các nhà kinh tế trong thời kỳ này áp dụng phương pháp luận lịch sử chung để phân tích kinh tế, tin rằng nhiệm vụ chính của họ là phát hiện các quy luật điều chỉnh sự tăng trưởng và phát triển kinh tế Chẳng hạn, nhà kinh tế học Georg Friedrich List cho rằng nền kinh tế vùng ôn đới sẽ trải qua bốn giai đoạn phát triển: du mục theo mùa vụ, nông nghiệp, nông nghiệp và chế tạo, và cuối cùng là chế tạo, nông nghiệp và thương mại.

Bruno Hildebrand, một nhà kinh tế học người Đức (1812 - 1878), đã phát triển một phương pháp nghiên cứu lịch sử độc đáo về các giai đoạn tăng trưởng và phát triển kinh tế Ông nhấn mạnh rằng để hiểu rõ các giai đoạn phát triển kinh tế, cần xem xét các điều kiện trao đổi Từ đó, Hildebrand đã phân chia nền kinh tế thành ba giai đoạn dựa trên các hình thức trao đổi hàng hóa, tiền tệ và tín dụng.

Lý thuyết về các giai đoạn phát triển tiền tệ giải thích rằng nền kinh tế tiến triển qua ba giai đoạn: trao đổi hàng hóa, tiền tệ và tín dụng Bài báo này sẽ khám phá sự khẳng định này và tầm quan trọng của từng giai đoạn trong quá trình phát triển kinh tế.

Ngân hàng Nhà nước (Ngân hàng Trung ương)

Ngân hàng Nhà nước (Ngân hàng Trung ương) đóng vai trò quan trọng trong việc quản lý nhà nước, đảm bảo sự ổn định và an toàn cho hệ thống ngân hàng Ngân hàng này thực hiện các mục tiêu điều tiết và quản lý vĩ mô cho nền kinh tế, đồng thời độc quyền phát hành tiền trên toàn quốc Ngoài ra, Ngân hàng Nhà nước còn quản lý và cung ứng tiền mặt cho nền kinh tế, là trung tâm thanh toán chuyển nhượng và bù trừ cho các ngân hàng trung gian, cũng như quản lý quỹ dự trữ bắt buộc của các ngân hàng này.

Hệ thống lưu thông tiền tệ trong nền kinh tế hiện nay

Trong nền kinh tế hiện nay tồn tại nhiều hình thái của tiền tệ được lưu thông như là:

Tiền giấy, vàng, tài khoản ngân hàng và ngoại tệ đóng vai trò quan trọng trong việc đa dạng hóa lưu thông tài chính Tuy nhiên, chúng cũng có thể làm pha loãng nguồn lực tài chính của quốc gia và gây khó khăn trong việc kiểm soát dòng tiền trong nền kinh tế Một phần nguồn lực này được lưu thông, trong khi phần còn lại được tích trữ, nhưng khoản tích trữ này không tạo ra giá trị cho xã hội và dẫn đến mất mát chi phí cơ hội cũng như giá trị nội tại theo thời gian.

Trong mô hình lưu thông tiền tệ hiện nay, Ngân hàng Nhà nước phát hành tiền và điều tiết lượng cung tiền qua các Ngân hàng Thương mại Các Ngân hàng Thương mại nhận tiền gửi tiết kiệm và cho vay, từ đó đưa tiền vào lưu thông trong nền kinh tế.

Dòng tiền trong nền kinh tế lưu thông qua hai hình thức chính: hệ thống ngân hàng thương mại và tiền mặt tự do bên ngoài Chính phủ không thể kiểm soát trực tiếp dòng tiền này, mà chỉ có thể điều chỉnh lượng cung tiền thông qua các công cụ như lãi suất, tỷ lệ dự trữ bắt buộc và phát hành trái phiếu.

Hình 3.1: Cơ chế phát hành và lưu thông tiền tệ hiện nay ở Việt Nam

(Nguồn: Tác giả tự đề xuất)

Ngân hàng Nhà nước điều chỉnh dòng tiền vào các Ngân hàng Thương mại để kiểm soát lượng cung tiền trong nền kinh tế Khi muốn giảm cung tiền, Ngân hàng Nhà nước sử dụng các công cụ như lãi suất, tỷ lệ dự trữ bắt buộc và phát hành trái phiếu để hút tiền về.

Các Ngân hàng Thương mại đóng vai trò quan trọng trong việc đưa tiền vào lưu thông thông qua các hoạt động cho vay và nhận gửi tiết kiệm từ cá nhân và pháp nhân, bao gồm cả các Ngân hàng Thương mại khác Bên cạnh đó, họ cũng thực hiện các nghiệp vụ ủy thác thanh toán cho Kho bạc Nhà nước và các Ngân hàng.

Nước ngoài bằng ngoại tệ

Các cá nhân và pháp nhân thực hiện giao dịch thanh toán, trả nợ, và chuyển tiền cho nhau thông qua hình thức chuyển khoản ngân hàng hoặc giao dịch tiền mặt.

(4) Ngoài tiền mặt, tài khoản thì vàng, ngoại tệ cũng được các cá nhân, pháp nhân giao dịch qua lại lẫn nhau.

