1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đề cương Kinh tế chính trị Mác - Lênin

36 21 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đề cương Kinh tế chính trị Mác - Lênin
Trường học Đại học Kinh tế Quốc dân
Chuyên ngành Kinh tế chính trị Mác - Lênin
Thể loại Đề cương
Định dạng
Số trang 36
Dung lượng 232,7 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC LÊNIN Câu 1 Phân tích lượng giá trị hàng hoá và các nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá trị hàng hoá Trong thời kỳ đầu của xã hội loài người (hình thái công xã nguyên thủy), mọi hoạt. Câu 2: Tuần hoàn, chu chuyển của tư bản? Việt Nam là một quốc gia đang phát triển trên con đường mà chủ nghĩa Mác – Lênin đã để lại. Tuy vậy, không phải là chúng ta đi một cách dập khuôn và máy móc theo họ mà phải kế thừa, phát huy và vận dụng một cách sáng tạo những điều đó vào tình hình cụ thể của đất nước ta. Như chúng ta đều biết, doanh nghiệp là tế bào cơ bản của nền kinh tế quốc dân, là nơi kết hợp một cách có hiệu quả các nguồn lực để tạo ra của cải cho xã hội, là nguồn gốc tạo nên sức mạnh kinh tế. Sự giàu có của một quốc gia. Trong giai đoạn hiện nay của nước ta việc quản lý và sử dụng vốn hiệu quả của các doanh nghiệp là một vấn đề tương đối phức tạp. Giữa lý luận và hiện thực còn có nhiều vướng mắc mâu thuẫn chưa thực sự giải quyết được. Vì vậy nghiên cứu học thuyết “tuần hoàn và chu chuyển tư bản Câu 3: Trình bày bản chất và các chức năng của tiền. Kể từ khi đất nước hoàn toàn độc lập đến nay, nhà nước ta không ngừng cải cách để phát triển nền kinh tế, nỗ lực đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu bao cấp, kinh tế nước ta đã dần đi lên nền kinh tế thị trường, theo định hướng xã hội chủ nghĩa như hiện nay. Chính sách kinh tế cũng từng bước được đổi mới. Bằng việc vận dụng những chính sách tài khóa, tiền tệ… nhà nước đã kiểm soát tốt nền kinh tế. Nền kinh tế nước ta từ đó cũng đạt được mức tăng trưởng đáng ghi nhận. Chính sách tiền tệ nói riêng, cùng với các chính sách kinh tế vĩ mô khác nói chung là những công cụ hữu hiệu để nhà nước quản lý và phát triển nền kinh tế. Việc tạo ra những chính sách tiền tệ áp dụng phần lớn những lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin. Câu 4: Trình bày khái niệm, nội dung, tác động của quy luật giá trị? Ý nghĩa nghiên cứu qui luật giá trị đối với việc phát triển nền KTTT định hướng XHCN? - Khái niệm: Quy luật giá trị là quy luật kinh tế cơ bản của sản xuất và trao đổi hàng hoá. - Nội dung: Quy luật giá trị yêu cầu việc sản xuất và trao đổi hàng hoá căn cứ vào lượng giá trị hàng hoá Thời gian lao động xã hội cần thiết. Cụ thể: + Sản xuất->hàng hóa muốn bán được phải do xã hội thừa nhận sản phẩm thì lượng giá trị của một mặt hàng cá biệt phải phù hợp nhu cầu và khả năng thị trường của xã hội nghĩa là HPLĐCB ≤ HPLĐXHCT Câu 7: Thế nào là lợi nhuận, tỷ suất lợi nhuận ? Phân biệt lợi nhuận với giá trị thặng dư và tỷ suất lợi nhuận với tỷ suất giá trị thặng dư 1. Lợi nhuận (P) lợi nhuận là giá trị thặng dư, được quan niệm là con đẻ của toàn bộ tư bản ứng trước, hay nói cách khác lợi nhuận là hình thái biểu hiện ra bên ngoài của giá trị thặng dư trong nền kinh tế thị trường. (lợi nhuận là số chênh lệch giữa giá bán hàng hóa và chi phí sản xuất). Lợi nhuận là mục tiêu, động cơ, động lực của hoạt động sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế thị trường. Số lượng lợi nhuận nói nên quy mô của hiệu quả kinh doanh, thể hiện hiệu quả kinh tế và là mục tiêu hướng tới của các nhà tư bản. 2.Tỷ suất lợi nhuận và các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ suất lợi nhuận - Tỷ suất lợi nhuận là tỷ lệ phần trăm giữa lợi nhuận và toàn bộ giá trị của tư bản ứng trước (ký hiệu là p’)

Trang 1

- Trong nền kinh tế thị trường, nhu cầu về hàng hóa của con người được đáp ứng tối

đa, với số lượng hàng hóa khổng lồ Tuy nhiên, nền kinh tế thị trường vẫn luôn tồn tại những hạn chế nhất định, đặc biệt là trong xã hội tư bản chủ nghĩa Tư bản chủ nghĩa xem lợi nhuận là yếu tố quan trọng hàng đầu, dẫn đến quyền bình đẳng trong

xã hội bị xem nhẹ, tạo ra sự phân hóa xã hội sâu sắc Điều này đã được

Mác-Ăngghen phân tích trong quá trình nghiên cứu về các hình thái kinh tế xã hội: “Tư bản chủ nghĩa chắc chắn sẽ bị thay thế bởi một chế độ xã hội hoàn thiện hơn, Đó là nơi mà con người có quyền tự do, văn minh, xã hội công bằng, nền kinh tế phát triển bền vững – chế độ xã hội chủ nghĩa

- Lượng giá trị của hàng hóa là một khái niệm trong kinh tế chính trị Mac-Lenin chỉ

về một đại lượng được đo bằng lượng lao động tiêu hao để sản xuất ra hàng hóa đó, lượng lao động tiêu hao đó được tính bằng thời gian lao động, cụ thể là thời gian laođộng xã hội cần thiết Lượng lao động xã hội cần thiết, hay thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra một hàng hóa, mới quyết định đại lượng giá trị của hàng hóa

- Giá trị hàng hóa được xét cả về mặt chất và mặt lượng: Chất giá trị hàng hóa là laođộng trừu tượng của người sản xuất hàng hóa kết tinh trong hàng hóa Vậy, lượng giá trị của hàng hóa là lượng lao động hao phí để sản xuất ra hàng hóa đó quyểt định

- Thước đo lượng giá trị của hàng hóa

Đo lượng lao động hao phí để tạo ra hàng hóa bằng thước đo thời gian như: một giờ lao động, một ngày lao động, v.v Do đó, lượng giá trị của hàng hóa cũng do thời gian lao động quyết định Trong thực tế, một loại hàng hóa đưa ra thị trường là do rất nhiều người sản xuất ra, nhưng mỗi người sản xuất do điều kiện sản xuất, trình

độ tay nghề là không giống nhau, nên thời gian lao động cá biệt để sản xuất ra hàng hóa của họ khác nhau Thời gian lao động cá biệt quyết định lượng giá trị cả biệt của hàng hóa mà từng người sản xuất ra Vậy phải chăng lao động cá biệt nào càng lười biếng, vụng về, phải dùng nhiều thời gian hơn để làm ra hàng hóa, thì hàng hóa

đó càng có nhiều giá trị?

C.Mác viết: "Chỉ có lượng lao động xã hội cần thiết, hay thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra một giá trị sử dụng, mới quyết định đại lượng giá trị của giá trị sử dụng ấy"

Trang 2

Như vậy, thước đo lượng giá trị của hàng hóa được tính bằng thời gian lao động xã hội cần thiết.

Thời gian lao động xã hội cần thiết là thời gian cần thiết để sản xuất ra một hàng hóa trong điều kiện bình thường của xã hội, tức là với một trình độ kỹ thuật trung bình, trình độ khéo léo trung bình và cường độ lao động trung bình so với hoàn cảnh

xã hội nhất định

Trong một xã hội có hàng triệu người sản xuất hàng hóa, với thời gian lao động cá biệt hết sức khác biệt nhau, thì thông thường thời gian lao động xã hội cần thiết gần sát với thời gian lao động cá biệt của những người sản xuất và cung cấp đại bộ phậnmột loại hàng hóa nào đó trên thị trường

*Các nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá trị hàng hoá:

Do thời gian lao động xã hội cần thiết luôn thay đổi, nên lượng giá trị của hàng hóa cũng là một đại lượng không cố định Sự thay đổi lượng giá trị của hàng hóa tùy thuộc vào những nhân tố:

Thứ nhất, năng suất lao động

Năng suất lao động là năng lực sản xuất của lao động, được tính bằng số lượng sản phấm sản xuất ra trong một đơn vị thời gian hoặc số lượng thời gian cần thiết đế sảnxuất ra một đơn vị sản phẩm

Có hai loại năng suất lao động: năng suất lao động cá biệt và năng suất lao động xã hội Trên thị trường, hàng hóa được trao đổi không phải theo giá trị cá biệt mà là giátrị xã hội Vì vậy, năng suất lao động có ảnh hưởng đến giá trị xã hội của hàng hóa chính là năng suất lao động xã hội

Năng suất lao động xã hội càng tăng, thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất

ra hàng hóa càng giảm, lượng giá trị của một đơn vị sản phẩm càng ít Ngược lại, năng suất lao dộng xã hội càng giảm, thì thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra hàng hóa càng tăng và lượng giá trị của một đơn vị sản phẩm càng nhiều Lượng giá trị của một đơn vị hàng hóa tỷ lệ thuận với số lượng lao động kết tinh và

tỷ lệ nghịch với năng suất lao động xã hội Như vậy, muốn giảm giá trị của mỗi đơn

vị hàng hóa xuống, thì ta phải tăng năng suất lao động xã hội

Năng suất lao động lại tùy thuộc vào nhiều nhân tố như: trình độ khéo léo của ngườilao động, sự phát triển của khoa học - kỹ thuật và trình độ ứng dụng tiến bộ kỹ thuậtvào sản xuất, sự kết hợp xã hội của sản xuất, hiệu quả của tư liệu sản xuất và các điều kiện tự nhiên

Tăng năng suất lao động và tăng cường độ lao động tác động khác nhau đối với lượng giá trị hàng hóa Cường độ lao động là khái niệm nói lên mức độ khẩn

trương, là sự căng thẳng mệt nhọc của người lao động Vì vậy, khi cường độ lao động tăng lên, thì lượng lao động hao phí trong cùng một đơn vị thời gian cũng tănglên và lượng sản phẩm được tạo ra cũng tăng lên tương đương, còn lượng giá trị củamột đơn vị sản phẩm thì không đổi Xét về bản chất, tăng cường độ lao động cũng giống như kéo dài thời gian lao động

Thứ hai, tính chất phức tạp của lao động

Tính chất phức tạp của lao động cũng ảnh hưởng nhất định đến số lượng giá trị của hàng hóa Theo tính chất phức tạp của lao động có thể chia lao động thành lao động giản đơn và lao động phức tạp

Trang 3

Lao động giản đơn là lao động mà bất kỳ một người bình thường nào có khả năng lao động cũng có thể thực hiện được Lao động phức tạp là lao động đòi hỏi phải được đào tạo, huấn luyện thành lao động chuyên môn lành nghề mới có thể tiến hành được.

Khi nghiên cứu tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa, có một vấn đề đặt

ra là: phải chăng trong cùng một đơn vị thời gian lao động, thì bất cứ ai làm việc gì, nghề gì cũng đều tạo ra một lượng giá trị như nhau?

C.Mác chỉ rõ: trong một giờ lao động, người thợ sửa chữa đồng hồ tạo ra nhiều giá trị hơn người rửa bát Bởi vì, lao động của người rửa bát là lao động giản đơn, có nghĩa là bất kỳ một người bình thường nào, không phải trải qua đào tạo, không cần

có sự phát triển đặc biệt, cũng có thể làm được Còn lao động của người thợ sửa chữa đồng hồ là lao động phức tạp đòi hỏi phải có sự đào tạo, phải có thời gian huấnluyện tay nghề Vì vậy, trong cùng một đơn vị thời gian lao động như nhau, lao động phức tạp tạo ra được nhiều giá trị hơn so với lao động giản đơn Lao động phức tạp là lao động giản đơn được nhân gấp bội lên Để cho các hàng hóa do lao động giản đơn tạo ra có thể quan hệ bình đẳng với các hàng hóa do lao động phức tạp tạo ra, trong quá trình trao đổi người ta quy mọi lao động phức tạp thành lao động giản đơn trung bình

C.Mác viết: "Lao động phức tạp chỉ là lao động giản đơn được nâng lên lũy thừa, hay nói cho đúng hơn là lao động giản đơn được nhân lên ”

Câu 2: Tuần hoàn, chu chuyển của tư bản?