Khái niệm

Nền kinh tế không tiền mặt hoàn toàn loại bỏ việc sử dụng tiền mặt trong tất cả các giao dịch, bao gồm lưu thông, thanh toán và cất trữ Mỗi cá nhân chỉ có một tài khoản duy nhất tại Ngân hàng Nhà nước, trong khi vàng và ngoại tệ không còn vai trò trong thanh toán và lưu thông Vàng giờ chỉ được sử dụng làm nguyên liệu sản xuất và trang sức, trong khi vàng và ngoại tệ được tập trung tại Ngân hàng Trung ương để thực hiện các giao dịch thanh toán quốc tế.

Hiện nay, ở nhiều nước phát triển, việc sử dụng tiền mặt trong thanh toán đã giảm đáng kể Các phương thức thanh toán đa dạng như qua ngân hàng, máy ATM, POS và điện thoại di động ngày càng phổ biến Điều này khiến cho ngân hàng trung ương gặp khó khăn trong việc kiểm soát dòng tiền trong nền kinh tế.

Ngân hàng Trung ương được thành lập bởi Quốc hội và hoạt động dưới sự giám sát của cơ quan này Mục tiêu chính của Ngân hàng Trung ương là điều tiết lượng cung tiền thông qua Ngân hàng Nhà nước, công bố lãi suất cơ bản, thiết lập trần lãi suất, cũng như quản lý và kiểm soát hoạt động của Ngân hàng Nhà nước.

Ngân hàng Nhà nước được thành lập bởi Chính phủ và chịu sự kiểm soát, điều phối của Ngân hàng Trung ương Ngân hàng này có trách nhiệm quản lý tài khoản của cá nhân và pháp nhân trên toàn quốc, đồng thời thực hiện giao dịch ngoại thương với các đối tượng trong và ngoài nước Ngoài ra, Ngân hàng Nhà nước còn có nghĩa vụ cung cấp tài khoản cho tất cả công dân trong nước, các pháp nhân được thành lập trong nước, cũng như người nước ngoài khi đến Việt Nam để du lịch, làm việc, sinh sống và hoạt động.

Mỗi công dân khi sinh ra sẽ được cấp một tài khoản duy nhất tại Ngân hàng Nhà nước, tài khoản này sẽ tồn tại suốt đời và khi qua đời, tài sản trong tài khoản sẽ được chuyển cho những người thừa kế hợp pháp Tương tự, mỗi pháp nhân như tổ chức, cơ quan nhà nước, doanh nghiệp, ngân hàng thương mại và công ty tài chính cũng được cấp một tài khoản ngân hàng duy nhất khi thành lập.

Ngân hàng Nhà nước Công dân nước ngoài khi đến du lịch, làm việc, học tập, sinh sống ở

Việt Nam sẽ cung cấp cho những người này một tài khoản tiền Việt tại Ngân hàng Nhà nước, cho phép họ chuyển đổi sang ngoại tệ khi trở về nước và sau đó đóng tài khoản.

Ví điện tử là thiết bị thanh toán được cấp cho mỗi tài khoản tại Ngân hàng Nhà nước, cho phép chủ tài khoản thực hiện giao dịch mọi lúc, mọi nơi trên lãnh thổ Việt Nam.

Mô hình lưu thông tiền tệ không dùng tiền mặt trong nền kinh tế

Mô hình lưu thông tiền tệ không dùng tiền mặt trong nền kinh tế bao gồm các chủ thể chính như Ngân hàng Trung ương, Ngân hàng Nhà nước, Kho bạc Nhà nước, Ngân Hàng Thương mại, các pháp nhân (doanh nghiệp, tổ chức khác) và cá nhân.

Phương tiện thanh toán và cất trữ của các chủ thể, ngoại trừ Ngân hàng Trung ương và Ngân hàng Nhà nước, chỉ bao gồm tài khoản tiền Việt Ngoại tệ và vàng được quản lý trực tiếp bởi các cơ quan có thẩm quyền.

Ngân hàng Trung ương và Ngân hàng Nhà nước sẽ không cho phép lưu thông ngoại tệ và vàng trong nền kinh tế, ngoại trừ khi thực hiện các giao dịch ngoại thương.

4.2.1 Hình thức, vai trò và chức năng của các chủ thể

Ngân hàng Trung ương, được thành lập bởi Quốc hội, hoạt động độc lập và không chịu sự quản lý từ Chính phủ Chức năng chính của ngân hàng này là tạo tiền và điều tiết dòng tiền cung ứng cho Ngân hàng Nhà nước, đồng thời quản lý và giám sát hoạt động của ngân hàng này Ngân hàng Trung ương cũng chịu trách nhiệm kiểm soát ngoại tệ và vàng quốc gia, điều hành giá vàng, tỷ giá hối đoái, lãi suất cơ bản và trần lãi suất Quyết định về lãi suất tiền gửi cơ bản của Ngân hàng Trung ương dựa trên tốc độ tăng trưởng kinh tế, mức độ lạm phát và chỉ số giá tiêu dùng, nhằm đảm bảo giá trị đồng tiền không bị mất giá.