Việt Nam là một quốc gia đang phát triển trên con đường mà chủ nghĩa Mác – Lênin đã để lại Tuy vậy, không phải là chúng ta đi một cách dập khuôn và máy móc theo họ mà phải kế thừa, phát huy và vận dụng một cách sáng tạo những điều

đó vào tình hình cụ thể của đất nước ta Như chúng ta đều biết, doanh nghiệp là tế bào cơ bản của nền kinh tế quốc dân, là nơi kết hợp một cách có hiệu quả các nguồnlực để tạo ra của cải cho xã hội, là nguồn gốc tạo nên sức mạnh kinh tế Sự giàu có của một quốc gia Trong giai đoạn hiện nay của nước ta việc quản lý và sử dụng vốnhiệu quả của các doanh nghiệp là một vấn đề tương đối phức tạp Giữa lý luận và hiện thực còn có nhiều vướng mắc mâu thuẫn chưa thực sự giải quyết được Vì vậy nghiên cứu học thuyết “tuần hoàn và chu chuyển tư bản” với điều kiện hiện có của doanh nghiệp là rất cần thiết cho mỗi doanh nghiệp để xác định được vị trí và chỗ đứng trên thị trường Với học thuyết “tuần hoàn và chu chuyển tư bản” của Mác, ta

đã có những tiền đề và cơ sở lý luận cho sự phát triển nền kinh tế của đất nước theo con đường đúng đắn, hợp lý nhất Học thuyết này mang một ý nghĩa thực tiễn to lớnkhông chỉ ở thời điểm nó ra đời mà còn có tác dụng ngay cả thời điểm hiện nay Với

lý luận này chúng ta có thể nhìn nhận rõ hơn về vấn đề tuần hoàn và chu chuyển tư bản cũng như nguồn vốn trong các doanh nghiệp Là cơ sở cho các doanh nghiệp nhìn nhận đúng hơn vai trò của vốn để từ đó xây dựng những phương án, giải pháp cho vấn đề sử dụng vốn trong doanh nghiệp Đây là nhân tố và tiền đề cho sự phát triển của mỗi quốc gia

Sản xuất tư bản chủ nghĩa là sự thống nhất biện chúng giữa quá trình sản xuất và quá trình lưu thông Lưu thông của tư bản, theo nghĩa rộng, là sự vận động của tư bản, nhờ đó mà tư bản lớn lên và thu được giá trị thặng dư, cũng tức là sự tuần hoàn

và chu chuyển của tư bản

Trang 4

Tuần hoàn của tư bản là sự vận động của tư bản lần lượt trải qua 3 giai đoạn dưới 3 hình thái kế tiếp nhau(tư bản tiền tệ, tư bản sản xuất, tư bản hàng hoá) gắn với thực hiện chức năgn tương ứng(chuẩn bị các điều kiện cần thiết để sản xuất GTTD, sản xuất GTTD, thực hiện GTTD) và quay về hình thái ban đầu cùng với giá trị thặng dư.

Tư bản công nghiệp (với nghĩa các ngành sản xuất vật chất), trong quá trình tuần hoàn đều vận động theo công thức:

- Giai đoạn thứ hai - giai đoạn sản xuất:

SLĐ

TLSXTrong giai đoạn này tư bản tồn tại dưới hình thái tư bản sản xuất (TBSX), có chức năng thực hiện sự kết hợp hai yếu tố tư liệu sản xuất và sức lao động để sản xuất ra hàng hóa là trong giá trị của nó có giá trị thặng dư Trong các giai đoạn tuần hoàn của tư bản thì giai đoạn sản xuất có ý nghĩa quyết định nhất, vì nó gắn trực tiếp với mục đích của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa

Kết thúc của giai đoạn thứ hai là tư bản sản xuất chuyển hóa thành tư bản hàng hóa

- Giai đoạn thứ ba- giai đoạn lưu thông:

H’ – T’

Kết thúc giai đoạn thứ ba, tư bản hàng hóa chuyển hóa thành tư bản tiền tệ Đến đây, mục đích của nhà tư bản đã được thực hiện, tư bản quay trở lại hình thái ban đầu trong tay chủ của nó nhưng với số lượng lớn hơn trước

Tuần hoàn của tư bản chỉ có thể tiến hành bình thường trong điều kiện các giai đoạnkhác nhau của nó không ngừng được chuyển tiếp Mặc khác, tư bản phải nằm lại ở mỗi gia đoạn tuần hoàn trong một thời gian nhất định Hay nói cách khác, tuần hoàncủa tư bản chỉ tiến hành một cách bình thường khi hai điều kiện sau đây được thỏa mãn: một là, các giai đoạn của chúng diễn ra liên tục; hai là, các hình thái tư bản cùng tồn tại và được chuyển hóa một cách đều đặn Vì vậy, tư bản là một sự vận động tuần hoàn của tư bản, là sư vận động liên tục không ngừng

Để tái sản xuất diễn ra một cách bình thường thì tư bản xã hội cũng như từng tư bản

cá biệt đều tồn tại cùng một lúc dưới cả ba hình thái Ba hình thái của tư bản không phải là ba loại tư bản khác nhau, mà là ba hình thái của một tư bản công nghiệp biểu

Trang 5

hiện trong quá trình vận động của nó Song cũng trong quá trình vận động ấy đã chứa đựng khả năng tách rời của ba hình thái tư bản Trong quá trình phát triển của chủ nghĩa tư bản, khả năng tách rời đó đã làm xuất hiện tư bản thương nghiệp và tư bản cho vay, hình thành các tập đoàn khác trong giai cấp tư bản: chủ công nghiệp, nhà buôn, chủ ngân hàng, v.v chia nhau giá trị thặng dư.

Nghiên cứu tuần hoàn của tư bản là nghiên cứu mặt chất trong sự vận động của tư bản, còn mặt lượng của sự vận động được nghiên cứu ở chu chuyển của tư bản

- Chu chuyển của tư bản:

Là tuần hoàn tư bản được xét là quá trình định kỳ, thường xuyên lặp đi lặp lại

và đổi mới theo thời gian

Chu chuyển tư bản được đo lường bằng thời gian chu chuyển hoặc tốc độ chu chuyển của tư bản Chu chuyển của tư bản phản ánh tốc độ vận động nhanh hay chậm của tư bản

Thời gian chu chuyển của tư bản là khoảng thời gian mà một tư bản kể từ khi

đc ứng ra dưới 1 hình thái nhất định cho đến khi quay trở về dưới hình thái đó cùng với GTTD Thời gian chu chuyển tư bản bao gồm thời gian sx và thông và thời gian lưu thông

+ Thời gian sản xuất là thời gian tư bản nằm trong lĩnh vực sản xuất bao gồm:

Thời gian lao động

Thời gian gián đoạn lao động

Thời gian dự trữ sản xuất

+ Thời gian lưu thông là thời gian tư bản nằm trong lĩnh vực lưu thông Thời gian lưu thông gồm có thời gian mua và thời gian bán hàng hóa

+ Thời gian lưu thông dài hay ngắn là do các yếu tố quy định:

Thị trường xa hay gần

Tình hình thị trường xấu hay tốt

Trình độ phát triển của ngành giao thông vận tải, bưu chính viễn thông

Tốc độ chu chuyển của tư bản đo bằng số lần (vòng) chu chuyển của tư bản trong một năm Tốc độ chu chuyển của tư bản tỉ lệ nghịch với thời gian chu chuyển của tưbản Muốn tăng tốc độ chu chuyển của tư bản phải giảm thời gian sản xuất và thời gian lưu thông của nó

Tốc độ chu chuyển của tư bản đo bằng số lần( vòng ) chu chuyển của tư bản trong năm

n: số vòng chuyển

CH: Thời gian 1 năm

ch: Thời gian 1 vòng chu chuyển

Lực lượng sản xuất phát triển, kỹ thuật tiến bộ, những tiến bộ về mặt tổ chức sản xuất, việc áp dụng những thành tựu của hoá học, sinh học hiện đại vào sản xuất, phương tiện vận tải và bưu điện phát triển, tổ chức mậu dịch được cải tiến… cho phép rút ngắn thời gian chu chuyển của tư bản, do đó, tăng tốc độ chu chuyển của tưbản

Câu 3: Trình bày bản chất và các chức năng của tiền.