Ngân hàng Nhà nước sẽ tự động thanh toán lãi suất hàng tháng dựa trên giá trị số dư tối thiểu trong tài khoản Điều này có nghĩa là lãi suất chỉ được chi trả cho phần tiền không giao dịch của cá nhân và tổ chức.

Ngân hàng Nhà nước được thành lập và điều hành bởi Chính phủ, dưới sự giám sát của Ngân hàng Trung ương Ngân hàng này có nhiệm vụ cung cấp và quản lý tài khoản cho tất cả các chủ thể trong nền kinh tế, ngoại trừ Ngân hàng Trung ương, và thực hiện các giao dịch với ngân hàng.

Ngân hàng Trung ương điều tiết lượng cung tiền trong nền kinh tế thông qua các giao dịch với Ngân hàng Thương mại, Kho bạc Nhà nước, các Pháp nhân và Cá nhân, đồng thời thực hiện các giao dịch thanh toán quốc tế.

Kho bạc Nhà nước, do Bộ Tài chính thành lập và điều hành, hoạt động dưới sự giám sát của Ngân hàng Nhà nước Nhiệm vụ chính của Kho bạc là thực hiện các hoạt động thu chi của Chính phủ, bao gồm thu thuế, phí, lệ phí, cũng như chi thường xuyên, chi đầu tư và tài trợ cho các hoạt động của Chính phủ.

Ngân hàng Thương mại hoạt động dưới sự giám sát của Ngân hàng Nhà nước, thực hiện cho vay và nhận tiền gửi tiết kiệm từ cá nhân và pháp nhân Ngân hàng có chức năng tạo tiền cho nền kinh tế, đảm bảo các hoạt động của mình tuân thủ quy định pháp luật.

(doanh nghiệp, tổ chức,…) với các Cá nhân điều thông qua Ngân hàng Nhà nước

Mỗi pháp nhân, bao gồm doanh nghiệp và các tổ chức khác, khi được thành lập sẽ được Ngân hàng Nhà nước cấp một tài khoản tiền Việt duy nhất để thực hiện các giao dịch với ngân hàng.

Tất cả các giao dịch thương mại giữa pháp nhân, cá nhân và nước ngoài đều phải thông qua Ngân hàng Nhà nước Khi thực hiện giao dịch với nước ngoài, ngoại tệ sẽ được chuyển đổi sang tiền Việt Nam tại thời điểm giao dịch, và người giao dịch chỉ nhận được tài khoản tiền Việt Ngược lại, khi cần thanh toán cho đối tác quốc tế, tài khoản tiền Việt sẽ được đổi sang ngoại tệ để thực hiện giao dịch.

Cá nhân tại Việt Nam, bao gồm cả người Việt Nam và người nước ngoài, sẽ được Ngân hàng Nhà nước cấp một tài khoản tiền Việt duy nhất khi sinh ra hoặc khi lần đầu tiên đến Việt Nam Tất cả các giao dịch giữa cá nhân với nhau, với pháp nhân, với Ngân hàng Thương mại, với Kho bạc Nhà nước, và với nước ngoài đều được thực hiện thông qua tài khoản này.

4.2.2 Lưu thông tiền tệ giữa các chủ thể

Ngân hàng Trung ương, hay còn gọi là Ngân hàng Nhà nước, là cơ quan chịu trách nhiệm phát hành tiền thông qua tài khoản cho Ngân hàng Nhà nước, sử dụng các công cụ tài chính để điều tiết lượng tiền trong nền kinh tế Đồng thời, Ngân hàng Trung ương cũng kiểm soát mọi hoạt động của Ngân hàng Nhà nước và quản lý ngoại tệ, vàng của quốc gia.

Ngân hàng Nhà nước đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp tài khoản và quản lý các hoạt động, giao dịch của Kho bạc Nhà nước Tất cả các hoạt động thu chi của Kho bạc Nhà nước đều được thực hiện thông qua Ngân hàng Nhà nước.

Ngân hàng Nhà nước chỉ cấp một tài khoản duy nhất cho mỗi Ngân hàng Thương mại, điều này quy định mọi hoạt động của các ngân hàng thương mại phải thông qua tài khoản này.

Các giải pháp để xây dựng nền kinh tế không dùng tiền mặt

4.3.1 Xây dựng hành lang pháp lý

Một số quy định pháp luật hiện hành không còn phù hợp với nền kinh tế không dùng tiền mặt, bao gồm các quy định về hoạt động ngân hàng, bảo mật dữ liệu, quyền truy cập vào dữ liệu cá nhân, nhân quyền, thuế, hoạt động kinh doanh, quyền sở hữu tài sản, và quản lý vàng, ngoại tệ Do đó, cần thiết phải xây dựng lại hệ thống pháp luật để phù hợp với thực tiễn mới.

4.3.2 Biện pháp hạn chế lưu thông vàng trong nền kinh tế Để hạn chế vàng đóng vai trò như tiền tệ làm phương tiện cất trữ, lưu thông, thanh toán trong nền kinh tế Ngân hàng Nhà nước tiến hành thu mua vàng từ các cá nhân, pháp nhân, nhà nước quy định vàng chỉ là hàng hóa, là trang sức do vậy khi trao đổi mua, bán điều phải chịu thuế, các pháp nhân kinh doanh vàng phải đóng thuế, như vậy vàng càng lưu thông trong nền kinh tế nhà nước càng thu được nhiều thuế, từ đó làm cho giá mua và bán lệch nhau, càng mua bán nhiều càng đóng thuế nhiều như vậy vàng sẽ mất đi vai trò là tiền tệ

Ngân hàng Trung ương sẽ tiến hành mua bán vàng với Ngân hàng Nhà nước nhằm điều tiết cung tiền và dự trữ quốc gia, đồng thời sử dụng nguồn lực vàng này cho giao thương thanh toán quốc tế Tuy nhiên, việc nhiều cá nhân và pháp nhân sử dụng vàng làm phương tiện lưu trữ giá trị sẽ dẫn đến mất chi phí cơ hội cho đất nước Nguồn lực quốc gia sẽ bị phân tán, và Chính phủ sẽ gặp khó khăn trong việc kiểm soát lượng vàng lưu thông trong nền kinh tế Sự tham gia của quá nhiều chủ thể trong việc thanh toán bằng vàng sẽ làm cho nguồn lực xã hội bị chia nhỏ, từ đó giảm sức mạnh kinh tế.

Tổng tài sản của một cá nhân có thể lên đến 100 triệu đồng, nhưng lại được phân bổ dưới nhiều hình thức như vàng miếng, vàng trang sức, tiền mặt, tiền trong tài khoản ngân hàng, sổ tiết kiệm và trái phiếu Khi cá nhân này muốn đầu tư hoặc kinh doanh, việc huy động tài sản trở nên khó khăn và tốn thời gian do sự phân tán của các hình thức tài sản khác nhau.

4.3.3 Biện pháp hạn chế lưu thông ngoại tệ trong nền kinh tế

Khi giao thương hoặc nhận đầu tư từ nước ngoài, tất cả nguồn ngoại tệ vào Việt Nam đều được xử lý qua Ngân hàng Nhà nước Tại đây, Ngân hàng Nhà nước sẽ quy đổi ngoại tệ sang tiền Việt và chuyển cho các cá nhân, tổ chức, cũng như các Ngân hàng Thương mại.

Kho bạc Nhà nước và các đơn vị thụ hưởng có liên quan sẽ thực hiện thanh toán cho nước ngoài bằng ngoại tệ Khi đó, Ngân hàng Nhà nước sẽ chuyển đổi từ tiền nội tệ sang ngoại tệ để thực hiện giao dịch.

Khi cá nhân và pháp nhân có nhu cầu ra nước ngoài để du lịch, học tập, mua sắm hoặc đầu tư, việc chuyển đổi tiền Việt sang ngoại tệ là cần thiết để thực hiện các giao dịch với đối tác nước ngoài.

Người nước ngoài khi đến Việt Nam để du lịch, học tập, làm việc hoặc sinh sống có thể mang theo ngoại tệ và sẽ được Ngân hàng Nhà nước cấp tài khoản tiền Việt cùng ví điện tử Số ngoại tệ này sẽ được chuyển đổi sang tiền Việt để sử dụng cho chi tiêu và thanh toán Khi rời khỏi Việt Nam, số tiền Việt còn lại sẽ được chuyển đổi trở lại thành ngoại tệ theo tỷ giá tại thời điểm chuyển đổi.

Ngân hàng Nhà nước sẽ nắm giữ và quản lý tất cả ngoại tệ khi vào Việt Nam, từ đó điều chỉnh tỷ giá một cách ổn định và cân đối cán cân xuất nhập khẩu.

Ngân hàng Trung ương thực hiện nghiệp vụ mua bán ngoại tệ với Ngân hàng Nhà nước để điều tiết lượng cung tiền trong nền kinh tế

4.3.4 Vai trò và hoạt động của Ngân hàng Thương mại trong nền kinh tế không dùng tiền mặt

Trong nền kinh tế không dùng tiền mặt, lãi suất tiền gửi cơ bản do Ngân hàng Trung ương quy định sẽ phụ thuộc vào tình hình tăng trưởng và lạm phát Khi cá nhân và pháp nhân có tiền trong tài khoản, họ sẽ được hưởng lãi suất này, giúp duy trì giá trị thực của đồng tiền.

Khi Ngân hàng Thương mại cần huy động vốn, họ phải trả lãi suất cao hơn lãi suất tiền gửi cơ bản do Ngân hàng Trung ương quy định Điều này giúp bù đắp chi phí hoạt động và lợi nhuận Tuy nhiên, lãi suất cho vay của Ngân hàng Thương mại vẫn phải nằm trong mức trần lãi suất do Ngân hàng Trung ương đặt ra.