Trang 6

Kể từ khi đất nước hoàn toàn độc lập đến nay, nhà nước ta không ngừng cải cách

để phát triển nền kinh tế, nỗ lực đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu bao cấp, kinh tế nước ta đã dần đi lên nền kinh tế thị trường, theo định hướng xã hội chủ nghĩa như hiện nay Chính sách kinh tế cũng từng bước được đổi mới Bằng việc vận dụng những chính sách tài khóa, tiền tệ… nhà nước đã kiểm soát tốt nền kinh tế Nền kinh tế nước ta từ đó cũng đạt được mức tăng trưởng đáng ghi nhận

Chính sách tiền tệ nói riêng, cùng với các chính sách kinh tế vĩ mô khác nói chung là những công cụ hữu hiệu để nhà nước quản lý và phát triển nền kinh tế Việc tạo ra những chính sách tiền tệ áp dụng phần lớn những lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin

hàng hoá, dùng để đo lường và biểu hiện giá trị của tất cả các loại hàng hoá khác

Nó trực tiếp thể hiện lao động xã hội và biểu hiện quan hệ sản xuất giữa những người sản xuất hàng hóa

Tiền được xem là bất cứ cái gì được chấp nhận chung trong thanh toán để đổi lấy hàng hoá, dịch vụ hoặc để hoàn trả các khoản nợ

Bản chất của tiền tệ được thể hiện rõ hơn qua hai thuộc tính sau của nó:

Giá tr s d ng c a ti n t ị sử dụng của tiền tệ ử dụng của tiền tệ ụng của tiền tệ ủa tiền tệ ền tệ ệ là kh năng tho mãn nhu c u trao đ i c a xã ả năng thoả mãn nhu cầu trao đổi của xã ả năng thoả mãn nhu cầu trao đổi của xã ầu trao đổi của xã ổi được thực hiện dễ dàng hơn ủa xã

(tức là vai trò vật trung gian môi giới trong trao đổi) thì chừng đó giá trị sử dụng của

nó với tư cách là tiền tệ còn tồn tại Đây chính là lời giải thích cho sự xuất hiện cũngnhư biến mất của các dạng tiền tệ trong lịch sử

Giá tr c a ị sử dụng của tiền tệ ủa tiền tệ ti n ền tệ được thể hiện qua khái niệm “sức mua tiền tệ”, đó là khả năng

-mua tiền tệ không được xem xét dưới góc độ sức -mua đối với từng hàng hoá nhất định mà xét trên phương diện toàn thể các hàng hoá trên thị trường

Tiền tệ là thước đo giá trị, dùng để đo lường giá trị của các loại hàng hóa Mỗi vật phẩm đều có giá trị khác nhau và được đo lường bằng giá trị của tiền tệ Giá trị hànghóa tiền tệ (vàng) thay đổi không ảnh hưởng gì đến chức năng tiêu chuẩn giá

cả chức năng của tiền tệ

– Chức năng là phương tiện trao đổi: Khi tiền tệ xuất hiện, cũng là lúc quá trình traođổi hàng hóa dần xuất hiện Hình thức trao đổi trực tiếp dần dần chuyển qua trao đổigián tiếp thông qua trung giang của tiền tệ Tiền là vật ngang giá chung, là trung gian làm cho sự trao đổi hàng hoá giữa người này với người khác trở nên thuận lợi hơn Phương tiện trao đổi là chức năng quan trọng nhất của tiền tệ Nếu không có chức năng này thì tiền tệ sẽ không còn

– Chức năng là phương tiện đo lường và tính toán giá trị: Việc đo giá trị hàng hoá dịch vụ bằng tiền cũng giống như việc đo khối lượng bằng cân và đo khoảng cách bằng mét Đơn vị tiền tệ là một thước do được sử dụng phổ biến trong các quan hệ

xã hội Nhờ chức năng này mà tính chất tiền tệ hoá ngày càng phổ biến trong đo

Trang 7

lường sự phát triển của xã hội, đo lường mức sống của con người…Nó đã tạo ra mộtnền kinh tế mang tính chất tiền tệ.

Tiền làm phương tiện trao đổi chỉ đóng vai trò trong chốc lát Người ta đổi hàng hóalấy tiền rồi lại dùng tiền để mua lại hàng hóa mà mình cần Bản thân tiền giấy

không có giá trị vì vậy việc in tiền giấy phải tuân theo quy luật lưu thông tiền giấy.– Chức năng phương tiện thanh toán Cùng với tiền quá trình trao đổi hàng hóa giữangười với người được đơn giản hóa đi rất nhiều Người nông dân có thể bán lúa cho một người thứ ba và dùng tiền thu được để mua công cụ

– Chức năng phương tiện tích luỹ: Tích luỹ là cơ sở để tái sản xuất và mở rộng sản xuất cho nên nó cũng là cơ sở phát triển kinh tế Tiền có được chức năng này là vì

nó là phương tiện trao đổi, là tài sản có tính lỏng cao nhất tích lũy Một phương tiệnthanh toán phải giữ được giá trị của nó Vì vậy hầu như các loại hàng hóa không hư hỏng mới được sử dụng làm tiền, ví dụ vàng hay kim cương Nếu không có tiền thì người nông dân chỉ có thể trao đổi lúa gạo của mình để đổi lấy các hàng hóa khác đến khi chúng bị hư hỏng

Vì thế người nông dân nên trao đổi nông phẩm để đổi lấy tiền để tích lũy và bảo toàn được giá trị của nó

– Chức năng tiền tệ thế giới Tiền tệ của một nước có chức năng tiền tệ thế giới khi được nhiều nước trên thế giới sử dụng Làm chức năng tiền tệ thế giới phải là tiền vàng hoặc tiền tín dụng được thừa nhận thanh toán quốc Tiền tệ thực hiện chức năng tiền tệ thế giới khi tiền tệ thực hiện bốn chức năng thước đo giá trị, phương tiện trao đổi, phương tiện thanh toán, phương tiện tích lũy ở phạm vi ngoài quốc gia, nói cách khác là đồng tiền của một nước thực hiện chức năng tiền tệ thế giới khitiền của quốc gia đó được nhiều nước trên thế giới tin dùng và sử dụng như chính đồng tiền của nước họ

Câu 4: Trình bày khái niệm, nội dung, tác động của quy luật giá trị? Ý nghĩa nghiên cứu qui luật giá trị đối với việc phát triển nền KTTT định hướng

XHCN?