Tất cả các giao dịch giữa Ngân hàng Thương mại và cá nhân, pháp nhân điều thông qua tài khoản ở Ngân hàng Nhà nước

Trong nền kinh tế không sử dụng tiền mặt, hệ thống ngân hàng thương mại sẽ được cải cách toàn diện, giảm thiểu chi phí hoạt động, chi phí mặt bằng và chi phí nhân sự cho bảo vệ, an ninh Các nhân viên giao dịch và quản lý tiền mặt sẽ không còn cần thiết, từ đó nâng cao hiệu quả hoạt động của ngân hàng và đóng góp vào sự phát triển chung của nền kinh tế.

Tốc độ lưu thông của tiền tệ trong nền kinh tế không sử dụng tiền mặt ở Việt Nam

Theo nhà kinh tế người Mỹ đại điện cho trường phái Yale là Irving Fisher (1867 -

Năm 1947, mối liên hệ giữa tổng lượng tiền lưu hành (M) và tổng chi tiêu cho hàng hóa và dịch vụ trong nền kinh tế được thể hiện qua phương trình trao đổi: \$MV = PY\$ Trong đó, \$P\$ là mức giá bình quân của tất cả hàng hóa, \$Y\$ là tổng khối lượng hàng hóa và dịch vụ sản xuất, và \$V\$ là tốc độ lưu thông của tiền tệ, tức số lần trung bình mà một đơn vị tiền tệ được chi tiêu trong năm.

Theo Alfred Marshall và các cộng sự tại Trường Đại học Cambridge, Anh Quốc, phương trình Cambridge được đưa ra để tính cầu tiền.

M d = kPY Trong đó Md là tổng lượng tiền mà nhân dân cần giữ trong nền kinh tế K là chỉ số (0

< k < 1), k = M d / PY phản ánh tỷ lệ giữa nhu cầu giữ tiền cuả nhân dân với thu nhập của họ

P đại diện cho mức giá trung bình của tất cả hàng hóa trong nền kinh tế, trong khi Y là tổng khối lượng hàng hóa, sản phẩm và dịch vụ mà nền kinh tế đã sản xuất.

Theo A.C Pigou, phương trình định lượng cầu tiền tệ được biểu diễn bằng công thức: \$M = kPR\$, trong đó \$M\$ là lượng tiền mà người dân cần giữ, \$P\$ là chỉ số giá bình quân của tất cả các loại tài sản, và \$R\$ là số lượng tài sản mà người dân sở hữu Tổng giá trị tài sản của người dân được tính bằng \$PR\$ Hệ số \$k\$ đại diện cho tỷ lệ giữ tiền mặt trên tổng giá trị tài sản, và nó phụ thuộc vào lãi suất cũng như thu nhập của người dân.

Theo Milton Friedman hàm nhu cầu tiền được xác định như sau: M d = aPY b trong đó:

M d đại diện cho lượng cầu về tiền trong nền kinh tế, trong khi P là mức giá của hàng hóa và dịch vụ Y thể hiện thu nhập hoặc sản lượng thực tế, và a là hằng số dương cho thấy sự biến động cùng chiều giữa M d và các yếu tố khác.

PY, b là hằng số lớn hơn 1 cho biết sự biến động của nhu cầu về tiền (Lê Vinh Danh, 1996)

Trong nền kinh tế không sử dụng tiền mặt, Ngân hàng Nhà nước đóng vai trò quan trọng trong việc quản lý các giao dịch mua bán Điều này giúp chúng ta dễ dàng tính toán tổng lượng tiền và tốc độ lưu thông của tiền trong một năm Cụ thể, M đại diện cho tổng lượng tiền đã lưu thông trong nền kinh tế, trong khi M c là tổng số tiền trong tất cả các tài khoản vào cuối năm, được xác định bằng tổng số dư của tất cả các tài khoản cá nhân và tổ chức.

Ngân hàng Nhà nước xác định tổng số tiền trong tài khoản của cá nhân và tổ chức không đưa vào lưu thông trong năm, ký hiệu là M m, bằng tổng các số dư tối thiểu của các tài khoản Tốc độ lưu thông của tiền tệ trong nền kinh tế được ký hiệu là V, trong khi mức giá bình quân của tất cả các loại hàng hóa là P Cuối cùng, Y đại diện cho tổng khối lượng các đơn vị hàng hóa, sản phẩm và dịch vụ mà nền kinh tế đã tạo ra.

Trong ngắn hạn, tổng lượng tiền lưu thông trong nền kinh tế (M) thay đổi do vận tốc lưu thông (V) và lượng tiền được đưa vào lưu thông M c hầu như không thay đổi, trong khi mức giá và sản lượng phụ thuộc vào cung cầu Khi sản lượng tăng, mức giá có xu hướng giảm, và ngược lại, khi sản lượng giảm, mức giá có xu hướng tăng Khi cầu tăng tương ứng với M tăng, mức giá (P) có xu hướng tăng, trong khi khi cầu giảm, mức giá (P) có xu hướng giảm.