- Khái niệm: Quy luật giá trị là quy luật kinh tế cơ bản của sản xuất và trao đổi

hàng hoá

- Nội dung: Quy luật giá trị yêu cầu việc sản xuất và trao đổi hàng hoá căn cứ vào

lượng giá trị hàng hoá Thời gian lao động xã hội cần thiết

Cụ thể:

+ Sản xuất->hàng hóa muốn bán được phải do xã hội thừa nhận sản phẩm thì lượng giá trị của một mặt hàng cá biệt phải phù hợp nhu cầu và khả năng thị trường của

xã hội nghĩa là HPLĐCB ≤ HPLĐXHCT

+ Trong lĩnh vực trao đổi: Quy luật giá trị yêu cầu việc trao đổi hàng hoá trên

nguyên tắc ngang giá (ngang bằng giá trị)

- Biểu hiện hoạt động của quy luật giá trị: Quy luật giá trị là trừu tượng chúng ta

chỉ nhận biết sự hoạt động của nó thông qua sự vận động của giá cả hàng hoá trên thị trường Trên thực tế giá cả hàng hoá luôn vận động lên xuống quay xung quanh trục giá trị nhưng không thoát li khỏi trục giá trị

Tác động của quy luật giá trị:

+ Điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hoá:

Trang 8

Điều tiết sản xuất: Thông qua sự biến động của giá cả, người sản xuất quyết định số lượng TLSX và SLĐ đầu tư vào các ngành sản xuất khác nhau Làm cho qui mô củangành này khi thì mở rộng, khi lại thu hẹp.

Điều tiết lưu thông: Thông qua sự biến động của giá cả, quy luật giá trị có tác dụng thu hút luồng hàng từ nơi giá thấp => giá cao

+ Kích thích cải tiến kỹ thuật, hợp lí hoá sản xuất, tăng năng suất lao động, phát triển lực lượng sản xuất

Người sx có điều kiện sx khác nhau Trao đổi hao phí lao động

HPLĐ cá biệt ≤ HPLĐ xã hội => sx có lãi , hh bán chạy HPLĐ cá biệt > HPLĐ xã hội => thô lỗ , hh không bán được

=> giảm HPLĐ cá biệt => tăng NSLD cá biệt

Trang 9

=> Cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất, nâng cao trình độ tay nghề công nhân => Tăng NSLĐ cá biệt => Tăng NSLĐXH => Phát triển LLSX

+ Phân hóa những người sản xuất hàng hoá thành người giàu – người nghèo HPLĐ

cá biệt ≤ HPLĐ xã hội => sx có lãi, hh bán chạy => giàu có HPLĐ cá biệt > HPLĐ

xã hội => thua lỗ, hh không bán được =>

người nghèo

Tích cực: Đào thải cái lạc hậu, lỗi thời, kích thích sự tiến bộ, đảm bảo sự bình đẳng giữa những người sản xuất => LLSX phát triển

Tiêu cực: bất ổn và xung đột xã hội, phân hoá giàu nghèo, phân cực xã hội

Ý nghĩa nghiên cứu: Quy luật giá trị có tác động hai mặt:

+ Thứ nhất:

Quy luật giá trị buộc các chủ thể kinh tế năng động, nhạy bén, tăng năng suất lao động, giảm chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm…mới có thể tồn tại và phát triển

Quy luật giá trị buộc các chủ thể kinh tế cạnh tranh, làm cho các nguồn lực của xã hội được sử dụng có hiệu quả, kích thích tiến bộ KHCN, phát triển lực lượng sản xuất

QLGT có tác động bình tuyển người sản xuất, nhờ đó chọn được người có tài, năng động… đồng thời buộc người kém cỏi phải vươn lên tích cực hơn nếu không muốn trở thành người nghèo

+ Thứ hai: do theo đuổi việc giảm chi phí sản xuất, cạnh tranh để thu được nhiều lợinhuận trong nhiều trường hợp dẫn đến khai thác cạn kiệt tài nguyên, thiên nhiên, ô nhiễm môi trường, khủng hoảng…

Bởi tính hai mặt nêu trên để ngăn ngừa khắc phục tác động tiêu cực, phát huy mặt tích cực trong quá trình phát triển KTTT cần coi trọng vai trò nhà nước

Trang 10

Câu 5: Trình bày khái niệm, điều kiện ra đời, đặc trưng, ưu thế của sản xuất hàng hoá Nhà nước cần làm gì để bảo vệ lợi ích của người kinh doanh chân chính và người tiêu dùng.

Khái niệm sản xuất hàng hoá: Là hình thức tổ chức sản xuất trong đó sản phẩm

sản xuất ra nhằm thoả mãn nhu cầu của người khác, của xã hội thông qua việc trao đổi (mua, bán)

Hai điều kiện ra đời của sản xuất hàng hoá:

+ ĐK 1: Phân công lao động xã hội:

Khái niệm: là sự chuyên môn hóa sản xuất, sự phân chia lao động xã hội thành các ngành, lĩnh vực sản xuất khác nhau của nền sản xuất XH

Vai trò: Phân công lao động xã hội dẫn đến chuyên môn hoá sản xuất, mỗi người sẽ chỉ sản xuất một hoặc một vài sản phẩm nhưng nhu cầu của họ cần rất nhiều các sảnphẩm khác nhau => họ phải trao đổi sản phẩm cho nhau

Đây là điều kiện cần để cho sản xuất hàng hoá ra đời Điều kiện này làm cho những người sản xuất hàng hoá phụ thuộc chặt chẽ vào nhau

+ ĐK2: Sự tách biệt về mặt kinh tế giữa những người sản xuất hàng hoá

Điều kiện này có được là do các hình thức sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất Điều kiện này qui định người nào sở hữu về tư liệu sản xuất thì người đó có quyền chi phối sản phẩm làm ra Người này nếu muốn sử dụng sản phẩm của người kia không thể chi phối trực tiếp mà phải gián tiếp qua trao đổi (mua, bán)

Đây là điều kiện đủ cho SXHH ra đời, điều kiện này làm cho những người sản xuất hàng hoá độc lập với nhau

- Đặc trưng của sản xuất hàng hoá:

+ Sản phẩm sản xuất ra nhằm thoả mãn nhu cầu của người khác, của xã hội thông qua trao đổi (mua, bán)

+ Lao động của người sản xuất hàng hoá vừa mang tính tư nhân vừa mang tính xã hội

+ Mục đích của sản xuất hàng hoá là lợi nhuận

+ Thoả mãn ngày càng nhiều nhu cầu của con người

+ Kích thích tính năng động, sáng tạo của các chủ thể, tăng năng suất lao động, pháttriển lực lượng sản xuất

+ Phát huy được lợi thế tự nhiên, kỹ thuật, xã hội

+ Thúc đẩy phân công lao động, chuyên môn hoá

+ Là mô hình kinh tế mở, thúc đẩy giao lưu kinh tế, giao lưu văn hoá, tạo điều kiện nâng cao cải thiện đời sống vất chất và tinh thần của xã hội

- Liên hệ:

+ Nhà nước thực hiện chức năng quản lý nhà nước về kinh tế đồng thời thực hiện những biện pháp để khắc phục hạn chế của KTTT Một mặt, nhà nước thực hiện quản trị phát triển nền kinh tế thông qua tạo lập môi trường kinh tế tốt nhất cho các chủ thể kinh tế phát huy sức sáng tạo của họ Mặt khác, nhà nước điều tiết, định hướng thông qua pháp luật và chính sách kinh tế bảo vệ lợi ích của người kinh doanh chân chính và người tiêu dùng

Trang 11

+ Nhà nước phải đổi mới, hoàn thiện thể chế về giá, cạnh tranh, kiểm soát độc quyền, giải quyết tranh chấp, xây dựng và thực hiện các quy định về trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp đối với người tiêu dùng, đối với bảo vệ môi trường.