Trong dài hạn, cả hai vế của phương trình (1) đều có sự thay đổi Vế phải PY thay đổi khi P thay đổi do lãi suất, lạm phát, và tiến bộ khoa học kỹ thuật, dẫn đến sản xuất với chất lượng cao hơn và chi phí thấp hơn, đặc biệt là các sản phẩm công nghệ có xu hướng giảm giá Ngược lại, các sản phẩm có nguồn cung hạn chế như bất động sản, vàng, và kim loại quý có giá có xu hướng tăng do nhu cầu ngày càng cao từ dân số tăng và mức sống cải thiện Nền kinh tế tự động điều chỉnh về trạng thái cân bằng mới, do đó P cũng thay đổi theo cung cầu Trong dài hạn, sản lượng Y có xu hướng tăng nhờ vào sự gia tăng số lượng nhà cung ứng và nhu cầu đa dạng hơn của con người Mặc dù P có xu hướng tăng và giảm, Y có xu hướng tăng, nhưng nhìn chung PV có xu hướng tăng Cuối cùng, vế trái của phương trình (1), V(M c – M m), cũng có xu hướng tăng do M c tăng, cùng với vận tốc lưu thông tiền tệ V và tổng số tiền trong tài khoản M c.

Tiền thân của nền kinh tế không sử dụng tiền mặt ở Việt Nam

Trong những năm gần đây, nhiều công ty đã phát triển dịch vụ ví điện tử và ngân hàng số để đáp ứng nhu cầu thanh toán trực tuyến, thanh toán qua thiết bị di động, thẻ và chuyển tiền Các dịch vụ tiêu biểu như MOCA, PAYOO, MOMO, VIETTEL PAY, VÍ VIỆT, VIMO, BẢO KIM và NGÂN đã gia tăng tiện ích thanh toán cho khách hàng.

LƯỢNG, VNPAY, GRAB PAY, SAMSUNG PAY, VTC PAY, 123PAY, ONE PAY, SEN

Mặc dù các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thanh toán điện tử còn hạn chế về khả năng kết nối và công cụ pháp lý, nhưng tốc độ phát triển của họ rất nhanh, phản ánh xu hướng tất yếu của thời đại Trên thế giới, nhiều công ty như Alipay đã thu hút một lượng người dùng lớn Trong khi đó, Ngân hàng Nhà nước sở hữu đầy đủ cơ chế và công cụ pháp lý, cùng với nguồn lực cần thiết để xây dựng nền kinh tế không sử dụng tiền mặt một cách hiệu quả.

Thống kê phương tiện thanh toán trong nền kinh tế hiện nay ở Việt Nam

Theo thống kê của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, tính đến tháng 5 năm 2018, tổng phương tiện thanh toán và tiền gửi của khách hàng tại các tổ chức kinh tế đạt 8.757.588 tỷ đồng Trong số đó, tiền gửi của các tổ chức kinh tế là 3.078.932 tỷ đồng, trong khi tiền gửi của dân cư là 4.259.041 tỷ đồng.

Bảng 4.1: Tổng phương tiện thanh toán và tiền gửi của khách hàng tại các tổ chức tín dụng tháng 5 năm 2018

(Nguồn: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, 2018)

Hình 4.2: Tổng phương tiện thanh toán và tiền gửi của khách hàng tại các tổ chứ tín dụng qua các năm

(Nguồn: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, 2018)

Hình 4.3: Tiền mặt lưu thông trên tổng phương tiện thanh toán

(Nguồn: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, 2018)

Tỷ trọng tiền mặt trong nền kinh tế trên tổng phương tiện thanh toán khoản 12% tại thời điềm tháng 5 năm 2018(Hình 4.3)

Tại thời điểm tháng 5 năm 2018, tổng phương tiện thanh toán đạt 8.757.588 tỷ đồng, trong đó tiền gửi của các tổ chức kinh tế là 3.078.923 tỷ đồng và tiền gửi của dân cư là 4.259.041 tỷ đồng Điều này cho thấy lượng tiền mặt lưu thông trong nền kinh tế lên tới 1.419.615 tỷ đồng, cho thấy chi phí cho việc lưu thông và bảo quản tiền mặt là rất lớn.

Trong một tháng, lượng tiền mặt trong nền kinh tế thực hiện chức năng thanh toán một lần đạt 1.419.615 tỷ đồng Do đó, tổng lượng tiền mặt thực hiện chức năng thanh toán trong một năm là 17.035.380 tỷ đồng, gấp đôi tổng phương tiện thanh toán trong các tổ chức tín dụng.

Nếu trong một tuần, lượng tiền mặt trong nền kinh tế thực hiện chức năng thanh toán một lần, thì tổng lượng tiền mặt thực hiện chức năng thanh toán trong một năm đạt 73.819.980 tỷ đồng, tương ứng với 1.419.615 tỷ đồng nhân với 52 tuần Điều này cho thấy tổng lượng tiền mặt lưu thông gấp hơn 8 lần tổng phương tiện thanh toán.

Lượng tiền mặt trong nền kinh tế thực hiện chức năng thanh toán nhiều lần trong một tuần, cho thấy tỷ trọng của nó trong tổng phương tiện thanh toán là rất lớn.

Thống kê tình hình sử dụng tiền mặt và các phương tiện thanh toán khác trong nền

nền kinh tế hiện nay ở Việt Nam

Theo Ngân hàng Nhà nước, tỷ trọng rút tiền mặt qua ATM đã tăng từ 17% năm 2016 lên 22% năm 2017, nhưng giá trị giao dịch lại giảm, với mức giảm 4% xuống còn 12% vào năm 2018 Đặc biệt, thanh toán điện tử qua internet và điện thoại di động trong năm 2018 đã đạt được kết quả tích cực, thu hút nhiều khách hàng sử dụng.

Theo số liệu mới nhất từ Ngân hàng Nhà nước, trong 9 tháng đầu năm 2018, số lượng giao dịch tài chính qua internet đạt 178 triệu giao dịch, với tổng giá trị khoảng 11 triệu tỷ đồng, tăng 33% về số lượng và 18% về giá trị so với cùng kỳ năm 2017.

Trong năm 2023, số lượng giao dịch tài chính qua kênh di động đạt 122 triệu giao dịch, với tổng giá trị gần 1,1 triệu tỷ đồng So với cùng kỳ năm 2017, số lượng giao dịch tăng 29% và giá trị giao dịch tăng 128%.

Nhiều ngân hàng thương mại đã áp dụng công nghệ hiện đại trong thanh toán di động, bao gồm sinh trắc học như vân tay, khuôn mặt, giọng nói và công nghệ mã hóa thẻ Những cải tiến này không chỉ mang lại sự an toàn và tiện lợi mà còn được người dùng đón nhận tích cực, góp phần thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt trong cả khu vực tư nhân và công cộng.

Theo ông Phạm Tiến Dũng, Vụ trưởng Vụ Thanh toán Ngân hàng Nhà nước, thanh toán không dùng tiền mặt trong khu vực công đang ngày càng được mở rộng, bao gồm các lĩnh vực như thuế, điện, nước, học phí và chi trả các chương trình an sinh xã hội.

Hiện nay, có 27 ngân hàng và 10 tổ chức tín dụng cung cấp dịch vụ trung gian thanh toán cho tiền điện, cùng với việc 100% cơ sở y tế đã bắt đầu triển khai đề án nhờ thu tiền khám chữa bệnh.

Hàng chục ngân hàng đạt thỏa thuận hợp tác phối hợp thu thuế hải quan trên 63 tỉnh, thành…

Bên cạnh đó, các doanh nghiệp bảo hiểm xã hội tích cực tham gia với số lượng 21% tổng số người hưởng chế độ được thanh toán qua ngân hàng.

Ngày đăng: 28/07/2023, 16:10

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Kenneth Burdett, Alberto Trejos, Randall Wright (2017). A new suggestion for simplifying the theory of money. Journal of Economic Theory, PII: S0022- 0531(17)30098-4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: A new suggestion for simplifying the theory of money
Tác giả: Kenneth Burdett, Alberto Trejos, Randall Wright
Nhà XB: Journal of Economic Theory
Năm: 2017
3. Musa Abdullahi Bayero (2015). Effects of Cashless Economy Policy on financial inclusion in Nigeria: An exploratory study. Procedia - Social and Behavioral Sciences 172 ( 2015 ) 49 - 56 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Effects of Cashless Economy Policy on financial inclusion in Nigeria: An exploratory study
Tác giả: Musa Abdullahi Bayero
Nhà XB: Procedia - Social and Behavioral Sciences
Năm: 2015
4. Nguyễn Văn Ngọc (2015), Tiền tệ, ngân hàng và thị tr−ờng tài chính, Nxb Đại học Kinh tế quốc dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiền tệ, ngân hàng và thị tr−ờng tài chính
Tác giả: Nguyễn Văn Ngọc
Nhà XB: Nxb Đại học Kinh tế quốc dân
Năm: 2015
5. Nisvan Erkal, Lata Gangadharan, Boon Han Koh (2017). Monetary and non-monetary incentives in real- effort tournaments. European Economic Review, PII:S0014-2921(17)30209-X Sách, tạp chí
Tiêu đề: Monetary and non-monetary incentives in real- effort tournaments
Tác giả: Nisvan Erkal, Lata Gangadharan, Boon Han Koh
Nhà XB: European Economic Review
Năm: 2017
6. Ordu Monday Matthew, Anyanwaokoro, Mike (2016), Cashless Economic Policy in Nigeria: A Performance Appraisal of The Banking Industry, IOSR Journal of Business and Management (PP 01-17) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cashless Economic Policy in Nigeria: A Performance Appraisal of The Banking Industry
Tác giả: Ordu Monday Matthew, Anyanwaokoro, Mike
Nhà XB: IOSR Journal of Business and Management
Năm: 2016
7. Paul Vigna &amp; Michael J. Casey (Han Ly dịch) (2007), Kỷ nguyên tiền điện tử, Nxb Kinh tế quốc dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỷ nguyên tiền điện tử
Tác giả: Paul Vigna, Michael J. Casey, Han Ly
Nhà XB: Nxb Kinh tế quốc dân
Năm: 2007
8. Sử Đình Thành và Vũ Thị Minh Hằng (2006), Nhập môn tài chính - tiền tệ, Nxb Đại học Quốc gia TP.Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhập môn tài chính - tiền tệ
Tác giả: Sử Đình Thành, Vũ Thị Minh Hằng
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia TP.Hồ Chí Minh
Năm: 2006
9. Thorsten Beck, Haki Pamuk, Ravindra Ramrattan, Burak R. Uras (2018). Payment instruments, finance and development, Journal of Development Economics 133 (2018) 162 – 186 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Payment instruments, finance and development
Tác giả: Thorsten Beck, Haki Pamuk, Ravindra Ramrattan, Burak R. Uras
Nhà XB: Journal of Development Economics
Năm: 2018
10. Wanting Xiong, Han Fu, Yougui Wang (2016). Money creation and circulation in a credit economy.Physica A 465 (2017) 425–437.Ngày nhận bài: 3-9-2018 Ngày duyệt đăng: 8-10-2018 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Money creation and circulation in a credit economy
Tác giả: Wanting Xiong, Han Fu, Yougui Wang
Nhà XB: Physica A
Năm: 2016