Câu 6: Phân tích lý luận của C.Mác về hàng hoá sức lao động? Ý nghĩa thực tiễn của lý luận hàng hoá sức lao động của C.Mác đối với sự phát triển hàng hoá sức lao động ở Việt Nam.

Trong những năm gần đây, Việt Nam dần hội nhập với nền kinh tế thế giới, kinh tế tri thức trở thành xu hướng phát triển chung của cả thế giới và Việt Nam cũng không nằm ngoài xu hướng đó Con người được đặt ở vị trí trung tâm nên việc phát triển thị trường hàng hóa sức lao động sao cho hợp lý là một nhu cầu cấp thiết đối với nền kinh tế Việt Nam hiện nay Lý luận về loại hàng hóa đặc biệt – sức lao độngtheo chủ nghĩa Mác đã cung cấp thêm nhiều luận điểm khoa học, toàn diện và biện chứng

Theo C Mác, sức lao động là toàn bộ thể lực và trí lực ở trong thân thể, trong nhân cách một con người, thể lực và trí lực mà con người đem ra vận dụng để sản xuất ra những sản phẩm có giá trị sử dụng Trong bất cứ xã hội nào, sức lao động cũng là điều kiện cơ bản của sản xuất nhưng không phải trong bất kì điều kiện nào, sức lao động cũng là hàng hóa Sức lao động chỉ có thể trở thành hàng hóa khi nó mang những điều kiện sau: Thứ nhất, người lao động phải được tự đo về thân thể, làm chủ sức lao động của mình, và có quyền bán sức lao động của mình như một hàng hóa Thứ hai, người có sức lao động phải bị tước đoạt hết mọi tư liệu sản xuất

và tư liệu sinh hoạt, họ trở thành người “vô sản” Để tồn tại, người đó buộc phải bánsức lao động của mình để kiếm sống

hóa sức lao động cũng có hai thuộc tính là giá trị và giá trị sử dụng

Giá tr c ị sử dụng của tiền tệ ủa hàng hóa sức lao động được quyết định bởi lượng thời gian lao động

cần thiết để sản xuất và tái sản xuất ra sức lao động Sức lao động là khả năng lao động gắn liền với cơ thể sốn của con người Vì vậy để duy trì sự hoạt động bình thường của con người phải cần có những tư liệu sản xuất nhất định Do đó giá trị hàng hóa sức lao động là giá trị những tư liệu sản xuất cần thiết để sản xuất và tái sản xuất sức lao động Giá trị hàng hóa sức lao động gồm có: giá trị những tư liệu sản xuất về vật chất và tinh thần cần thiết để tái sản xuất sức lao động, duy trì hoạt động sống của bản thân mỗi người công nhân; phí tổn đào tạo người công nhân để

có trình độ tay nghề thích hợp; giá trị những tư liệu sinh hoạt về vật chất và tinh thần cho gia định người lao động Hay nói cách khác, giá trị của hàng hóa sức lao động có đặc điểm là được quyết định một cách gián tiếp thông qua các giá trị tư liệusản xuất ra sức lao động

Giá tr s d ng ị sử dụng của tiền tệ ử dụng của tiền tệ ụng của tiền tệ của hàng hóa sức lao động là công cụ của nó để thỏa mãn nhu cầu

tiên dùng sức lao động của người sử dụng sức lao động Khác với hàng hóa thông thường ( sau một thời gian tiêu dùng sẽ mất đi giá trị và giá trị sử dụng theo thời gian) thì hàng hóa sức lao động, khi được tiêu dùng, ngoài việc sản xuất ra một loại hàng hóa nào đó thì đồng thời nó cũng tạo ra một lượng giá trị mới lớn hơn giá trị của bản thân nó Phần giá trị lớn hơn đó được gọi là giá trị thặng dư Đây là điểm cơbản nhất của hàng hóa sức lao động

Trang 12

Có thể nói thị trường lao động khá mới mẻ đối với Việt Nam bới lẽ việc hình thành thị trường lao động còn khá nhỏ lẻ ở những khu công nghiệp hoặc ở những thành phố lớn Việt Nam đã gia nhập vào WTO, đây là cơ hội và cũng là thách thức lớn đối với Việt Nam Vì vậy, để tồn tại và phát triển, trong thị trường thế giới đầy khắcnghiệt, các nhà kinh tế Việt Nam cần có những chiến lược cụ thể nhằm nâng cao sức cạnh trạnh của hàng hóa, đặc biệt là hàng hóa sức lao động Do vây, cần áp dụng triệt để lý luận về hàng hóa sức lao động của C Mác vào thực tế Việt Nam một cách có hiệu quả để mang lại nguồn nhân lực có chất lượng tay nghề, phẩm chất tốt để phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa của đất nước trongthời đại mới.

- Liên hệ:

+ Vận dụng lý luận hàng hoá sức lao động phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh cụ thể nền KTTT định hướng XHCN Kết hợp hài hoà lợi ích giữa người sử dụng lao động

và người lao động Quan hệ lao động ở các doanh nghiệp cần được luật hoá

+ Phát triển đa dạng các loại hình sở hữu, và hoạt động kinh doanh, không được phép cưỡng bức lao động và bất kỳ hình thức phân biệt đối xử nào theo giới tính, độtuổi, dân tộc…phát triển hệ thống điều tiết các quan hệ lao động, đặc biệt khi giải quyết các tranh chấp lao động tập thể và cá nhân

+ Phát triển hàng hoá sức lao động phải phù hợp với quá trình hội nhập quốc tế và

xu thế phát triển của nền kinh tế tri thức

+ Đào tạo đội ngũ công nhân, lao động có tay nghề, thúc đẩy sản xuất phát triển+ Phải chăm lo đời sống vật chất và tinh thần cho công nhân và gia đình họ

+ Thúc đẩy giao dịch trên thị trường lao động bằng các hình thức như: phát

triển hệ thống trung tâm giới thiệu việc làm, nâng cao chất lượng các doanh nghiệp xuất khẩu lao động, hoàn thiện hệ thống pháp luật về thị trường lao động, chính sách tiền lương…

Tóm lại: sự tồn tại và phát triển của hàng hoá sức lao động là một tất yếu khách quan, kích thích cả người sử dụng lao động và người sở hữu lao động đóng góp tích cực hơn vào sự nghiệp phát triển chung của đất nước

Trang 13

Câu 7: Trình bày khái niệm giá trị thặng dư, hai phương pháp sản xuất giá trị thặng dư Ý nghĩa thực tiễn đối với Việt Nam.

Kinh tế chính trị Mác-Lênin có vai trò rất quan trọng trong việc phát triển đời sống

xã hội Đối với công cuộc đổi mới đất nước hiện nay, yêu cầu học tập, nghiên cứu kinh tế chính trị Mác-Lênin càng được trú trọng hơn, nhằm khắc phục những lạc hậu về lý luận kinh tế, sự giáo điều, tách rời lý luận với cuộc sống, góp phần quan trọng hình thành tư duy kinh tế mới

Nước ta đang xây dựng và phát triển nền theo hướng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, là nền kinh tế luôn gắn liền với những phạm trù và quy luậtkinh tế nhất định Trong đó có phạm trù giá trị thặng dư hay nói cách khác, “sự tồn tại giá trị thặng dư là một yếu tố tất yếu khách quan ở Việt Nam, khi mà ở Việt Nam

ta đang hướng tới nền kinh tế thị trường định hướng XHCN”

Chủ nghĩa tư bản ra đời gắn với sự phát triển ngày càng cao của sản xuất hàng hóa Giá trị thặng dư là mục tiêu của các nhà tư bản, là điều kiện tồn tại và phát triển của

tư bản Học thuyết giá trị thặng dư là một trong những phát minh quan trọng của C Mác để làm sáng tỏ bản chất của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa

- Khái niệm giá trị thặng dư: Giá trị thặng dư là bộ phận giá trị mới dôi ra ngoài

giá trị sức lao động do lao động làm thuê (người bán sức lao động) tạo ra và thuộc

về nhà tư bản (người mua hàng hóa sức lao động) (ký hiệu m)

Có thể nói, qua giá trị thặng dư, bản chất của tư bản chủ nghĩa là bóc lột sức người lao động để tạo ra nhiều thặng dư hơn cho mình Việc họ bóc lột công nhân càng nhiều thì giá trị thặng dư được tạo ra càng cao

Mục đích của các nhà tư bản là sản xuất ra giá trị thặng dư tối đa Vì vậy, các nhà tưbản dùng nhiều phương pháp để tăng tỷ suất và khối lượng giá trị thặng dư Khái quát có hai phương pháp để đạt được mục đích đó là sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối và sản xuất giá trị thặng dư tương đối

- Sản xuất m tuyệt đối:

+ Khái niệm giá trị thặng dư tuyệt đối: là giá trị thặng dư thu được do kéo dài ngày lao động vượt quá thời gian lao động tất yếu, trong khi NSLĐ, giá trị SLĐ và thời gian lao động tất yếu không đổi

Giả sử ngày lao động là 8 giờ, trong đó 4 giờ là thời gian lao động tất yếu và 4 giờ

là thời gian lao động thặng dư

Do đó tỉ suất giá trị thặng dư là:

Trang 14

Gi s nhà t b n kéo dài ngày lao đ ng thêm 2 gi , trong khi th i gian t t y uả năng thoả mãn nhu cầu trao đổi của xã ử dụng làm vật trung gian trong trao đổi ưu thông: ả năng thoả mãn nhu cầu trao đổi của xã ội, nhu cầu ờ, trong khi thời gian tất yếu ờ, trong khi thời gian tất yếu ất - ếu

Do đó tỉ suất giá trị thặng dư là:

Như vậy, khi kéo dài tuyệt đối ngày lao động trong điều kiện thời gian lao động tất yếu không thay đổi, thì thời gian lao động thặng dư tăng lên, nên tỷ suất giá trị thặng dư tăng lên Trước đây, tỷ suất giá trị thặng dư là 100% thì bây giờ là 150%.Các nhà tư bản tìm mọi cách kéo dài ngày lao động, nhưng ngày lao động có những giới hạn nhất định Giới hạn trên của ngày lao động do thể chất và tinh thần của người lao động quyết định Vì công nhân phải có thời gian ăn, ngủ, nghỉ ngơi, giải trí để phục hồi sức khỏe Việc kéo dài ngày lao động còn vấp phải sự phản kháng của giai cấp công nhân Còn giới hạn dưới của ngày lao động không thể bằng thời gian lao động tất yếu, tức là thời gian lao động thặng dư bằng không Như vậy, về mặt kinh tế, ngày lao động phải dài hơn thời gian lao động tất yếu, nhưng không thểvượt quá giới hạn về thể chất và tinh thần của người lao động

Trong phạm vi giới hạn nói trên, độ dài của ngày lao động là một đại lượng không

cố định và có nhiều mức khác nhau Độ dài cụ thể của ngày lao động do cuộc đấu tranh giữa giai cấp công nhân và giai cấp tư sản trên cơ sở tương quan lực lượng quyết định Cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân đòi ngày lao động tiêu chuẩn, ngày làm 8 giờ đã kéo dài hàng thế kỷ

+ Biện pháp: Kéo dài ngày lao động và tăng cường độ lao động

Sản xuất m tương đối:

+ Giá trị thặng dư tương đối: là giá trị thặng dư thu được nhờ rút ngắn thời gian lao động tất yếu, do đó kéo dài thời gian lao động thặng dư trong khi độ dài ngày lao động không đổi thậm chí rút ngắn

Giả sử ngày lao động là 8 giờ và nó được chia thành 4 giờ là thời gian lao động tất yếu và 4 giờ là thời gian lao động thặng dư

Trang 15

Do đó tỉ suất giá trị thặng dư là:

Giả định rằng ngày lao động không thay đổi, nhưng bây giờ công nhân chỉ cần 3 giờlao động đã tạo ra được một lựơng giá trị mới bằng với giá trị sức lao động của mình Do đó, tỷ lệ phân chia ngày lao động sẽ thay đổi: 3 giờ là thời gian lao động tất yếu và 5 giờ là thời gian lao động thặng dư

Do đó tỉ suất giá trị thặng dư là:

Như vậy, tỷ suất giá trị thặng dư đã tăng từ 100% lên 166%

Làm thế nào để có thể rút ngắn được thời gian lao động tất yếu? Thời gian lao động tất yếu có quan hệ với giá trị sức lao động Muốn rút ngắn thời gian lao động tất yếuphải giảm giá trị sức lao động Muốn hạ thấp giá trị sức lao động phải giảm giá trị những tư liệu sinh hoạt thuộc phạm vi tiêu dùng của công nhân Điều đó chỉ có thể thực hiện được bằng cách tăng năng suất lao động trong các ngành sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt thuộc phạm vi tiêu dùng của công nhân và tăng năng suất lao động trong các ngành sản xuất ra tư liệu sản xuất để sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt đó, tức là tăng năng suất lao động xã hội