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1: Quá trình lưu thông tiền tệ trong nền kinh tế giống như quá trình lưu thông - (Luận văn) nền kinh tế không dùng tiền mặt và những tác động của nền kinh tế không dùng tiền mặt ở việt nam
Hình 2.1 Quá trình lưu thông tiền tệ trong nền kinh tế giống như quá trình lưu thông (Trang 20)
Hình 3.1: Cơ chế phát hành và lưu thông tiền tệ hiện nay ở Việt Nam. - (Luận văn) nền kinh tế không dùng tiền mặt và những tác động của nền kinh tế không dùng tiền mặt ở việt nam
Hình 3.1 Cơ chế phát hành và lưu thông tiền tệ hiện nay ở Việt Nam (Trang 32)
Bảng 4.1: Tổng phương tiện thanh toán và tiền gửi của khách hàng tại các tổ chức tín - (Luận văn) nền kinh tế không dùng tiền mặt và những tác động của nền kinh tế không dùng tiền mặt ở việt nam
Bảng 4.1 Tổng phương tiện thanh toán và tiền gửi của khách hàng tại các tổ chức tín (Trang 50)
Hình 4.2:  Tổng  phương tiện thanh toán và tiền gửi của  khách  hàng tại các tổ chứ tín - (Luận văn) nền kinh tế không dùng tiền mặt và những tác động của nền kinh tế không dùng tiền mặt ở việt nam
Hình 4.2 Tổng phương tiện thanh toán và tiền gửi của khách hàng tại các tổ chứ tín (Trang 51)
Hình 4.3: Tiền mặt lưu thông trên tổng phương tiện thanh toán. - (Luận văn) nền kinh tế không dùng tiền mặt và những tác động của nền kinh tế không dùng tiền mặt ở việt nam
Hình 4.3 Tiền mặt lưu thông trên tổng phương tiện thanh toán (Trang 51)
Bảng 4.2: Tổng hợp so sánh các đặc trưng của nền kinh tế có sử dụng tiền mặt hiện nay - (Luận văn) nền kinh tế không dùng tiền mặt và những tác động của nền kinh tế không dùng tiền mặt ở việt nam
Bảng 4.2 Tổng hợp so sánh các đặc trưng của nền kinh tế có sử dụng tiền mặt hiện nay (Trang 54)
Hình 1: Sơ đồ cơ chế phát hành và lưu thông tiền tệ hiện nay ở Việt Nam - (Luận văn) nền kinh tế không dùng tiền mặt và những tác động của nền kinh tế không dùng tiền mặt ở việt nam
Hình 1 Sơ đồ cơ chế phát hành và lưu thông tiền tệ hiện nay ở Việt Nam (Trang 69)
Hình 2: Sơ đồ cơ chế phát hành và lưu thông tiền tệ trong nền kinh tế không tiền - (Luận văn) nền kinh tế không dùng tiền mặt và những tác động của nền kinh tế không dùng tiền mặt ở việt nam
Hình 2 Sơ đồ cơ chế phát hành và lưu thông tiền tệ trong nền kinh tế không tiền (Trang 72)
Hình 3: Tổng ph−ơng tiện thanh toán và tiền gửi của khách hàng - (Luận văn) nền kinh tế không dùng tiền mặt và những tác động của nền kinh tế không dùng tiền mặt ở việt nam
Hình 3 Tổng ph−ơng tiện thanh toán và tiền gửi của khách hàng (Trang 75)
Bảng 1: Tổng ph−ơng tiện thanh toán và tiền gửi của khách hàng tại các tổ chức - (Luận văn) nền kinh tế không dùng tiền mặt và những tác động của nền kinh tế không dùng tiền mặt ở việt nam
Bảng 1 Tổng ph−ơng tiện thanh toán và tiền gửi của khách hàng tại các tổ chức (Trang 75)
Hình 4: Tiền mặt lưu thông trên tổng phương tiện thanh toán - (Luận văn) nền kinh tế không dùng tiền mặt và những tác động của nền kinh tế không dùng tiền mặt ở việt nam
Hình 4 Tiền mặt lưu thông trên tổng phương tiện thanh toán (Trang 76)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w