Nếu trong giai đoạn đầu của chủ nghĩa tư bản, sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối là phương pháp chủ yếu, thì đến giai đoạn tiếp sau, khi kỹ thuật phát triển, sản xuất giátrị thặng dư tương đối là phương pháp chủ yếu Lịch sử phát triển của lực lượng sản xuất và của năng suất lao động xã hội dưới chủ nghĩa tư bản đã trải qua ba giai đoạn: hợp tác giản đơn, công trường thủ công và đại công nghiệp cơ khí, đó cũng là quá trình nâng cao trình độ bóc lột giá trị thặng dư tương đối

Hai phương pháp sản xuất giá trị thặng dư nói trên được các nhà tư bản sử dụng kết hợp với nhau để nâng cao trình độ bóc lột công nhân làm thuê trong quá trình phát triển của chủ nghĩa tư bản Dưới chủ nghĩa tư bản, việc áp dụng máy móc không phải là để giảm nhẹ cường độ lao động của công nhân, mà trái lại tạo điều kiện để tăng cường độ lao động Ngày nay, việc tự động hóa sản xuất làm cho cường độ lao động tăng lên, nhưng dưới hình thức mới, sự căng thẳng của thần kinh thay thế cho cường độ lao động cơ bắp

Trang 16

- Sản xuất m siêu ngạch

+ Khái niệm m siêu ngạch: là giá trị thặng dư mà từng nhà tư bản cá biệt thu được nhờ hạ thấp giá trị cá biệt so với giá trị xã hội

+ Biện pháp: Tăng NSLĐ cá biệt

+ Nhận xét: xét trên phạm vi toàn xã hội thì m siêu ngạch luôn luôn tồn tại nhưng không bao giờ tồn tại mãi ở một nhà sản xuất vì vậy chạy theo m siêu ngạch là độnglực để sản xuất phát triển

C Mác gọi giá trị thặng dư siêu ngạch là hình thức biến tướng của giá trị thặng dư tương đối, vì giá trị thặng dư siêu ngạch là giá trị thặng dư thu được do tăng năng suất lao động cá biệt (trong một xí nghiệp), làm cho giá trị cá biệt của hàng hóa thấphơn giá trị thị trường của nó

Trang 17

Câu 8: Trình bày 5 đặc điểm kinh tế cơ bản của độc quyền trong CNTB Hiện nay Việt Nam có thể kiểm soát độc quyền bằng những phương thức nào?

Đặc điểm thứ nhất: Tập trung sản xuất và các tổ chức độc quyền

+ Khái niệm tổ chức độc quyền: Là liên minh giữa các nhà tư bản nắm phần lớn việc sản xuất và tiêu thụ một số loại hàng hoá nào đó trên cơ sở đó qui định giá cả độc quyền nhằm thu lợi nhuận độc quyền cao

+ Các hình thức tổ chức độc quyền:

Cartel: Các Xí nghiệp tư bản lớn ký kết hiệp định thỏa thuận về giá cả, khối lượng hàng hóa, thị trường tiêu thụ, kỳ hạn thanh toán Các xí nghiệp tư bản tham gia Cartel vẫn độc lập cả về sản xuất và lưu thông Cartel là liên minh độc quyền không bền vững

Syndicate: Các xí nghiệp tham gia Syndicate vẫn độc lập trong sản xuất, chỉ thống nhất trong lĩnh vực lưu thông (do ban quản trị chung đảm nhận), các nhà tư bản vẫn giữ độc lập trong sản xuất => ổn định, vững chắc hơn

Trust : là hình thức độc quyền cao hơn Cartel và Syndicate Trust thống nhất cả sản xuất và lưu thông dưới sự quản lý của ban quản trị chung, các thành viên trở thành

cổ đông để thu lợi nhuận theo số lượng cổ phần

Consortium là hình thức tổ chức độc quyền với kiểu liên kết dọc, nhưng các ngành nghề có thể liên quan với nhau về mặt kinh tế, kỹ thuật, có quy mô lớn, ổn định và vững chắc

- Đặc điểm thứ 2: Tư bản tài chính và hệ thống tài phiệt chi phối sâu sắc nền kinh tế

+ Tư bản tài chính: là sự hợp nhất (dung hợp) giữa độc quyền ngân hàng với độc quyền công nghiệp

+ Đầu sỏ tài chính (giới tài phiệt) là những nhà tư bản kếch sù chi phối toàn bộ đời sống kinh tế, chính trị của toàn xã hội

+ Hoạt động của giới tài phiệt:

+ Chế độ tham dự: một nhà tài chính lớn (một tập đoàn tài chính) mua cổ phiếu

Tổ chức tập đoàn tư bản tài chính theo kiểu "móc xích" "chân rết" với một lượng tư bản đầu tư nhất định có thể khống chế điều tiết lượng tư bản lớn gấp nhiều lần

Trang 18

+ Về mặt chính trị: chi phối đường lối đối nội và đối ngoại của nhà nước tư sản, biến nhà nước tư sản trở thành công cụ phục vụ lợi ích cho chúng thông qua chế độ

ủy quyền

- Đặc điểm thứ ba: Xuất khẩu tư bản trở thành phổ biến

+ Khái niệm xuất khẩu tư bản : là xuất khẩu giá trị ra nước ngoài (đầu tư tư bản ra nước ngoài) nhằm mục đích chiếm đoạt giá trị thặng dư và các nguồn lợi khác từ các nước nhập khẩu

+ Tất yếu khách quan của xuất khẩu tư bản:

+ Các nước lạc hậu cần vốn để phát triển kinh tế, giá cả ruộng đất thấp, tiền lương thấp, nguyên liệu rẻ …nên lợi nhuận cao

+ Hình thức xuất khẩu tư bản :

Căn cứ vào tính chất hoạt động : chia XKTB làm 2 loại :

+ Đầu tư trực tiếp (FDI): Xuất khẩu tư bản để xây dựng 1 xí nghiệp mới hoặc mua lại 1 xí nghiệp đang hoạt động ở nước nhận đầu tư biến nó thành 1 chi nhánh của công ty mẹ ở chính quốc

+ Đầu tư gián tiếp: Xuất khảu tư bản dưới dạng cho vay thu lãi

Căn cứ vào chủ thể xuất khẩu tư bản:

+ Xuất khẩu tư bản tư nhân là hình thức xuất khẩu do tư bản tư nhân thực hiện, thường đầu tư vào các ngành có vòng quay tư bản ngắn, lợi nhuận cao

+ Xuất khẩu tư bản nhà nước là hình thức nhà nước tư bản độc quyền dùng vốn ngân quĩ để đầu tư vào nước nhập khẩu tư bản (viện trợ có hoàn, hoặc không hoàn) thực hiện mục tiêu về kinh tế - chính trị

- Đặc điểm thứ 5: Sự phân chia thế giới về địa lý giữa các cường quốc tư bản

Lênin: "CNTB phát triển càng cao, nguyên liệu thiếu thốn, cạnh tranh gay gắt, tìm kiếm nguyên liệu thế giới ráo riết thì cuộc đấu tranh để chiếm thuộc địa càng quyết liệt hơn

Ngày đăng: 24/02/2023, 19:19

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w